Đi
dọc dòng sông Phật giáo
TRÊN
ĐẤT NƯỚC TRIỆU VOI (Kỳ I)
Trần
Đức Tuấn
Để
thám hiểm dòng sông hùng vĩ và thơ mộng trên đất nước
Triệu Voi, đoàn làm phim “Mê Kông Ký sự” đã đi dọc nước
Lào từ Bắc xuống Nam và một số đoạn từ Tây sang Đông.
Bản tính hiền lành, nhân hậu, tác phong từ tốn và thân
thiện của người Lào là kết tinh của tinh thần đạo Phật.
Đó là lý do khiến bạn hoàn toàn có thể yên tâm khi tiếp
xúc với bất cứ người dân nào nơi đây, dù mới gặp lần
đầu...
Nước
Lào rộng 236.800km2, lớn hơn 2/3 nước ta một chút, tuy hẻo
lánh và hơi khuất nẻo, nhưng dân số chưa tới 6 triệu người,
đại đa số là Phật tử, số còn lại là những người có
cảm tình và trân trọng đạo Phật, nên được coi là một
xứ sở thanh bình của đạo Phật. Sông Mêkông ở Lào dài
1.865 cây số, chảy dọc chiều dài đất theo hướng Bắc-Nam,
với 280 cây số đầu tiên là biên giới với Myanmar, tiếp
theo là hai đoạn biên giới với Thái Lan tổng cộng trên 1000
cây số và hai đoạn chảy hoàn toàn trong nội địa quốc
gia.
Phật
giáo du nhập vào Lào qua đường Capuchia từ thế kỷ 12 (thời
Jayavarman VII ở Campuchia), nhưng đó là Phật giáo Đại thừa.
Đến thế kỷ thứ 14, thông qua người Khơme, đạo Phật lại
thâm nhập vào Lào một lần nữa, nhưng lần này là Phật
giáo Nguyên thủy. Phật giáo Nguyên thủy trở thành quốc giáo
của vương quốc này bắt đầu từ thời kỳ trị vì của
vị quốc vương vĩ đại Phạ Ngừm đối với toàn bộ lãnh
thổ rộng lớn của đất nước Lạng Xạn (Triệu Voi) ở
cả đôi bờ Mêkông. Bắt đầu từ đây mọi bước thăng
trầm của đạo Phật cũng là những bước thăng trầm của
đất nước này. Đi dọc con sông Mêkông hùng vĩ, chúng tôi
có cảm giác như tiếng chuông chùa vọng ra từ những khối
cổ thụ bồ đề đang ru các bản làng của người Lào chìm
vào giấc ngủ êm đềm với sự thanh thản của tâm hồn giữa
cảnh vật yên bình, cô tịch của non sông tráng lệ.
Rừng
núi Thượng Lào âm u, kỳ vĩ
Thượng
Lào có 11 tỉnh thì chúng tôi đã vượt qua tới 9 tỉnh. Các
tỉnh được tìm hiểu tương đối kỹ là Luông Nậm Thà,
Bó kẹo, Xiêng Khổng và Luông Pra Bang.
Luông
Nậm Thà là tỉnh duy nhất có biên giới với cả Trung Quốc
và Myanmar. Đường biên với Myanmar chính là đoạn sông Mê
Kông đầu tiên chảy vào lãnh thổ Lào. Thượng Lào là nơi
cư trú chủ yếu của các tộc Lào Sủng theo tín ngưỡng dân
gian, thường thờ thần linh nhưng rất quý trọng đạo Phật,
và trân trọng các ngôi chùa. Chùa chủ yếu là của người
Lào Lùm (sống xen kẽ) và của một bộ phận người Lào Thơng.
Lào Lùm. Lào Thơng và Lào Sủng là 3 nhóm cấu thành cư dân
nước Lào, trong đó Lào Lùm là người đa số (như người
Kinh ở Việt Nam).
Chúng
tôi đã dùng xe hơi đi ngang dọc lãnh thổ 2 tỉnh vùng cực
Tây Bắc Lào nằm trong miền đất Tam Giác Vàng là Bó Kẹo
và Luông Nậm Thà. Đó là những con đường rừng hẻo lánh,
nhiều đoạn lầy lội, còn rất nhiều mìn chưa gỡ hết.
Đây cũng là xứ sở cây anh túc của người Lào.
Ông
giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Luông Nậm Thà là Ka Nông Thông
cho biết, tỉnh đã có một huyện là Na Lê vừa thanh toán
xong các cánh đồng thuốc phiện được quốc tế công nhận.
Luông Nậm Thà chỉ có 15% diện tích tự nhiên là đất bằng,
còn lại toàn là núi. Biên giới đất liền với Trung Quốc
dài 145 cây số. Biên giới Mê Kông với Miến Điện dài 130
cây số. Chính quyền rất khó quản lý, không kiểm soát được
việc đi lại và vận chuyển ma túy, nhất là đường biên
Mê Kông. Vùng đất lưu vực hữu ngạn Mêkông bên Myanmar do
3 nhóm tự trị cai quản. Chúng hay xung đột lẫn nhau, chính
phủ Miến không kiểm soát được nên phải đặt cửa khẩu
ở sâu trong đất liền tới 30 cây số. Tình hình đó đặt
cửa khẩu Lào ở bờ sông bên này vào thế đơn thương độc
mã rất khó tác chiến với bọn xấu. Yếu tố bất ổn đã
tạo điều kiện cho ma túy thâm nhập vào Lào để tiếp tục
sang Trung Quốc và Việt Nam. Thỉnh thoảng vẫn xảy ra đụng
độ giữa bọn buôn ma túy người Miến và người Lào do thanh
toán không sòng phẳng. Chính phủ Lào đã từng bỏ tù nhiều
nhân viên nhà nước dính dáng tới các đường dây này.
Huội
Xai, tỉnh lỵ của tỉnh Bó Kẹo, nằm trên bờ Mê Kông. Bó
Kẹo có 98 cây số Mê Kông là biên giới với Miến và với
Thái (tiếp theo đoạn Mê Kông của Luông Nậm Thà). Thủ phủ
của sơn trấn này là một đô thị thanh bình, thơ mộng, là
cửa khẩn quốc tế thông với Xiêng Khổng của Thái lan bên
bờ hữu. Thành phố có khá nhiều chùa và tu sĩ. Chúng tôi
tới thăm một ngôi chùa cổ có tên là Thạt Phá Khăm, có
ngôi tháp 1000 năm tuổi nằm trong lòng một ngôi tháp mới
được xây bao trùm lên. Chùa tọa lạc ngay bờ sông trên đỉnh
đồi, một vị trí rất đẹp, nhìn xuống dòng chảy Mê Kông
và nhìn sang tỉnh Chiêng Rai của Thái Lan. Thật không ngờ,
một thị trấn giữa núi rừng âm u hẻo lánh mà có được
một tòa kiến trúc lộng lẫy và bề thế đến thế. Cổng
chùa là một cầu thang nối con đường bờ sông với sân chùa
trên đỉnh đồi có hàng trăm bậc với 2 dãy lan can là đôi
rồng vàng rực rỡ dài hàng chục mét. Đứng trên sân chùa
rợp bóng Cham Pa cổ thụ (tức cây sứ lớn), bạn tha hồ
chiêm ngưỡng vẻ đẹp huyền ảo mơ màng của dòng Mê
Kông êm đềm trôi xuôi giữa đôi bờ núi non trùng điệp.
Một tốp các vị sư trẻ (khoảng từ 7 đến 12 tuổi) đang
ngồi chăm chú đọc kinh trên nền điện thờ với nét mặt
ngây thơ và thánh thiện. Hầu hết con trai các gia đình Lào
đều đi tu có thời hạn, thường là mấy tháng hoặc mấy
năm, thậm chí có người chỉ vào chùa một vài tuần. Sứ
mệnh của tu sĩ ngắn hạn là vào chùa để tu rèn đạo đức,
thấm nhuần triết lý và nhân sinh quan Phật giáo, noi theo lý
tưởng của Đức Phật, cầu phúc cho cha mẹ và tích đức
cho con cháu. Anh Bun Chom, Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình
Quốc gia Lào, người hướng dẫn chúng tôi đã từng đi tu
6 năm hồi còn đi học.
Trong
khuôn viên chùa còn có một phòng xin xăm và một bức tượng
nữ thần nhìn xuống dòng sông. Nhìn chung, Phật giáo ở Lào
vì có dung nạp những tín ngưỡng dân gian nên rất thân thiết
với toàn xã hội và rất dễ đi vào lòng người. Huội Xai
có rất nhiều chùa nhưng Thạt Phá Khăm có thể được xem
như một biểu tượng văn hóa tiêu biểu của núi rừng biên
cương, có sức sống trường tồn và mạnh mẽ.
Lướt
đi trong cõi mộng
Cho
tới tận bây giờ, kể cả lúc đang viết những dòng chữ
này, mỗi lần nhớ lại, lòng tôi lại tràn ngập một cảm
giác bâng khuâng về chuyến đi kỳ lạ đó. Nó thật sự bàng
hoàng, ngây ngất và khiếp đảm. Đó là chuyến đi có một
không hai trên mặt nước Mê Kông, một giang trình kỳ ảo
như trong mộng, xuyên qua Tam Giác Vàng, lướt nhanh trong gió,
với tốc độ kinh hồn trên hai chiếc xuồng máy siêu tốc
mong manh như lá tre, lao đi như bay, ngoằn ngoèo giữa các khe
đá lởm chởm của một rừng phiến thạch nhấp nhô mọc
trên mặt nước Mêkông lạ lùng như một trận đồ bát quái.
Đó
là một buổi sáng cuối xuân ở cao nguyên Thượng Lào trên
dòng sông bên giới. Mây trời bàng bạc phủ ánh sáng dịu
dàng lên khắp dải núi rừng biên cương Lào-Miến mênh mông
và cô tịch. Bến đò Xiêng Cốc vắng người ẩn trong một
khe núi đồ sộ. Dòng Mê Kông trong xanh lơ đãng, uốn mình
theo thế núi, chậm chạp trôi xuôi như đang dưỡng sức sau
một cơn vật lộn với thác ghềng ở phía thượng lưu chỉ
cách đó một cây số.
Chúng
tôi có sáu người ngồi trên hai chiếc xuồng máy nhỏ xíu
bằng composite lắp động cơ cực mạnh. Bốn ống xả khói
cuộn vào nhau thành một, tháo hết thiết bị giảm thanh để
đạt tốc độ tối đa. Người ta báo trước:tốc độ trung
bình là 70km/giờ, và thường xuyên phải tăng tốc để bay
qua những xoáy nước sâu hoắm nếu không muốn nó cuốn xuống
đáy sông, và phải uốn lượn thật nhanh để tránh những
khối đá khổng lồ ngăn lối trên suốt lộ trình nếu
không muốn con thuyền tan xác trong nháy mắt. Máy quay phim phải
được bọc vào 2 túi ni-lông để tránh các tia nước cực
mạnh lướt ngược mạn thuyền và phải ôm thật chặt để
khỏi bật ra khỏi tay. Hành lý đặt ở đáy thuyền dưới
một lớp lưới chằng bọc vững chắc để khỏi văng xuống
dòng sông. Áo phao cứu sinh chỉ để trang trí và có tác dụng
trấn an về mặt tâm lý, vì nếu đụng đá hoặc bị cuốn
vào xoáy nước, tất cả đều tan xác và chìm ngay tức khắc.
Chúng tôi được báo là không thể nói chuyện với nhau trên
thuyền vì tiếng động cơ sẽ cực lớn.
Vậy
là đoàn lữ hành 6 người rời bến Xiêng Cốc cô liêu huyền
bí, như cuộc chia tay với một bến đò hiu quạnh nào đó
của các anh hùng Lương Sơn Bạc, để dấn thân vào cuộc
phiêu lưu mạo hiểm khôn lường. Chỉ vừa mới làm quen với
Xiêng Cốc được khoảng 2 giờ, vậy mà lúc chia tay lòng vẫn
tràn đầy lưu luyến như phải từ giã một “bến xưa”
với cảm giác bồi hồi, bởi đây là chuyến ra đi không trở
lại, và bởi Xiêng Cốc quá nên thơ, u ẩn đến mê hồn.
Rời
bến được khoảng một cây số thì cặp thuyền bắt đầu
tăng tốc. Hai con thuyền mảnh mai, lả lướt, hình dáng đầy
gợi cảm mà người ta thường thấy thấp thoáng trong các
áng thơ Đường, lập tức trở thành những con quái vật trên
sông, xé nước lao đi như tên bắn với tiếng gầm rú man
rợ vang trời, làm chúng tôi bàng hoàng như lãng du vào cõi
mộng. Một thế giới ghềnh đá nhấp nhô muôn hình vạn trạng
giăng khắp mặt sông, tạo nên những luồng lạch nhỏ loang
loáng vút ngược mạn thuyền làm mọi người rợn tóc gáy.
Những lúc thuyền bay qua xoáy nước rồi rơi lại mặt sông
có thể làm bạn thót tim, và một cảm giác tiếp theo lâng
lâng như đang ngồi trên tấm thảm thần Ba Tư trong truyện
Ngàn lẻ một đêm. Phải 30 phút sau, tất cả mới định thần
để hiểu rằng mình đang có diễm phúc đắm mình trong một
cõi thần tiên mà trước đây dù có mơ cũng không thể thấy.
Đó là một thế giới vừa thơ mộng vừa dữ dội, vừa tĩnh
lặng, vừa tràn ngập âm thanh được thêu dệt bằng hình
ảnh mây trời bát ngát, sông nước mênh mông, núi non hùng
vĩ, rừng già sâu thẳm, cảnh vật hoang vắng cô liêu, bao
trùm lên hai con thuyền lẻ loi lao đi không bờ bến, quằn
quại, điên rồ, lênh đênh trong sóng nước. Đôi bờ Mê Kông
toàn là núi rừng trùng điệp, cảnh sắc thiên nhiên thực
sự thanh vắng, mơ màng. Thỉnh thoảng xuất hiện bên tả,
hoặc bên hữu một ngọn tháp chói vàng vút thẳng lên trời
cao, dưới chân là một tòa kiến trúc lộng lẫy, rực rỡ
ẩn dưới bóng cây rừng, vừa bí ẩn, vừa kiêu hãnh. Đó
chính là những ngôi chùa Phật giáo Nguyên thủy với mái cong
ba lớp so le theo trường phái kiến trúc Thái tộc rất độc
đáo, rải rác khắp miền trung lưu của dòng sông vĩ đại.
Biết
bao cảm xúc lạ lùng liên tiếp xuất hiện trên cái lộ trình
kỳ lạ và bạo liệt đó mà không thể bình luận hoặc chia
sẻ với ai, bởi một lẽ đơn giản là có gào thét vào tai
người ngồi cạnh thì anh ta cũng chẳng nghe thấy gì. Vậy
nên tất cả đều câm lặng để cho dòng suy tưởng thả sức
triền miên bay theo mây trời gió núi. Thỉnh thoảng gặp một
khúc sông rộng, chảy chậm, ít ghềnh đá, hai con thuyền mới
tạm thôi gầm rú, rồi tự trôi giữa mặt nước mênh mông
để du khách có thể bình tâm mà nhận ra rằng họ đang lênh
đênh giữa miền đất Phật, bởi đây là lúc mà tiếng chuông
chùa ven sông ngân vang trong tĩnh lặng có thể “đáo khách
thuyền” một cách êm ả, thanh bình và gợi cảm nhất. Đó
cũng là lúc mà nếu có "một cánh chim non lạc cuối ngàn”
nào đó tình cờ xuất hiện, chắc chắn sẽ nằm gọn trong
ống kính của chúng tôi để trở thành một trong những khoảnh
khắc nao lòng nhất của “Mê Kông ký sự”.
Không
thể miên man mãi với hình ảnh những ngọn tháp cao vút, những
ngôi cổ tự tư lự trên bờ, những tiếng chuông chùa xa vắng,
những cánh chim cô đơn, những khối núi xa mờ dưới nắng
xuân vàng lạt, những cánh rừng thăm thẳm âm u, những áng
mây cuối trời tiếp giáp với mặt nước…, bởi chúng tôi
nhận ra rằng đây không chỉ là đất Phật, là cõi bồng
lai, mà còn là sào huyệt của bọn lục lâm khét tiếng, với
cái tên giang hồ ngạo mạn: “miền đất tam Giác Vàng”,
mà chúng tôi đã có dịp đề cập tới trong một bài báo
trước.
Trời
mưa ở Tam Giác Vàng
Mê
Kông có khoảng 500 cây số chảy trong lãnh thổ của Tam Giác
Vàng từ Trung Quốc qua Myanmar, tới Lào và Thái Lan. Đó cũng
là một trong những đoạn có phong cảnh đẹp nhất trên suốt
lộ trình dài 4880 cây số của nó. “Mêkông Tam Giác Vàng”
không chỉ hùng vĩ đôi bờ mà còn vô cùng tráng lệ trên
mặt nước. Đó mới chính là nét độc đáo vô song của dòng
sông kể từ thượng nguồn. Tam Giác Vàng không chỉ là lãnh
địa đầy bí ẩn của tội ác và ma túy, là cõi thiên thu
huyền ảo của thiên nhiên, mà còn là mảnh đất đầu tiên
kể từ thượng nguồn mà Phật giáo Nguyên thủy bắt đầu
ngự trị. Dòng sông dài gần 5000 cây số ra đi từ chân các
núi tuyết cao năm, sáu, bảy ngàn mét, chảy qua lãnh thổ của
Phật giáo Tạng truyền, dài khoảng 1.400 cây số; tiếp theo
là phần đất của Phật giáo Đại thừa và các tín ngưỡng
dân gian bản địa khác, dài khoảng 800 cây số. Phần còn
lại bắt đầu từ Nam Bộ Địa khu Tư Mao và toàn châu tự
trị Xi Xoang Ba Na (tức Tây Song Bản Nạp), nơi cư trú của
cư dân Thái tộc thuộc tỉnh Vân Nam, ra tới bờ biển, dài
khoảng 2700 cây số, chủ yếu là địa bàn cư trú của các
Phật tử Tiểu thừa xen với một vài tín ngưỡng bản địa
khác, trong đó có phần chảy trong lãnh thổ Nam Bộ Việt Nam
có cả Phật giáo Nguyên thủy và Đại thừa. Những ngôi chùa
mà chúng tôi bắt gặp từ miền Nam tỉnh Vân Nam xuống tới
trung tâm Tam Giác Vàng này và xuống mãi tận phương Nam, trên
cả đôi bờ tả hữu đều có một dáng vẻ tương tự: Đó
là phần mái nhiều lớp, so le, chồng lên nhau, đồng thời
là phần nổi bật nhất của toàn bộ tòa kiến trúc.
Du
khách bị hút hồn bởi phong cảnh cực kỳ thơ mộng và hùng
vĩ của các ngã ba sông biên giới đầy bí ẩn và tai tiếng,
mà người ta gọi là “Trung tâm Tam Giác Vàng", trong nhiều
giờ đồng hồ cho tới khi mặt trời xế núi. Tiếng chuông
lúc chiều tà từ trên đỉnh đồi ngã ba sông bên đất Thái
thúc dục chúng tôi đi tìm lữ quán. Xuôi về phía Nam khoảng
3 cây số, trên bờ Mêkông đất Lào có một quán trọ. Vừa
đổ bộ lên bờ thì hoàng hôn cũng bắt đầu bao trùm lên
toàn cõi biên thùy ba nước. Quán trọ tọa lạc trong một
thung lũng biệt lập hoàn toàn thanh vắng, chủ nhân là một
bác sĩ y khoa bỏ nghề sống với vợ và hai cô con gái. Ông
khuyên chúng tôi nên viếng thăm ba khu thương mại và giải
trí ở trung tâm Tam Giác Vàng, đó là hòn đảo Sao của Lào,
sòng bạc bên đất Miến và thị trấn Sob Ruak của Thái có
ngôi chùa 1200 năm tuổi. Chiều hôm đó, đoàn làm phim gặp
một trận mưa nguồn hiếm có kéo dài tới tận sáng hôm sau.
Trên khắp các nẻo đường tìm kiếm và tiếp cận Mê Kông
rất ít khi gặp mưa nên chúng tôi coi đây là một sự may
mắn. Mây đen từ trên một rặng núi xa mờ bên đất Thái
kéo sang cuồn cuộn trong ánh chiều chập choạng rồi xối
xả tuôn nước xuống núi rừng Thượng Lào rậm rạp. Mưa
vốn đã buồn, mưa rừng càng buồn, mưa đêm ở chốn biên
thùy nơi đất khách heo hút lại càng tê tái. Đêm nằm nghe
mưa rơi rả rích, vừa buồn nhớ quê hương vừa nhận ra rằng,
mình đang qua đêm ở một miền đất lừng danh thế giới
còn rất ít người đặt chân tới. Miên man mãi và rồi bỗng
nhớ tới mấy câu thơ của Huy Cận:
Đêm
mưa làm nhớ không gian
Lòng
run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai
nương nước giọt mái nhà
Nghe
trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn…
Trong
đời một con người có biết bao cơn mưa không thể nào quên,
nhưng “mưa ở Tam Giác Vàng” đâu phải ai cũng có dịp từng
trải. Trận mưa rừng buồn bã và mãnh liệt đó đã trở
thành một dấu ấn khó quên đối với chúng tôi trong chuyến
phiêu lưu trên dòng Mê Kông đầy thác ghềnh hiểm trở, kéo
dài suốt 500 cây số với biết bao nỗi bâng khuâng lưu luyến,
ngẩn ngơ, thán phục, thậm chí khiếp đảm, hãi hùng.
Sáng
hôm sau, đợi cho trời tạnh hẳn, chúng tôi làm theo lời khuyên
của ông bác sĩ rồi tiếp tục xuôi dòng. Càng dấn sâu vào
mặt nước Mê Kông càng thấy tạo hóa quyền năng là bậc
thầy của nghệ thuật tạo hình. Hàng trăm cây số mặt nước
là cả một bức đại trường họa tài tình và diễm lệ.
Hàng triệu khối đá đủ mọi hình thù lạ lùng ngoạn mục,
hình như không phải được hình thành một cách tình cờ do
hoạt động kiến tạo địa cầu, mà là được đẽo gọt
một cách công phu và xếp đặt khéo léo dưới bàn tay của
một nghệ sĩ thiên tài. Cảm giác kinh ngạc, ngây ngất cứ
thế dồn dập xuất hiện khi hai con thuyền mong manh lao vút
đi trong gió núi. Chúng tôi thực sự đang rơi vào một mê
hồn trận của thủy thần và thạch quái, đang dấn sâu vào
mê lộ của Mêkông như lạc vào chốn thiên thai, được bao
bọc hai bên bằng những khối núi khổng lồ, dựng đứng,
lạnh lùng nhìn xuống dòng sông hoang vắng. Sau này trong đoạn
phim “Mêkông Ký sự” miêu tả lại cảnh này, lời bình
đã có đoạn viết: “Cảnh vật đôi bờ quá mơ màng và
huyền ảo, nó lung linh như một chốn hoang đường. Hình như
chúng tôi đang lặng lẽ tiến sâu vào một cõi thần tiên
nào đó được tạo dựng bằng chính niềm đam mê của tạo
hóa. Lúc này, nếu được nghe ca khúc Thiên Thai của Văn Cao,
có lẽ Thượng đế sẽ thấu hiểu được thế nào là sự
rung động của lòng người trước thiên nhiên huyền diệu”.
Hãy
tưởng tượng, dải rừng đá lạ lùng, diễm lệ dài hàng
trăm, hàng trăm cây số, ken đặc mặt nước Mê Kông lung linh
soi bóng những khối núi hùng vĩ đôi bờ như vậy, trên thế
gian còn nơi nào có? Đó là di sản của thời gian, của vận
động kiến tạo, và là ân huệ của đất trời. Chúng đứng
đó đã hàng triệu, hàng triệu năm nay, và chắc chắn càng
về sau càng trở nên thân thiết đối với con người. Vậy
mà đã có ý kiến nên nổ mìn phá đi, để cho tiện việc
đi lại của tàu thuyền. Hãy hết sức cân nhắc trước một
quyết định hệ trọng, nếu không sẽ bị hậu thế nguyền
rủa. “Rừng đá Mê Kông” chỉ có thể ra đời một lần
và chỉ có thể được tạo dựng dưới bàn tay của tạo
hóa! Phá đi thì quá dễ, bởi đó chính là sở trường của
con người!
Động
Phật ở cuối giang trình
Tuyến
mê lộ ghềnh đá dài gần nửa ngàn cây số, uốn lượn trong
khe núi trùng điệp, sau khi băng qua miền đất Phật và trái
tim của Tam Giác Vàng, đã kết thúc rất đẹp ở ngoại ô
kinh thành cổ kính của đất nước Triệu Voi. Đó cũng chính
là chiều dài của giang trình khủng khiếp, đẹp như mơ, mà
đoàn người thám hiểm Mê Kông, ra đi từ đất Sài Gòn, đã
thực hiện như trải qua một giấc mộng. Tuyến mê hồn trận
bằng đá tưởng như bất tận đó không kết thúc buồn tẻ,
không kèn, không trống, mà hết sức oai hùng bằng một Khải
Hoàn Môn, cũng bằng đá, lồng lộng dưới bầu trời ngoại
vi cố đô Luông Pra Bang thơ mộng. Cái “Giang Môn Quan” lung
linh sơn thủy huyền ảo, tạm gọi là “khải hoàn môn”
đó, chính là đoạn Mêkông rộng lớn nằm giữa một bên
là dãy núi đá có cửa sông Nậm U và một bên là khối sơn
thạch khổng lồ chứa trong lòng nó một Phật động lâu đời
cheo leo trên vách đá dựng đứng.
Trước
khi thăm Phật động, chúng tôi thả thuyền nơi cửa sông Nậm
U để chiêm ngưỡng một kỳ quan thiên nhiên khác cũng được
mong đợi từ lâu, đặc biệt là đối với những du khách
Việt Nam, đó là cửa sông Nậm U. Dòng nước Nậm U từ trong
khe núi chảy ra, hòa vào Mê Kông thật êm đềm và lãng mạn.
Trong làn nước trong xanh đó có một phần ra đi từ núi rừng
Điện Biện Phủ, chảy giữa đôi bờ Nậm Rốm, lả lướt
giữa cánh đồng Mường Thanh nổi tiếng, dồn nước cho Nậm
U ở bên kia biên giới. Thì ra, mưa rơi trên đồi Độc Lập,
đồi Him Lam, đồi A1 cuối cùng rồi cũng tới Mỹ Tho, Cần
Thơ, để ra Trần Đề, Cửa Đại. Chỉ có điều là nó còn
phải lang thang trên miền đất lạ, lãng du dưới các kinh
thành Luông Pra Bang, Viên Chăn, Nông Pênh trước khi lại trở
về với đất mẹ. Đã mấy ai chèo thuyền trên sông Tiền,
sông Hậu hiểu được rằng dòng nước dưới mạn thuyền
của họ lại có một phần đóng góp từ những trận mưa
rừng xối xả ở tận miền Tây Bắc xa xôi!
Trờ
lại Động Phật. Đây thực sự là một kỳ quan hùng vĩ,
đối diện với cửa sông Nậm U ở bên kia bờ Mê Kông. Động
có tên là Tham Tinh, hoặc còn gọi là Pak U vì nó nằm gần
cửa sông Nậm U. Cửa Động ẩn mình trong thành núi đá vôi
nhô ra sông. Động có 2 tầng. Tầng dưới là Tham Tinh, tầng
trên là Tham Phun. Phải leo nhiều bậc thang dốc ngược có
tay vịn mới lên được cửa hang. Từ trên cửa hang nhìn xuống,
một vùng sông nước bao la được bao bọc bằng những dãy
núi đá vôi cao ngất, trông giống như một hồ lớn tuyệt
đẹp. Điều gây ấn tượng mạnh bao gồm cả cảnh quan huyền
ảo bên ngoài và cả một khối lượng lớn tượng Phật đủ
dạng ở trong hang. Hàng ngàn pho tượng Phật bằng đá, bằng
gỗ, bằng đồng, bằng vàng đã tồn tại từ hơn 300 năm
tại đây, với đủ loại kích cỡ từ nhỏ xíu tới dài vài
mét. Tư thế cũng rất phong phú, chủ yếu là ngồi và đứng.
Người ta đặt tên cho tượng theo các tư thế. Ví dụ: “Phật
cầu mưa” là tượng đứng, hai tay xuôi, chỉ xuống đất;
“Phật gọi thổ địa” mô tả sự giác ngộ và chiến thắng
quỷ dữ, ma vương; hoặc “ Phật thiền định” là đặt
tên theo tư thế ngồi thiền .v.v... Hang động này được nhà
vua Sethathirat khám phá vào thế kỷ thứ 16, nhiều lần được
chọn làm nơi cất giấu các bức tượng Phật quý giá những
khi Luông Pra Bang có chiến tranh. Có một thời Phật động
có Sư tới ở để trông coi, nay thì không còn, vì mọi người
tin rằng hiện hang đã có Thần bảo hộ. Đây được coi là
chốn thiêng liêng và đích hành hương của đông đảo Phật
tử bốn phương. Trước kia, hàng năm vào dịp tết đón năm
mới, các nhà vua Lào đều đến đây cử hành lễ thắp nến
rất trang trọng để triều bái Phật tổ. Ngày nay, hàng năm
vẫn diễn ra một cuộc hành hương ngoạn mục bằng thuyền
trên sông Mêkông từ Luông Pra Bang tới đây, dài 25km, của
đông đảo Phật tử đến dâng hương, thắp nến và chiêm
bái Đức Phật như lễ hội Chùa Hương ở Việt Nam vậy.
Một
thế giới ghềnh đá nhấp nhô muôn hình vạn trạng giăng
khắp mặt sông, tạo nên những luồng lạch nhỏ loang loáng
vút ngược mạn thuyền làm mọi người rợn tóc gáy. Những
lúc thuyền bay qua xoáy nước rồi rơi lại mặt sông có thể
làm bạn thót tim, và một cảm giác tiếp theo lâng lâng như
đang ngồi trên tấm thảm thần. Phải 30 phút sau, tất cả
mới định thần để hiểu rằng mình đang có diễm phúc đắm
mình trong một cõi thần tiên mà trước đây dù có mơ cũng
không thể thấy. Đó là một thế giới vừa thơ mộng vừa
dữ dội, vừa tĩnh lặng, vừa tràn ngập âm thanh được thêu
dệt bằng hình ảnh mây trời bát ngát, sông nước mênh mông,
núi non hùng vĩ, rừng già sâu thẳm, cảnh vật hoang vắng
cô liêu, bao trùm lên hai con thuyền lẻ loi lao đi không bờ
bến, quằn quại, điên rồ, lênh đênh trong sóng nước. Đôi
bờ Mêkông toàn là núi rừng trùng điệp, cảnh sắc thiên
nhiên thực sự thanh vắng, mơ màng. Thỉnh thoảng xuất hiện
bên tả, hoặc bên hữu một ngọn tháp chói vàng vút thẳng
lên trời cao, dưới chân là những ngôi chùa lộng lẫy, rực
rỡ ẩn dưới bóng cây rừng, vừa bí ẩn, vừa kiêu hãnh.