.
.SỐ 10 -THÁNG 11, 2005.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC.
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 10-THÁNG 11, 2005

 

 

DƯ ÂM TIẾNG KHÁNH LINH HỰU
Trần Đình Sơn

Nhằm thể hiện quan niệm “Tam giáo đồng tôn” (Nho - Thích - Lão) và điểm tô thêm cho cảnh quan Kinh đô Huế, tháng 6 năm Kỷ Sửu (1829) Vua Minh Mạng (1820–1840) hạ chỉ xây dựng quán Linh Hựu tại phường Ân Thịnh ở phía Bắc Ngự hà (nay là vùng Tây Linh, phường Thuận Lộc, TP. Huế).

Công trình này gồm có điện Trùng Tiêu ở chính giữa quay mặt về phương Nam. Hai bên có trường lang nối liền với gác Từ Vân ở phía Đông và gác Tường Quang phía Tây. Trước điện có tam quan hai tầng, xung quanh xây la thành bao bọc. Bên ngoài sát bến sông dựng phường môn. Đây là nơi thờ phụng tiêu biểu cho Lão giáo. Tuy nhiên có thể do không tuyển chọn được đạo sĩ đủ tài đức nên ngay từ đầu Bộ Lễ phối hợp với sơn môn cung thỉnh các vị cao tăng đảm trách chức vụ trú trì, tăng cang quán Linh Hựu.(1)

Dần dần cơ sở này chính thức trở thành ngôi chùa thờ Phật, làm chỗ lễ bái cử hành các đại lễ cho hoàng gia, triều đình. Vua Thiệu Trị (1841-1847) xếp hạng Linh Hựu đứng thứ 13 trong số 20 thắng cảnh nổi tiếng của đất Thần Kinh.

Sau biến cố ngày 23 tháng 5 năm Ất dậu (5/7/1885), Kinh đô thất thủ, Vua Hàm Nghi và đình thần thoát ly lên rừng kháng chiến. Quân Pháp chiếm đóng một số cung điện, chùa chiền trong nội thành. Tình trạng này kéo dài đến đời Thành Thái (1889-1907). Năm 1902, quốc tự Giác Hoàng bị triệt hạ để xây dựng Viện Cơ Mật. Năm 1904, thị vệ đại thần Ngô Đình Khả (N.Đ.K) (2) tâu xin vua Thành Thái ban cấp cho ông chùa Linh Hựu để làm từ đường gia tộc. Được vua đồng ý, nhưng thay vì làm từ đường, ông NĐK tự tiện kiến tạo giáo đường. Sự việc bị phát giác, điều này vi phạm luật lệ cấm kị đương thời, khiến công luận xôn xao. Tháng 11 năm 1905, triều đình họp, chiếu theo điều luật: “Không được làm mà làm” (Bất ưng vi trọng luật: phàm bất ưng vi nhi vi, trọng giả trượng bát thập). Kiến nghị phạt NĐK 80 trượng, giáng 3 cấp, cách chức, đồng thời phải triệt hạ giáo đường, cho tùy ý chọn địa điểm xây cất bốn phía sông bên ngoài kinh thành.

Ông NĐK trình xin chuyển nhượng giáo đường đã “lỡ” làm, sửa chữa và trả lại nguyên trạng Linh Hựu, để bảo tồn di tích. Ông xin Chính phủ trợ cấp 300 đồng mua sắm vật liệu để làm lại giáo đường mới, trên địa điểm nhà kho cũ ở xã Tiên Nộn.

Nội vụ được Viện Cơ Mật đem ra thương nghị với quyền Khâm sứ Mô-Li-ê để tìm cách giải quyết. Ngày 11 tháng 4 năm 1906, các quan Viện Cơ Mật làm tờ tấu trình: “Lại thương nghị rằng, về khoản nhà thờ đạo ở phía sau Kinh thành, tuy có sắc bảo nhưng ngại khó tuân hành. Bọn thần xét nghị chỗ đất này nguyên trước có chùa thờ Phật, vì từ khi sập đổ đến nay chưa có ngân sách dồi dào nên chưa tu bổ, nay lại phá chùa Phật để cất nhà thờ đạo là một điều không thuận. Huống chi trong thành nội từ trước đến nay chẳng hề có nhà giáo dân ở đây. Vậy mà cất nhà thờ đạo là hai điều không thuận. Vậy đề nghị nên triệt hạ nhà thờ đạo này và cho tùy ý chọn cất ngoài sông, bên ngoài bốn phía kinh thành...

Bọn thần Cơ Mật Viện hai ba lần thương nghị, giải thích đại ý như vậy nhưng quyền Khâm sứ nhất định không nghe... Vậy kính tâu đợi chỉ thi hành”.3

Chưa giải quyết xong sự việc, tháng 7 năm 1907, Vua Thành Thái bị Chính phủ Bảo hộ truất phế, đem đi an trí. Ông NĐK cáo bệnh, thay đổi ý kiến không chịu nhận số tiền bồi thường.

Sau khi vua Duy Tân (1907-1916) lên ngôi, ngày 26 tháng 11 năm 1907, Phủ Phụ chánh xét lại sự việc tâu trình: “...Thần phủ phụng cứu, phụng phiếu tháng 9 năm nay, chuẩn cho viên ấy giữ nguyên hàm (Thượng thư) về quê quán hưu trí. Nay căn cứ các lẽ quý đại thần đã thương nghị nói vậy xin chiếu nguyên quyết định như trên, giáng Thượng thư Ngô Đình Khả 3 cấp, rời chức vụ cho về quê quán hưu trí. Còn số tiền ấy thì sung công, đạo đường ấy thì do Bộ Lễ phụ trách triệt hạ, đem cây gỗ vật liệu dùng vào việc khác. Vậy kính tâu đợi chỉ thi hành.

Lại nữa, khoản này từ trước đã có nhiều phiến nhưng thần Nguyễn Hữu Bài(4) đã xin không dự duyệt, kính xin tâu luôn”(5).

Đến thời Bảo Đại (1926-1945), trong phạm vi di tích Linh Hựu đã hình thành một ngôi nhà nguyện khiêm tốn. Năm 1950, nhờ sự can thiệp của Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo, Linh mục Phaolô Trần Bá Hạnh đã xây dựng ngôi nhà thờ trên nền nhà nguyện cũ. Năm 1962, Tổng giám mục Ngô Đình Thục nhớ lại ước nguyện chưa thành của cha (Ngô Đình Khả) nên ông đã hết sức yểm trợ cho linh mục Giuse Trần Thắng Trung kiến trúc một ngôi thánh đường nguy nga ngay trên nền cũ chùa Linh Hựu, chính thức đặt tên là nhà thờ Tây Linh, thay thế cho nhà thờ Cầu Kho cách đó 300m về phía Tây Bắc.

Ngày nay, trải qua bao lớp sóng phế hưng, mấy ai qua lại còn biết nơi đây xưa kia vốn là quán tiên, cảnh Phật, từng được vua Thiệu Trị xếp hạng danh thắng chốn đế đô! Họa hoằn còn lại một vài bậc cố cựu hiện còn sống ở Tây Linh-Tây Lộc, may ra trong tâm thức mơ hồ, họ còn lưu lại dư âm tiếng chuông khánh Linh Hựu thuở nào....

Linh quán khánh vận
Linh Hựu quán:

Từ Vân Các kiến ư đông biên,
Tường Quang Các cư ư tây hướng.
Trùng Tiêu đại điện đoan mục đương trung,
Linh Hựu tổng danh trang nghiêm minh chính.
Giai thần thắng thưởng quan cái tương vọng,
Hương nguyện đạo tràng ỷ la lạc dịch.
Sinh hoàng điệt tấu,
Chung khánh du dương.
Triết nhân an hữu thượng thần,
Tồn cổ diệt vi vận sự.

Bỉ thử vô quan Hán đạo khôi,
Tuẫn dân tồn cổ lạc Xuân đài.
Trai minh thịnh phục đồ vi nhĩ,
Kiết kích minh cầu nhập diệu tai.
Nhị ngọc kỳ văn thông giác ngộ,
Phù kim dư hưởng tự đăng lai.
Huyền Lê độ khúc tuy tương gián,
Tổng thị ưu du thọ vực khai.

                                Thiệu Trị Ngự Đề

Phỏng dịch thơ:

Tiếng khánh quán Linh Hựu
Linh Hựu Quán:

Phía đông dựng gác Từ Vân,
Hướng tây xây gác Tường Quang.
Điện chính Trùng Tiêu uy nghi ở giữa
Tên chung Linh Hựu sáng tỏ trang nghiêm
Cảnh đẹp ban mai mũ lọng chiêm ngưỡng
Đạo trường hương tỏa lụa gấm thướt tha
Sáo đàn réo rắt
Chuông khánh du dương
Người trí há phải chuộâng thần
Tồn cổ cũng là việc tốt.

Mở mang Đạo giáo chẳng quan tâm,
Vui thú đài xuân thỏa ý dân.
Xiêm áo lễ nghi theo phép cũ,
Khánh chuông âm vận nhập tinh thần.
Ngọc thốt du dương thông giác ngộ,
Vàng ngân vang vọng chuyển thiêng ân.
Huyền, Lê điệu khúc tùy tâm cảm,
Thịnh hội thung dung mở giữa trần.

Trần Đình Sơn

Chú thích:

1. Đầu tiên là Hòa thượng Tánh Thiên Nhất Định, kế tiếp là Hòa thượng Hải Trừng Pháp Lữ, đến Hòa thượng Tiên An Khánh Tường.
2. Ngô Đình Khả: người làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Xuất thân trường dòng, cùng với Nguyễn Thân đem quân đánh dẹp phong trào Cần Vương, Văn thân từ Quảng Bình đến Nghệ Tĩnh, được Chính phủ Bảo hộ Pháp tin dùng. Triều Thành Thái, NĐK giữ chức Tổng quản thị vệ đại thần (hàm Thượng thơ), ngầm giám sát vua để tránh tình trạng như Hàm Nghi.
3. Lý Kim Hoa, Châu bản triều Nguyễn, NXB VHTT, TP. HCM, 2003, tr. 823.
4. Nguyễn Hữu Bài (1863-1935): Người làng Cao Xá, phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Xuất thân từ chủng viện An Ninh. Năm 1884 vào làm thông ngôn tại Nha Thương bạc Huế. Có công đánh dẹp nghĩa quân chống Pháp ở Bắc Ky,ø lại được Hội truyền giáo đặc biệt nâng đỡ, NHB nhanh chóng thăng tiến, nắm giữ chức vụ trọng yếu, thao túng triều đình Huế từ năm 1897 đến 1933. Sở dĩ NHB không dự duyệt bản án NĐK vì hai người vốn là “đồng đạo, đồng chí”, lại có tình thông gia.
5.  Lý Kim Hoa, Sđd, tr. 877-879.
Tài liệu tham khảo:
- Thần kinh nhị thập cảnh (TTBT DT Cố đô Huế), NXB Thuận Hóa-Huế, 1997.
- Lược sử Phật giáo xứ Huế, Thích Hải Ấn - Hà Xuân Liêm, NXB TP.HCM, 2001.
- Lược sử các giáo xứ tập 1, Tổng giáo phận Huế 2001, Lưu hành nội bộ.
 
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 10 -THÁNG 11 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)