PHẬT GIÁO
TRONG NỀN VĂN HÓA PHÙ NAM
TÍNH
CHẤT PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA
PHÙ
NAM
(tiếp
theo VHPG số 10 và hết)
Thông
Thanh Khánh
Văn
hóa Óc Eo là một phức hệ văn hóa đa dạng, vốn sản sinh
từ yếu tố nội sinh kết hợp với nguồn lực văn hóa ngoại
sinh đã thật sự tạo nên một nền văn minh sông nước rực
rỡ. Nếu nền văn minh ấy được phôi bào trong yếu tố miền
cảng thị, hấp thu tinh thần văn hóa Ấn Độ đã để lại
cho nhân loại những nguồn di sản vô cùng quý giá. Trong nguồn
di sản quý giá ấy, Phật giáo đã đóng một vai trò không
nhỏ vào sự phát triển của nền văn minh, văn hóa này.
1.
Từ triều đại Srimara đến bộ kinh Thắng Man
Phật
giáo Phù Nam được xem như có mặt sớm nhất tại vùng Đông
Nam Bộ, đặc biệt là Phật giáo Đại Thừa. Thật ra, ngay
như trong một tên gọi mà bi ký Võ Cạnh vào thế kỷ thứ
I STL đề cập đến một triều đại có tên gọi Srimara đã
phản ánh phần nào về vai trò Phật giáo Đại Thừa ở ‘quốc
gia Phù Nam’ này. Srimara hay Srimala là tên gọi của một bộ
kinh Đại thừa Phật giáo nói về vai trò của ngũ giới. Tên
đầy đủ của bộ kinh này là Srimala-Simhanada-Sutra, dịch ra
tiếng Hán là Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương
Tiện Phương Quảng Kinh, thường gọi tắt là Kinh Thắng Man.
Nội dung chính yếu của bộ kinh này nói về Thắng Man phu
nhân, với nhân cách tượng trưng cho tinh thần tuyệt đối
bình đẳng của Đại thừa, thiên chức làm mẹ của Bồ tát.
Bồ tát không phải là con đường dành riêng cho hàng Thánh
giả xuất thế, bậc đại trượng phu, hay một hạng người
đặc biệt nào, bởi vì Phật tính vốn bình đẳng nơi tất
cả chúng sinh. Chí nguyện và trách nhiệm ấy được thể
hiện trọn vẹn trong cốt cách của một nữ Phật tử. Với
thiên chức làm mẹ, Bồ tát ôm trọn cả thế gian vào trong
lòng bao dung trời biển của mình. Thắng Man là bảng chỉ
dẫn các phương pháp nuôi lớn thánh thai của Bồ tát, mở
rộng tình mẹ bao la của Bồ tát, do thế không chỉ riêng
biệt dành cho phụ nữ, mà con đường thực tiễn của Bồ
tát đạo. Như vậy, nhân cách Thắng Man và nguyên lý Thắng
Man đã nằm trọn trong tiêu đề kinh.
Về
tiểu sử của Thắng Man phu nhân, hiện chúng ta biết rất
ít, ngoại trừ những điểm chính được nói ở phần mở
đầu của kinh. Các tài liệu trong điển tích Phật giáo Trung
Hoa hiện có cũng không nói gì nhiều hơn những điều mà kinh
này nói. Như vậy, chúng ta biết một cách vắn tắt về
thân thế của phu nhân như sau: phu nhân là con gái của vua
Ba-tư-nặc và Mạt-lị phu nhân, là vương phi của vua Hữu
Xứng.
Ba-tư-nặc
và Mạt-lị phu nhân là hai đệ tử danh tiếng của Đức Thích
Tôn. Nhà vua có một đức tin thuần khiết, vững mạnh trong
giáo pháp của Phật. Điều này được đề cập rất nhiều
trong các kinh điển, nhất là kinh điển Nguyên thủy. Kinh Pháp
Trang Nghiêm ghi chép sự bày tỏ của vua về những niềm tin
trong sáng của mình đối với các phẩm tính tuyệt vời của
Đức Như Lai, về Chánh pháp được Như Lai khéo giảng thuyết,
và về toàn thể Tăng chúng sống hòa thuận, vui tươi, khéo
tu tập dưới sự hướng dẫn của Đức Như Lai. Trong một
đoạn kinh khác thuộc Trung Bộ 12 có ghi rằng, vào một
lúc nọ, nhà vua đến viếng Phật và cũng ngay lúc ấy cung
nhân đến báo tin Mạt-lị phu nhân vừa sinh một công chúa.
Vua tỏ ý không vui về tin này, vì nhà vua thích con trai hơn.
Nhưng Đức Phật giảng giải rằng, trong nhiều trường hợp
con gái vẫn xứng đáng hơn con trai. Tài liệu kinh điển Pàli
chỉ cho biết vua và hoàng hậu Mạt-lị có một người con
gái nhưng không thấy nói rõ tên. Tài liệu kinh điển Pàli
cũng cho biết, nhà vua có một vị công chúa tên gọi làVajirì
hay Vajirakumàri (Kim Cang vương đồng nữ), về sau được gả
cho vua A-xà-thế nước Ma-Kiệt-Đà. Nhưng các tài liệu này
không chỉ rõ Vajirì là con gái của vị vương phi nào.
Thắng
Man là tên gọi được dịch từ tiếng Phạn, theo Cát Tạng,
tiếng phạn gọi là “Thất-lị ma-la”, nhưng Khuy Cơ cho rằng,
tiếng Phạn của tên gọi ấy là “Mạt-lị-thất-la”; cả
hai đều cùng có ý nghĩa: cát tường hoa, mang tràng hoa của
sự tốt đẹp, thánh thiện, hay đỉnh đầu có kết tràng
hoa. Thuật lý của Khuy Cơ cũng giải thích rằng, sở dĩ có
tên như vậy, vì mẹ là Mạt-lị nên con gái được gọi là
Mạt-lị-thất-la.
2.
Minh văn trên lá vàng ở Gò Xoài (Long An) nói về Pháp thân
kệ
Minh
văn được tìm thấy ở Gò Xoài (Long An) do Trung tâm Khảo
cổ học - Viện Khoa học Xã hội TP. HCM kết hợp với Bảo
tàng Long An tổ chức khai quật. Đã có các nhà cổ tự Sanskrit
tiến hành dịch và công bố. Tiến sĩ Thái Văn Chải dịch
nhưng chưa chuẩn, có một số điểm còn áp đặt. May mắn
là vào năm 1993, GS. Hà Văn Tấn đã cho công bố bản dịch
của mình trong thông báo tại Hội nghị Khảo cổ học tháng
09-1993. Đây là một bản dịch chuẩn, với những thông tin
khá thú vị nên chúng tôi xin mạn phép trích dẫn nguyên văn
nội dung của bài công bố này: “Minh văn trên lá vàng
tìm được ở Gò Xoài (Long An) được viết bằng ngôn ngữ
Pàli (hybrid pali), có dấu vết của Sanskrit và văn tự Deccan
( Nam Ấn) không xưa lắm, khoảng thế kỷ VIII, IX. Minh văn
có 5 dòng, có thể đọc như sau:
1.
Ye dharmmà hetupabhavà tesam hetum tathàgato avaca tesan ca yo nirodho
evamvadi mahàsama (no).
2.
Duhkham dđuhkhasamutpµo dukhassa ca atikkamo airo atthangiko maggo duhkopassamagàmìko//.
3.
Tad yathà// dandake// pandate// kaurande//keyyure//dantile//svàhàh//.
4.
Tad yathà adhame amvare parikunja nàta nàta puskaràdhaha jala khama
khaya I limi.
5.
Liki limilikìrtti caramudre mudramukhe svàhàh//.
Dòng
thứ nhất là Pháp thân kệ của Phật giáo, mà tôi sẽ trở
lại sau đây, có thể dịch như sau:
“Các
pháp đều do nhân duyên sinh ra, Đấng Như Lai đã thuyết về
nguyên nhân cũng như sự tiêu diệt chúng, chính Người, Đại
đức Sa môn đã nói như vậy”.
Dòng
thứ hai là một đoạn kinh Pháp Cú ( Dhammapada). Nguyên bản
này trong kinh có khác chút ít:
Dukham
dukkhasamutpàdam dukkhassa ca atikkamam ariyam catthangikam maggam dukkhúpassamagàminam
Đoạn
này có thể dịch:
“Nỗi
khổ lại sinh ra nỗi khổ. Nhưng nỗi khổ có thể vượt qua
được. Bát chính đạo dẫn đến sự chấm dứt nỗi khổ”.
Do
chỗ từ Svàhàh (đúng ra là svàhà), thường gặp sau các câu
thần chú (có nghĩa là viên mãn, may mắn) xuất hiện hai lần,
tôi cho rằng ba dòng cuối của minh văn là hai câu thần chú
dhàranì. Hai câu này có nhiều từ khó hiểu và lặp lại,
tôi chưa thể dịch trọn vẹn được.
Ở
đây, tôi chỉ bàn thêm về Pháp thân kệ. Pháp thân kệ là
bài kệ được coi là tóm tắt tư tưởng cơ bản của Phật
giáo mà Tỳ kheo Aùsvajit (tên Pàli là Assaji, Hán tạng dịch
là Mã Tinh hay Mã Thắng) đã đọc cho Sàriputra (tên Pàli là
Sàriputta, Hán tạng dịch là Xá Lợi Phất). Chúng ta có thể
tìm được nguyên văn tiếng Pali bài kệ này trong Vinaya (Luật
tạng):
Ye
dhammà he tuppadhavà tesam hetum tathàgato àha tesan ca yo nirodho
evamvàdi mahàsamano.
Ta
thấy câu kệ ở minh văn Gò Xoài có khác vài chỗ với câu
này. Chúng ta cũng có thể đọc được câu kệ Pháp thân bằng
ngôn ngữ tiền Sanskrit trong Mahàvastu, một bộ luật được
coi là của Mahàsanghika (Đại chúng bộ):
Ye
dharmà hetuprabhàvà hetun tesàm tathàgato àha tesam ca yo nirodho
evamvàdi mahàsamanah.
Điều
thú vị là gần đây, trong một di tích Champa ở tỉnh Gia Lai,
phía sau một phù điêu có hình Phật ngồi, mà Bùi Minh Trí
đã thông báo năm ngoái, có 4 dòng minh văn đúng là câu kệ
Pháp thân này, viết bằng tiếng Sanskrit chuẩn và bằng thứ
chữ viết xưa hơn, khoảng thế kỷ VI-VII chỉ khác câu ở
Mahàvastu vài chỗ:
Ye
dharmà hetuprabhàvà tesàm he (tu)n tathàgato hy avadat ca yo nirodho
evamvàdi mahàsamanah.
Như
vậy, đến nay đã tìm được câu kệ Pháp thân bằng Pàli
cũng như Sanskrit ở Việt Nam. Đó là những bằng chứng chắc
chắn của Phật giáo. Những di tích được đề cập trong
minh văn này hẳn là di tích Phật giáo.
Chúng
ta có thể đọc kệ Pháp thân bằng tiếng Hán trong kinh sách
Hán tạng. Chẳng hạn trong Đại Trí độ luận quyển 11 và
18, bản dịch của Cưu Ma La Thập (Kumàrajìva) hay trong Phật
bản hạnh tập kinh quyển 48, bản dịch của Chà Na Quật Đa
(Janakutta). Đặc biệt là tôi muốn dẫn ra ở đây một đoạn
có liên quan đến bài kệ này trong Tạo tượng công đức
kinh (bản dịch của Địa Bà La Ha). Bấy giờ Đức Thế Tôn
nói lời kệ này: các pháp do nhân duyên sinh, ta nói đó là
nhân duyên. Nhân duyên hết là diệt. Ta nói như thế đó. Này
thiện nam tử, kệ này có nghĩa như vậy, lấy tên là Phật
Pháp thân. Các ngươi nên chép viết kệ này để vào trong
tháp. Vì sao vậy? Vì tất cả các pháp do nhân duyên sinh ra
đều có tính chân tịch, nên điều ta nói có tên là Pháp
thân”.
Từ
đoạn trên, ta có thể thấy rằng kệ Pháp thân thường được
chép đưa vào các tháp Stùpa. Tôi cũng chú ý đoạn sau đây
trong Dục Phật công đức kinh (bản dịch của Nghĩa Tĩnh):
“Xá lị cúng dàng có hai loại: một là xá lị xương thân,
hai là xá lị Pháp tụng. Bài tụng đó như sau: “Các pháp
do duyên khởi, Như Lai nói đó là nhân, pháp, đó cũng do nhân
duyên mà diệt, Đại sa môn nói như vậy”. Bài tụng được
dịch trong kinh này rõ ràng cũng là kệ Pháp thân.
3.
Những tượng Phật, Bồ tát tìm được ở Phù Nam
Những
tác phẩm điêu khắc được tìm thấy tại Phù Nam là rất
lớn và khá đồ sộ. J. Boisselier, đã công bố các tượng
Phật, Bồ tát được tìm thấy vào năm 1966 với các pho tượng
tiêu biểu như: tượng Avalokitesvara (Quán Thế Âm tìm được
ở Rạch Giá, tượng Phật ngồi theo thế liên hoa tọa ở
Thắng Tam (Vũng Tàu), có niên đại bán thế kỷ thứ VI; tượng
Avalokitesvara tìm thấy ở Rạch lò gốm (Chợ Lớn), là những
đỉnh cao về mặt phong cách và điêu khắc tiếu tượng học
Phù Nam. Bên cạnh những công bố của J. Boisselier, sau năm
1975 chúng ta đã phát hiện ra hàng loạt những tượng Phật
khá đặc trưng của nền văn hóa Phù Nam cùng với những phát
hiện được lưu giữ tại Bảo tàng TP.HCM:
1.
Tượng Phật (số đăng ký BTLS.1615) bằng gỗ sao, màu nâu
đen, cao: 2,44m, ngang: 0,65m, ở tư thế đứng trên tòa sen, chân
phải thẳng, chân trái hơi co, hong tượng lệch về bên phải.
Tượng có khuôn mặt tròn, mũi cao, mắt mở to, nhìn xuống.
Thân tượng cân đối, cổ cao, vai thuôn tròn. Tỷ lệ giữa
thân và chân khá hài hòa. Tượng khoác áo cà sa dài xuống
cổ chân. Tòa sen hình trụ tròn gồm hai phần, phần trên chạm
khắc hai lớp cánh sen, phần dưới là đế thấp, tròn hình
trụ.
Pho
tượng này được phát hiện vào ngày 03-11-1943, do nhà khảo
cổ học người Pháp Louis Malleret tiến hành khai quật tại
Sa Đéc - Đồng Tháp. Niên đại: thế kỷ V STL.
2.
Tượng Phật (số đăng ký BTLS.1617) bằng gỗ mù u, màu nâu
đen, cao: 1,70m; ngang: 0,41m, ở tư thế đứng thẳng trên tòa
sen. Tượng có khuôn mặt tròn phúc hậu, các đường nét trên
khuôn mặt đã bị huỷ hoại, chỉ còn chi tiết của miệng
được thể hiện như đang mỉm cười, môi dưới dầy, hai
dái tai dài chấm vai. Đầu tượng tròn, tóc kiểu bụt ốc,
giữa đầu có đỉnh Unisa hình chóp nhọn. Hình mặc trang phục
gồm hai lớp: lớp ngoài là áo choàng rộng, phủ từ bờ vai
xuống đến cổ chân; lớp trong là áo cà sa mỏng ôm sát thân
để lộ những đường cong trên cơ thể. Tòa sen hình trụ
tròn gồm hai phần: phần trên chạm khắc đóa sen lớn đang
nở gồm hai lớp cánh sen, phần dưới là đế hình trụ tròn.
Tượng
được đưa về Bảo tàng ngày 08-04-1937, do các nhà khảo cổ
học phát hiện và khai quật tại làng Lợi Mỹ, xã Phong Mỹ,
Sa Đéc - Đồng Tháp. Niên đại: thế kỷ V STL.
3.
Tượng Phật (số đăng ký BTLS.1618) bằng gỗ sao, màu nâu
đen, cao: 1,03m ngang: 0,35m, ở tư thế đứng trên tòa sen, chân
phải đứng thẳng, chân trái hơi co, hông tượng lệch nhẹ
về phải. Tượng có khuôn mặt phúc hậu, mắt hé mở, nhìn
xuống, mũi cao thon, miệng như đang mỉm cười, tất cả toát
lên vẻ từ bi, quảng đại. Đầu tượng tròn, tóc hình bụt
ốc, giữa đầu có đỉnh Unisa hình chóp nhọn, hai dái tai
dài. Tượng có thân hình cân đối, cổ cao, vai thuôn tròn,
hai tay được diễn tả ở tư thế đang vận động. Tay phải
đưa lên ngang ngực, lòng bàn tay để ngửa, hướng về trước,
các ngón tay trong tư thế đang bắt ấn, tay trai giơ cao, nắm
lấy vạt áo cà sa xoắn lại, bẻ ra ngoài đưa sang trái. Tượng
mặc áo cà sa rộng quấn qua vai trái, để lộ vai phải, phần
vạt áo cà sa bên hông trái căng rộng, kéo thẳng từ vai xuống
cổ chân. Tòa sen gồm hai phần: phần trên là đóa sen lớn
đang nở, gồm hai lớp cánh sen, phần dưới là đế cao hình
trụ tròn.
Tượng
được các nhà khảo cổ học phát hiện và khai quật tại
huyện Bình Hòa, tỉnh Long An sau năm 1975. Niên đại: thế
kỷ thứ VII STL.
Cả
ba pho tượng đều là tượng Phật Thích Ca, căn cứ vào những
đặc điểm về phong cách cho thấy, tượng chịu ảnh hưởng
của nghệ thuật điêu khắc Phật giáo Ấn Độ. Bằng nhiều
con đường khác nhau, những phong cách nghệ thuật này
du nhập vào Việt Nam và được cư dân Óc Eo cảm thụ. Từ
việc tiếp thu phong cách nghệ thuật ngoại lai, họ đã vận
dụng một cách sáng tạo trong việc thể hiện hình tượng
đức Phật bằng loại nguyên liệu mang tính “bản địa”.
Có thể không ngoa khi cho rằng, những pho tượng Phật gỗ
là những tác phẩm điêu khắc đặc sắc, đã được cư dân
cổ đồng bằng sông Cửu Long tạo ra và góp phần làm nên
những tinh hoa của nghệ thuật Phật giáo Việt Nam ngay từ
những thế kỷ đầu Tây lịch.
Thay
lời kết
Văn
hóa Óc Eo là một phức hệ văn hóa đa dạng, vốn sản sinh
từ yếu tố nội sinh kết hợp với nguồn lực văn hóa ngoại
sinh đã thật sự tạo nên một nền văn minh sông nước rực
rỡ. Nếu nền văn minh ấy được phôi bào trong yếu tố miền
cảng thị, hấp thu tinh thần văn hóa Ấn Độ đã để lại
cho nhân loại những nguồn di sản vô cùng quý giá. Trong nguồn
di sản quý giá ấy, Phật giáo đã đóng một vai trò không
nhỏ vào sự phát triển của nền văn minh, văn hóa này. Điều
đó nói lên rằng, Phật giáo đã có mặt từ rất sớm tại
vùng đất Nam Bộ từ trước thế kỷ thứ I STL, và đã từng
là một trong những tôn giáo chủ đạo của các triều đại
cổ vương quốc Phù Nam xa xưa.
Tài
liệu tham khảo:
1-
Tuệ Sĩ, Thắng Man giảng luận, Phật học viện Nha Trang ấn
hành.
2-
Lương Ninh, “ Nước Chí Tôn” một quốc gia cổ ở miền
Tây sông Hậu, Tạp chí Khảo Cổ Học, số 1, 1981, tr. 38.
3-
Lương Ninh, Văn hoá cổ đồng bằng sông Cửu Long trong quan
hệ khu vựa tộc người, Báo cáo tạo Hội thảo Khoa học
về văn hóa Óc Eo và văn hóa cổ đồng bằng sông Cửu Long,
An Giang, 1984, tr. 247-259.
4-
Hà Văn Tấn, Óc Eo những yếu tố nội sinh và ngoại sinh,
Báo cáo tạo Hội thảo Khoa học về văn hóa Óc Eo và văn
hóa cổ đồng bằng sông Cửu Long, An Giang 1984, tr. 222 -231.
5-
Hà Văn Tấn, Từ minh văn trên lá vàng ở Gò Xoài (Long An),
Bàn thêm về Pháp thân kệ, Thông báo Khảo cổ học tháng
9-1993.
6-
Lê Xuân Diệm, Văn hóa Óc Eo những khám phá mới, NXB KHXH,
1995.
7-
Hoàng Nghị - Nguyễn Anh Tuấn, Tượng Phật cổ văn hóa Óc
Eo, Tạp chí Cổ Vật Tinh Hoa, số 9 tháng 09-2004, tr. 28-29.
8-
G. Coedès, Lịch sử cổ đại các quốc gia Ấn Độ -Trung Hoa
ở Viễn Đông, Hà Nội, 1944, tr.44-45.
9-
Tamamoto Tatsuro, Truyền thuyết dựng nước của Đông Dương
trong những vấn đề lịch sử giao thương giữa phương Đông
và phương Tây, quyển thượng, Tokyo 1939.
10-
Inuishi Hidetoshi, Vấn đề dựng nước của Phù Nam, Nghiên cứu
Phật học trong Ấn Độ học quyển 14, số 1, 1975, tr. 166-167.
11-
Sugimoto Naojiro, Trường hợp nước Phù Nam trong tính đặc thù
lịch sử của xã hội cổ Đại Đông Dương, Nghiên cứu lịch
sử Đông Nam Á, quyển 1, Tokyo, 1956.
12-
P. Pelliot, Le Fou – nan, BEFEO III, N0 2, tr. 248-303.
13-
P. Pelliot, Mémceres su Les coutumes du Cambodge, BEFEO II, 1902.
14-
P. Pelliot, Quelques texles chinois concernant L’ Indochine hindouiséc
- E’tudes Asiatuques, Paris, 1925, II.
15-
L. Malleret, L’Archéologie du Della du Mékong, Tome I, L’ Exploration
archéologique et les fouilles d’ Oc Eo, Paris, 1959b.
16-
L. Malleret, L’Archéologie du Della du Mékong, Tome II, La civilisation
maté rielle d’ Oc Eo, Paris, 1960.
17-
L. Malleret, L’Archéologie du Della du Mékong, TomeIII, La culture
du Fuo - nan, Paris, 1961.
18-
L. Malleret, L’Archéologie du Della du Mékong, Tome IV, Le Cisbassac,
Paris. 1963.
19-
Ma Touan, Lin: Fuo - nan, Ethnographic dé peuples E’ trangers à la
chine, Méridionaux, Paris, 1883.
20-
G. Coedès, Deux Inscriptions Sanskrites du Fuo – nan, BEFEO XXXI, tr
2-8.pl. III-IV.
21-
G. Coedès, Les E’ tats Hindonisés d’ Indochine et d’ indonésie,
Paris, 1964.