VÀI
SUY NGHĨ VỀ TÂM VÀ THỨC
NGUYỄN
ĐĂNG TRUNG
Trong
bài “Khi Vật lý học gõ cửa Bản thể học”, khi đề cập
đến trường lượng tử tác giả viết : “… chúng ta hiểu
đó là trường lượng tử chứa tâm, chứa thức”. Tâm (citta)
và thức (vinnana) là thuật ngữ Phật học, được đề cập
trong hai nội dung quan trọng: thế giới duy tâm biến hiện,
và các pháp duy thức.
Chữ
“tâm” là từ Hán - Việt, có nguồn gốc từ chữ
Hán của người Trung Hoa, được hiểu với nhiều nghĩa khác
nhau: trái tim, trung tâm, tâm hồn, tâm linh, tâm lý, tâm trí,
tâm tính, tâm tình, tâm thần, tâm huyết, tâm can, tâm đắc,
lương tâm v.v… Tất cả những nghĩa đó đều không phải
là nghĩa của chữ “tâm”, chuyển ngữ từ chữ “citta”
của Phật học.
Ngoài
hai nghĩa là trái tim và trung tâm ra, các nghĩa còn lại kể
trên đều liên quan đến các khái niệm thuộc về tình cảm
và ý chí của con người, tức là thuộc về phạm trù tinh
thần. Do đó, có sự nhầm lẫn rằng “tâm” thuộc về tinh
thần, và những câu như “con người cần phải có cái tâm”
hay “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” thường bị hiểu
sai, rằng đó là quan niệm của Phật giáo, trong khi chữ “tâm”
ở các câu đó chỉ có nghĩa duy nhất là lương tâm. Tất
cả mọi nghĩa của chữ “tâm” mà thuộc về phạm trù tinh
thần đều không phải là nghĩa của chữ “citta”.
Với
chữ “thức” (vinnana), nhiều người cho rằng đây
là một thuật ngữ cao siêu khó lĩnh hội. Vì thế không phải
là không có những người nghĩ rằng “thức” là một cái
gì đó gần giống như “linh hồn”, nên mới có những câu
viết đại loại như “Khi bước vào chốn linh thiêng ấy,
tôi cảm thấy như có những thần thức lảng vảng đâu đây…”
Việc
chuyển ngữ có liên quan đến trình độ nhận thức của từng
dân tộc. Khi mọi nghĩa cụ thể của chữ “tâm” đều không
thể phản ánh đúng nghĩa của “citta”, và chữ “thức”
tạo ra ấn tượng về một thuật ngữ cao siêu khó hiểu,
thì liệu có những từ thuần Việt nào đó có thể tương
ứng hoàn toàn để phản ánh đúng đắn và giản dị ý nghĩa
của “citta” và “vinnana” hay không?
Ta
biết rằng mọi người đang sống đều đang biết. Biết tức
là có ý niệm về người, vật hoặc điều gì đó để có
thể nhận ra được, hoặc có thể khẳng định được sự
tồn tại của người, vật hoặc điều ấy.
Con
người biết bằng các giác quan và ý nghĩ. Giác quan và ý
nghĩ biết các đối tượng vật chất, ý nghĩ biết các đối
tượng phi vật chất. Với khoa học, cái biết của con người
tương ứng với sự hưng phấn diễn ra trong các axon thần
kinh khi có sự kích thích từ bên ngoài. Kết quả nghiên cứu
cho thấy các nơron thần kinh ở các giác quan truyền đạt
không trung thực các tín hiệu kích thích, mà cảm nhận sai
lạc trong sự hưng phấn thành ra hình ảnh, âm thanh, mùi, vị
và các đối tượng xúc giác. Chúng là các cơ sở để tạo
thành ý niệm về các đối tượng và về thế giới. Sự
hưng phấn, tức là cái biết, không phải chỉ có ở các nơron
thần kinh giác quan mà còn có ở ý thức (khoa học cho rằng
tồn tại ở não người), tạo thành ý niệm về cả các đối
tượng phi vật chất.
Với
nhận thức khoa học, có thể suy ra rằng: “mọi thế giới
chỉ là diễn biến của cái biết”. So sánh với nội dung
Phật học thì “citta” tương đương với “cái biết”.
Do đó, từ thuần Việt phản ánh đúng nghĩa của chữ “tâm”
trong Phật học chính là “cái biết”.
Xin
lưu ý rằng khi gọi là cái biết, thì từ “cái” trong tiếng
Việt hiện nay vẫn đang được các nhà ngôn ngữ học thảo
luận. Phần đông cho đó là loại từ, có người cho đó là
danh từ số vì nó xác định được, đếm được. Nhưng dù
gì đi nữa thì nó cũng phản ánh một tồn tại. “Cái”
ở đây không phải đóng vai trò là một quán từ.
Liên
quan đến vật chất và tinh thần, Phật học trình giảng rằng
đó chỉ là hai hình thái thể hiện của cái biết. Hình thái
thứ nhất là hình thái biết bằng ý niệm và tên gọi, được
biết trực tiếp bởi ý thức, còn các giác quan thì không
biết, gọi là hình thái định danh (manadhamma - danh pháp). Hình
thái thứ hai là hình thái vật chất (rupadhamma - sắc pháp),
biết ở năm giác quan, rồi ý thức biết liền ngay sau đó.
Vì chỉ thể hiện ở hình thái nên hình thái định danh còn
có thể được gọi là hình thái phi vật chất.
Như
vậy, mọi thứ mà người ta tưởng là mọi đối tượng vật
chất cụ thể khách quan bên ngoài thực chất chỉ là những
thứ trong hình thái vật chất của cái biết mà thôi. Cùng
với những thứ trong hình thái định danh, chúng không lẫn
lộn, trùng chập, hỗn độn mà cụ thể hóa thành ra từng
món riêng biệt: con người, con thú, cây cối, nhà cửa, thành
phố, hành tinh, thiên hà, vũ trụ, phân tử, nguyên tử, hạt
nhân, trường lượng tử, xã hội, tình yêu, văn hóa, khoa
học v.v… Khoa học hiểu rằng chúng chính là các hình thái
đối tượng cụ thể tương ứng với các dạng biến đổi
mức phân cực trong các axon thần kinh. Từ đó suy ra rằng
mọi đối tượng chỉ là các món do cái biết biến động
phô bày ra mà thôi. So sánh kết luận này với khẳng
định của Phật học “tất cả các pháp duy thức”, thì
thức (vinnana) có nghĩa là “những món do cái biết biến động
phô bày ra”.
Về
phương diện học thuật, để có một thuật ngữ tiếng Việt
phản ánh đúng nghĩa của vinnana, thì nên sử dụng cụm từ
“hình thái đối tượng cụ thể hóa của cái biết”. Nó
phản ánh bản chất của các đối tượng cụ thể, rằng
đó chính là do cái biết biến động mà thành. Sự biến động,
còn gọi là vận động (sankhata - hành), trong cái biết không
chỉ tạo thành từng đối tượng cụ thể mà còn tạo thành
các thế giới, tức là các hệ thống tương đối, hay chính
xác hơn là tạo thành các ý niệm về chúng.
Khi
đã hiểu rằng bản chất của mọi thế giới chỉ là cái
biết và mọi đối tượng cụ thể trong các thế giới ấy
là do cái biết biến động mà thành, thì không nên tìm hiểu
xem cái gì chứa tâm chứa thức. Đơn giản chỉ vì nếu có
cái chứa tâm chứa thức thì cái đó chẳng phải là tâm,
là thức. Chẳng có một vi hạt nào chứa tâm chứa thức cả.
Cũng chẳng có trường lượng tử nào chứa tâm chứa thức
cả. Vũ trụ, vi hạt hay trường lượng tử cũng chỉ là các
thức, là những món mà cái biết ở hình thái vật chất phô
bày ra mà thôi.
Vì
nhìn phần được biết như là khách thể, nên ngày nay có
trường phái cho rằng con người là một phần của vũ trụ,
mà vũ trụ thì có một bản thể đích thực nào đó, do đó
trường phái ấy cố gắng tìm hiểu “bản thể của vũ trụ”
và lầm tưởng rằng thiền là “triến trình trở về hòa
nhập với bản thể của vũ trụ”. Quan niệm đó hoàn toàn
sai lầm.
Vì
sự truyền đạt không trung thực của các giác quan nên mọi
đối tượng cụ thể - mà con người tưởng là khách thể
và có thật - đều thuộc về cái biết tương đối (vọng
tâm), ở phần được biết (tướng phần) của các cá thể
trong các hệ thống tương đối, và không thật. Vì tất cả
mọi đối tượng đều không thật.
Thề
nhưng, với tư cách là các trạng thái biến động trong cái
biết của các cá thể đang tồn tại trong các hệ thống tương
đối, các đối tượng không chỉ vô cùng phong phú và đa
dạng mà còn khác nhau về phẩm chất : đúng tốt, sai xấu
hoặc vô tính. Có những đối tượng còn hàm chứa trong nó
các thông tin về nhận thức, ví dụ như các nội dung Phật
học, các nội dung khoa học, các nội dung triết học v.v…
Trong số đó, duy nhất chỉ có các thông tin nhận thức hàm
chứa trong Phật học mới có khả năng giúp cho người ta nương
vào đó mà rèn luyện để vượt ra ngoài các hệ thống tương
đối nhằm đạt đến cái biết tuyệt đối. Đó cũng chính
là các biến động có phẩm chất tốt đẹp nhất. Do vậy
không phải bất cứ ai cũng có thể tiếp xúc được với
Phật học hay lĩnh hội được các nội dung của Phật học.
Chỉ ở những cái biết có phẩm chất tốt thì các biến
động mang Phật tính mới xuất hiện, mặc dù Phật tính vẫn
tiềm ẩn trong mọi cái biết tương đối.
Khoa
học, với sự trợ giúp của các thiết bị, tuy có thể làm
cho con người mở rộng nhận thức (gián tiếp giúp mở rộng
cái biết của các giác quan, làm cơ sở cho sự mở rộng nhận
thức của tư duy khoa học) nhưng không thể làm nâng cao năng
lực của các giác quan, không thể làm cho các giác quan chấm
dứt tình trạng truyền đạt không trung thực v.v… Vì thế
người ta không bao giờ có thể dựa vào hay nương vào khoa
học để thoát ra khỏi các hệ thống tương đối.
Ngày
nay, khi khoa học hiện đại đang tiến sát đến các biên giới
cuối cùng của nó thì một số nhà khoa học có ý muốn gõ
cửa Phật học. Tuy nhiên, khi gõ cửa Phật học, cần phải
lưu ý:
Phật
học là một hệ thống nhận thức đã hoàn thiện - do các
vị đã đạt đến cái biết tuyệt đối (Buddha - vị Phật)
thuyết giảng - do đó không có sự phát triển. Trong khi đó,
vì hình thành từ trong hệ thống tương đối nên khoa học
luôn phát triển hướng đến sự hoàn thiện, nhưng không bao
giờ có thể đạt đến sự hoàn thiện. Trong tiến trình phát
triển như thế khoa học đã lần lượt gặp gỡ với nhận
thức Phật học ở một số giao điểm nhận thức quan trọng.
Đó là :
1 -
Nhận thức về tình trạng truyền đạt thông tin sai lạc ở
các giác quan.
2
- Nhận thức về tính tương đối của các hệ thống và các
hiểu biết về lưỡng tính sóng hạt của hệ thống vi mô.
3
- Nhận thức về hiện tượng lưu trữ thông tin trong hệ thống
gene.
4
- Nhận thức về hiện tượng cảm ứng với tính cách là
hình thức vận động căn bản của đời sống.
Từ
các giao điểm nhận thức này - nếu phối hợp hợp lý kiến
thức của một số chuyên ngành khoa học (như vật lý học
và sinh học) - thì có thể tìm hiểu, nhìn nhận và đánh giá
về Phật học theo quan điểm của khoa học; và nhờ vào kiến
thức của Phật học để giải thích một số hiện tượng
tự nhiên mà khoa học không thể giải thích được, hoặc
để thấy ra các sai lầm của nhận thức khoa học, chứ không
thể hiện đại hóa hay khoa học hóa Phật học được.
Ví
dụ: Ngày nay khoa học hiện đại không hiểu vì sao ánh sáng
có vận tốc tuyệt đối và ở bất kỳ một điểm quan sát
tương đối nào cũng đo được một giá trị duy nhất mà
không phải cộng hoặc trừ đi vận tốc của điểm quan sát.
Điều
này được giải thích như sau:
Các
biến động trong cái biết rất đa dạng, nhưng một số trong
chúng đóng vai trò là các gốc (indriya - căn: gốc) có thẩm
quyền (indriya - quyền: thẩm quyền) tạm thời (indryia - quyền:
tạm thời) chi phối cái biết. Trong số các gốc đó có sáu
gốc giác quan, chứa đựng sáu cặp tổ hợp (ayatana - xứ)
ở phần biết và phần được biết, liên hệ với nhau qua
các giao diện (dvara - môn: cửa, lối thông): 1 - tổ hợp mắt
(cakkhayatana - nhãn xứ) và tổ hợp hình ảnh (rupayatana - sắc
xứ), 2 - tổ hợp tai (sotayatana - nhĩ xứ) và tổ hợp âm thanh
(saddayatana - thanh xứ), 3 - tổ hợp mũi (ghanayatana - tỷ xứ)
và tổ hợp mùi (gandhayatana - hương xứ), 4 - tổ hợp lưỡi
(jivhayatana - thiệt xứ) và tổ hợp vị (rasayatana - vị xứ),
5 - tổ hợp thân (kayayatana - thân xứ) và tổ hợp các đối
tượng xúc giác (photthabbayatana - xúc xứ), 6 - tổ hợp ý (manayatana
- ý xứ) và tổ hợp các đối tượng của ý (dhammayatana -
pháp xứ).
Trong
số 12 tổ hợp này, duy nhất chỉ có hình thái vật chất
hình ảnh ở tổ hợp hình ảnh vừa có khả năng truyền đạt
trung thực vừa có khả năng truyền đạt bằng cách đối
chiếu theo (sanidassanasappatigha - hữu kiến hữu đối chiếu).
Các hình thái vật chất và phi vật chất ở các tổ hợp
khác không truyền đạt trung thực mà chỉ truyền đạt bằng
cách đối chiếu theo (anidassanasappatigha - vô kiến hữu đối
chiếu). Như vậy, bởi vi” tổ hợp mắt có mối liên hệ
tự thân là sự không truyền đạt trung thực mà chỉ đối
chiếu theo, nên người ta thấy hình ảnh truyền đạt trung
thực và đối chiếu theo. Hình thái vật chất hình ảnh truyền
đạt trung thực ở đây là ánh sáng (photon). Hình ảnh truyền
đạt bằng cách đối chiếu theo là hình ảnh của các vật
thể. Chúng chính là các hình tượng được sinh ra từ sự
tiếp xúc của mắt (sắc vật của nhãn thức sinh ra từ nhãn
xúc).
Trong
bản chất của đời sống, phương thức vận động căn bản
duy nhất là cảm ứng (paccaya - duyên). Cảm ứng là sự biến
đổi trạng thái của đối tượng này theo nhịp biến đổi
của đối tượng kia. Vì sự truyền đạt không trung thực
mà bằng cách đối chiếu theo của tổ hợp mắt, người
ta nhìn thấy thành ra có các đối tượng và sự chuyển động
cơ học trong khi thực chất không hề có sự chuyển động
cơ học (giống như không hề có chuyển động nào trên màn
hình TV, mà sự biến đổi trạng thái ánh sáng của các điểm
trên mặt huỳnh quang và độ dư huy của mắt tạo cho người
xem cảm giác vầ hình ảnh chuyển động). Sự phối hợp của
các kết quả truyền đạt không trung thực ở của năm tổ
hợp thuộc phần biết ở năm gốc giác quan làm cho người
ta có cảm giác về không gian, về “các vật thật đang chuyển
dịch vị trí trong không gian” và từ đó mới tạo thành
ý niệm so sánh các vận tốc tương đối, trong khi thật sự
không có các vật trong không gian và không có các vận tốc
tương đối.
Ánh
sáng là hình thái vật chất có khả năng truyền đạt trung
thực nên nó không phụ thuộc vào ý niệm vận tốc tươnmg
đối, và do đó không phụ thuộc vào bất kỳ một gốc đo
đạc nào. Vì vậy người ta luôn thấy nó tương đương với
300.000Km/s dù đang thấy mình di chuyển cùng chiều hay ngược
chiếu với nó. Đơn giản chỉ là như thế !
Khoa
học khác với Phật học ở chỗ chỉ nghiên cứu về cái
mà nó tưởng là thế giới khách quan bên ngoài. Thế nhưng
Đức Phật đã giảng rằng, “Quay đầu lại lập tức thấy
bến bờ !ø” với hàm ý về mặt nhận thức, là cần phải
quay lại, chú ý xem xét lại năng lực của các giác quan. Chỉ
khi đó mới có thể có được các suy luận đúng đắn. Do
vậy khi công nhận sự đúng đắn của Phật học thì việc
nghiên cứu bản chất của thế giới và đời sống phải
bắt đầu theo cách nhìn của Phật học, chứ không phải theo
cách nhìn của khoa học.