.
..SỐ 08 -THÁNG 9, 2005
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 08-THÁNG 9, 2005

 

 

TỰ ĐIỀU CHỈNH 
CÁC NGUYÊN LÝ VẬN HÀNH
Thanh Tiến

LTS: Sau khi đăng bài “Tự điều chỉnh - giải pháp của đời sống”, VHPG đã nhận được một số ý kiến phản hồi từ bạn đọc. VHPG xin giới thiệu một trong những ý kiến đó.

Nguyên tắc tự điều chỉnh là nguyên tắc cốt yếu trong đời sống. Tự điều chỉnh làm cho cá thể và cộng đồng phát triển một cách ổn định bền vững. Nguyên tắc tự điều chỉnh dựa trên cơ sở của nguyên lý nhân quả mà loài người cho tới nay vẫn còn mù mờ. Cách đây 2.500 năm, Phật học đã xác định các yếu tố đúng tốt (thiện) và yếu tố sai xấu (bất thiện), dựa trên hậu quả của các vận hành. Nếu vận hành, sau một hành  trình biến đổi nội hàm (nghiệp) của cá thể, đem lại điều  hoan hỷ và an lạc cho mình, cho người khác và cho môi trường thì gọi là vận hành đúng tốt (thiện hành). Ngược lại thì gọi là vận hành sai xấu (bất thiện hành). Như vậy, định nghĩa của Phật học mang tính điều khiển, dựa trên trạng thái đầu ra (output) của quá trình để xác định các yếu tố đầu vào (input). Để đạt được đầu ra như mong muốn, người ta cần điều chỉnh hành động của mình. Định nghĩa này hiện đại và mang tính thực tiễn vì sự điều chỉnh vận hành dựa trên lợi ích bền vững lâu dài của chính cá thể thực hiện.

Tuy nhiên, việc phân định vận hành đúng tốt và sai xấu một cách toàn diện là một quá trình vượt quá sự hiểu biết của người bình thường và hiểu biết của khoa học hiện nay. Để mường tượng được độ phức tạp của nguyên lý nhân quả và tạo cơ sở cho việc tự điều chỉnh, một số khía cạnh của nguyên lý nhân quả cần phải được phát biểu.

Nguyên lý thứ nhất cần lưu ý là nguyên lý sát-na sai biệt. Nguyên lý sát-na sai biệt là một nguyên lý cơ bản của Phật học, biểu thị sự thay đổi liên tục trong từng khoảnh khắc của mọi quá trình. Ngoài ra, sự chồng chập nhiều lộ trình khác nhau trong khoảng thời gian ngắn làm xuất hiện các vận hành thuộc loại không thuần nhất, đúng tốt ở sát-na này và sai xấu ở sát-na khác. Trạng thái này gọi là mất định hướng.

Nguyên lý thứ hai cần đề cập tới là nguyên lý biến dị bất định. Sự biến đổi thứ nhất là sự biến đổi sai khác giữa nguyên nhân và kết quả làm cho chúng ta khó đoán trước được hậu quả của mỗi vận hành. Sự bất định thứ hai là hiện tượng chồng chập nhiều vận hành nhỏ gây ra hậu quả lớn. Sự bất định thứ ba là sự cộng hưởng, khi một vận hành nhỏ gây cảm ứng cho một vận hành khác có hậu quả lớn.

Nguyên lý thứ ba cần đề cập tới là nguyên lý quán tính của cái biết. Cơ sở của nguyên lý này là sự hoạt động của cái biết theo xu thế nội sinh (nghiệp lực, bản năng) và sự hoạt động theo thói quen, sự chương trình hóa, sự tự động hóa các vận hành (do giáo dục, do suy tư, do sự  hiểu biết sai). Nguyên lý quán tính làm mất giai đoạn tự do ý chí của lộ trình nhận thức vi mô và xu thế nội sinh trở thành xu thế nội sinh tất yếu. Nói khác đi, trong trường hợp này hành trình chuyển biến nội hàm trở thành quá trình hoạt động của số mệnh. Nguyên lý quán tính cũng làm cơ sở cho sự tích lũy các vận hành theo một chiều hướng nào đó trong một thời gian dài.

Từ ba nguyên lý trên, nhiều kết luận quan trọng cần được nói tới. Thứ nhất, do nguyên lý sát-na sai biệt, mỗi cá thể chịu trách nhiệm về chất lượng của các vận hành  và có thể định hướng các động lực nội sinh. Vì phần lớn các lộ trình vi mô là gần như tự động, không thuần nhất, nên mỗi khi ý thức có thể tham dự, nó cần phải làm cho vận hành trở nên đúng tốt. Ta có thể gọi đây là nguyên tắc điều chỉnh tái định hướng đúng tốt. Thứ hai, sự tự điều chỉnh phải từ  những vận hành nhỏ và dễ, do nguyên lý biến dị bất định, cần phải tránh các vận hành sai xấu vi tế, vì mỗi vận hành “phiên phiến” đó có thể dẫn đến hậu quả xấu phải hối tiếc. Nguyên tắc này có thể gọi là điều chỉnh đúng tốt vi mô  toàn diện.  Thứ ba, do nguyên lý quán tính, cần phải làm cho các vận hành đúng tốt trở thành ưu thế và có thể thành thói quen, tự động hoá, liên tục, để cho các vận hành sai xấu xuất hiện đột ngột không có môi trường phát triển mạnh và không tạo ra sự cộng hưởng với các vận hành khác. Nguyên tắc này có thể gọi là điều chỉnh liên tục tạo ưu thế đúng tốt. Do nguyên lý quán tính, cần phải tránh tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Chẳng hạn, muốn có lối sống tiết kiệm nhưng lại tạo khuynh hướng kích cầu; muốn tạo khuynh hướng xây dựng đất nước nhưng lại thường xuyên đề cập về chiến tranh, đổ vỡ; muốn có một xã hội học tập nhưng chương trình tivi lại nghiêng nặng về hướng giải trí... 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 08 -THÁNG 9 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)