VẦN
THƠ SINH TỬ
CỦA
VÔ NHỊ THƯỢNG NHÂN
Nhật
Chiêu
LTS:
Trần Thánh Tông (Vô Nhị thượng nhân) là một triết vương.
Cũng như hầu hết giới lãnh đạo đất nước thời Lý-Trần,
ông được ảnh hưởng và nuôi dưỡng trong tư tưởng Phật
giáo đại thừa. Sự nghiệp chính trị và văn học của ông
đã thể hiện sâu sắc điều đó. Trần Thánh Tông sáng tác
rất nhiều nhưng phần lớn tác phẩm của ông đã bị thất
lạc, nay chỉ còn lại chưa đến 20 bài thơ. Trong số những
vần thơ của Trần Thánh Tông mà hậu thế chúng ta được
đọc, có vần thơ “sinh tử”, tỏa sáng như kim cương, rung
động lòng người. VHPG xin giới thiệu đến bạn đọc những
cảm nhận của tác giả Nhật Chiêu về bài thơ được làm
trước khi lâm chung của vị triết vương này.
Có
người cha vĩ đại cao minh là Trần Thái Tông và có người
con thiên tài xuất chúng là Trần Nhân Tông, thế nên tên tuổi
Trần Thánh Tông (tự là Vô Nhị Thượng Nhân) dường như
khuất chìm. Hơn nữa, dù viết nhiều, ít nhất là năm tập
sách, chẳng tác phẩm nào còn truyền lại, ngoài bảy bài
thơ!
Nhưng
thử chạm vào thơ ấy đi, thơ của Vô Nhị Thượng Nhân,
ta sẽ gặp một cơn lốc. Ta bay hoặc rơi, lặng người hoặc
ca hát, trầm tư bất động hoặc ngất ngây nhảy múa. Ta muốn
làm trẻ thơ, muốn cởi trần, muốn vào hang trống nghe gió
reo, đến đầm lạnh nhìn trăng sáng. Để rồi ta lại trở
về, ngồi dưới chân nhà thơ lớn, lắng lòng để lắng nghe,
để có thể nghe ra tiếng đàn không điệu của Vô Nhị Thượng
Nhân.
Thử
hình dung vào một ngày giữa năm Canh Dần 1920, Người đau
nặng và trời nổi gió. Bên ngoài sấm rền, còn bên gối
thì Người lấy ngón tay gõ nhịp như muốn ca hát mặc cơn
đau xé từng hơi thở. Chính lúc ấy, trước phút lâm chung,
Vô Nhị Thượng Nhân viết bài thơ tuyệt bút:
Sinh
như trước sam,
Tử
như thoát khố.
Tự
cổ cập kim,
Cánh
vô dị lộ.
(Sống
như mặc áo,
Chết
như cởi quần.
Xưa
nay vô cùng,
Không
đường nào khác).
Sống
là gì? Có biết bao triết lý về đời sống. Để làm gì
và chẳng để làm gì. Có lý và vô lý. Có nghĩa và vô nghĩa.
Lạc quan và bi quan. Cam chịu và nổi loạn.
Nhưng
Vô Nhị Thượng Nhân nói: Sống như mặc áo. Tại sao áo? Tại
sao mặc áo?
Áo
thì có đủ loại, đủ kiểu, đủ mùa, đủ màu sắc…
Bắt
đầu là hình hài. Áo là hình hài, là da tóc, mặt mũi, tứ
chi. Ta mang hình hài ấy và tiếng khóc mà vào đời. Cái áo
đầu tiên của ta đấy.
Tiếng
khóc cũng là cái áo mà ta mang ta mặc. Đã mang tiếng khóc
ban đầu mà ra (Ôn Như Hầu). Và cái áo của tiếng khóc ấy
đâu chỉ mặc một lần. Bao nhiêu lần, nhớ nổi không?
Và
khi bắt đầu biết cười là có thêm một cái áo khác. Rồi
tự nụ cười hồn nhiên đến những nụ cười sau này lại
có vô số áo của nụ cười. Ta mang cái áo này đi khắp nơi,
gặp đủ hạng người. Cái cười càng ngày càng lạ. Cười
vậy mà không phải vậy. Có cái cười của tình yêu và có
cái cười của thù hận. Có cái cười của sát nhân và có
cái cười của cứu độ. Tất nhiên là không kể xiết: xu
mị, lừa phỉnh, cay đắng, giả dại, xin xỏ, dụ hoặc…
là áo cả thôi. Hãy hỏi xem nó che đậy cái gì?
Ta
mang một cái tên. Danh tính. Đó cũng là áo. Hay nói như Tagore,
cái tên là ngục tù: “Người tôi giam trong tên tôi đang khóc
than, tên tôi là ngục tù ấy” (He whom I enclose with my name
is weeping in this dungeon). Bởi vì cái áo của hư danh không cho
thấy con người thực. Bản chất của áo bao giờ cũng là
che đậy, kể cả khi nó muốn phô bày một cái gì đó. Phô
bày cũng là một hình thức khác của che đậy.
Ta
có một cái xe, một địa vị, một mảnh bằng, một tổ chức,
một cơ nghiệp, một bảng hiệu, một cờ xí… Đó là áo
và áo và áo. Chứ là gì khác?
Với
Trần Thánh Tông, vua cũng là một cái áo. Nếu không thì người
đâu cần nói: “Từ khi bé bỏng đã vào thiền” (Tự tòng
quán giác nhập thiền lưu). Cái áo đó người không hề muốn
giữ suốt đời.
Còn
sống thì không thể nào thôi mặc áo.
Vì
vậy, Vô Nhị Thượng Nhân mới bảo: Chết như cởi quần.
Cởi
quần chỉ rõ trạng thái hoàn toàn trần truồng, cái hình
hài nguyên sơ của mọi con người, cái hình hài sắp sửa
trở về với vô hình, với hư vô.
Từ
trần truồng trở về với trần truồng, như nhà thơ Issa nói
trong một bài haiku:
Từ
bồn tắm đến bồn tắm
Toàn
thể chuyến đi dài
Chỉ
thế mà thôi!
Trần
truồng được tắm khi sinh và trần truồng được tắm khi
chết. Chỉ là sự di chuyển giữa hai bồn tắm, hai tình trạng
trần truồng. Chỉ thế mà thôi. Từ kẻ ăn mày rách rưới
nhất đến những vĩ nhân, thánh hiền danh tiếng nhất cũng
đều đi như vậy.
Từ
xưa đến nay đều vậy. Xưa nay vô cùng. Từ Diogenes trần
truồng sống trong một thùng rượu đến Đại đế Alexander
tung áo bào phủ khắp thế gian. Dẫu muốn hay không, họ đều
chết. Như đã giống hệt nhau lúc mới ra đời. Chỉ có di
chuyển giữa hai lần đó là khác.
Thử
tưởng tượng họ nói gì với nhau sau khi chết:
- Alexander:
Đến bây giờ mà ông vẫn còn trần truồng ư?
- Diogenes:
Phải. Đến bây giờ ông mới biết trần truồng ư? Thế áo
bào của ông đâu rồi?
Áo
bào đâu rồi? Và mọi loại quần áo đâu rồi sau khi chết?
Chết
như
cởi quần. Thoát khố. Một lời đơn giản tột cùng. Mà rành
ràng như ta có thể nhìn thấy từng ngón tay mình. Một lời
mà nhìn thấy xưa nay.
Không
đường nào khác. Ta đi vào cuộc sống và mặc vào những
cái áo. Như vậy, như vậy… Ta vĩnh biệt cuộc sống và trả
lại mọi áo quần. Dù muốn hay không muốn.
Thế
nên Vô Nhị Thượng Nhân nói: Không đường nào khác.
Chỉ
có cách di chuyển của ta là khác nhau. Còn đường đi thì
bao giờ cũng thế. Đường đi không có đúng sai. Chỉ người
đi là khác.
Sau
khi đọc xong bài thơ (hay bài kệ), Thượng Nhân hét lên:
Bát
tự đả khai phân phó liễu
Cánh
vô dư sự khả trình quân.
(Mở
toang tám chữ mà trao,
Có
đâu dư chuyện ngõ hầu trình anh).
Người
đứng hầu bên Thượng Nhân lúc đó chính là Nhân Tông.
“Bát
tự” có thể hiểu theo nhiều cách. Nếu ám chỉ “Tuyết
Sơn Bát Tự” thì tám chữ đó là “Sinh diệt diệt dĩ, tịch
diệt vi lạc” (Sinh diệt nếu diệt rồi, thì tịch diệt
là vui). Trong kinh Niết Bàn, Bồ tát Tuyết Sơn để nghe tám
chữ đó phải hy sinh cho quỷ La Sát ăn thịt.
Nhưng
trong văn cảnh này thì “Bát tự” là, hay có thể là tám
chữ mở đầu bài thơ: “Sinh như trước sam, Tử như thoát
khố” (Sống như mặc áo, Chết như cởi quần).
Dung
nạp những cách hiểu này càng làm cho bài thơ Sinh Tử của
Vô Nhị Thượng Nhân bao la hơn. Cái đón đợi của người
đọc vì thế sâu xa hơn, niềm hân thưởng vì thế lớn hơn.
Đọc
những vần thơ bay bổng của Thượng Nhân, hận rằng lịch
sử đã để mất các tác phẩm khác của người: Di hậu lục,
Cơ cầu lục, Thiền tông liễu ngộ ca, Phóng ngưu, Chỉ giá
minh…
Những
tiêu đề đó có phải chăng là “chiếc đàn không điệu”
(bất điệu cầm) của Vô Nhị Thượng Nhân:
Chung
nhật nhàn đàn bất điệu cầm
Nhàn
môn vô sự khả quan tâm
Cá
trung khúc phá vô nhân hội
Duy
hữu tùng phong họa thử âm.
(Đàn
không điệu gảy nguyên ngày
Cửa
nhàn không chút mảy may bận lòng
Ai
hay khúc điệu bên trong
Có
chăng chỉ gió rừng thông họa đàn).
Đó
cũng là thơ Thượng Nhân. Là thơ của “khúc điệu bên trong”,
cái tâm thanh tịnh muôn đời cảm ứng với thiên nhiên ca
hát.
Đó
là thơ của một cái khảy tay nhưng đủ phá cả vạn trùng
núi non:
Nhất
đàn chỉ phá vạn trùng san
Giá
cá công phu dã thị nhàn
(Khảy
tay phá vạn trùng san
Công
phu thế ấy vẫn nhàn làm sao!).
Đó
là thơ của cực động và cực tĩnh:
Động
như không cốc phong xao hưởng
Tĩnh
nhược hàn đàm nguyệt mãn minh.
(Động
như hang trống vang lừng gió
Tĩnh
tựa đầm hoang chói rạng trăng).
Chạm
vào những vần thơ trên của Thượng Nhân lại càng rung động
hơn trước những lời tuyệt bút tráng lệ của người.
Sinh
như trước sam
Tử
như thóat khố…
Sống
ư? Chết ư? Áo ư? Quần ư? Tuyệt!