MẤY
SUY NGHĨ VỀ VỊ TRÍ CỦA NỮ THẦN
TRONG
TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM
Đặng
Nghiêm Vạn
LTS:
Trong xu hướng tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc, việc
tìm hiểu đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của cha ông trong
quá khứ là rất quan trọng. Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, nguyên
Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Trung tâm Khoa
học xã hội và nhân văn quốc gia, tham gia cộng tác với VHPG
qua bài nghiên cứu “Đặc trưng đời sống tôn giáo Việt
Nam - một suy nghĩ”. Trong khuôn khổ của VHPG, BBT trích giới
thiệu đến bạn đọc một phần nhỏ từ nghiên cứu trên.
Một
đặc thù trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam là số lượng
Nữ thần khá nhiều, trong đó có những vị có địa vị cao
trên các điện thần. Đặc điểm này cũng dễ nhận thấy
ở các nước có nền nông nghiệp lúa nước miền nhiệt đới,
ở đấy người phụ nữ tham gia trực tiếp vào lao động
sản xuất cùng nam giới. Ở Việt Nam, đặc điểm này còn
được thể hiện ở vai trò to lớn của phụ nữ trong xã
hội. Do hoàn cảnh đất nước bị chiến tranh liên miên, trai
tráng vắng nhà, nên người phụ nữ phải thay thế đảm
đang các công việc của gia đình, xã hội (nuôi cha mẹ già,
con cái, lo việc thờ cúng tổ tiên, giỗ tết, đóng góp cho
quê hương, làng xã...).
Cũng
như một số nước Á Đông, người Việt Nam có ý niệm về
cặp đôi âm-dương, coi đó là hai mặt thống nhất và đối
lập, là nguyên nhân phát sinh các sự vật, các yếu tố, các
cộng đồng và bản thân con người. Người Việt Nam nặng
tình tổ quốc, nặng tình mẹ (vì trong gia đình mẹ gần gũi
hơn bố), nên mới nảy sinh ý niệm đất mẹ, hình thành truyền
thuyết về một nữ thần Âu Cơ sinh sôi giống nòi, người
sáng tạo ra nghề nông, nghề tầm tang, nghề dệt vải; cũng
như truyền thuyết về nữ thần Lúa ở Tây Nguyên... Và cũng
từ đấy mà hình thành nên tín ngưỡng Tứ phủ: Mẫu Thiên,
Mẫu Địa, Mẫu Thoải (nước), Mẫu Thượng Ngàn (cây cối,
rừng rú) (1)...
Với
thời tiết thay đổi thất thường, nắng hạn lũ lụt liên
miên, nên người nông dân Việt Nam luôn cầu mong được mưa
thuận gió hòa để có một vụ mùa bội thu. Họ tin có một
mối quan hệ vô hình giữa khí âm và dương, giữa đực và
cái, và nhờ vào sự giao hòa đó mà đất đai phì nhiêu, cây
lúa nhiều bông... Vì vậy, khi bắt đầu làm mùa, trong lễ
hội nông nghiệp, việc thờ và rước các sinh thực khí theo
tín ngưỡng phồn thực (rước nõn nường), thờ Linga, hay
các trò chơi tượng trưng như ném còn, đánh đu... vẫn
ngang nhiên diễn ra trong các xã hội phong kiến vốn rất coi
trọng lễ nghi Nho giáo. Và cũng từ đó, nhiều vị nữ thần
được bắt nguồn từ sông nước, từ các thủy thần cho
đến những tinh linh như: rắn, cá sấu, thuồng luồng, ba ba,
trai, hến và các loại cá... đã được nhân cách hóa, thần
thánh hóa, nhờ một dịp lập công với làng với nước, bằng
những tên gọi hết sức mỹ miều.
Người
Việt tiếp xúc với Đạo giáo khá sớm. Ngoài các nữ thần
của Đạo giáo đã được Việt hóa, người Việt cũng đã
phong thêm các nữ thần, mà tương truyền vốn xuất thân từ
các vị Thiên thần giáng thế, như Mẫu Liễu Hạnh, Tiên Dung,
Hoa Nương Tiên Cô... Đạo Phật vào vùng Luy Lâu, một trung
tâm văn hóa của nước ta thời đầu Tây lịch, sinh ra câu
chuyện Ả Mèn (Man Nương). Qua một kỳ thụ thai 14 tháng, bà
Man Nương sinh nở được một người con gái. Người con gái
được cây đa thu vào rồi hóa đá. Cây đa bị gió đánh trốc
rễ, trôi sông. Chỉ có Man Nương nhờ phép lạ và tình mẫu
tử mới kéo được cây đa lên bờ, chia làm 4 khúc, sau tạc
thành bốn vị nữ thần đặt ở bốn ngôi chùa: Chị cả
Pháp Vân( thần mây) thờ ở chùa Dâu, chị hai Pháp Vũ( thần
mưa) thờ ở chùa Đậu, chị ba Pháp Lôi(thần sấm) thờ ở
chùa Tướng, chị tư Pháp Điện( thần chớp) thờ ở
chùa Dàn. Con gái Man Nương thành Phật hiệu là Đại Quang,
Man Nương trở thành Phật Mẫu, tương truyền bà cũng chính
là hiện thân của Đức Phật bà Quan Âm, một hóa thân của
vị Bồ tát Avalokitesvara(2).
Các
vị nữ thần gốc Đạo hay Phật giáo trong dân gian thường
lẫn lộn giữa tiên, bụt, và có khi mang giới tính nữ. Cũng
cần lưu ý rằng, trong Đạo giáo ở nam Trung Hoa, vùng Lưỡng
Quảng, số lượng nữ thần cũng khá đông, các vị thánh
thuộc đạo Nho cũng không chỉ hoàn toàn là nam. Ngay cả đạo
Bà La Môn hay Hồi giáo vốn đầy tính phụ quyền nhưng cũng
không ngăn cản người Chàm theo dòng mẹ vẫn giữ gìn những
nữ thần và cung cấp cho người Việt một bà chúa thờ chung,
đó là Mẫu Thiên Yana. Người Khmer và người Việt cũng thờ
chung bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc.
Gần
đây, tín ngưỡng đạo Mẫu, một biến thiên của Đạo giáo,
có xu hướng tập hợp các nữ thần có gốc gác từ các tôn
giáo khác nhau, lại nổi lên. Âu cũng là một kiểu đan ghép
tuân thủ xu thế hòa nhi bất đồng, và được một số nhà
folklo học Việt Nam tìm hiểu(3). Trong nền kinh tế thị trường
hôm nay, tục thờ Thần Tài vốn bắt nguồn từ người Hoa
cũng lan rộng trong xã hội. Nhiều vị nữ thần vốn thánh
thiện bị biến thành những người cho vay nặng lãi, vay một
trả mười... Vậy là Bà Chúa Kho (Cổ Mễ, Bắc Ninh), Bà Chúa
Xứ (Châu Đốc, An Giang), Bà Đen (Tây Ninh)... đã có thêm
người đồng hành.
Theo
dòng tâm thức tôn giáo kể trên, một số quần chúng tín
đồ Thiên Chúa giáo cũng muốn đặt Đức Mẹ Maria trên Chúa,
vì đơn giản Đức Mẹ phải ở trên Chúa con. Họ cũng rất
cả tin, sợ Đức Mẹ phiền lòng. Năm 1954, do phao tin Đức
Mẹ thương con chiên ở lại bơ vơ với “quỷ dữ” cộng
sản, khóc chảy máu mắt, số đông trong số nửa triệu người
Thiên Chúa giáo đã bỏ nhà bỏ cửa vào Nam. Gần đây, ở
Đắc Lắc và ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng lặp lại hiện
tượng đó, phao tin mắt tượng Đức mẹ chảy máu, chảy
nước mắt, dân chúng xúm đến xem, nhưng ông Linh mục đã
kịp thời cải chính tin không đúng đắn đó.
Nhìn
chung, không kể các vị nữ Phật, nữ Tiên đã được suy
tôn, theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Văn hóa thông tin,
số nữ thần chiếm đến 1/5 số lượng các vị Thành Hoàng
được nhà nước phong kiến phong thần trên khắp đất nước
Việt Nam. Và theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (4), trong
số 1.064 vị thần thì có đến 253 vị là nữ, chiếm 1/4 số
lượng các thần được thờ ở các đình, đền, miếu, phủ...
Điều đó chứng tỏ, nữ thần có một vị trí rất đặc
biệt trong đời sống tín ngưỡng của người Việt Nam.
(Tựa
do VHPG đặt)
Chú
thích:
(1)
Ngô Đức Thịnh (chủ biên), Đạo Mẫu ở Việt Nam (tập 1),
NXB VHTT, Hà Nội, 1996, trang 10.
(2)
Nguyễn Huy Hồng, Di tích chùa Dâu, NXB KHXH, Hà Nội, 1997.
(3)
Ngô Đức Thịnh, sđd, Hà Nội, 1996.
(4)
Ngô Đức Thọ (chủ biên), Từ điển di tích văn hóa Việt
Nam, Hà Nội, 1993.