HOA
ĐỒNG TIỀN [1]
Quà
Trung Thu cho Mai Lan- Phương Tú và các bạn trẻ
Thái
Kim Lan
Biết
rằng ngoài kia hoa vừa đi thì trái đến, để hoàn thành một
tác phẩm nghệ thuật của trời đất mà không dành riêng
cho ai… Vẻ đẹp ấy chất chứa những điều làm rung động
trí tưởng, lay bật những sáng tạo thành lời, thành chuyện.
Có một chút bí nhiệm mà thiên nhiên gửi gắm nơi loài hoa
ấy bắt phải đi tìm, bắt quay về, bắt chia sẻ…
Thôi
cứ cho là mơ đi - bên chén trà nhỏ một sáng cuối hè, hương
bỗng nhạt trên đầu lưỡi sau chuyến du hành gắt nắng còn
the vị mặn của biển và vị đắng của cơn gió Lào khét
lửa - vườn đẫm màu xanh như mê trong hơi nồng của trái
chín rụng đầy sân. Hoa đã lần luợt tàn dần từ hơn nửa
nguyệt, trừ nụ hồng còn ngoái lại thương nắng sớm bên
hiên và khóm hoa me núp trong cỏ chờ sương chiều giăng màn
đất. Những chú ong say mật mận mơ chuếnh choáng ca trù trong
gió. Gió cũng đã sởn chút gai lạnh làm sửng thoáng hơi nóng
bốc lên từ chung trà, đến thành tiếng mơ hồ…
Thôi
cứ cho là mơ đi - hãy chưa tỉnh với trà sớm nhạt như ốc
hôm nay cũng vừa - mà mơ thiệt tình! Không mơ là chi, khi mở
cánh cổng tre ra vườn thấy cả một “đống bạc”… trời
cho bày ra trước mắt. Như có một bà tiên nào vừa hóa phép
hôm nảo hôm nao, lối đi bơ sờ thường phủ lá khô
nay được viền bằng những cành chi chít “quả”, “tiền
bạc” nhấp nhánh trong nắng…
Bỏ
cuộc đi dạo thường nhật, vội vã như kẻ vừa bắt được
vàng ngoài ngõ, tôi vào nhà cóc cóc điện thư cho Phương Tú:
“Tú ơi, năm ni tiền trong tủ thì ít mà tiền ngoài ngõ thì
nhiều, cái “caisse” nơi cổng tre là bạc nghìn vạn hộc”.
Tú ngớ người chưa biết là chi, tôi gửi hình qua và bình
luận: “Ðây là nhà ngân hàng của kho vô tận đất trời
ở trong vườn. Nhưng tiền ni tiêu không được, vài bữa hắn
“chín” thì “hái” đem vô mà “chưng” trong nhà”.
Tiếng
Tú cười rúc rúc bên tê: “Hoa đồng tiền ni, hắn ngộ ghê
hí, chị ơi, chị kể chuyện cái “caisse” ở ngoài vườn
đi”.
Và
hai đứa cười khúc khích như vừa … “được của” thiệt
tình. Nì, mà cái chuyện ni hắn giống chuyện đời xưa thiệt…
thì kể…
Chuyện
kể ngày xưa… có con chim đại bàng chở người em thật thà
rồi người anh tham lam đem túi ba gang ra một cái đảo xa,
xa, xa thật là xa lượm vàng đem về[2]. Lúc bay chuyến thứ
hai, vàng nhiều quá, con chim mỏi cánh, nửa đường đổ thốc
một nửa…(không phải xuống biển cả làm cho người anh
tham bị chết chìm, không! chuyện của tôi nhân hậu hơn!)
mà xuống nơi khu vườn ở cạnh rừng tên Obermenzing…Vàng
mọc thành cây…hoa tím… để trốn…ông làm vườn… vì
ông làm vườn là hoá thân của người anh bị con chim bỏ
lại nơi ấy, cho nên ông thích… đất (như thích vàng) và…mê
trồng cây (như mê vàng)…
Hình
như có tiếng người bên tê phản đối… chuyện kể tầm
phào… Thôi được rồi… thì kể lại…
Chuyện
kể ngày xưa… Ali Baba một sáng ngủ dậy, tay chân chưa kịp
động thủ giảo hoạt, bỗng thấy một đống bạc lù lù
nằm bên cạnh, như tuồng của kho của toàn cung thành Bá Ða[3]3
trong đêm mọc chân mang đôi hia nghìn dặm đi đến tận nơi
xó xỉnh nghèo khổ nhất của kinh thành, đánh bạn (chứ không
phải “đánh bạc” đâu nhé) với chàng lang thang. Gã đạo
chích lừng danh tưởng mình nằm mơ…bèn ôm đống bạc toan
bề chạy trốn, hắn nhảy lên tấm thảm bay… bay… bay đến
vườn Obermenzing bơ…tấm thảm hạ xuống, Ali Baba chàng đạo
chích tuyên bố với chú “đông phương” sóc vừa ló
đầu nơi lùm cây: ta là người ở cung trăng đến chơi cõi
trần và đem những đồng tiền tung rãi khắp nơi… trong vườn
nhà Munich…
Lại
có tiếng phản đối chuyện kể lạc đề… người kể nằm
mơ chứ mô có phải Ali Baba…
Chết
thật… nước trà nhạt thếch không đủ cử cho một chuyện
ra hồn, nó lan man giữa thực và mộng thành những chuyện
đầu Ngô mình Sở, mây trắng thành Bạch Mã phi qua núi Kim
Phụng, Ðông Phương Sóc thành con sóc trong vườn Munich, Ali
Baba thành người ở cung trăng…và biết mô nếu kể tiếp
thì Phạm Công trở thành Trạng Cóc của nàng Út có con gà
biết kêu đò một thuở xa xưa: “o o o ò, có phải đò ông
Trạng cho cô tôi về cùng”…
Thôi
thì kể lại không xong thì… lại kể đi…, lần này thật
nhé…! Vâng, chuyện sẽ thật… (như mơ!)
Chuyện
kể… mùa xuân năm nay đám hoa tím mọc dại trong vườn ấy…
vốn là hoa cải vàng nơi triền Bãng Lãng, được bướm mang
đi trên mây, bay qua tới vùng Munich rơi xuống, hạt cải nằm
trong đất nhớ nhà đến nỗi hóa tím[4]4…“thực”
ra là chuyện hão huyền!!!…Sự thật thì hoa cải vàng ấy
là hoá thân của nàng Huyền Trân, công chúa Huyền Trân là
nàng tiên ở sông Ngân giáng trần, nên dáng của nàng mềm
mại như giòng Hương, tóc nàng xanh như rừng núi Kim Phụng,
môi nàng đỏ như hoa hải đường Phú Xuân, áo nàng thường
mặc là chiều tím sông Hương…
Nghe
như có người níu áo bắt đền: chuyện cái “caisse” cơ,
sao cứ lăng nhăng chuyện hoang đường như thế?
Ðến
nước này thì chỉ còn… tự thú là tôi chẳng biết gì cả
mà… chỉ có ông láng giềng mê trồng hoa biết chuyện…
Có
tiếng ngắt lời nhõng nhẽo: nì nì không phải là chuyện
Liêu Trai, có cô gái áo tím biến thành hoa tím của “lòng
giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng”[5]5 đâu nhé.
“Rằng
không thì cũng vâng lời rằng không”, không liêu trai, không
hoang đường mà rất khoa học thiên nhiên.Thú thật tôi đã
hỏi kỹ người láng giềng sành cây cỏ mới biết, sở dĩ
ông tha tình không “làm cỏ” đám cây đầu xuân năm nay,
bởi vì đám hoa tím trong vườn nhà tôi tuy mọc dại, mọc
tràn mà thật ra là…“dại khôn” kiểu Nguyễn Bỉnh Khiêm[6]!
Có tên tuổi hẳn hoi đấy nhé: Silberblatt: lá bạc! tôi gọi
“cây hoa đồng tiền”[7]...
Có
một điều gì lạ kỳ, hầu như pha chút ảo thuật nơi loài
hoa ấy: từ màu tím trang đài, thiết tha, lãng mạn, gợi cảm
như một nỗi nhớ nhung êm ái, hoa tàn đi như một giấc mơ
phai, như một thoáng tím phớt nhẹ qua tim, rồi hoa kết trái,
trái thiệt tình, không vàng, không đỏ mà xanh lục, như màu
lá, từ những cánh hoa màu tím hoa kết thành những chùm trái
màu xanh, hình tròn như những đồng tiền in có 4 dấu là bốn
hạt nhân. Ðầu tháng bảy “trái tiền” xanh um dưới dậu
tre, như bài thơ “ngân hàng”, bài thơ “tiền bạc” không
lời, ngộ nghĩnh. Tháng tám nám trái buởi, bạc xanh vừa “chín”
theo với nắng hè, mới hiển hiện màu bạc… thiệt, có nghĩa
là “silber” (silver), kim “ngân”, như những đồng tiền
treo lủng lẳng trên nhánh cây.
Hôm
trở về sau một tháng đi xa, trời mưa mất mấy ngày, giữ
chân không bước thăm hoa, đến khi ra vườn, đã ngỡ
mưa làm hoen ố những “trái tiền” trở thành “bạc cũ”.
May người láng giềng giải thích mới rõ: “Trái tiền”
được gói giữa hai mảnh vỏ mỏng, như lụa “sống” vừa
dệt xong chưa tẩy, khi bóc chúng ra, đồng bạc “thiệt”
trắng tinh lồ lộ tựa một mảnh bạc tròn mỏng dính lóng
lánh trong nắng.
Sửng
sốt mà nhận ra: “trái tiền” thật là đẹp, đẹp
thanh cao kỳ lạ, không pha một chút tục lụy bon chen…, chẳng
có mùi ô trọc…ngược lại tinh khôi, vĩnh viễn, như
chưa bao giờ nhúng chàm hay bị ốc xít hóa, quả là tuyệt
xảo…
Như
một mầu nhiệm thiên nhiên… thiên nhiên cũng biết gói “
tiền” và dấu “tiền” đến là cẩn thận, y hệt bà và
mẹ đã từng cắc ca cắc củm bọc những đồng
tiền trong mấy lần túi lụa, có điều bà và mẹ chắt chiu
từng đồng, còn thiên nhiên thì… tiền rừng bạc bể…
đếm không xuể…
Cái
“caisse” bạc của tôi, bên cổng tre dưới cây tử đinh
lan… như một đụn bạc trời cho… hào sảng vô cùng… vô
cùng đến tận nơi của… vu vơ… mơ tưởng
Tưởng
là mơ! Một sáng… gặp… hoa… biến thành… “tiền”,
cuống quýt cũng gần bằng người nông dân nọ ra đồng nhìn
thấy chum vàng8, vội vàng chạy về méc vợ…như tôi vừa
méc bạn để chia sẻ một chút bí mật của khu vườn… Chỉ
khác, cuống cuồng xong thì đã bật cười, khi thì cười to
một mình, khi thì khúc kha khúc khích với bạn… bởi vì cái
đụn bạc ấy có phải là “thật” đâu! Chỉ là những
hoa trái phù du xuân nở đông tàn… có chi mà hoảng hốt bàng
hoàng (như Ali Baba)… tưởng thật.
Ấy
thế mà nó thật! Bởi vì nó đem vui!
Suốt
ngày tất bật, nghĩ đến nó vài khi chợt mừng, nỗi mừng
của một đứa trẻ đang thơ thẩn trong căn nhà trống, chẳng
biết làm gì, thọc tay vào túi áo tình cờ tìm ra một món
đồ chơi hay một viên xu nhỏ, và cả thế giới bỗng đầy
tràn những cuộc chơi đùa với trí tưởng tượng trẻ thơ.
Những mảnh lá tiền gợi nhớ thời thơ ấu trong vườn quê
nội - thời chưa có kỹ nghệ sản xuất đồ chơi trẻ con
xa hoa như ngày nay - cả bọn trẻ đi lượm lá mít giả làm
tiền chơi buôn bán hay thủ tha thủ thỉ từng tờ lịch cũ
“dồn tiền” dùng để bán chát những món thủ công nhỏ
nhỏ tỉ mỉ làm tới khuya, đến giờ ra chơi hí hửng đem
bày dưới mái hiên trường Ðồng Khánh những năm xưa.
Nó
thật nơi mỗi sáng, mỗi chiều ra vườn, lòng đang rỗng không,
mở cổng tre: “sesam, mở ra đi!”, thế là lóa mắt! Tiền
phơi phơi phới trong nắng sớm, giàu ghê cái caisse bạc kếch
sù kia, ta chào ngươi, ngươi làm ta thành triệu phú mất rồi!
Ôm không hết! Hả hê chưa! No nê chưa!
Nhưng
xin chớ vội! “có” đâu mà “có” chỉ là “không” thôi!
hình như cả khóm cây đang cười thành tiếng đấy, cười
người ham giàu ham có! “Tập tầm vông” đấy thôi!
Hai tay vừa có hai tay vừa không… Có gì đâu nào? Đám hoa
đồng tiền lủng lẳng chỉ cần vài trận gió là “tiền”
tan xác pháo… là tay trắng hoàn trắng tay…
Thì
thôi là “không”, nhưng thật lạ lùng, biết là “không
chi cả” mà sao trong lòng không nghe vô vọng lại thấy bình
an, thích thú như vừa được hưởng một điều chi gần như
là trác tuyệt, một điều chi không “mất” theo với gió
mưa, một điều chi đầy linh cảm như nỗi thán phục thiên
nhiên. Biết rằng ngoài kia hoa vừa đi thì trái đến, để
hoàn thành một tác phẩm nghệ thuật của trời đất mà không
dành riêng cho ai… Vẻ đẹp ấy chất chứa những điều làm
rung động trí tưởng, lay bật những sáng tạo thành lời,
thành chuyện. Có một chút bí nhiệm mà thiên nhiên gửi gắm
nơi loài hoa ấy bắt phải đi tìm, bắt quay về, bắt chia
sẻ…
Và
cứ thế, với hoa với trái, lắm khi khu vườn vang vọng những
câu chuyện đưa chân trở về một thời say mê cổ tích, nghe
có tiếng chân sáo nhảy hối hả cắp sách đến trường,
tìm đứa bạn nhỏ để kể chuyện cổ tích hôm qua vừa được
nghe bà kể, hết chuyện thì đặt chuyện thêm theo với đôi
cánh thiên thần tưởng tượng.
Và
phải chi nếu Tú không kêu tôi bằng chị thì tôi đã
kéo Tú vào ngồi trong kẹt cửa lớp tiểu học thời nào,
như đã ngồi với cô bạn nhỏ,… mà kể chuyện cho nhau nghe…
chuyện bà tiên trên trời đi lạc đến căn vườn cỏ mọc
hoang, cái áo tím của bà phết gót, lướt thướt trên cỏ
xanh… khi trở về trời bà tiên bèn lấy những mảnh bạc
đính trên áo để lại trên cành cây, cám ơn khu vườn đã
cho bà làm nơi nghỉ chân, y như người ăn trái dưa đỏ cám
ơn người trồng dưa, để tiền lại gốc cây…Bà tiên là
một người tài hoa nên những mảnh bạc đã được bà cẩn
thận gói trong hai mảnh lụa… chừ mình phải dở nó ra mới
thấy là bạc… đẹp vô ngần… trong sạch không tanh hôi
và câu chuyện sẽ không bao giờ dứt và nó thật như chưa
bao giờ thật như thế…
Cái
“tủ két” bạc ấy, phù du hương sắc mà dằng dặc tình
quê, lộng lẫy bạc vàng mà rỗng không sáo trúc, một thi
phẩm, một họa phẩm sáng tạo, một đụn bạc tình cờ,
nó như một trò chơi con trẻ, đồng thời là kho tàng của
muôn chuyện xưa… nay, nó vừa dấy lên trong lòng ai ham muốn
“sắc, có” thì chính nó đã dẹp bỏ ngay lòng tham ấy,
không bằng ngón tay răn đe hay lý lẽ hơn thua mà bằng sự
yên lặng nhắn nhủ, ngậm thinh trong ánh nắng, mỏng manh hoa
cỏ trong gió vô thường, nó là… nó mà không… là…
Nghe
có tiếng ai hắng giọng làm giựt mình, mới biết chén trà
đã nguội theo với bóng chim bay…
Muenchen
- Trung thu 2005
1
Khi viết xong bài này, tôi được bà Helga Böhme cho biết
cây hoa này có tên la tinh là "LUNARIA", tên hoa lấy từ
chữ LUNA, có nghĩa là "vầng trăng", có lẽ được gợi ý
từ màu trắng như ánh trăng của trự tiền - một điều thú
vị - vì chính người viết bài này cũng ví loài hoa đến
từ giải Ngân hàcon sông trắng như bạc…
Ngoài
ra người Ðức còn gọi "hoa đồng tiền" này là "Judastaler":
trự tiền Judas, tương truyền người đã phản bội chúa Jesus,
có lẽ một phần vì hoa đồng tiền giống đồng tiền thật
mà không thật, theo óc suy luận Tây phương.
Người
láng giềng trồng hoa của tôi chỉ cho biết tên thông thường
của nó là "Silberblatt", "lá bạc" như trong bài viết đã nói
đến.
2
Phỏng theo chuyện cổ tích Việt Nam.
3
Phỏng theo chuyện cổ tích Ba Tư.
4
Xem "Trà sớm với lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng",
Thái Kim Lan.
5
Thái kim Lan, đã dẫn.
6
Lấy ý Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm: "Khôn nghề cờ bạc là khôn
dại,
Dại chốn văn chương ấy dại khôn…".
7
Cuối mùa, nhánh "trái tiền" khô như nhánh rơm, thường
được bó xen kẽ với hoa tươi để trang hoàng phòng khách
trong dịp Giáng sinh.
8
Chuyện cổ tích Việt Nam, "Chum vàng biết đi".