SƯ
VẠN HẠNH
Phước
Cảnh
Tháng
10 vừa qua, cả nước hướng về kỷ niệm 995 năm Thăng Long-Hà
Nội (1010-2005). Tôi dạo khắp Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
qua phố Nhà Chung, phố Nguyễn Trường Tộ,... mà chẳng thể
tìm thấy một con đường nào được mang tên Thiền sư Vạn
Hạnh, người đã cùng Lý Thái Tổ khai sáng kinh đô Thăng
Long, suốt đời tận tụy với sự nghiệp “Hộ quốc an dân”,
và từng được xưng tán là “Chống gậy thiền trấn
giữ kinh vua” thuở nào...!
Đường
Sư Vạn Hạnh là một trong những con đường khá lớn
ở thành phố Hồ Chí Minh, kéo dài từ Q.5 đến Q.10, nối
liền đại lộ 3 Tháng 2 với đại lộ An Dương Vương, xuyên
qua đường Hùng Vương và Lý Thái Tổ. Con đường được
mang tên một vị Thiền sư, một nhà văn hóa, giáo dục tiêu
biểu của dân tộc, sống vào thời nhà Tiền Lê và đầu
thời nhà Lý: Thiền sư Vạn Hạnh ( ? - 1025).
Sách
Thiền Uyển Tập Anh cũng như các bộ chính sử của nước
ta đều có ghi rõ tiểu sử và công hạnh của ngài. Thiền
sư họ Nguyễn, người châu Cổ Pháp, hương Dịch Bảng, phủ
Thiên Đức (nay là làng Đình Bảng, Thuận Thành, Bắc Ninh),
xuất thân trong một gia đình đời đời tín Phật. Thuở nhỏ,
ngài đã có tư chất khác thường, tinh thông Tam học, nghiên
cứu trăm luận, xem thường công danh. Năm 21 tuổi, xuất gia
với Thiền Ông ở chùa Lục Tổ. Sau khi thầy qua đời, Thiền
sư dốc chí luyện tập môn Tổng trì Tam muội, từ đó
lời nào ngài nói ra cũng đều rất ứng nghiệm.
Hoàng
đế Lê Đại Hành (980-1005) rất mực kính mộ Thiền sư, vua
nhiều lần thỉnh ngài vào triều để bàn bạc quốc sự,
tham vấn kế sách đối phó với giặc Tống ở phương Bắc
cũng như giặc Chiêm Thành ở phía Nam. Thiền sư Vạn Hạnh
chính là người đã dày công giáo dưỡng Lý Thái Tổ (1010-1028)
ở trong chùa từ nhỏ, lúc vua còn là chú tiểu Lý Công Uẩn,
theo nghĩa phụ Lý Khánh Văn đến chùa Tiêu Sơn học đạo.
Khi thấy Lê Long Đĩnh (1005-1009) bạo ngược, trăm họ sống
trong cảnh lầm than, bấy giờ Lý Công Uẩn đang giữ chức
Điện tiền chỉ huy sứ nhà Lê, Thiền sư đã vận động
quần thần trong triều suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua, sáng
lập ra nhà Lý. Và về sau, cũng chính Thiền sư đã tham mưu
cho Lý Thái Tổ trong việc dời đô, từ kinh đô Hoa Lư về
Thăng Long, để tính kế phồn thịnh muôn đời cho con cháu.
Ngày
rằm tháng Năm năm Thuận Thiên thứ 16 (1025), khi công hạnh
đã viên mãn, Thiền sư gọi đồ chúng lại dặn dò, đọc
bài kệ rồi thị tịch. Vua Lý Thái Tổ và tất cả triều
thần nhà Lý đến làm lễ Trà tỳ, thỉnh Xá lợi của ngài
về thờ tại chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh).
Cảm
mộ đức hạnh của Thiền sư, về sau, vua Lý Nhân Tông (1072-1127)
có bài kệ truy tán rằng:
“Vạn
Hạnh thông ba cõi
Thật
hợp lời sấm xưa
Quê
hương tên Cổ Pháp
Chống
gậy trấn kinh vua”.
(Vạn
Hạnh dung tam tế
Chân
phù cổ sấm cơ
Hương
quan danh Cổ Pháp
Trụ
tích trấn vương kỳ).
Tháng
10 vừa qua, cả nước hướng về kỷ niệm 995 năm Thăng Long-Hà
Nội (1010-2005). Tôi dạo khắp Hà Nội ba mươi sáu phố phường,
qua phố Nhà Chung, phố Nguyễn Trường Tộ,... mà chẳng thể
tìm thấy một con đường nào được mang tên Thiền sư Vạn
Hạnh, người đã cùng Lý Thái Tổ khai sáng kinh đô Thăng
Long, suốt đời tận tụy với sự nghiệp “Hộ quốc an dân”,
và từng được xưng tán là “Chống gậy thiền trấn
giữ kinh vua” thuở nào...!
Bất
giác, bên tai tôi như còn vang vọng lời Thiền sư căn
dặn đệ tử trước lúc thị tịch: “Các con muốn đi đâu?
Thầy không nương vào chỗ trụ để trụ, cũng không lấy
chỗ vô trụ để trụ”. Và mặc dù, trên Long vị thờ Thiền
sư tại chùa Tiêu Sơn-Bắc Ninh, hiện còn ghi dòng chữ:
“Lý triều nhập nội Tể tướng Lý Vạn Hạnh Thiền sư
thần vị”, nhưng chúng ta biết rằng, đối với Thiền sư,
mọi thứ vinh hoa phú quý phù du ở đời, mãi mãi chỉ là
một “giọt sương rơi đầu cành” mà thôi!