TỰ
ĐIỀU CHỈNH
CÁC
NGUYÊN LÝ VẬN HÀNH
Thanh
Tiến
LTS:
Sau khi đăng bài “Tự điều chỉnh - giải pháp của đời
sống”, VHPG đã nhận được một số ý kiến phản hồi
từ bạn đọc. VHPG xin giới thiệu một trong những ý kiến
đó.
Nguyên
tắc tự điều chỉnh là nguyên tắc cốt yếu trong đời sống.
Tự điều chỉnh làm cho cá thể và cộng đồng phát triển
một cách ổn định bền vững. Nguyên tắc tự điều chỉnh
dựa trên cơ sở của nguyên lý nhân quả mà loài người cho
tới nay vẫn còn mù mờ. Cách đây 2.500 năm, Phật học đã
xác định các yếu tố đúng tốt (thiện) và yếu tố sai
xấu (bất thiện), dựa trên hậu quả của các vận hành.
Nếu vận hành, sau một hành trình biến đổi nội hàm
(nghiệp) của cá thể, đem lại điều hoan hỷ và an lạc
cho mình, cho người khác và cho môi trường thì gọi là vận
hành đúng tốt (thiện hành). Ngược lại thì gọi là vận
hành sai xấu (bất thiện hành). Như vậy, định nghĩa của
Phật học mang tính điều khiển, dựa trên trạng thái đầu
ra (output) của quá trình để xác định các yếu tố đầu
vào (input). Để đạt được đầu ra như mong muốn, người
ta cần điều chỉnh hành động của mình. Định nghĩa này
hiện đại và mang tính thực tiễn vì sự điều chỉnh vận
hành dựa trên lợi ích bền vững lâu dài của chính cá thể
thực hiện.
Tuy
nhiên, việc phân định vận hành đúng tốt và sai xấu một
cách toàn diện là một quá trình vượt quá sự hiểu biết
của người bình thường và hiểu biết của khoa học hiện
nay. Để mường tượng được độ phức tạp của nguyên
lý nhân quả và tạo cơ sở cho việc tự điều chỉnh, một
số khía cạnh của nguyên lý nhân quả cần phải được phát
biểu.
Nguyên
lý thứ nhất cần lưu ý là nguyên lý sát-na sai biệt. Nguyên
lý sát-na sai biệt là một nguyên lý cơ bản của Phật học,
biểu thị sự thay đổi liên tục trong từng khoảnh khắc
của mọi quá trình. Ngoài ra, sự chồng chập nhiều lộ trình
khác nhau trong khoảng thời gian ngắn làm xuất hiện các vận
hành thuộc loại không thuần nhất, đúng tốt ở sát-na này
và sai xấu ở sát-na khác. Trạng thái này gọi là mất định
hướng.
Nguyên
lý thứ hai cần đề cập tới là nguyên lý biến dị bất
định. Sự biến đổi thứ nhất là sự biến đổi sai khác
giữa nguyên nhân và kết quả làm cho chúng ta khó đoán trước
được hậu quả của mỗi vận hành. Sự bất định thứ
hai là hiện tượng chồng chập nhiều vận hành nhỏ gây ra
hậu quả lớn. Sự bất định thứ ba là sự cộng hưởng,
khi một vận hành nhỏ gây cảm ứng cho một vận hành khác
có hậu quả lớn.
Nguyên
lý thứ ba cần đề cập tới là nguyên lý quán tính của
cái biết. Cơ sở của nguyên lý này là sự hoạt động của
cái biết theo xu thế nội sinh (nghiệp lực, bản năng) và
sự hoạt động theo thói quen, sự chương trình hóa, sự tự
động hóa các vận hành (do giáo dục, do suy tư, do sự
hiểu biết sai). Nguyên lý quán tính làm mất giai đoạn tự
do ý chí của lộ trình nhận thức vi mô và xu thế nội sinh
trở thành xu thế nội sinh tất yếu. Nói khác đi, trong trường
hợp này hành trình chuyển biến nội hàm trở thành quá trình
hoạt động của số mệnh. Nguyên lý quán tính cũng làm cơ
sở cho sự tích lũy các vận hành theo một chiều hướng nào
đó trong một thời gian dài.
Từ
ba nguyên lý trên, nhiều kết luận quan trọng cần được
nói tới. Thứ nhất, do nguyên lý sát-na sai biệt, mỗi cá
thể chịu trách nhiệm về chất lượng của các vận hành
và có thể định hướng các động lực nội sinh. Vì phần
lớn các lộ trình vi mô là gần như tự động, không thuần
nhất, nên mỗi khi ý thức có thể tham dự, nó cần phải
làm cho vận hành trở nên đúng tốt. Ta có thể gọi đây
là nguyên tắc điều chỉnh tái định hướng đúng tốt. Thứ
hai, sự tự điều chỉnh phải từ những vận hành nhỏ
và dễ, do nguyên lý biến dị bất định, cần phải tránh
các vận hành sai xấu vi tế, vì mỗi vận hành “phiên phiến”
đó có thể dẫn đến hậu quả xấu phải hối tiếc. Nguyên
tắc này có thể gọi là điều chỉnh đúng tốt vi mô
toàn diện. Thứ ba, do nguyên lý quán tính, cần phải
làm cho các vận hành đúng tốt trở thành ưu thế và có thể
thành thói quen, tự động hoá, liên tục, để cho các vận
hành sai xấu xuất hiện đột ngột không có môi trường phát
triển mạnh và không tạo ra sự cộng hưởng với các vận
hành khác. Nguyên tắc này có thể gọi là điều chỉnh liên
tục tạo ưu thế đúng tốt. Do nguyên lý quán tính, cần phải
tránh tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Chẳng
hạn, muốn có lối sống tiết kiệm nhưng lại tạo khuynh
hướng kích cầu; muốn tạo khuynh hướng xây dựng đất nước
nhưng lại thường xuyên đề cập về chiến tranh, đổ vỡ;
muốn có một xã hội học tập nhưng chương trình tivi lại
nghiêng nặng về hướng giải trí...