HUYỀN
TRÂN - NGÀY TRỞ VỀ…
Dương
Phước Thu
Cuộc
tình duyên Chiêm-Việt tuy ngắn ngủi, nhưng để lại cho hậu
thế một nỗi buồn man mác… Đầu tháng Chạp năm Đinh mùi
(1307), Thái hậu Chiêm Thành Paramesvari, tức công chúa Đại
Việt Trần Huyền Trân, cùng đoàn tùy tùng tả hữu và bốn
vị tăng sĩ từ Thăng Long được cử sang viếng vua Chiêm Thành
vừa mất, đã rời thành Đồ Bàn, ra cửa Thị Nại lập trai
đàn để cầu siêu độ cho vua chồng Chế Mân. Rồi từ đấy,
Công chúa theo đoàn thuyền do quan Thượng thư tả bộc xạ
Trần Khắc Chung chỉ huy, lặng lẽ rẽ sóng vượt trùng khơi
trở lại quê cha đất tổ. Ngày 18 tháng 5 năm Mậu Thân (1308),
công chùa về tới kinh thành Thăng Long.
Công
chúa vào ở tại biệt cung bên cạnh chùa Tư Phúc trong Đại
nội. Sau 3 ngày nghỉ lấy sức, công chúa quyết định xin
phép vua anh cho mình lên núi Yên Tử vấn an vua cha Trần Nhân
Tông - người anh hùng hai lần lãnh đạo nhân dân đánh thắng
đế quốc Nguyên-Mông xâm lược, thanh thản cởi bỏ chiếc
hoàng bào, tự nguyện khoác lên mình chiếc cà sa, khai sáng
dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, có hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ,
ẩn tu trên đỉnh mây gió tuyết sương vùng Đông Bắc Đại
Việt.
Trước
khi Huyền Trân lên núi Yên Tử, Đại sĩ đã cho các thị giả
xuống núi, chỉ giữ lại chú tiểu Pháp Đăng và thầy Bảo
Sát bên mình. Theo sự hướng dẫn của chú tiểu Pháp Đăng,
Huyền Trân lên núi và đã gặp vua cha tại am Ngọa Vân trong
niềm hoan hỷ khôn siết. Từ am Ngọa Vân, Đại sĩ cùng con
gái và chú tiểu Pháp Đăng ngược dốc lên am Tử Tiêu. Tại
đây, Đại sĩ sai chú Pháp Đăng ở lại quét dọn, còn ngài
dẫn lối đưa công chúa lên tận đỉnh ngọn Tử Tiêu cao
vút như chạm tới cổng trời xanh bạt ngàn mây khói; truyền
rằng nơi đây các tiên ông thường xuống đánh cờ, ngắm
miền hạ giới.
Tại
một phiến đá phẳng và khá rộng, Huyền Trân ngồi đối
diện với vua cha trong thế tọa thiền. Đại sĩ nhìn
con gái hồi lâu như muốn san sẻ bớt gánh nặng ưu tư và
nghiệp duyên của con, rồi ân cần hỏi thăm hoàng tử Chế
Đa Gia và nỗi lòng dân chúng Chiêm Thành kể từ khi vua Chế
Mân qua đời. Công chúa kính cẩn thưa hết với vua cha.
Ở
lại Yên Tử, công chúa được Đại sĩ dẫn đi thăm thú nhiều
am động, được người giảng giải cho những điều triết
luận cao siêu trong kinh điển Phật giáo, nhờ đó mà nội
tâm công chúa được khai mở. Cũng tại đây, công chúa được
gặp sư huynh Bảo Sát, người đứng đầu hàng đệ tử của
Trúc Lâm Đại sĩ, mà trước khi sang Chiêm Thành, công chúa
đã một lần diện kiến. Công chúa mong sớm được xuất
gia, thọ giới Bồ tát. Đại sĩ vui vẻ chấp thuận.
Hơn
một tuần vân du Yên Tử, ngày 29 tháng 8 năm Mậu Thân, công
chúa xuống núi, trở về kinh thành, sống trong biệt cung. Hàng
ngày dành thời gian để học Phật pháp và cầu nguyện trước
chính điện chùa Tư Phúc. Huyền Trân thường quán niệm rằng,
có một ngày duyên lành phổ độ, nàng sẽ lên lại Yên Tử
để được xuất gia với Trúc Lâm Đại sĩ, rồi tìm về
chốn sơn thanh thủy tú nào đó ở miền Hải Dương lập am
tu hành. Nhưng lời quán niệm ấy đã không kịp ứng với
công chúa.
Vào
một chiều, ngày mồng 3 tháng 11 năm Mậu Thân, nghĩa là chỉ
hơn hai tháng kể từ ngày Huyền Trân bái biệt vua cha trở
về kinh thành, công chúa nhận được tin dữ: Thượng hoàng
Trần Nhân Tông - Trúc Lâm Đại sĩ đã thị tịch vào lúc
nửa đêm ngày mồng 1, tại am Ngọa Vân. Không nói lên lời
nào, Huyền Trân đóng chặt cửa, giam mình trong biệt cung suốt
một ngày một đêm. Qua ngày mồng 5, công chúa sang chùa Tư
Phúc, quỳ trước Bảo Điện, cứ quỳ như vậy suốt 2 ngày
đêm cho đến khi tháp đựng xá lợi của Đại sĩ được
vua Anh Tông và triều đình rước từ am Ngọa Vân về chùa
vào ngày mồng 7. Thầy Bảo Sát cũng theo xá lợi của Đại
sĩ về cùng chuyến đi ấy. Trong thời gian lưu lại chùa
Tư Phúc, Thầy Bảo Sát đã kể cho Huyền Trân nghe những giờ
phút thiêng liêng cuối cùng của Đại sĩ và những lời giáo
chỉ của người. Trước khi thị tịch, Đại sĩ dặn thầy
phải trực tiếp thế độ cho công chúa xuất gia, tìm nơi
để công chúa tu học. Song vì quá bận với trọng trách khắc
Đại Tạng kinh, thầy Bảo Sát đã nhờ sư đệ của mình
là thiền sư Bảo Phác đảm nhiệm việc này. Vậy là Huyền
Trân được xuất gia với thiền sư Bảo Phác tại núi Vũ
Ninh, lộ Kinh Bắc.
Khi
xuất gia tu học dưới sự chỉ dạy của thiền sư Bảo Phác
tại núi Vũ Ninh, công chúa được ban cho pháp danh Hương Tràng,
thời gian này công chúa đã nhận sư cô Hương Nghiêm làm sư
muội. Tháng 10 năm Kỷ Dậu (1309), sư cô Hương Tràng được
thiền sư Bảo Phác phái về tu ở chùa Hổ Sơn, một ngôi
chùa mới lập ở huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam. Đi cùng
sư cô Hương Tràng về chùa Hổ Sơn còn có sư cô Hương Nghiêm
và công chúa Thụy Bảo, chị ruột công chúa An Tư, con gái
vua Trần Thái Tông, theo phả hệ Trần triều thì Huyền Trân
phải gọi bằng bà. Ở chùa Hổ Sơn, ngoài những giờ tu tập
và làm Phật sư ra, sư cô Hương Tràng còn mở lớp học đồng
ấu dạy trẻ nhà nghèo, và làm một lương y có tiếng. Ni
sư viên tịch khi mới ngoài 50 tuổi. Tương truyền rằng, ni
sư thường hiển linh phò trợ cứu dân, nên dân chúng lập
đền thờ, các triều đại về sau đều có sắc phong bà làm
thần.
(Phỏng theo các tài liệu lịch sử)