ĐÔI
NÉT VỀ ĐOẠN ĐƯỜNG
ĐI
VÀO LỊCH SỬ DÂN TỘC
Trao
đổi với GS Lê Thành Khôi
Trịnh
Văn Thảo
LTS:
Sinh trưởng trong một gia đình theo truyền thống Nho giáo và
đạo Phật, lại được đào tạo đa ngành rất vững chắc,
Giáo sư Lê Thành Khôi là gương mặt trí thức lớn của Việt
Nam tại hải ngoại, thấm nhuần sâu sắc cả hai nền văn
hoá Đông, Tây. Sự nghiệp khoa học của Giáo sư hết sức
đồ sộ, viết bằng nhiều ngôn ngữ, ông cũng là người
làm công tác tư vấn, nghiên cứu và giảng dạy cho nhiều
tổ chức quốc tế. Giáo sư là người luôn thiết tha gắn
bó với quê hương. VHPG trích giới thiệu bài trao đổi của
Trịnh Văn Thảo, Giáo sư Đại học Aix en Provence, Marseille,
Pháp, với Giáo sư Lê Thành Khôi.
Trong
nỗ lực tìm hiểu hành trình tri thức và quan niệm viết sử
Việt Nam của Giáo sư Lê Thành Khôi, chúng tôi đã đề nghị
Giáo sư trả lời một số câu hỏi được ghi sẵn. Thay vì
tự chấp bút, trong bài này chúng tôi xin giữ vai “kép phụ”,
làm người phỏng vấn nhằm gợi lên một vài câu hỏi có
liên quan đến hành trình trí thức cùng sử quan của Giáo
sư trong quyển Histoire du Viet Nam des origines à 1858 (“Lịch
sử Việt Nam: từ khởi thủy đến năm 1858”, Paris, Sudestasie,
1992, 452 trang) - đặc biệt là chương III. Để có cái nhìn
toàn cảnh, sau mỗi phần trả lời của Giáo sư chúng tôi
xin ghi thêm đôi lời chú giải về bối cảnh lịch sử và
văn hóa.
Sau
đây là những câu trả lời của Giáo sư Lê Thành Khôi.
1.
Về ảnh hưởng của gia đình
Trong
gia đình, mẹ tôi rất sùng mộ đạo Phật, ngày nào cũng
tụng kinh. Có lẽ ít nhiều do ảnh hưởng đó nên hiện nay
nhằm biên soạn quyển lịch sử và tuyển tập văn học Phật
giáo Việt Nam bằng tiếng pháp, tôi cảm thấy thật thú vị
khi dịch một số văn thơ đượm hương vị Thiền, đặc biệt
những tác phẩm vào thời Lý Trần, trong đó có nhiều tác
phẩm chưa bao giờ được chuyển sang tiếng Tây phương. Còn
cha tôi thì thiên về Khổng giáo, từng cộng tác với ông
Nguyễn Hữu Tiến viết cuốn Việt Văn hợp tuyển giảng nghĩa,
xuất bản ở Hà Nội vào năm 1925. Trong nhà tôi ngày trước
có nhiều sách ta và sách tây, nhờ vậy tôi có dịp đọc
nhiều ngay từ thuở bé. Cha mẹ tôi và bà nội tôi thường
kể cho tôi nghe những chuyện cổ tích và lịch sử. Phù Đổng
Thiên Vương có lẽ là chuyện tôi thích nhất.
Chú
giải:
Hầu
hết các nhà tri thức Việt Nam đều nhấn mạnh vai trò của
gia đình trong sự “khai tâm” vào môn lịch sử. Phần đông
đều ghi nhớ những câu chuyện dã sử, cổ tích hay thần
thoại ít nhiều có liên hệ với lịch sử Việt Nam, qua lời
kể của ông, bà hay chị vú ngày còn bé ở nhà quê.. nằm
trên tấm phản gỗ giữa đêm thâu…
Thân
phụ của Giáo sư Lê Thành Khôi là Giáo sư Lê Thành Ý (1893-1973)
dạy về văn học. Cùng với các học giả Dương Quảng Hàm,
Lê Thước, Nguyễn Lân, Giáo sư Lê Thành Ý thuộc thế hệ
những nhà mô phạm lớn của hệ thống giáo dục thời Pháp-Việt.
Về điểm này, chúng tôi đã có dịp trình bày chi tiết trong
cuốn Trịnh Văn Thảo, L’Ecole Francaise en Indochine (“Quy chế
và chính sách giáo dục của Pháp ở Đông Dương”, Paris,
Karthala, 1995, 260 trang). Trong chúng ta, chắc hẳn nhiều người
vẫn còn giữ lại những kỷ niệm tương tự như câu chuyện
Phù Đổng Thiên Vương của Giáo sư Lê Thành Khôi.
Ngoài
ảnh hưởng gia đình, đa số các nhà trí thức cũng nhấn
mạnh ảnh hưởng của sách vở, đặc biệt những cuốn tiểu
thuyết đọc vỡ lòng. Ví dụ, trong thời niên thiếu của
Giáo sư Nguyễn Thế Anh, Tiêu Sơn Tráng Sĩ của Khái Hưng
là tác phẩm có sức lôi cuốn nhất.
2.
Về ảnh hưởng của nhà trường
Tôi
sinh ra ở Hà Nội, hồi nhỏ theo học trường Pháp. Từ lớp
11, tôi học ở Lycée Albert Sarraut. Lý do là cha tôi được
bổ làm giáo sư ở đấy, dạy về ngôn ngữ và Văn học Việt
Nam. Trong ban Triết, tôi học cổ điển học, cụ thể là học
về ngôn ngữ và Văn hóa La Tinh và Hy Lạp. Lúc bấy giờ tôi
thích thơ hơn là sử, văn Hy hơn văn La. Tôi say mê đến nỗi
có lần đem một đoạn từ Odyssée - tôi hãy còn nhớ rõ là
đoạn “Nausicaa”- dịch ra tiếng Pháp theo thể thơ Alexandrin
mỗi hàng có 12 âm tiết. Và tôi làm thơ Pháp, đầu năm 1945
tôi cho ra đời tập L’offrande des tubéreuses (Trang tặng những
cành hoa huệ, nhà in Taupin, Hà Nội). Đây là tác phẩm đầu
lòng của tôi.
Ở
trường Pháp không dạy lịch sử Việt Nam. Bù vào đấy tôi
đọc sách ở nhà. Sau khi đỗ Tú tài, tôi theo học Luật,
Y khoa và Mỹ thuật.
Chú
giải:
Về
quá trình học tập thuở ấy, con đường “cái quan” mà
Giáo sư Lê Thành Khôi đã đi qua chỉ dành cho một số ít
học sinh, con các nhà khoa bảng, trung lưu hay cho một số ít
học sinh con em của những gia đình nghèo nhưng nhờ học hành
xuất sắc nên được nhận vào trường sau khi đã vượt qua
những kỳ khảo hạch hóc búa (Xem Trịnh Văn Thảo, sách đã
dẫn).
Dưới
thời thuộc địa, môn lịch sử Việt Nam là một môn học
cấm kỵ từ cấp tiểu học cho đến cấp trung học. Trong
quy chế đại học, một vài giáo trình của Léonard Aurousseau,
Charles Maybon hay Đại tá Bonifacy có liên quan đến lịch sử
Việt Nam được dùng để giảng dạy cho sinh viên trường
Luật và trường Cao Đẳng. Chính vì thế nên những công trình
nghiên cứu về văn học và lịch sử của Dương Quảng Hàm
(Việt Nam Văn học sử yếu), của Trần Trọng Kim (Việt Nam
Sử Lược), .v.v... có ý nghĩa rất quan trọng trong thời điểm
này.
3.
Tiếp xúc với khoa Sử trong các Đại học Pháp
Tháng
12, 1946( khởi đầu thời kỳ toàn quốc kháng chiến 9 năm,
kết thúc với chiến thắng Điện Biên Phủ), tôi bị kẹt
ở Hà Nội. Sợ bị lợi dụng, một năm sau đó, cha mẹ tôi
cho tôi sang Pháp học. Tôi theo học kinh tế ở trường Luật
và Kinh Tế (lúc bấy giờ chưa tách rời), đỗ tiến sĩ với
luận án về kinh tế Nhật Bản. Cũng trong thời gian này, tôi
theo học Emile Gaspardone, giáo sư về Lịch sử Việt Nam ở
Collège de France. Gaspardone là một nhà nghiên cứu rất nghiêm
túc, tỉ mỉ, cặn kẽ, luôn luôn tôn trọng nguyên tắc “nói
có sách mách có chứng”, sẵn sàng thảo luận và chấp nhận
những ý kiến khác với ý kiến của mình. Ý định viết
một cuốn sử Việt Nam trình bày cách nhìn Việt Nam, phản
bác những thuyết sai lầm hay có ác ý muốn bóp méo sự thật
của thực dân, nảy sinh trong tôi từ lúc đó. Để đọc được
những tài liệu xưa của nước ta, tôi bắt đầu học Hán
ngữ (và luôn thể Việt ngữ) ở trường Ngôn ngữ Đông phương
(Ecole nationnale des Langues Orientales vivantes), ba năm sau thi xong,
đỗ thủ khoa. Tôi còn lấy thêm bằng Cử nhân Văn khoa (trong
đó có sử).
Tôi
viết xong quyển Le Viet Nam: Histoire et Civilisation (Việt Nam:
Lịch sử và Văn minh) năm 1954, được Editions de minuit nhận
xuất bản năm 1955, là cuốn sử đầu tiên viết bằng tiếng
Tây phương có cái nhìn mới (khác với sách của thực dân),
ra 3,4 tháng trước quyển Contribution à I’histoire de la nation
Vietnamienne (Đóng góp vào lịch sử nước Việt Nam) của Jean
Chesneaux. Trước và trong lúc viết, tôi đã đọc nhiều Marx,
Engels, cùng những sách về lịch sử thế giới, phương pháp
luận sử học và biện chứng duy vật (sau này mới xem đến
Kinh Dịch).
Ý
định viết một cuốn sử Việt Nam cho người ngoại quốc
đọc trước hết là một ý định chính trị, sau mới là
ý định khoa học (nhưng tránh tuyên truyền).
Chú
giải:
Giáo
sư Emile Gaspardone mà Giáo sư Lê Thành Khôi có đề cập
trên là một nhà Ngôn ngữ học và Đông phương học lỗi
lạc. Chính Giáo sư Gaspardone đã phê bình nghiêm khắc xu hướng
“trọng Hoa, khinh Việt” của một số nhà nghiên cứu ở
trường Viễn Đông Bác Cổ.
Quyển
Le Viet Nam: Histoire et Civilisation được nhà xuất bản Minuit
(bắt nguồn từ thời kháng chiến chống Đức Quốc Xã) phát
hành năm 1955 đánh dấu một kỷ nguyên mới trong ngành
Sử học Việt Nam, cùng thời với cuốn Contribution à L’histoire
de la nation Vietnamienne của Sử gia Jean Chesneaux (do Les Edistions
Sociales, có quan hệ với Đảng Cộng sản Pháp, xuất bản).
Hai tác giả được đào tạo trong những môi trường chuyên
môn, nghề nghiệp và ý thức chính trị khác nhau. Jean Chesneaux
là Thạc sĩ Sử học, gia nhập Đảng Cộng sản cũng như nhiều
trí thức ở Pháp sau thế chiến II và Giáo sư Lê Thành Khôi
có thể được xem là một trí thức Việt Kiều và người
bạn “đồng hành” của chính phủ Hồ Chí Minh. Cách nhìn
và phương pháp phân tích các sự kiện lịch sử có khác nhau.
Quan điểm duy vật của Sử quan Jean Chesneaux cho phép ông vận
dụng lý thuyết và những khái niệm như “phong kiến”, “tư
bản” hay phân kỳ lịch sử Việt Nam theo cách phân kỳ lịch
sử Âu Châu (cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại,.v.v…).
Tuy nhiên, khác với những công trình nghiên cứu cùng thời,
cả hai tác giả đều chú trọng đến cách sử dụng sử liệu
một cách nghiêm túc, đối chiếu và dẫn chứng. Ngoài ra,
mẫu số chung giữa hai nhà nghiên cứu là tôn trọng cá tính
dân tộc Việt Nam, không coi nó như là một sản phẩm văn
hóa và chính trị suy thoái của mô hình Trung Quốc được
các nhà thông thái Đông phương học của trường Viễn Đông
Bác Cổ - kể cả một nhân vật xuất sắc như Paul Mus - tạo
dựng thành khuôn vàng thước ngọc.
4.
Nhận xét về ngành sử học trong và ngoài nước hiện nay
Kiến
thức khiêm tốn của tôi không cho phép tôi đánh giá ngành
sử học ở trong và ngoài nước một cách đầy đủ. Nhưng
tôi nghĩ rằng ngành Sử và ngành Văn học là hai ngành mạnh
nhất ở Việt Nam, so với những ngành như Tâm Lý học hay
Xã hội học. Sử học (và khảo cổ học) đã đạt được
nhiều thành tựu đáng khen ngợi, đóng góp cho sự hiểu biết
về quá khứ của nước nhà.
Nói
về những hạn chế, trước đây, do ảnh hưởng của tư duy
cũ, cũng có một số nhà nghiên cứu đã đặt tuyên truyền
chính trị trên sự thậât khoa học. Chẳng hạn, vào năm 1955,
khi quyển sách nói trên của tôi vừa ra đời, có người viết
trên báo nghiên cứu lịch sử ở trong nước cho rằng tôi
đã lầm lẫn khi viết là Gia Long đã thống nhất nước nhà
năm 1802. Theo quan điểm của nhà nghiên cứu đó, phải nói
là nhà “Tây Sơn mới đúng”. Tôi có trả lời, giải thích
rằng sau khi thắng, anh em Tây Sơn đã chia đất với nhau: Nguyễn
Huệ chiếm Bắc Hà, Nguyễn Nhạc giữ đất từ đèo Hải
Vân đến Bình Thuận, còn Nguyễn Lữ thì lấy được Gia Định
nhưng từ cuối năm 1787 thành này đã lọt vào tay Nguyễn Ánh.
Nhà nghiên cứu ấy không trả lời được, bảo rằng tôi
là “tiểu tư sản”. Trong một vài cuốn sách xuất bản
gần đây, vẫn có người cho rằng nhà Tây Sơn đã thống
nhất Việt Nam.
Xin
lấy một ví dụ khác: có nhiều sách vẫn nói đến 4.000 năm
lịch sử Việt Nam. Nếu vậy, thì mỗi vua Hùng trị vì 100
năm. Làm sao có được! Trong khi Đại Việt Sử Lược (thế
kỷ thứ XIV) viết rằng Hùng vương dựng nước vào cuối
thế kỷ VII trước Công nguyên, nghĩa là mỗi vua Hùng trị
vì 20 năm: như vậy thì còn khả tín.
Một
vấn đề khác là việc “nhập cảng” những khái niệm không
thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam, chẳng hạn như khái niệm
“trung đại”. Dùng khái niệm “trung đại” có lý ở Châu
Âu: từ “trung đại” là để chỉ thời đại giữa cổ
đại (thời Hy Lạp và La Mã) và Phục hưng. Nhưng ở Đông
Á trong đó có Việt Nam đâu có gì gọi là “Phục hưng”.
Trong lịch sử nghìn năm độc lập của nước ta, thay đổi
chính yếu giữa giai đoạn 939-1428 (gọi tắt là Lý-Trần);
và giai đoạn 1428-1862 (gọi tắt là Lê-Nguyễn) là một sự
thay đổi chính trị và tư tưởng. Trong giai đoạn 1, giai cấp
thống trị là quý tộc(họ hàng nhà vua) dùng Tam giáo (với
Phật giáo đứng đầu).
Trong
giai đoạn 2, giai cấp thống trị là Nho quan. Cần để ý “sĩ”
không phải là một giai cấp, vì có sự phân chia nội bộ:
người thi đỗ thì làm quan, người thi không đỗ thì trở
về làng mở trường dạy học trò, nhiều khi đứng về phía
dân, lãnh đạo các cuộc nổi dậy chống triều đình.
Chú
giải:
Quyển
Histoire du Viet Nam des origines à 1858 được nhà xuất bản Sudestasie
(Paris) phát hành năm 1992 (gồm 452 trang cùng nhiều tranh ảnh
và phụ lục) mang lại nhiều yếu tố mới mẻ so với bản
in năm 1955, nhất là trong chương III khi tác giả đặt
vấn đề hình thành của nhà nước Việt Nam (trang 125).
Tác
giả đăt vấn đề tại sao “nhiều sử gia lại dùng từ
“phong kiến” nhằm chỉ chế độ Việt Nam thời xưa bao
gồm cả thời Bắc thuộc dưới sự cai trị của nhà Hán
trong khi chính từ này cũng được dùng để chỉ xã hội Trung
Quốc đời nhà Hán, còn các thời đại trước đó thì được
gọi là “thời kỳ nô lệ” (sic). Dùng từ “phong kiến”
lại không ổn do nhiều lý do nên một số nhà nghiên cứu
đã đem hâm nóng lại khái niệm “phương thức sản xuất
phương Đông”, một khái niệm đã bị quên lãng từ lâu,
nhằm “áp dụng vào Việt Nam và Trung Quốc” (tr.127).
Vấn
đề so sánh khái niệm lý thuyết với thực tại lịch sử
từng nước, dĩ nhiên rất tế nhị vì thực chất và căn
bản lý luận không đồng nhất. Tuy nhiên, khi thực tại lịch
sử không phù hợp với lô-gích xã hội của khái niệm lịch
sử, sử gia phải thận trọng để tránh những ngộ nhận
trong việc nghiên cứu và nhận định lịch sử. Chẳng hạn
như khái niệm “phong kiến” áp dụng vào quan hệ sản xuất
xã hội, phương thức hình thành và lô-gích tái tạo giai cấp
thống trị, cơ sở kinh tế (chế độ chiếm hữu tư sản),
chế độ sắc phong, vai trò của ý thức hệ và tôn giáo,
tương quan đẳng cấp giữa cá nhân,.v.v. nếu chưa nắm được,
thì chỉ đưa tới hậu quả không thể tránh khỏi là đơn
thuần hóa hay chí ít là trung lập hóa nó một cách vô thưởng
vô phạt. Trong kinh điển mácxit, khái niệm “phương thức
sản xuất phương Đông” có triển vọng giải thích những
cá tính của các nước Á châu: Nhà nước tập trung với vai
trò độc đáo về kinh tế, quân sự, xã hội, tự trị ở
nông thôn,… Tuy nhiên, những cuộc tranh luận sôi nổi vào
thập niên 1970 đã không mang lại những kết luận thỏa đáng
vì theo một số học giả mácxit, khái niệm này chỉ áp dụng
vào những xã hội quá độ chưa có giai cấp xã hội rõ ràng,
như vậy nó không thể áp dụng vào các nước tiền tư bản
như Trung Quốc hay Ấn Độ. Sau khi so sánh và phân tích chi
li chế độ điền địa, quan hệ xã hội, vai trò của nhà
nước Nho quan trong nhiệm vụ bảo vệ biên giới (quân sự),
xây đê điều và canh tác ruộng đất, quan hệ giai cấp,…
với kinh điển mácxit và kinh nghiệm lịch sử châu Âu, tác
giả cho rằng những khái niệm này không thể áp dụng vào
hoàn cảnh lịch sử Việt Nam và đi đến kết luận là nên
phân chia thời đại Việt Nam từ kỷ nguyên độc lập như
sau: Thời đại quân chủ thân tộc (la monarchie patrimoniale,
xem định nghĩa ở tiết 3, tr 172, sách đã dẫn) gồm
các đời Lý Trần (thế kỷ X-XV), thời đại Quân chủ quan
liêu (hay Nho quan) từ nhà Lê đến nhà Nguyễn (thế kỷ XV-XX).
Dĩ
nhiên, việc phân chia thời đại bao giờ cũng dính liền với
quan điểm viết sử của cộng đồng sử gia, đòi hỏi sự
thống nhất tư tưởng và tiêu chuẩn khoa học. Sự lựa chọn
này phải hợp lý và quyển Histoire du Viet Nam des origines à
1858 đã thực sự đánh dấu bước đầu lịch sử đó.
Aix
en Provence, tháng 11-2004
Viết
trong niềm tưởng nhớ Giáo sư Lê Thành Ý
Trịnh
Văn Thảo
Học
trò cũ của thầy ở một ngôi trường Trung học Phố La tinh,
Paris