VỀ
TRIẾT HỌC CỦA DÂN TỘC
Như
Nguyệt
Nghe
ông Nguyên Ngọc trình bày “cái hổng nhất của giáo dục
nước ta là ở triết lý giáo dục” (báo Lao Động ngày 31-10-2005)
mà hoảng quá. Một đất nước vẫn ngửa mặt xưng với thiên
hạ rằng mình có bốn ngàn năm văn hiến, mà mỗi một khoản
triết lý trong giáo dục đến bây giờ mới nhận ra là: không
có. Tệ hơn nữa, trong bài trả lời phỏng vấn trên, ông
Nguyên Ngọc đã chỉ ra cái hệ lụy của một dân tộc không
có triết học. Hệ lụy ấy được ông nhận định: “Một
dân tộc không có triết học thì không triệt để”, nên
“Người Việt làm cái gì phần lớn đều dở dang”.
Chính
điều đó là một vấn nạn cho con người Việt Nam. Kỳ thực
thì nước ta không phải không có triết học. Từ lâu, cùng
với dấu chân của người Trung Quốc sang đồng hóa dân Việt,
triết lý Nho giáo đã vào và định hình ở dân tộc Việt
Nam và tồn tại ngót mười thế kỷ. Song song đó, với sự
du nhập của Phật giáo từ hai hướng Bắc và Nam cũng đã
gieo vào tâm thức người Việt một triết lý Phật giáo sâu
sắc.
Từ
sau một vài thập niên đầu của thế kỷ 20, có sự hiện
diện của triết học Kart Marx, và những người Việt Nam đi
theo chủ nghĩa duy vật biện chứng đã vận dụng quan điểm
của triết Marx cùng với hệ thống lý luận của Lénin để
tập hợp và lãnh đạo dân chúng trong hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và Mỹ. Sự thắng lợi trong chiến tranh đã mang
lại kinh nghiệm về nhân sinh quan cho những người sử dụng
hệ lý luận trong triết học của K. Marx, và các biện pháp
xây dựng xã hội cũng được áp dụng theo quan điểm này.
Tuy nhiên, điều không tránh khỏi đã xảy ra một cách tự
nhiên trong tâm thức người dân là sự gãy đổ về triết
lý. Một thời gian dài sau chiến tranh, chùa chiền bị biến
thành nhà kho hợp tác xã, nhiều chùa phải bỏ hoang, và việc
tế tự để giữ gìn tâm thức tín ngưỡng dân gian - không
gian triết cuối cùng của người dân - cũng bị phê phán.
Trong
các trường học, các lớp đào tạo cán bộ, triết học Marx
được xem là “kim chỉ nam cho mọi hành động”. Tức là,
khi phát biểu điều đó, giới lãnh đạo Việt Nam có triết
lý sống theo quan điểm triết học của Marx. Nhưng dù vậy,
đại bộ phận nhân dân đều không có triết lý. Ở mặt
này có thể nói như nhà văn Nguyên Ngọc: dân tộc ta vẫn
thiếu triết học. Triết Marx, họa chăng chỉ có giới lãnh
đạo hiểu được, chứ đại bộ phận dân chúng, mặt bằng
dân trí chưa phổ cập tới phổ thông trung học, thì làm sao
hiểu được triết học Marx. Người có học mà chưa hiểu
cái triết lý ấy, thì quần chúng nhân dân ít học càng khó
hiểu nổi. Tóm lại, khác với Nho giáo và Phật giáo đi trực
tiếp vào tâm thức của đại bộ phận quần chúng nhân dân,
chủ nghĩa Marx đi vào giai cấp lãnh đạo trước.
Một
triết lý được chấp nhận và sống với một dân tộc, hẳn
phải có những điều kiện nhất định, ở đó có những
tương đồng giữa hệ lý luận trên lý thuyết và cách hiểu
của nhân dân. Cách hiểu của nhân dân thường gắn với truyền
thống văn hóa. Ở đây, truyền thống văn hoá của dân tộc
ít nhiều quy định sự hình thành (dù bằng cách tiếp thu
bên ngoài hay tự bộc lộ) triết lý sống của dân tộc đó.
Cho
nên, nói về triết học của dân tộc, thì theo tiến trình
phát triển đất nước, chúng ta bỏ quên cái vốn chúng ta
có, lại nhập khẩu cái mới về và chưa phổ quát được.
Vốn triết học ngàn đời của dân tộc là Phật giáo đã
bị lãng quên và sẽ còn bị lãng quên nhiều nữa với sự
giáo dục bất cập, đẩy lớp trẻ ngày càng xa rời chữ
Hán, chữ Nôm và các giá trị văn hóa truyền thống… như
hiện nay.Vốn triết lý nhân sinh theo quan niệm đạo đức
Nho giáo truyền thống hiện cũng xuống cấp nghiêm trọng:
những cương thường, ân nghĩa, tín đạo… cũng ngày một
xa lạ với giới trẻ đang khao khát học cách khẳng định
mình bằng sự đổi chác vật chất và tiến thân bằng mọi
cách, bất chấp đạo đức và văn hoá truyền thống bị băng
hoại.
Trong
điều kiện triết học Marx không đến kịp với đại bộ
phận quần chúng lao động, thì gìn giữ và phát huy các giá
trị triết lý sống truyền thống là quan trọng. Từ những
triết lý sống ấy, phải đầu tư chiều sâu để hình thành
hệ thống triết học của dân tộc.