.
.SỐ 09 -THÁNG 10, 2005.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC.
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 09-THÁNG 10, 2005

 

 

ÂN NGHĨA QUANH TA
Đào Nguyên

Đối với tôi, cái tên Phùng Khánh, Trí Hải vốn rất quen thuộc, dù cho đến giờ tôi vẫn chưa hề biết mặt, nói chi tới việc được gặp gỡ hầu chuyện. Chính vì không hề cảm thấy xa lạ, nên khi hay tin Ni sư quan đời - mà qua đời vì một tai nạn giao thông - tôi đã thực sự xúc động, xúc động đến ngậm ngùi, tiếc nuối, vì một lần nữa thấy cuộc sống luôn luôn có những chông chênh, hụt hẫng.

Nay cảm xúc kia lại trở về miên man, và tôi chợt hiểu, trong hành trình tri thức của cả một đời người, chúng ta đã rất nhiều lần, hoặc vay mượn, nhờ vả, hoặc nương dựa, tin cậy bao  người gần xa chung quanh, dù chưa hề quen biết họ. Một trang sách một đoạn thơ, một bài hát, một điệu ru.v.v…, tất cả đã góp phần nuôi dưỡng, làm phong phú thêm vùng trời nhận thức của ta. Những ân nghĩa như thế, dù ít, dù nhiều, thật đáng để cho ta ghi nhận, nâng niu, trân trọng. Một vài hồi ức rời rạc được nối kết vội vàng trong bài viết ngắn này, xin được xem như chút tâm hương của người đồng đạo, cảm niệm về một bậc nữ tu vừa về với cõi Phật.

1. Hồi ấy, khoảng 1959 – 1962, tôi bắt đầu làm quen với sách báo Phật giáo và “thỉnh” được hai cuốn sách làm nền cho tủ sách Phật học của mình, đó là cuốn Phật pháp của bốn tác giả Minh Châu, Thiên Ân, Đức tâm, Chân Trí cùng cuốn Đạo Phật của Huyền Chân, và nhất là được đọc báo Liên Hoa. Tôi không nhớ chính xác số báo Liên Hoa ấy nhưng nhan đề và tác giả thì nhớ rất rõ. Bài tùy bút có tên Xuống tóc, tác giả là Nguyễn Thái, người thường xuyên viết trên báo Liên Hoa những bài tùy bút ngắn, tôi đọc rất thích. Về sau tôi được biết thêm ông chính là nhà thơ Thi Vũ, người từng Việt dịch Tâm Kinh Bát Nhã với cái tên rất nôm na: Kinh Ruột. Sau đó, qua câu chuyện từ một số thầy lớn tuổi, tôi được biết bài tùy bút Xuống Tóc kia là những cảm niệm về việc xuất gia đầu Phật của cô Phùng Khánh. Như thế là, trong vùng không gian mênh mông và trong veo nơi ký ức của mình bấy giờ, cái tên Phùng Khánh đã hiện ra và trụ lại như một cái gì đẹp đẽ, tươi vui, khó quên.

2. Những năm 1964-1968, tôi theo học ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn, ban Triết Đông, nên có khá nhiều thời giờ rảnh để lui tới các hiệu sách, kể cả các quầy sách cũ: mua sách để đọc có, mua để chưng cho đẹp cũng có. Sách hồi đó giá rẻ so với túi tiền của một sinh viên nghèo như tôi. Và trong cái rừng sách văn học dịch thượng vàng hạ cám của Sài Gòn thời ấy, tác phẩm Câu Chuyện Của Dòng Sông của Hermann Hesse do Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch (NXB Lá Bối) đã xuất hiện, cũng đem lại một cái gì thật đẹp, không thể không chú ý. Có lẽ đây là lần đầu tiên, một gương mặt lớn của Văn học Đức thế kỷ XX đã được giới thiệu với  bạn đọc trẻ Việt Nam. Sách in đẹp, bối cảnh của câu chuyện là phương Đông, phản phất bóng dáng của Phật giáo, câu văn dịch sáng sủa, uyển chuyển, càng khiến cho cái tên Phùng Khánh kia trở thành không thể quên được đối với tôi. Tiếc là sau đó, một số tác phẩm tiêu biểu của Hermann Hesse (1877-1962) như Sói Đồng Hoang, Tuổi Trẻ Băn Khoăn .v.v… NXB Ca Dao in với bản Việt dịch không đạt.

Bên cạnh bút hiệu Phùng Khánh là bút hiệu Trí Hải với các dịch phẩm cũng rất đáng chú ý như: Con Đường Thoát Khổ (W.Rahula), Câu Chuyện Triết Học (Will Durant), Hồi Ký Của Thánh Ghandhi… Hồi đó, một số tác phẩm về sử nổi tiếng của Will Durant đã được học giả Nguyễn Hiến Lê Việt dịch như Lịch Sử Văn Minh Ấn Độ, Lịch Sử Văn Minh Trung Quốc, Lịch Sử Văn Minh Ả Rập, Bài Học Lịch Sử… được đông đảo người đọc hoan nghênh, thì bản Việt dịch Câu chuyện của triết học (Nha Tu Thư Viện Đại HọÏc Vạn Hạnh xuất bản) là một bổ sung cần thiết, vì đấy là những ghi nhận tóm tắt, những đánh giá chính xác, có giá trị của Sử gia Will Durant về một số Triết gia tiêu biểu của Triết học Tây phương.

Người viết lịch sử văn học Việt Nam, vì lý do này nọ, có thể không chú ý lắm về giai đoạn văn học 1964-1975 ở miền Nam. Nhưng người viết lịch sử Phật giáo Việt Nam, lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam thì không thể quan tâm tới thời gian này, với sự xuất hiện và thành tựu của Viện Đại họÏc Vạn Hạnh, NXB Lá Bối, An Tiêm, cũng như những đóng góp của dịch giả Phùng Khánh-Trí Hải.

3. Tất nhiên, ngòi bút dịch thuật Phùng Khánh-Trí Hải đã được nhiều bạn đọc gần xa mến mộ. Nhưng bày tỏ sự hâm mộ trên giấy trắng mực đen như bài thơ Bùi Giáng thì quả là điều hết sức đặc biệt. Tôi được biết loáng thoáng là căn phòng chứa đầy sách của Thi sĩ họ Bùi ở đâu đó gần chợ Hòa Hưng; Sài Gòn đã bị cháy rụi, và Bùi Giáng trở thành kẻ lang thang đã trở về tá túc qua ngày ở Đại học Vạn Hạnh, gần cầu Trương Minh Giảng. Không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng, Bùi Giáng còn là một dịch giả tài hoa đã dịch khá nhiều tác phẩm Văn học có giá trị trên thế giới, ông cũng là một cây bút nghiên cứu Triết học với bộ sách khá dày viết về “Tư tưởng hiện đại”. Tôi không biết rõ là ông nhà thơ họ Bùi này đã hâm mộ Ni cô Phùng Khánh từ lúc nào, chỉ biết là ông đã viết, đã in nơi tác phẩm của mình, tất nhiên, tôi cũng không nhớ đích xác là cuốn gì, nhưng những dòng viết kia thì nhớ, nhớ mãi. Bùi Giáng viết theo kiểu Tam Đoạn Luận của Aristote:

- Phùng Khánh là mẹ Việt Nam
  Mà tôi là người Việt Nam
  Vậy tôi là con của Phùng Khánh

(Nếu tôi không là con của Phùng Khánh thì tôi là người Tàu, người Ấn Độ.v.v... sao?)

- Phùng Khánh là mẹ loài người
  Mà tôi là con người
  Vậy tôi là con của Phùng Khánh.

(Nếu tôi không là con của Phùng Khánh thì hóa ra tôi là con bò, con chó.v.v... sao?)

Tôi không rõ hồi ấy Ni sư Trí Hải đã có thái độ như thế nào về những câu viết kia? Tôi nghĩ, chắc Ni sư có đọc thì cũng hoan hỷ mỉm cười. Và như thế là cũng tạm đủ, vì cuộc đời lúc nào cũng cần đến những nụ cười. Nhà thơ Bùi Giáng đã trở thành người thiên cổ. Ni sư Trí Hải thì cũng trở về với cõi Phật. Tôi ghi lại điều này như một giai thoại văn học thú vị, và một lần nữa khẳng định, đối với tôi, cái tên Phùng Khánh đã trụ lại nơi trí nhớ của mình, không thể quên được.

4. Bẵng đi một thời gian, miền Nam được giải phóng, đất nước được thống nhất, và rồi đất nước đổi thay, đất nước đổi mới. Một vài tờ báo có tính chất nghiên cứu của Phật giáo đã ra đời như Tập Văn, Nguyệt san Giác Ngộ, và người đọc có dịp làm quen với những bài viết, bài dịch của Ni sư Trí Hải. Bấy giờ, cái tên Phùng Khánh hầu như đã trở thành dĩ vãng, nhưng chắc chắn vẫn còn được rất nhiều người nhớ đến, trong số đó có tôi. Những người đã từng đọc các dịch phẩm của Ni sư Trí Hải trước năm 1975 hẳn sẽ rất vui và mong đợi những đóng góp tiếp tục của Ni sư cho Phật giáo Việt Nam trong thời kỳ mới, và họ không hề thất vọng. Thành tựu đáng kể nhất của Ni sư trong giai đoạn này là dịch phẩm Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) của Luận sư Buddhaghosa (Phật Âm), theo bản tiếng Anh của Thượng tọa Nanamoli. Đây là một đóng góp đáng kể vào mảng Phật giáo Nam truyền của Phật học Việt Nam, là hành trang cần thiết  cho người học Phật. Tất nhiên, dịch phẩm về Phật học của Ni sư Trí Hải không chỉ dừng lại ở đấy, huống chi Phật học Việt Nam lúc nào lại chẳng cần những đóng góp của một cây bút dịch thuật đầy uy tín và có nhiều kinh nghiệm như Ni sư. Gần đây, đọc các bài viết của Ni sư cảm niệm về cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu đăng ở Tập văn cũng như trong Kỷ yếu Tưởng Niệm Trưởng Lão Hòa thượng Thích Thiện Siêu như Đàm Hoa lạc Khứ, Đường đi không gió lòng sao lạnh, tôi đã hiểu biết thêm phần nào về con người của Ni sư: Yêu thích thơ văn, luôn cầu học, cầu tiến, khiêm cung, thành thật với bạn đồng tu, hết lòng quý kính các bậc tôn túc, trưởng thượng, và nhất là cái nỗ lực vận dụng mọi phương tiện để đem ánh sáng của đạo từ bi đến với những người Việt Nam, những vùng đất trên quê hương Việt Nam còn nhiều khổ đau bất hạnh.

5. Ni sư Trí Hải có bài viết Như giọt sương mai (Nguyệt san Giác Ngộ số 77, tháng 08/2002), cảm niệm về Thầy Quảng Hiện vừa viên tịch. Tôi đã đọc hàng chục lần bài viết ngắn ấy mà lần nào cũng xúc động đến rưng rưng. Thầy Quảng Hiện đối với tôi vốn không xa lạ. Về tuổi tác, Thầy nhỏ hơn tôi rất nhiều, không chỉ là cùng quê hương Bình Định mà tôi còn biết thầy khi đó chưa đầy mười tuổi, tóc còn để chỏm, được Bổn sư dẫn xuống Tổ đình Long Khánh Qui Nhơn, bắt đầu cho cuộc đời tu học của mình. Thời gian cứ trôi đi, sau này gặp lại ở chùa Giác Uyển-Phú Nhuận, biết tôi đang làm Phật sự, có viết bài trên báo Giác Ngộ, Tập văn, Thầy rất mừng và mời tôi lúc nào rảnh ra thăm trụ xứ của thầy ngoài Long Khánh. Tôi không có nhân duyên để làm một công việc hết sức đơn giản là ra thăm chùa Thầy, nên lại càng không đủ nhân duyên để được biết về nỗ lực hoằng dương đạo pháp của Thầy: “Từ một cõi đất khét tiếng là chốn địa ngục trần gian vào thời pháp thuộc, vùng đất của “xương trắng máu đào” - từ chốn hỏa diệm đó, Thầy đã hóa thành một ngôi chùa như đóa sen tươi thắm với đoàn Phật tử hiền thiện đảm đang…, rồi lại tiếp tục đem ánh sáng của đạo từ bi đến với vùng nông trường cao su xa xôi, hầu hết là dân nghèo tới lập nghiệp”. Ni sư Trí Hải đã viết như thế, đã đánh giá rất cao về quá trình hoằng hóa của thầy Quảng Hiện, và cho rằng mình “có duyên may được gặp một vị Bồ tát xuất trần Thượng sĩ”. Đúng là, chỉ mỗi một việc biến chốn hỏa diệm kia thành một ngôi Phạm Vũ tôn nghiêm đã là một điều kỳ diệu.

Đọc bài của Ni sư Trí Hải viết về thầy Quảng Hiện, niềm tin của tôi đã được nâng cao, mang tính khẳng định: Phật giáo Việt Nam, dù trong hoàn cảnh khó khăn, trở ngại hay thuận hợp, vẫn luôn có các bậc chân tu vận dụng mọi phương tiện có thể có, để làm sáng tỏ sự gắn bó tốt đẹp giữa Phật giáo và dân tộc. Nói như nhà thơ Trụ Vũ:

Việt Nam và Phật giáo
Phật giáo và Việt Nam
Ngàn năm xương thịt kết liền
Tình sông nghĩa biển mối duyên mặn nồng…”

Ghi nhận, mô tả, cho dù là ca ngợi, kể cả làm thơ phản ánh thì cũng vẫn là khái quát, nên xem ra có vẻ giản đơn, nhưng quá trình thực hiện để trở thành hiện thực rõ ràng là chẳng đơn giản chút nào. Điều đáng nói ở đây, cái tác nhân giúp cho tôi nâng cao niềm tin của mình ở thầy Quảng Hiện, chính là bài viết đầy tính chất tán thán, tôn kính của Ni sư Trí Hải. Một chút tự hào về quê hương, và trước mắt tôi như hiện ra dấu chân hoằng hóa của tổ Nguyên Thiều ngày nào đã cập bến cảng Quy Nhơn (1665), đã dừng bước nơi vùng đất có nhiều ngôi Tháp Chàm, để xây dựng tổ đình Thập Tháp, rồi ra Huế dựng chùa Quốc Ân… Khoảng 200 năm sau, nơi ngôi tổ đình Thập Tháp ấy đã xuất hiện một bậc cao tăng kiệt xuất của Phật giáo Việt Nam thời cận đại, đó là Quốc sư Phước Huệ. Bên cạnh Quốc sư Phước Huệ là các Pháp sư Phổ Tuệ, Bích Liên, Liên Tôn, Trí Độ, những tên tuổi sáng giá của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX. Sau khi đọc bài viết kia, tôi đã nghĩ và mong có một thuận duyên nào đấy để có thể đến thăm Ni sư Trí Hải, ít nhất thì cũng có dịp để nhắc lại bài viết ấy và gián tiếp bày tỏ lời cảm ơn của mình. Nhưng thời gian cứ lần lữa, mà tìm cho ra một thuận duyên cũng đâu phải dễ. Hôm tham dự buổi lễ ra mắt Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam nhiệm kỳ 2002-2007, tôi nghĩ là Hội đồng Điều hành của Viện chắc chắn sẽ “ra mắt” để tôi được biết mặt Ni sư Trí Hải với chức danh là Viện phó. Nhưng điều ấy đã không xảy ra. Và một tuần sau thì Ni sư đã về với cõi Phật!

Đại sư Trừng Quán (738-839), vị tổ thứ tư của Tông Hoa Nghiêm của Phật giáo Trung Hoa, trong hai tác phẩm đồ sộ, nổi tiếng của mình là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sớ và Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao đã nhiều lần nói đến Niết Bàn vô trụ, Niết bàn của chư vị Bồ tát gồm đủ từ bi và trí tuệ. Do có đủ từ bi nên không bỏ chúng sinh để trụ Niết Bàn; do có đủ trí tuệ nên hiện thân nơi sinh tử mà không bị cuốn theo dòng chảy của sinh tử… Tôi nghĩ Ni sư Trí Hải đã về với cõi Phật nơi Niết Bàn vô trụ ấy. Và xin mượn bốn câu thơ lục bát tuyệt vời của Phạm Thiên Thư trong tập Động hoa vàng làm những làn hương nhiệm mầu tưởng niệm Ni sư:

Dỗ non suối giọng thầm thì
Độ tam thế mộng sá gì vóc hoa
Ni cô hiện giữa Ta Bà
Búp tay hồng ngọc nâng tà áo trăng.
  
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 09 -THÁNG 10 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)