Thế giới quan
của Vật lý hiện đại và của Phật giáo:
KHI
VẬT LÝ GÕ CỬA BẢN THỂ HỌC
Nguyễn
Tường Bách
Khủng
hoảng về vật lý hiện nay là khủng hoảng về ontology, khủng
hoảng về bản thể học của thế giới chúng ta. Mặc dù
đi đến cửa ngõ của triết học rồi, nhưng nền tảng, bản
thể của nó là gì, đó là điều mà chúng ta chưa biết. Khi
vật lý học gõ cửa trên bản thể học thì ở đó Phật
giáo có thể trả lời một vài câu hỏi.
Tôi
sẽ trình bày tóm tắt những chặng đường phát triển của
ngành vật lý trong 15 phút! 15 phút để trình bày nội dung
như thế thật là liều lĩnh nhưng tôi cũng xin trình bày lại
để những người không thuộc chuyên ngành vật lý có thể
hiểu cách đặt vấn đề của nhà vật lý hiện nay. Những
điều sau đây thật là những điều non nớt đối với người
trong ngành, nhưng tôi cũng xin bắt đầu đi để chúng ta có
những mức thông tin ngang nhau.
Vật
lý là gì? Câu hỏi đầu tiên của con người có lẽ là câu
hỏi vũ trụ này, sông núi kia, tinh tú nọ thực chất là gì?
Nó là cái gì? Đằng sau nó là cái gì? Hay nó là như thế?
Con người chúng ta có thể nhận thức được hay không? Có
sự kết nối gì giữa chúng ta với vũ trụ hay không? Cách
đây khoảng 2400 năm, Hy Lạp là một đất nước có may mắn
là đã sản sinh vô số nhân tài về ngành vật lý, trong đó
có hai dòng lớn: dòng thứ nhất là Socrate, Platon và Aristote;
dòng thứ hai với Parmenides, Empedokles, Leucippus, Democritus.
Aristote
quan niệm thực tại bên ngoài là có thật. Thế nào là có
thật? "Có thật" là dù có con người chúng ta hay không có
con người chúng ta, thực tại vẫn có. Thực tại đó tự
nó tồn tại độc lập, không cần đến con người chúng ta.
Song song thì có các vị Parmenides, Leucippus đi sâu thêm bước
nữa, khoảng 400 năm trước TL, cho rằng thực tại đó tồn
tại độc lập đó có một chất liệu bất hoại, một chất
gì đó mà chúng ta gọi là vật chất cấu tạo thành thiên
nhiên này. Họ quan niệm có lẽ các chất đó gồm những hạt
nho nhỏ xếp lại với nhau. Đó là quan niệm đầu tiên của
loài người về nguyên tử. Các hạt đó trao đi đổi lại
với nhau, lúc thì theo cấu trúc này, lúc thì xếp đặt theo
kiểu khác để tạo dựng nên vũ trụ như chúng ta thấy, nhưng
nó tồn tại độc lập và có một chất liệu bất hoại.
Nói cho cùng, không phải họ nghĩ vậy, mà chúng ta, con người
thời hôm nay ai cũng nghĩ như vậy, vì điều đó rất dễ
tin. Tại sao? Vì như người ta thấy một ngôi nhà được xây
từ hàng ngàn, hàng triệu viên gạch, họ liên tưởng đến
vũ trụ và hình dung cũng như vậy. Lòng tin đó từ xa xưa,
kéo dài đến hôm nay và sẽ kéo dài mãi mãi mai sau. Lòng tin
đó quyết định tất cả tư tưởng của phương Tây và của
ngành vật lý. Nếu không có lòng tin đó thì không có ngành
vật lý. Trong khái niệm ấy, Aristote đã đề ra hai khái niệm
lớn là không gian và thời gian, hai khái niệm mà chúng ta sẽ
gặp thường xuyên, mặc dù chúng khó hiểu và hầu như hiển
nhiên nhưng lại cực kỳ quan trọng.
Dân
tộc Hy Lạp đã sản sinh những con người tài ba như vậy,
nhưng đến thế kỷ thứ V sau TL, dân tộc Hy Lạp cạn kiệt,
không có thêm một thiên tài nào nữa. Và cũng kể thứ thế
kỷ thứ V đến thế kỷ thứ XIV, gần một ngàn năm, cả
loài người hầu như không có tiến bộ gì trong ngành vật
lý. Chỉ có ngành vật lý tương đối thô sơ do Aristote đặt
nền tảng, tức là mô tả sự vật vận động, không nói
đến lực. Lúc này chưa hề có khái niệm về động lực
học. Tuy nhiên thời đó, con người đã biết đường đi của
tinh tú, mặt trời, mặt trăng và có thể tính trước các
hiện tượng nhật thực và nguyệt thực rất chính xác. Đó
là một thành tựu rất lớn.
Đầu
thế kỷ thứ XVI, có một nhân vật xuất hiện tại châu Âu,
đó là ông Copernicus, người đã khám phá rằng mặt trời
không quay chung quanh trái đất như quan niệm từ đó về trước,
mà là trái đất quay chung quanh mặt trời. Khám phá này, đối
với hôm nay, trẻ con cũng biết, nhưng trong tiến trình phát
triển của con người, nó làm nên một cuộc đảo lộn về
tư duy của vật lý cũng như tư duy của tôn giáo ở phương
Tây. Người ta đặt ra vấn đề, tại sao giả định về vị
trí của trái đất là hoàn toàn sai nhưng lại tính được
chính xác hiện tượng nhật thực và nguyệt thực? Như vậy,
mô hình sai nhưng lại lý giải đúng, một điều kỳ dị trong
vật lý. Về thiên văn học thì đó là một bước ngoặt lớn
của con người, con người không còn là trung tâm của vũ trụ
mà chỉ là một chấm nhỏ bên lề vũ trụ thôi. Người ta
cũng nhận ra là vũ trụ vô cùng lớn, con người và cả trái
đất chỉ là một hiện tượng nhỏ bé bên lề của vũ trụ.
Khám phá này là động lực to lớn, mở mang tầm nhận thức
của con người.
Song
song với điều đó, nó cũng có một tác động vô cùng lớn
trong lĩnh vực tôn giáo. Bởi Tòa thánh đã dạy rằng con người
là sáng tạo cao nhất của chúa, trái đất là trung tâm của
vũ trụ. Bây giờ thì trái đất chỉ là một hành tinh nhỏ
quay quanh mặt trời. Nhận thức đó đã làm đảo lộn cả
nền tảng thần học của Tòa thánh. Chính vì vậy mà công
trình nghiên cứu của Copernicus bị thần quyền thời đó hạn
chế rất nhiều. Tuy thế ý nghĩa của nó thì rất lớn, Copernicus
đã mở đầu cho một bước tiến hoàn toàn mới của ngành
vật lý.
Sau
khi Copernicus chết khoảng 20 năm, một nhân vật khác ra đời,
đó là Galileo, một người Ý. Nhà khoa học này đã đặt nền
tảng cho khoa học thực nghiệm. Nếu Aristote là người đưa
ra một định đề về vật chất rồi tìm cách chứng minh
nó, thì Galilie đi con đường ngược lại, ông chủ trương
xem trong thực nghiệm có điều gì rồi mới đưa ra giả thiết
nào đó, nếu thực nghiệm chứng minh được giả thiết đó
thì giả thiết đó là đúng. Đó là nền tảng khoa học thực
nghiệm mà Galileo là người đã tạo nên phương pháp luận.
Điều này mở hướng cho một người kế tiếp, sau Galileo
chết một năm, đó là Newton, một con người khổng lồ trong
ngành vật lý. Newton là người đã đưa "lực" vào trong phép
tính toán của ngành vật lý. Ông xem không gian và thời gian
là hai yếu tố tuyệt đối, vật chất thì vận động trong
không gian và thời gian. Vật chất đối với ông là vật chất
có khối lượng. Ta thử lấy thí dụ, đối với Newton, thời
gian và không gian như một sân khấu, còn vật chất vận động
là những diễn viên trên sân khấu đó. Diễn viên không có,
thì sân khấu vẫn tồn tại. Như vậy, đối với Newton, xem
ra vũ trụ đã có câu trả lời, trong đó không gian là bất
động và thời gian là tuyệt đối. Sự vật vận động có
thể là một hành tinh, một viên đạn hay một trái táo, tất
cả đều vận động như nhau, và chỉ cần một công thức
là có thể tính được sự vận động đó, tính toán một
cách chính xác nếu biết được vị trí và vận tốc của
vật đó tại một thời điểm bất kỳ.
Thế
giới quan của Newton hết sức đơn giản và dễ hiểu, được
gọi gọi là thế giới quan cơ giới. Newton là một thiên tài
lỗi lạc trong ngành vật lý. Trong thế kỷ thứ XVIII, XIX,
những ngành học khác, như ánh sáng, nhiệt, thủy động học
đều được quy vào mô hình đó: vật chất là những hạt
nhỏ có khối lượng, có năng lượng, vận động trong không
gian và thời gian. Người ta có thể tính toán sự vận động
của vật thể mà không cần tới một thế lực siêu nhiên
nào cả. Từ nhận thức này đã hình thành nên quyết định
luận, tất cả vạn vật xuất hiện như nó phải là chứ
không hề có một sự ngẫu nhiên gì trong đó.
Người
bảo vệ quyết định luận nổi bật nhất là nhà toán học
Laplace. Ông đã từng nói: chúng ta không cần đến những giả
định về Thượng đế, chúng ta chỉ cần không gian, thời
gian, vận tốc đầu…, chúng ta sẽ tính được tất cả.
Nền vật lý cơ giới của Newton đứng vững đến ba trăm
năm. Đến thế kỷ thứ XIX, người ta bắt đầu phát hiện
những hiện tượng về điện trường, từ trường, điện
từ trường, phát hiện một sự vận động mới trong ngành
vật lý. Ở đây ta thấy có một dạng vận động khác, không
có vật có khối lượng di chuyển. Khi chúng ta thả một viên
đá xuống mặt hồ, sau đó thấy những gợn sóng lăn tăn
đi vào bờ hồ. Cái đi vào bờ hồ đó không phải là nước,
mà nước chỉ nhích lên hạ xuống, cái chạy từ nơi thả
viên đá đi vào bờ hồ là "sự quấy nhiễu", là năng lượng
quấy nhiễu. Tức là chủ thể đi vào bờ hồ không phải
là nước mà là cái một cái vô hình vô ảnh, không có khối
lượng. Đó là sự vận động theo dạng sóng, hoàn toàn khác
với loại vận động theo dạng hạt của Newton.
Cuối
thế kỷ thứ XIX, lý thuyết vận động của Newton không còn
là dạng vận động duy nhất, bởi ngoài vận động hạt còn
có một loại vận động khác, đó là vận động sóng. Nhưng
cả hai mô hình về vận động này vẫn tồn tại song song,
bổ sung nhau để giải thích các hiện tượng trong thế giới
tự nhiên. Cùng lúc đó, khái niệm trường điện từ, một
đơn vị độc lập, tự nó có sự ảnh hưởng chung quanh nó,
khác với trọng trường của Newton. Đến lúc đó, người
ta thấy vật chất không chỉ có dạng “hạt” mà còn có
dạng “trường”. Trường và hạt là hai mô hình song hành,
được thừa nhận trong ngành vật lý. Đó là những nét chính
của vật lý cổ điển.
Đến
đầu thế kỷ XX, có sự phát triển kỳ lạ trong vật lý
với hai phát hiện lớn, đó là thuyết Tương đối và thuyết
Lượng tử. Với thuyết Tương đối, Einstein xuất phát từ
kết quả thực nghiệm là ánh sáng mặt trời di chuyển với
vận tốc bất biến. Nghĩa là dù cho bạn chạy đến phía
mặt trời thì ánh sáng vẫn đến với bạn với vận tốc
như vậy, ánh sáng dường như là một vật mà bạn không bao
giờ đến gần được nó. Hoặc bạn bỏ chạy thật nhanh,
ánh sáng mặt trời vẫn đuổi theo kịp cũng với vận tốc
đó, dường như bạn không thể trốn nó được. Bạn đến
với nó cũng không được, trốn nó cũng không được, không
gian và vận tốc (tức là thời gian) có một điều gì kỳ
lạ. Einstein đã nghiên cứu và khám phá ra rằng muốn trả
lời hiện tượng đó thì phải từ bỏ tính chất tuyệt đối
của không gian và thời gian. Sau đó ông tiến tới một lý
thuyết cho rằng nội khối lượng của một vật nằm trong
không gian cũng đã làm cho không gian và thời gian xung quanh
nó cũng bị biến dạng, méo mó, ngắn dài không giống nhau.
Không gian và thời gian đối với Newton là tuyệt đối, nhưng
đối với Einstein thì không còn tuyệt đối nữa, nó là tương
đối. Công thức nổi tiếng nhất của thuyết tương đối
là mối liên hệ E=mc2, giữa khối lượng và năng lượng có
một mối liên hệ hết sức bất ngờ.
Chỉ
sau Einstein khoảng hơn hai mươi năm thôi, người ta lại khám
phá ra những điều mà ngày nay người ta vẫn còn thảo luận
hết sức căng thẳng, đó là thuyết lượng tử. Khoảng năm
1901, Max Planck khám phá ra nhiệt lượng tỏa ra từ một vật
không liên tục. Nói chung thì sự xuất hiện của vật chất
trong mức độ vi mô là phi liên tục. Mới nghe, điều này
không có gì đặc biệt cả, nhưng với mô hình đó, người
ta đi sâu nghiên cứu cấu trúc của nguyên tử, nhân nguyên
tử và các hạt hạ nguyên tử (hạt cấu thành nguyên tử),
lúc đó người ta thấy nơi mà người ta cho là cơ cấu cuối
cùng của vật chất đó rất kỳ dị. Đối với người quan
sát, nó xuất hiện một cách rất ngẫu nhiên, khi có khi không,
khi chỗ này khi chỗ khác. Lấy ví dụ, cái bàn này là một
hạt hạ nguyên tử, nó không nằm yên. Khi nào chúng ta nhìn
nó thì nó mới xuất hiện, nếu chúng ta nhìn nơi khác thì
nó không có mặt. Nếu dùng thước để đo, ban đầu chúng
ta đo nó dài 3m, nhưng sau đó, chúng ta đo lại thì chỉ còn
2,5m, lần sau nữa thì lại 3,5m. Nó xuất hiện có vẻ ngẫu
nhiên, không tuân thủ theo quyết định luận của Newton.
Dĩ
nhiên tính ngẫu nhiên này chỉ xuất hiện trong mức độ nhỏ
nhất của vật chất. Mức độ này rất nhỏ, chúng ta không
thể tưởng tượng được, mức độ đó phải được cộng
thêm với 17 con số 0 nữa mới thành một cm. Đó là mức độ
nhỏ nhiệm nhất của vật chất, với mức độ đó, người
ta hy vọng nếu khám phá được quy luật vật chất thì sẽ
khám phá được thế giới, bởi nó là viên gạch cuối cùng
của ngôi nhà vũ trụ, nhưng người ta không ngờ đến mức
đó hành tung của vật chất lại không như chúng ta chờ đợi.
Do đó hàng loạt vấn đề triết học được đặt ra về
tự tính của thế giới. Heisenberg nói: cái thiên nhiên, cái
nature dường như xuất hiện theo cách chúng ta hỏi nó. Bởi
vì khi thì nó xuất hiện theo dạng từng hạt, lúc thì xuất
hiện theo dạng sóng, về mô hình, hai dạng này không tương
thích với nhau. Nhưng nếu chúng ta mở một thí nghiệm khảo
sát hạt thì nó có vai trò của hạt thật. Nhưng nếu chúng
ta đo để xem vật chất có phải là sóng hay không thì nó
cũng là sóng thật. Thiên nhiên là gì thì chưa biết, nhưng
dường như nó trả lời theo cách mà chúng ta hỏi nó. Thế
thì ý thức con người có ảnh hưởng gì lên thiên nhiên?
Ngày
trước, người ta nói thực tại là gì không biết, nhưng nó
luôn tồn tại độc lập, không bị ý thức con người ảnh
hưởng lên nó. Con người dù có chết đi nữa thì thực tại
vẫn là thực tại. Nhưng bây giờ, ở hạ nguyên tử thì ý
thức xem ra có thể tác động lên được. Dường như thực
tại là cái gì đó “nói chuyện” với ý thức, và có những
nhà khoa học đi xa hơn, họ nêu lên vấn đề: phải chăng
khi ý thức khảo sát thực tại thì chính lúc đó ý thức
"tạo tác" ra thực tại, phải chăng thực tại là một sản
phẩm do ý thức bày ra. Cho nên ngày nay mối quan hệ giữa
thực tại và ý thức đã được đặt ra. Trước đó, người
ta tưởng ý thức là một anh chàng đứng nhìn, còn thực tại
thì trước sau vẫn y như vậy, nhưng đến giai đoạn này thì
quan niệm đó không còn như vậy nữa. Ý thức có sự tác
động lên thực tại. Nhưng tác động như thế nào thì người
ta chưa biết. Có người cho rằng sự tác động đó là nhỏ
thôi, vì tại điểm đó quá nhỏ nhiệm, có thể có cái gì
đó nó làm cho thực tại "lung lay" theo. Nhưng cũng có người
nói, không chừng với hành động nghiên cứu của chúng ta,
chúng ta đã bày ra thực tại. Nếu thế thì trước thế kỷ
XVIII, giới khoa học chưa biết tới nguyên tử thì không lẽ
lúc đó không có nguyên tử?! Phải chăng lúc chúng ta nghiên
cứu cái gì, thấy cái gì thì cái đó mới là thực tại?
Khi chúng ta không nhìn mặt trăng thì mặt trăng không có hay
sao? Từ đó sinh ra một chủ nghĩa gọi là chủ nghĩa thực
chứng (positivism). Chủ nghĩa thực chứng xuất phát từ ý
như thế này: Thực tại là cái gì, tôi không cần biết; tôi
chỉ biết cái gì xuất hiện với chúng ta thì chúng ta biết,
chúng ta chỉ hy vọng làm việc với những gì xuất hiện với
chúng ta mà thôi. Còn Thực tại tự nó là gì? Đó là một
câu hỏi vô ích, thậm chí đó là vấn đề vô nghĩa.
Nhìn
chung, với nền vật lý hiện đại, khi con người tưởng như
sắp mở cánh cửa thực tại thì thực tại trở nên mơ hồ,
khó định nghĩa. Trước thời điểm đó khoảng 150 năm, ở
Đức có một I. Kant đã nêu lên một luận đề rất quan trọng.
Ông cho rằng "thực tại tự nó" các bạn đừng có hòng mà
biết được nó. Còn cái mà ta thấy là thực tại hiện lên
đúng như trình độ mà chúng ta biết về nó. Thực tại tự
nó, chúng ta không bao giờ biết được với tính chất là
một sự hiểu biết khoa học. Phát biểu của ông ban đầu
chẳng được ai để ý, cho đến khi khoa học lượng tử ra
đời. Ông Weizsäcker, nhà vật lý học của Đức, nói rằng:
chúng ta không thể hiểu vật lý học lượng tử nếu trước
đó chúng ta không đọc I. Kant. Có thể nói I. Kant là người
đưa đường dẫn lối để chúng ta hiểu về thực tại được
đề ra bởi vật lý lượng tử.
Vậy
thực tại là gì? Hiện nay đó là sự khủng hoảng của ngành
vật lý, đó là cái không thể biết. Vật lý học lượng
tử thật là nhất quán và xuất sắc khi trả lời những biến
cố có tính chất thống kê. Do đó các hệ thống điện từ
(thí dụ nhà máy phát điện) vận hành đúng như con người
tính toán và tiên đoán. Nhưng khi tìm hiểu sự vận hành của
các đơn vị vật chất riêng lẻ, thì tính ngẫu nhiên trong
vật lý lượng tử không thỏa mãn được nhiều nhà vật
lý. Do đó Einstein mới phát biểu: Nếu như vật lý học lượng
tử cho rằng cho rằng có một yếu tố về ngẫu nhiên thì
không phải thiên nhiên ngẫu nhiên đâu, Thượng đế không
chơi trò lô-tô, mà tại vì có một cái gì đó chúng ta chưa
sờ chạm đến được, tức là vật lý học lượng tử có
một cái gì đó thiếu sót, không hoàn chỉnh.
Cho
đến hôm nay, người ta vẫn không biết thực tại là gì.
Có một điều có vẻ chắc chắn nhất là thế này: Thực
tại là cái gì đó nhiều chiều hơn không gian ba chiều của
chúng ta. Phải chăng thế giới này là một projection của thực
tại mà thôi. Chúng ta tạm gọi thực tại là một cái x nào
đó thì vũ trụ này của chúng ta là một mảnh chiếu của
thực tại trong không gian ba chiều này? Thí dụ như thuyết
String theory (lý thuyết dây), hoặc vật chất tối hay các lý
thuyết khác v.v… tuy mỗi nhà khoa học nói một kiểu, nhưng
phải chăng thực tại là một cái gì đó nhiều chiều hơn
mà con người rất khó tiếp cận với nó, vì ngôn ngữ và
tri thức của con người bị không gian ba chiều quy định mất
rồi.
Trong
hướng đó, David Bohm, một nhà vật lý học lượng tử
xuất sắc, ông mất năm 1992, ông đã đề ra một mô hình,
tôi xin nói ngắn: các hạt chúng ta đang thấy, khi ẩn khi hiện
đó, nó vận động như vậy nhưng chúng nhận thông tin từ
một quantum potential, từ một trường lượng tử. Trường
lượng tử điều khiển các hạt bằng thông tin, tương tự
như một đứa bé điều khiển đồ chơi điện tử bằng bản
điều khiển từ xa. Theo David Bohm, trường lượng tử đó
có tính chất nonlocal, không biết tới không gian, nó tác động
tức thì, chúng ta hiểu đó là trường lượng tử chứa tâm,
chứa thức. David Bohm còn đi xa hơn, ông nói ánh sáng không
phải là hiện tượng vật lý mà là một hiện tượng tâm
lý. Tuy nhiên, lý thuyết của David Bohm không có sự đồng
thuận với các nhà khoa học khác. Chính trong các nhà khoa học
cũng nảy sinh sự tranh cải gay gắt, nhưng nói chung các nhà
khoa học đều cho rằng đằng sau cái thực tại này có một
cái gì khác? Phải chăng thực tại này chỉ là sự xuất hiện
của một thực tại khác? Ngày hôm nay tôi xin đặt những
câu hỏi đó với các nhà khoa học, anh Nguyễn Quang Riệu và
anh Trần Xuân Yêm. Không biết các anh nghĩ như thế nào, hiểu
như thế nào. Chắc chắn trong sự trình bày của tôi còn những
thiếu sót. Liệu còn những suy nghĩ, hình dung, ẩn dụ, phương
pháp khác hay không. Khủng hoảng về vật lý hiện nay là khủng
hoảng về ontology, khủng hoảng về bản thể học của thế
giới chúng ta. Mặc dù đi đến cửa ngõ của triết học rồi,
nhưng nền tảng, bản thể của nó là gì, đó là điều mà
chúng ta chưa biết. Khi vật lý học gõ cửa trên bản thể
học thì ở đó Phật giáo có thể trả lời một vài câu
hỏi. Đó cũng chính là lý do hôm nay chúng ta gặp nhau. Xin
cảm ơn sự chú ý của quý vị.
(P.V.
ghi, tựa bài do VHPG đặt)
Kỳ
tới: Thiên văn học và Phật giáo