ÂN
NGHĨA QUANH TA
Đào Nguyên
Đối
với tôi, cái tên Phùng Khánh, Trí Hải vốn rất quen thuộc,
dù cho đến giờ tôi vẫn chưa hề biết mặt, nói chi tới
việc được gặp gỡ hầu chuyện. Chính vì không hề cảm
thấy xa lạ, nên khi hay tin Ni sư quan đời - mà qua đời vì
một tai nạn giao thông - tôi đã thực sự xúc động, xúc
động đến ngậm ngùi, tiếc nuối, vì một lần nữa thấy
cuộc sống luôn luôn có những chông chênh, hụt hẫng.
Nay
cảm xúc kia lại trở về miên man, và tôi chợt hiểu, trong
hành trình tri thức của cả một đời người, chúng ta đã
rất nhiều lần, hoặc vay mượn, nhờ vả, hoặc nương dựa,
tin cậy bao người gần xa chung quanh, dù chưa hề quen
biết họ. Một trang sách một đoạn thơ, một bài hát, một
điệu ru.v.v…, tất cả đã góp phần nuôi dưỡng, làm phong
phú thêm vùng trời nhận thức của ta. Những ân nghĩa như
thế, dù ít, dù nhiều, thật đáng để cho ta ghi nhận, nâng
niu, trân trọng. Một vài hồi ức rời rạc được nối kết
vội vàng trong bài viết ngắn này, xin được xem như chút
tâm hương của người đồng đạo, cảm niệm về một bậc
nữ tu vừa về với cõi Phật.
1.
Hồi ấy, khoảng 1959 – 1962, tôi bắt đầu làm quen với sách
báo Phật giáo và “thỉnh” được hai cuốn sách làm nền
cho tủ sách Phật học của mình, đó là cuốn Phật pháp của
bốn tác giả Minh Châu, Thiên Ân, Đức tâm, Chân Trí cùng
cuốn Đạo Phật của Huyền Chân, và nhất là được đọc
báo Liên Hoa. Tôi không nhớ chính xác số báo Liên Hoa ấy
nhưng nhan đề và tác giả thì nhớ rất rõ. Bài tùy bút có
tên Xuống tóc, tác giả là Nguyễn Thái, người thường xuyên
viết trên báo Liên Hoa những bài tùy bút ngắn, tôi đọc
rất thích. Về sau tôi được biết thêm ông chính là nhà
thơ Thi Vũ, người từng Việt dịch Tâm Kinh Bát Nhã với cái
tên rất nôm na: Kinh Ruột. Sau đó, qua câu chuyện từ một
số thầy lớn tuổi, tôi được biết bài tùy bút Xuống Tóc
kia là những cảm niệm về việc xuất gia đầu Phật của
cô Phùng Khánh. Như thế là, trong vùng không gian mênh mông
và trong veo nơi ký ức của mình bấy giờ, cái tên Phùng Khánh
đã hiện ra và trụ lại như một cái gì đẹp đẽ, tươi
vui, khó quên.
2.
Những năm 1964-1968, tôi theo học ở Đại học Văn Khoa Sài
Gòn, ban Triết Đông, nên có khá nhiều thời giờ rảnh để
lui tới các hiệu sách, kể cả các quầy sách cũ: mua sách
để đọc có, mua để chưng cho đẹp cũng có. Sách hồi đó
giá rẻ so với túi tiền của một sinh viên nghèo như tôi.
Và trong cái rừng sách văn học dịch thượng vàng hạ cám
của Sài Gòn thời ấy, tác phẩm Câu Chuyện Của Dòng Sông
của Hermann Hesse do Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch (NXB Lá
Bối) đã xuất hiện, cũng đem lại một cái gì thật đẹp,
không thể không chú ý. Có lẽ đây là lần đầu tiên, một
gương mặt lớn của Văn học Đức thế kỷ XX đã được
giới thiệu với bạn đọc trẻ Việt Nam. Sách in đẹp,
bối cảnh của câu chuyện là phương Đông, phản phất bóng
dáng của Phật giáo, câu văn dịch sáng sủa, uyển chuyển,
càng khiến cho cái tên Phùng Khánh kia trở thành không thể
quên được đối với tôi. Tiếc là sau đó, một số tác
phẩm tiêu biểu của Hermann Hesse (1877-1962) như Sói Đồng Hoang,
Tuổi Trẻ Băn Khoăn .v.v… NXB Ca Dao in với bản Việt dịch
không đạt.
Bên
cạnh bút hiệu Phùng Khánh là bút hiệu Trí Hải với các
dịch phẩm cũng rất đáng chú ý như: Con Đường Thoát Khổ
(W.Rahula), Câu Chuyện Triết Học (Will Durant), Hồi Ký Của
Thánh Ghandhi… Hồi đó, một số tác phẩm về sử nổi tiếng
của Will Durant đã được học giả Nguyễn Hiến Lê Việt
dịch như Lịch Sử Văn Minh Ấn Độ, Lịch Sử Văn Minh Trung
Quốc, Lịch Sử Văn Minh Ả Rập, Bài Học Lịch Sử… được
đông đảo người đọc hoan nghênh, thì bản Việt dịch Câu
chuyện của triết học (Nha Tu Thư Viện Đại HọÏc Vạn Hạnh
xuất bản) là một bổ sung cần thiết, vì đấy là những
ghi nhận tóm tắt, những đánh giá chính xác, có giá trị
của Sử gia Will Durant về một số Triết gia tiêu biểu của
Triết học Tây phương.
Người
viết lịch sử văn học Việt Nam, vì lý do này nọ, có thể
không chú ý lắm về giai đoạn văn học 1964-1975 ở miền
Nam. Nhưng người viết lịch sử Phật giáo Việt Nam, lịch
sử văn học Phật giáo Việt Nam thì không thể quan tâm tới
thời gian này, với sự xuất hiện và thành tựu của Viện
Đại họÏc Vạn Hạnh, NXB Lá Bối, An Tiêm, cũng như những
đóng góp của dịch giả Phùng Khánh-Trí Hải.
3.
Tất nhiên, ngòi bút dịch thuật Phùng Khánh-Trí Hải đã được
nhiều bạn đọc gần xa mến mộ. Nhưng bày tỏ sự hâm mộ
trên giấy trắng mực đen như bài thơ Bùi Giáng thì quả là
điều hết sức đặc biệt. Tôi được biết loáng thoáng
là căn phòng chứa đầy sách của Thi sĩ họ Bùi ở đâu đó
gần chợ Hòa Hưng; Sài Gòn đã bị cháy rụi, và Bùi Giáng
trở thành kẻ lang thang đã trở về tá túc qua ngày ở Đại
học Vạn Hạnh, gần cầu Trương Minh Giảng. Không chỉ là
một nhà thơ nổi tiếng, Bùi Giáng còn là một dịch giả
tài hoa đã dịch khá nhiều tác phẩm Văn học có giá trị
trên thế giới, ông cũng là một cây bút nghiên cứu Triết
học với bộ sách khá dày viết về “Tư tưởng hiện đại”.
Tôi không biết rõ là ông nhà thơ họ Bùi này đã hâm mộ
Ni cô Phùng Khánh từ lúc nào, chỉ biết là ông đã viết,
đã in nơi tác phẩm của mình, tất nhiên, tôi cũng không nhớ
đích xác là cuốn gì, nhưng những dòng viết kia thì nhớ,
nhớ mãi. Bùi Giáng viết theo kiểu Tam Đoạn Luận của Aristote:
- Phùng
Khánh là mẹ Việt Nam
Mà tôi là người Việt Nam
Vậy tôi là con của Phùng Khánh
(Nếu
tôi không là con của Phùng Khánh thì tôi là người Tàu, người
Ấn Độ.v.v... sao?)
- Phùng
Khánh là mẹ loài người
Mà tôi là con người
Vậy tôi là con của Phùng Khánh.
(Nếu
tôi không là con của Phùng Khánh thì hóa ra tôi là con bò,
con chó.v.v... sao?)
Tôi
không rõ hồi ấy Ni sư Trí Hải đã có thái độ như thế
nào về những câu viết kia? Tôi nghĩ, chắc Ni sư có đọc
thì cũng hoan hỷ mỉm cười. Và như thế là cũng tạm đủ,
vì cuộc đời lúc nào cũng cần đến những nụ cười. Nhà
thơ Bùi Giáng đã trở thành người thiên cổ. Ni sư Trí Hải
thì cũng trở về với cõi Phật. Tôi ghi lại điều này như
một giai thoại văn học thú vị, và một lần nữa khẳng
định, đối với tôi, cái tên Phùng Khánh đã trụ lại nơi
trí nhớ của mình, không thể quên được.
4.
Bẵng đi một thời gian, miền Nam được giải phóng, đất
nước được thống nhất, và rồi đất nước đổi thay,
đất nước đổi mới. Một vài tờ báo có tính chất nghiên
cứu của Phật giáo đã ra đời như Tập Văn, Nguyệt san Giác
Ngộ, và người đọc có dịp làm quen với những bài viết,
bài dịch của Ni sư Trí Hải. Bấy giờ, cái tên Phùng Khánh
hầu như đã trở thành dĩ vãng, nhưng chắc chắn vẫn còn
được rất nhiều người nhớ đến, trong số đó có tôi.
Những người đã từng đọc các dịch phẩm của Ni sư Trí
Hải trước năm 1975 hẳn sẽ rất vui và mong đợi những đóng
góp tiếp tục của Ni sư cho Phật giáo Việt Nam trong thời
kỳ mới, và họ không hề thất vọng. Thành tựu đáng kể
nhất của Ni sư trong giai đoạn này là dịch phẩm Thanh Tịnh
Đạo (Visuddhimagga) của Luận sư Buddhaghosa (Phật Âm), theo
bản tiếng Anh của Thượng tọa Nanamoli. Đây là một đóng
góp đáng kể vào mảng Phật giáo Nam truyền của Phật học
Việt Nam, là hành trang cần thiết cho người học Phật.
Tất nhiên, dịch phẩm về Phật học của Ni sư Trí Hải không
chỉ dừng lại ở đấy, huống chi Phật học Việt Nam lúc
nào lại chẳng cần những đóng góp của một cây bút dịch
thuật đầy uy tín và có nhiều kinh nghiệm như Ni sư. Gần
đây, đọc các bài viết của Ni sư cảm niệm về cố Hòa
thượng Thích Thiện Siêu đăng ở Tập văn cũng như trong Kỷ
yếu Tưởng Niệm Trưởng Lão Hòa thượng Thích Thiện Siêu
như Đàm Hoa lạc Khứ, Đường đi không gió lòng sao lạnh,
tôi đã hiểu biết thêm phần nào về con người của Ni sư:
Yêu thích thơ văn, luôn cầu học, cầu tiến, khiêm cung, thành
thật với bạn đồng tu, hết lòng quý kính các bậc tôn túc,
trưởng thượng, và nhất là cái nỗ lực vận dụng mọi
phương tiện để đem ánh sáng của đạo từ bi đến với
những người Việt Nam, những vùng đất trên quê hương Việt
Nam còn nhiều khổ đau bất hạnh.
5.
Ni sư Trí Hải có bài viết Như giọt sương mai (Nguyệt san
Giác Ngộ số 77, tháng 08/2002), cảm niệm về Thầy Quảng
Hiện vừa viên tịch. Tôi đã đọc hàng chục lần bài viết
ngắn ấy mà lần nào cũng xúc động đến rưng rưng. Thầy
Quảng Hiện đối với tôi vốn không xa lạ. Về tuổi tác,
Thầy nhỏ hơn tôi rất nhiều, không chỉ là cùng quê hương
Bình Định mà tôi còn biết thầy khi đó chưa đầy mười
tuổi, tóc còn để chỏm, được Bổn sư dẫn xuống Tổ đình
Long Khánh Qui Nhơn, bắt đầu cho cuộc đời tu học của mình.
Thời gian cứ trôi đi, sau này gặp lại ở chùa Giác Uyển-Phú
Nhuận, biết tôi đang làm Phật sự, có viết bài trên báo
Giác Ngộ, Tập văn, Thầy rất mừng và mời tôi lúc nào rảnh
ra thăm trụ xứ của thầy ngoài Long Khánh. Tôi không có nhân
duyên để làm một công việc hết sức đơn giản là ra thăm
chùa Thầy, nên lại càng không đủ nhân duyên để được
biết về nỗ lực hoằng dương đạo pháp của Thầy: “Từ
một cõi đất khét tiếng là chốn địa ngục trần gian vào
thời pháp thuộc, vùng đất của “xương trắng máu đào”
- từ chốn hỏa diệm đó, Thầy đã hóa thành một ngôi chùa
như đóa sen tươi thắm với đoàn Phật tử hiền thiện đảm
đang…, rồi lại tiếp tục đem ánh sáng của đạo từ bi
đến với vùng nông trường cao su xa xôi, hầu hết là dân
nghèo tới lập nghiệp”. Ni sư Trí Hải đã viết như thế,
đã đánh giá rất cao về quá trình hoằng hóa của thầy Quảng
Hiện, và cho rằng mình “có duyên may được gặp một vị
Bồ tát xuất trần Thượng sĩ”. Đúng là, chỉ mỗi một
việc biến chốn hỏa diệm kia thành một ngôi Phạm Vũ tôn
nghiêm đã là một điều kỳ diệu.
Đọc
bài của Ni sư Trí Hải viết về thầy Quảng Hiện, niềm
tin của tôi đã được nâng cao, mang tính khẳng định: Phật
giáo Việt Nam, dù trong hoàn cảnh khó khăn, trở ngại hay thuận
hợp, vẫn luôn có các bậc chân tu vận dụng mọi phương
tiện có thể có, để làm sáng tỏ sự gắn bó tốt đẹp
giữa Phật giáo và dân tộc. Nói như nhà thơ Trụ Vũ:
“Việt
Nam và Phật giáo
Phật
giáo và Việt Nam
Ngàn
năm xương thịt kết liền
Tình
sông nghĩa biển mối duyên mặn nồng…”
Ghi
nhận, mô tả, cho dù là ca ngợi, kể cả làm thơ phản ánh
thì cũng vẫn là khái quát, nên xem ra có vẻ giản đơn, nhưng
quá trình thực hiện để trở thành hiện thực rõ ràng là
chẳng đơn giản chút nào. Điều đáng nói ở đây, cái tác
nhân giúp cho tôi nâng cao niềm tin của mình ở thầy Quảng
Hiện, chính là bài viết đầy tính chất tán thán, tôn kính
của Ni sư Trí Hải. Một chút tự hào về quê hương, và trước
mắt tôi như hiện ra dấu chân hoằng hóa của tổ Nguyên Thiều
ngày nào đã cập bến cảng Quy Nhơn (1665), đã dừng bước
nơi vùng đất có nhiều ngôi Tháp Chàm, để xây dựng tổ
đình Thập Tháp, rồi ra Huế dựng chùa Quốc Ân… Khoảng
200 năm sau, nơi ngôi tổ đình Thập Tháp ấy đã xuất hiện
một bậc cao tăng kiệt xuất của Phật giáo Việt Nam thời
cận đại, đó là Quốc sư Phước Huệ. Bên cạnh Quốc sư
Phước Huệ là các Pháp sư Phổ Tuệ, Bích Liên, Liên Tôn,
Trí Độ, những tên tuổi sáng giá của Phật giáo Việt Nam
thế kỷ XX. Sau khi đọc bài viết kia, tôi đã nghĩ và mong
có một thuận duyên nào đấy để có thể đến thăm Ni sư
Trí Hải, ít nhất thì cũng có dịp để nhắc lại bài viết
ấy và gián tiếp bày tỏ lời cảm ơn của mình. Nhưng thời
gian cứ lần lữa, mà tìm cho ra một thuận duyên cũng đâu
phải dễ. Hôm tham dự buổi lễ ra mắt Viện Nghiên Cứu Phật
Học Việt Nam nhiệm kỳ 2002-2007, tôi nghĩ là Hội đồng Điều
hành của Viện chắc chắn sẽ “ra mắt” để tôi được
biết mặt Ni sư Trí Hải với chức danh là Viện phó. Nhưng
điều ấy đã không xảy ra. Và một tuần sau thì Ni sư đã
về với cõi Phật!
Đại
sư Trừng Quán (738-839), vị tổ thứ tư của Tông Hoa Nghiêm
của Phật giáo Trung Hoa, trong hai tác phẩm đồ sộ, nổi tiếng
của mình là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sớ và
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa
Sao đã nhiều lần nói đến Niết Bàn vô trụ, Niết bàn của
chư vị Bồ tát gồm đủ từ bi và trí tuệ. Do có đủ từ
bi nên không bỏ chúng sinh để trụ Niết Bàn; do có đủ trí
tuệ nên hiện thân nơi sinh tử mà không bị cuốn theo dòng
chảy của sinh tử… Tôi nghĩ Ni sư Trí Hải đã về với
cõi Phật nơi Niết Bàn vô trụ ấy. Và xin mượn bốn câu
thơ lục bát tuyệt vời của Phạm Thiên Thư trong tập Động
hoa vàng làm những làn hương nhiệm mầu tưởng niệm Ni sư:
Dỗ
non suối giọng thầm thì
Độ
tam thế mộng sá gì vóc hoa
Ni
cô hiện giữa Ta Bà
Búp
tay hồng ngọc nâng tà áo trăng.