DƯ
ÂM TIẾNG KHÁNH LINH HỰU
Trần
Đình Sơn
Nhằm
thể hiện quan niệm “Tam giáo đồng tôn” (Nho - Thích - Lão)
và điểm tô thêm cho cảnh quan Kinh đô Huế, tháng 6 năm Kỷ
Sửu (1829) Vua Minh Mạng (1820–1840) hạ chỉ xây dựng quán
Linh Hựu tại phường Ân Thịnh ở phía Bắc Ngự hà (nay là
vùng Tây Linh, phường Thuận Lộc, TP. Huế).
Công
trình này gồm có điện Trùng Tiêu ở chính giữa quay mặt
về phương Nam. Hai bên có trường lang nối liền với gác
Từ Vân ở phía Đông và gác Tường Quang phía Tây. Trước
điện có tam quan hai tầng, xung quanh xây la thành bao bọc. Bên
ngoài sát bến sông dựng phường môn. Đây là nơi thờ phụng
tiêu biểu cho Lão giáo. Tuy nhiên có thể do không tuyển chọn
được đạo sĩ đủ tài đức nên ngay từ đầu Bộ Lễ phối
hợp với sơn môn cung thỉnh các vị cao tăng đảm trách chức
vụ trú trì, tăng cang quán Linh Hựu.(1)
Dần
dần cơ sở này chính thức trở thành ngôi chùa thờ Phật,
làm chỗ lễ bái cử hành các đại lễ cho hoàng gia, triều
đình. Vua Thiệu Trị (1841-1847) xếp hạng Linh Hựu đứng thứ
13 trong số 20 thắng cảnh nổi tiếng của đất Thần Kinh.
Sau
biến cố ngày 23 tháng 5 năm Ất dậu (5/7/1885), Kinh đô thất
thủ, Vua Hàm Nghi và đình thần thoát ly lên rừng kháng chiến.
Quân Pháp chiếm đóng một số cung điện, chùa chiền trong
nội thành. Tình trạng này kéo dài đến đời Thành Thái (1889-1907).
Năm 1902, quốc tự Giác Hoàng bị triệt hạ để xây dựng
Viện Cơ Mật. Năm 1904, thị vệ đại thần Ngô Đình Khả
(N.Đ.K) (2) tâu xin vua Thành Thái ban cấp cho ông chùa Linh Hựu
để làm từ đường gia tộc. Được vua đồng ý, nhưng thay
vì làm từ đường, ông NĐK tự tiện kiến tạo giáo đường.
Sự việc bị phát giác, điều này vi phạm luật lệ cấm
kị đương thời, khiến công luận xôn xao. Tháng 11 năm 1905,
triều đình họp, chiếu theo điều luật: “Không được làm
mà làm” (Bất ưng vi trọng luật: phàm bất ưng vi nhi vi,
trọng giả trượng bát thập). Kiến nghị phạt NĐK 80 trượng,
giáng 3 cấp, cách chức, đồng thời phải triệt hạ giáo
đường, cho tùy ý chọn địa điểm xây cất bốn phía sông
bên ngoài kinh thành.
Ông
NĐK trình xin chuyển nhượng giáo đường đã “lỡ” làm,
sửa chữa và trả lại nguyên trạng Linh Hựu, để bảo tồn
di tích. Ông xin Chính phủ trợ cấp 300 đồng mua sắm vật
liệu để làm lại giáo đường mới, trên địa điểm nhà
kho cũ ở xã Tiên Nộn.
Nội
vụ được Viện Cơ Mật đem ra thương nghị với quyền Khâm
sứ Mô-Li-ê để tìm cách giải quyết. Ngày 11 tháng 4 năm
1906, các quan Viện Cơ Mật làm tờ tấu trình: “Lại thương
nghị rằng, về khoản nhà thờ đạo ở phía sau Kinh thành,
tuy có sắc bảo nhưng ngại khó tuân hành. Bọn thần xét nghị
chỗ đất này nguyên trước có chùa thờ Phật, vì từ khi
sập đổ đến nay chưa có ngân sách dồi dào nên chưa tu bổ,
nay lại phá chùa Phật để cất nhà thờ đạo là một điều
không thuận. Huống chi trong thành nội từ trước đến nay
chẳng hề có nhà giáo dân ở đây. Vậy mà cất nhà thờ
đạo là hai điều không thuận. Vậy đề nghị nên triệt
hạ nhà thờ đạo này và cho tùy ý chọn cất ngoài sông,
bên ngoài bốn phía kinh thành...
Bọn
thần Cơ Mật Viện hai ba lần thương nghị, giải thích đại
ý như vậy nhưng quyền Khâm sứ nhất định không nghe... Vậy
kính tâu đợi chỉ thi hành”.3
Chưa
giải quyết xong sự việc, tháng 7 năm 1907, Vua Thành Thái bị
Chính phủ Bảo hộ truất phế, đem đi an trí. Ông NĐK cáo
bệnh, thay đổi ý kiến không chịu nhận số tiền bồi thường.
Sau
khi vua Duy Tân (1907-1916) lên ngôi, ngày 26 tháng 11 năm 1907,
Phủ Phụ chánh xét lại sự việc tâu trình: “...Thần
phủ phụng cứu, phụng phiếu tháng 9 năm nay, chuẩn cho viên
ấy giữ nguyên hàm (Thượng thư) về quê quán hưu trí. Nay
căn cứ các lẽ quý đại thần đã thương nghị nói vậy
xin chiếu nguyên quyết định như trên, giáng Thượng thư Ngô
Đình Khả 3 cấp, rời chức vụ cho về quê quán hưu trí.
Còn số tiền ấy thì sung công, đạo đường ấy thì do Bộ
Lễ phụ trách triệt hạ, đem cây gỗ vật liệu dùng vào
việc khác. Vậy kính tâu đợi chỉ thi hành.
Lại
nữa, khoản này từ trước đã có nhiều phiến nhưng thần
Nguyễn Hữu Bài(4) đã xin không dự duyệt, kính xin tâu luôn”(5).
Đến
thời Bảo Đại (1926-1945), trong phạm vi di tích Linh Hựu đã
hình thành một ngôi nhà nguyện khiêm tốn. Năm 1950, nhờ sự
can thiệp của Thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo, Linh mục
Phaolô Trần Bá Hạnh đã xây dựng ngôi nhà thờ trên nền
nhà nguyện cũ. Năm 1962, Tổng giám mục Ngô Đình Thục nhớ
lại ước nguyện chưa thành của cha (Ngô Đình Khả) nên ông
đã hết sức yểm trợ cho linh mục Giuse Trần Thắng Trung
kiến trúc một ngôi thánh đường nguy nga ngay trên nền cũ
chùa Linh Hựu, chính thức đặt tên là nhà thờ Tây Linh, thay
thế cho nhà thờ Cầu Kho cách đó 300m về phía Tây Bắc.
Ngày
nay, trải qua bao lớp sóng phế hưng, mấy ai qua lại còn biết
nơi đây xưa kia vốn là quán tiên, cảnh Phật, từng được
vua Thiệu Trị xếp hạng danh thắng chốn đế đô! Họa hoằn
còn lại một vài bậc cố cựu hiện còn sống ở Tây Linh-Tây
Lộc, may ra trong tâm thức mơ hồ, họ còn lưu lại dư âm
tiếng chuông khánh Linh Hựu thuở nào....
Linh
quán khánh vận
Linh
Hựu quán:
Từ
Vân Các kiến ư đông biên,
Tường
Quang Các cư ư tây hướng.
Trùng
Tiêu đại điện đoan mục đương trung,
Linh
Hựu tổng danh trang nghiêm minh chính.
Giai
thần thắng thưởng quan cái tương vọng,
Hương
nguyện đạo tràng ỷ la lạc dịch.
Sinh
hoàng điệt tấu,
Chung
khánh du dương.
Triết
nhân an hữu thượng thần,
Tồn
cổ diệt vi vận sự.
Bỉ
thử vô quan Hán đạo khôi,
Tuẫn
dân tồn cổ lạc Xuân đài.
Trai
minh thịnh phục đồ vi nhĩ,
Kiết
kích minh cầu nhập diệu tai.
Nhị
ngọc kỳ văn thông giác ngộ,
Phù
kim dư hưởng tự đăng lai.
Huyền
Lê độ khúc tuy tương gián,
Tổng
thị ưu du thọ vực khai.
Thiệu Trị Ngự Đề
Phỏng
dịch thơ:
Tiếng
khánh quán Linh Hựu
Linh
Hựu Quán:
Phía
đông dựng gác Từ Vân,
Hướng
tây xây gác Tường Quang.
Điện
chính Trùng Tiêu uy nghi ở giữa
Tên
chung Linh Hựu sáng tỏ trang nghiêm
Cảnh
đẹp ban mai mũ lọng chiêm ngưỡng
Đạo
trường hương tỏa lụa gấm thướt tha
Sáo
đàn réo rắt
Chuông
khánh du dương
Người
trí há phải chuộâng thần
Tồn
cổ cũng là việc tốt.
Mở
mang Đạo giáo chẳng quan tâm,
Vui
thú đài xuân thỏa ý dân.
Xiêm
áo lễ nghi theo phép cũ,
Khánh
chuông âm vận nhập tinh thần.
Ngọc
thốt du dương thông giác ngộ,
Vàng
ngân vang vọng chuyển thiêng ân.
Huyền,
Lê điệu khúc tùy tâm cảm,
Thịnh
hội thung dung mở giữa trần.
Trần
Đình Sơn
Chú
thích:
1.
Đầu tiên là Hòa thượng Tánh Thiên Nhất Định, kế tiếp
là Hòa thượng Hải Trừng Pháp Lữ, đến Hòa thượng Tiên
An Khánh Tường.
2.
Ngô Đình Khả: người làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh
Quảng Bình. Xuất thân trường dòng, cùng với Nguyễn Thân
đem quân đánh dẹp phong trào Cần Vương, Văn thân từ Quảng
Bình đến Nghệ Tĩnh, được Chính phủ Bảo hộ Pháp tin dùng.
Triều Thành Thái, NĐK giữ chức Tổng quản thị vệ đại
thần (hàm Thượng thơ), ngầm giám sát vua để tránh tình
trạng như Hàm Nghi.
3.
Lý Kim Hoa, Châu bản triều Nguyễn, NXB VHTT, TP. HCM, 2003, tr.
823.
4.
Nguyễn Hữu Bài (1863-1935): Người làng Cao Xá, phủ Vĩnh Linh,
tỉnh Quảng Trị. Xuất thân từ chủng viện An Ninh. Năm 1884
vào làm thông ngôn tại Nha Thương bạc Huế. Có công đánh
dẹp nghĩa quân chống Pháp ở Bắc Ky,ø lại được Hội truyền
giáo đặc biệt nâng đỡ, NHB nhanh chóng thăng tiến, nắm
giữ chức vụ trọng yếu, thao túng triều đình Huế từ năm
1897 đến 1933. Sở dĩ NHB không dự duyệt bản án NĐK vì hai
người vốn là “đồng đạo, đồng chí”, lại có tình
thông gia.
5.
Lý Kim Hoa, Sđd, tr. 877-879.
Tài
liệu tham khảo:
-
Thần kinh nhị thập cảnh (TTBT DT Cố đô Huế), NXB Thuận
Hóa-Huế, 1997.
-
Lược sử Phật giáo xứ Huế, Thích Hải Ấn - Hà Xuân Liêm,
NXB TP.HCM, 2001.
-
Lược sử các giáo xứ tập 1, Tổng giáo phận Huế 2001, Lưu
hành nội bộ.