Người
đàn bà nơi cửa ô
và
sự lầm lụi của kiếp người
Âu Thiên Sơn
Phố
cổ, cửa ô xưa... người đàn bà từ xa cũ đến đây, chìm
vào cuộc sống đô thị, rơi vào sự quên lãng của ồn ào
phố xá. Sự có mặt, sự vắng mặt, cái đi về âm lặng,
gánh hàng rong và sự đơn chiếc của bà là một hình ảnh
cô quả. Nhưng nơi trú ngụ của bà thật là đặc biệt, đặc
biệt với phố cổ Hà Nội nay và Thăng Long xưa, với Ban quản
lý di tích, với những người ít nhiều để tâm đến di sản
kiến trúc. Cuộc sống của bà, thân phận của bà gắn trọn
với một cửa ô duy nhất còn sót lại của Hà Nội: Ô Quan
Chưởng!
Cổ
mặc cửa ô, cổ sử người
Tính
ra thì bà cũng đã có hơn 30 năm “thâm niên” ở cái gầm
cửa ô này rồi. Bà chẳng biết nó xây từ thời nào, uy mặc
trong con mắt giới sử học thế nào và luân trầm cùng thời
gian ra sao. Có lẽ bà cũng chẳng biết chiếc cửa ô cổ mặc
này đã đi vào âm nhạc Văn Cao, Phú Quang trầm hùng và da
diết đến mức nào... Chuyện bà biết rõ và thiết thân hàng
ngày với bà là những thứ trên gánh hàng rong mà mỗi sớm
bà mang ra khu chợ trong phố cổ và đem về đây mỗi tối,
trong căn hầm tù mù u mịt dưới vọng lâu cửa Ô Quan Chưởng
này. Đời sống này bây giờ với bà nó đơn giản lắm. Cuộc
sống cứ trôi đi như thế trên đôi quang gánh với những
thứ lỉnh kỉnh như thế. Nhưng bà chẳng cảm thấy gì là
đơn điệu và tẻ nhạt cả. Từ sáng sớm, đóng lại cái
cửa “nhà mình” được ghép lại từ những mảnh gỗ mà
người ta vứt đi sau khi làm giàn giáo cốt pha xây dựng, những
bước chân bà cứ đều đặn bước đi trên con đường ngõ
Thanh Hà ra khu chợ. Trong mỗi dấu chân ấy là những nỗi
niềm gì của bà? Chẳng nhẽ bà lại không có ưu tư gì về
cuộc sống trên cõi đời này ư? Chuyện cơm áo, những buồn
vui, rồi làng quê con cháu... Thời gian của bà là những câu
chuyện về mua bán những món hàng dân dã ở ngoài chợ, nào
dưa cà mắm muối, nào rau cháo và những thứ lặt vặt khác.
Tối đêm bà mới lại về “căn hộ” của mình ngay dưới
chân cửa Ô Quan Chưởng, thắp lửa vào ngọn đèn dầu cho
nó leo lét cháy, lấy cái cối giã trầu nhai theo thói quen rồi
buông mùng vào giấc ngủ. Cuộc sống tưởng như chẳng có
chuyện gì đáng để nói cả, bình lặng, lầm lũi đến âm
thầm như chính ánh sáng trong căn hầm này. Thế nhưng nó lại
gợn lên một chút gì đó đượm xưa trong cái nhìn và xúc
cảm của những người hoài cũ. Cuộc sống của bà, đuôi
mắt bà, cái quệt trầu và bỏm bẻm nhai... như một cổ sử
giữa sôi động thành phố, lụi lầm và cô lẻ. Những dây
phơi quần áo, mạng nhện và sự chật chội, chiếc giường,
lớp ni lon hứng mưa ở trên, chai lọ, nồi chậu, chiếc quạt
nan và cầu thang thông lên trời... Không tiện nghi điện nước
gì sất, ở đây không thấy một dấu hiệu nào của vật
dụng hiện đại. Nhưng chỉ cần mở cái cửa cũ kỹ kia thôi,
dù chỉ là mở hé là cả một sự ồn ào đương đại, náo
nhiệt và sôi động. Nếu bà cứ ngồi giường mà nhìn ra
đường như thế thì cái tuổi già ngoại thất thập của
bà không biết có hoa mắt không chứ chúng tôi thì chói mắt
lắm. Ngược sáng mà. Hay bà ở đây lâu đâm ra thành quen
rồi. Quen với khoảng cách gần tiếng còi xe suốt đêm ngày,
quen với sự cách biệt với những cái hiện đại của thời
buổi, quen rồi từng bậc cầu thang đi lên phía trên Ô Quan
Chưởng, quen từng viên gạch cổ và lớp vữa mạch mà ông
nhà đóng đanh vào để treo các thứ... Chí ít thì cũng hơn
30 năm rồi còn gì. Bà trông coi, quét dọn di tích cũng từng
ấy năm...
Lầm
lụi một kiếp người
Rõ
ràng bà là dân di cư tới đất Hà Thành này. Quê bà là một
ngôi làng ở Kim Động, Hưng Yên. Chẳng biết duyên do gì mà
vợ chồng bà lại chọn cái cổng phụ bên trái Ô Quan Chưởng
này (nhìn từ phía phố Hàng Chiếu) làm nơi cư trú. Chẳng
phải vì lãng mạn, yêu vẻ đẹp cổ tích với những nét
rêu phong của cái cổng thành phong kiến và đầy uy mặc này.
Thôi thì bước chân cũng đã mỏi, có chỗ “chui ra chui vào”
là được, ở đây cũng tốt chứ sao! Nhỉnh hơn một mét
vuông, tường dày thế kia cơ mà, chỗ này mưa gió bão bùng
cũng không ngại. Ô Quan Chưởng trở thành nơi “tạm
trú” của ông bà từ đó. Thế rồi nó là nơi “thường
trú” lúc nào không hay. Ngày thì bà đi bán hàng, ông đạp
xích lô khắp các nẻo đường Hà Nội tối mịt mới trở
về. Đồ đạc trong nhà bây giờ vẫn từng ấy thứ như thuở
ông nhà còn sống, còn đạp xích lô. Ngày ông bà dắt díu
nhau lên đây, ở đây cũng có ý kiến ra vào. Họ bảo trông
bà có nhiều nghi ngờ lắm, hành trang thì bí ẩn, lối sống
khép kín, có những dấu hiệu rất khó hiểu, đi từ khi trời
chưa sáng, nhọ mặt người mới về, ai mà biết trong đôi
quang gánh của bà có những gì, không lẽ có cả những tài
liệu mật cũng nên... Bí mật về bà là đề tài trong các
câu chuyện của khu phố, nghe có vẻ ly kỳ lắm. Họ sợ bà
là điệp viên nên liền báo với chính quyền. Chính quyền
ra lệnh trục xuất, lập kế hoạch theo dõi bà... Đời bà
thì có gì mà phải theo với chả dõi. Người đời cứ dèm
pha, lời người đời cứ thị phi vậy thôi chứ bà cũng phải
lo cho cái thân mình chứ, nơi ăn chốn ở rồi bát cơm manh
áo... Cuộc sống của mình có ra gì đâu dám “ngó ngàng”
xung quanh, và cả những tự ti của người quê lên phố thị
nữa chứ. Chính quyền điều tra rồi cũng kết luận chẳng
có vấn đề gì cả, chẳng có chỉ điểm cho máy bay Mỹ đánh
phá Hà Nội, không kích cầu Long Biên, chẳng phải gián điệp,
phản động... nhưng chính quyền cũng yêu cầu bà không được
sống ở đây. Thế là bà phải “sơ tán” đi nơi khác. Rồi
mấy bữa sau người ta lại thấy bà quay trở về trong căn
hầm chân cửa Ô Quan Chưởng sinh sống... Miết rồi người
dân cũng hết ngờ vực nơi bà. Riết rồi bà cũng quen chốn
này, không có ý định di dời đi đâu cả. Mà biết tìm đâu
giữa nơi chẳng có ai thân thích và nhiều xô bồ này. Đất
Hà Nội chứ đâu như ở quê. Người ta còn phải chen chúc
nhau nơi gầm cầu, sống chui rúc dưới cầu thang, những ngôi
chùa, còn khu xóm lều ổ chuột thì nhiều tệ nạn, với bà
ở đây chẳng phải chung đụng với ai. Cuộc sống của bà
hầu như chẳng đổi thay, không tiện nghi, không cả điện
nước, dường như không thể tối thiểu hơn được nữa.
Trước còn có ông, bây giờ còn lại một thân một mình,
lầm lũi sống, lầm lũi đi qua cuộc đời không người thân,
không bạn bè... Thực ra thì bà cũng có cháu con đấy chứ.
Anh con trai đã lấy vợ sinh con, thi thoảng cũng lên chơi, chưa
được một lát đã lại về ngay, nó còn bận công việc
của nó... Và bà đã sống “Rôbinson” giữa nơi tấp nập
trong lòng đô hội, giữa một nơi không phải ốc đảo, hoang
mạc mà nhộn nhịp đèn màu và đông vui phố xá. Cuộc sống
này đi qua đời bà như thế và bà đi giữa đời sống này
như thế, lầm lụi và tạm bợ nơi góc tối cửa ô này.
Ô
Quan Chưởng đã thuộc về 1000 năm Thăng Long. Cái cửa ô đẹp
trầm uy như thế, lại chỉ còn độc nhất ở Hà Thành, còn
nguyên vẹn không sứt mẻ. Thời gian dường như chỉ càng
làm tăng thêm vẻ cổ kính, nét mặc trầm của cửa ô. Hoàng
Thành đã không còn, đã trầm tích sâu trong lòng đất và
đã lại phát lộ, chỉ cái cửa ô này vẫn đứng với niềm
kiêu hãnh của mình từ xa xưa. Trước kiêu hãnh cùng người
xưa, nay kiêu hùng cùng đoàn quân tiến vào giải phóng, cùng
hậu thế Thăng Long. ở đó có người đàn bà sống kiếp
lầm lụi...