ĐƯỜNG
HOA BÊN NẮNG RÂM
Nhật
Chiêu
Người
Trúc Lâm, cái tên đơn sơ mà đứng vững hơn mọi đế hiệu
vàng son. Người là Trúc Lâm. Là rừng núi trong ta. Là ngàn
trúc linh thiêng ngân vang ngân vang những điệu sáo huyền.
Như điệu sáo sau đây khi người bước lên Bảo Đài sơn
trong dãy núi Yên Tử vào một ngày nắng đẹp giữa thế kỷ
mười ba…
Người
không muốn làm vua nhưng phải lên ngôi từ tuổi hai mươi.
Hơn hai mươi năm sau, người mới có thể lên núi Yên Tử
xây am thiền, tạo dựng dòng thiền tinh khôi Trúc Lâm Yên
Tử.
Ở
ngôi vua, người đánh tan quân Nguyên hai lần. An định thế
gian.
Ở
Am Ngọa Vân, người rạng ngời thiền trong một ngón tay, trong
một sát na:
Nhất
chỉ đầu thiền
Sát
na hết cả
Từ
đó, Điều ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông bước vào con đường
của hoa, con đường của trúc, mang cái tên mới rất đơn
sơ là Trúc Lâm.
Người
Trúc Lâm. Cái tên đơn sơ mà đứng vững hơn mọi đế hiệu
vàng son. Người là Trúc Lâm. Là rừng núi trong ta. Là ngàn
trúc linh thiêng ngân vang ngân vang những điệu sáo huyền.
Như điệu sáo sau đây khi người bước lên Bảo Đài sơn
trong dãy núi Yên Tử vào một ngày nắng đẹp giữa thế kỷ
mười ba.
Tôi
thích nghe điệu sáo của Trúc Lâm và cố diễn dịch như thế
này:
Lên
núi Bảo Đài
Đất
vắng, lên đài cổ
Còn
mới nguyên mùa xuân
Mây
núi vừa xa vừa gần
Đường
hoa bên nắng bên râm.
Vạn
sự nước trôi nước
Một
đời tâm nhủ tâm
Tựa
hiên, nghiêng sáo mà ngân
Ngực
dâng ánh sáng vô ngần trăng lên.
Đây
là bài thơ thổi sáo của Trúc Lâm
Đăng
Bảo Đài sơn
Địa
tịch đài du cổ
Thời
lai xuân vị thâm
Vân
sơn tương viễn cận
Hoa
kính bán tình âm
Vạn
sự thủy lưu thủy
Bách
niên tâm ngữ tâm
Ỷ
lan hoành ngọc địch
Minh
nguyệt mãn hung khâm.
Đài
cổ thì rất cổ, càng thêm cổ xưa trên mặt đất hoang liêu.
Núi non thì cũng rất cổ. Chỉ có xuân là còn mới nguyên.
Xuân đến chưa lâu gì (xuân vị thâm).
Xuân
là thời gian luôn tự đổi mới. Thời gian là trò chơi tử
sinh, chuyển hóa cái cũ sang cái mới và ngược lại.
Như
lời Tagore: “Ngày đến với ta mỗi ban mai, hoàn toàn trinh
trắng, mơn mởn, tươi thắm như hoa. Nhưng ta biết rằng nó
xưa cũ, nó chính là thời gian… Thế giới của ta mang trong
lòng cái thanh xuân bất tuyệt… Cái già này, cái cổ xưa
này của đất hồi sinh lại mỗi ngày.”
Vì
vậy mà đài cổ và đất vắng cũng hồi sinh. Và chào mùa
xuân như chào nguyên xuân.
Trong
im vắng của đất, của đài, mùa xuân còn hiện ra lồ lộ,
tươi thắm. Xuân sắc như thấm vào cái im vắng ấy, vào cái
cổ xưa, váo núi non, vào đất.
Và
Trúc Lâm đi trong mùa xuân, nhìn sự vật như mới nhìn lần
đầu. Hân hoan, ngạc nhiên, đôi mắt thơ càng thêm thơ.
Dường
như Trúc Lâm rất ngạc nhiên khi nhìn đỉnh núi phủ đầy
mây và con đường rợp bóng hoa.
Núi
mây (Vân sơn) và đường hoa (hoa kính) thì có gì mà lạ? –
bạn sẽ hỏi.
Nhưng
Trúc Lâm ngạc nhiên nhìn mây và hoa.
Nhà
huyền thoại học lừng danh Joseph Campbell nói:
“Khi
Đức Phật dập tắt ngã trong Ngài, thế giới bừng nở hoa.
Và đúng thế, đó là cái lối vẫn hằng diễn ra với những
ai mà đạo là sự ngạc nhiên, chứ không phải là cứu chuộc!”
(When
the Buddha extinguished ego in himself, the world burst into flower. But
that, exactly, is the way it has always appeared to those in whom wonder,
and not salvation, is religion.)
Và
Trúc Lâm tự hỏi tại sao “mây núi vừa xa vừa gần” (vân
sơn tương viễn cận)?
Thiền
sư Bokuju nói rằng, niết-bàn và thế gian cách ta cùng
khoảng cách như nhau. Niết-bàn không xa mà rất gần, gần
như thế gian quanh ta vậy (Nirvana and the world are at the same distance.).
Và
người gái thơ của Mỹ là Emily Dickinson cũng nói:
Cõi
thần tiên xa
Thì
cũng xa như
Căn
phòng gần nhất…
(Elysium
is as far as to
The
very nearest room…)
Tại
sao niết-bàn và thế gian cách ta cùng khoảng cách? Tại sao
niết-bàn vừa xa lại vừa gần. Ta hãy đặt niết-bàn vào
ngay trong ta. Thử tìm khoảng cách đi. Căn phòng gần nhất
đấy.
Cho
nên Trúc Lâm mới nói núi mây vừa rất gần vừa rất xa.
Cái nhìn rất thơ của người đã đưa núi mây vào trong tâm
hồn ta. Xa chuyển thành gần.
Nếu
ta không đón nhận cái nhìn nên thơ của người thì núi mây
ấy lùi xa vĩnh viễn.
Cũng
như núi mây ấy, Trúc Lâm vừa xa vừa gần. Trúc Lâm đi trên
núi Yên Tử và bước đi ấy có đồng vọng gì không trên
mặt đất vắng lặng đìu hiu?
Người
đi trên con đường hoa nửa nắng nửa râm (hoa kính bán tình
âm). Một bên thì nắng xuân tươi sáng và một bên thì râm
tối bóng hoa.
Đó
là đường đời, con đường tử sinh. Đó là sáng tối trong
cõi người ta. Sáng tối là trò chơi, là điệu múa, là vô
thường, là cái đẹp.
Trúc
Lâm nhìn vào sáng tối như nhìn hoa nở và hoa rơi, “khán
trụy hồng”.
Và
như nhìn có- không của thế giới:
Bán
vô bán hữu tịch dương biên.
(Bóng
chiều như có lại như không)
Một
nhà thơ Nhật là Shuson miêu tả bóng tối trong môt bài Haiku:
Bóng
tối rơi
Trên
bờ đóa cúc trắng
Và
trôi
(Tairin
no
Shiragiku
no he ga
Mazu
kure nu).
Bóng
tối của Shuson thì ở trên hoa. Còn bóng tối (bóng râm) của
Trúc Lâm thì ở dưới hoa. Nhưng trò chơi sáng tối, tử sinh
thì không hề khác.
Bóng
tối trôi trên hoa cũng như dưới hoa.
Vạn
sự trôi theo bóng tối, trôi theo nước.
Trúc
Lâm nhìn vào núi mây, đường hoa, thế giới bên ngoài.
Đồng
thời, cái nhìn ấy cũng quay vào bên trong, vào cái im lặng
u huyền của Tâm.
Nước
trôi theo nước, lời trôi theo lời. Nhưng im lặng thì vô biên.
Một
đời tâm nhủ tâm. Tâm thì bí ẩn, và bí ẩn thì không thể
nói ra ngoài. Tâm bí ẩn một đời, trăm năm, vạn năm, vô
tận.
Sự
đời thì vạn sự. Còn tâm thì nhất tâm. Tâm nhủ tâm nhưng
không có gì để nói. Ở đó, tâm có ngôn ngữ là tâm (tâm
ngữ tâm).
Không
cần ngôn ngữ nữa, Trúc Lâm tựa hiên nâng sáo lên thổi
(Ỷ lan hoành ngọc địch).
Đó
là tiếng sáo gọi trăng, tiếng sáo say trăng. Trăng sáng ngập
đầy lòng (Minh nguyệt mãn hung khâm)
Và
ánh sáng cũng từ lồng ngực dâng lên. Nhà thơ Saigyo của
Nhật vào thế kỷ mười hai cũng có ý tưởng tương tự:
Vào
sâu núi đồi
Trái
tim trăng sáng
Ánh
lên ngời ngời.
(Fukaki
yama ni
kokoro
no tsuki shi
Suminureba)
Và
nhà thơ Ấn Độ Kabir vào thế kỷ 15 cũng hát:
Con
chim say trăng ấy
Trong
đầu chỉ đầy tư tưởng trăng…
(The
moon bird’s head is filled
With
nothing but thoughts of the moon…)
Như
con chim say trăng ấy, trái tim của Trúc Lâm, của Saigyo, Kabir
cũng tràn ngập ánh trăng, ánh sáng của chân như./.
“Khi
Đức Phật dập tắt ngã trong Ngài, thế giới bừng nở hoa.
Và đúng thế, đó là cái lối vẫn hằng diễn ra với những
ai mà đạo là sự ngạc nhiên, chứ không phải là cứu chuộc!”.
Joseph
Campbell