.
.SỐ 11 -THÁNG 12, 2005.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 11-THÁNG 12, 2005

 

 

Đi dọc dòng sông Phật giáo
TRÊN ĐẤT NƯỚC TRIỆU VOI (Kỳ I)
Trần Đức Tuấn

Để thám hiểm dòng sông hùng vĩ và thơ mộng trên đất nước Triệu Voi, đoàn làm phim “Mê Kông Ký sự” đã đi dọc nước Lào từ Bắc xuống Nam và một số đoạn từ Tây sang Đông. Bản tính hiền lành, nhân hậu, tác phong từ tốn và thân thiện của người Lào là kết tinh của tinh thần đạo Phật. Đó là lý do khiến bạn hoàn toàn có thể yên tâm khi tiếp xúc với bất cứ người dân nào nơi đây, dù mới gặp lần đầu...

Nước Lào rộng 236.800km2, lớn hơn 2/3 nước ta một chút, tuy hẻo lánh và hơi khuất nẻo, nhưng dân số chưa tới 6 triệu người, đại đa số là Phật tử, số còn lại là những người có cảm tình và trân trọng đạo Phật, nên được coi là một xứ sở thanh bình của đạo Phật. Sông Mêkông ở Lào dài 1.865 cây số, chảy dọc chiều dài đất theo hướng Bắc-Nam, với 280 cây số đầu tiên là biên giới với Myanmar, tiếp theo là hai đoạn biên giới với Thái Lan tổng cộng trên 1000 cây số và hai đoạn chảy hoàn toàn trong nội địa quốc gia.

Phật giáo du nhập vào Lào qua đường Capuchia từ thế kỷ 12 (thời Jayavarman VII ở Campuchia), nhưng đó là Phật giáo Đại thừa. Đến thế kỷ thứ 14, thông qua người Khơme, đạo Phật lại thâm nhập vào Lào một lần nữa, nhưng lần này là Phật giáo Nguyên thủy. Phật giáo Nguyên thủy trở thành quốc giáo của vương quốc này bắt đầu từ thời kỳ trị vì của vị quốc vương vĩ đại Phạ Ngừm đối với toàn bộ lãnh thổ rộng lớn của đất nước Lạng Xạn (Triệu Voi) ở cả đôi bờ Mêkông. Bắt đầu từ đây mọi bước thăng trầm của đạo Phật cũng là những bước thăng trầm của đất nước này. Đi dọc con sông Mêkông hùng vĩ, chúng tôi có cảm giác như tiếng chuông chùa vọng ra từ những khối cổ thụ bồ đề đang ru các bản làng của người Lào chìm vào giấc ngủ êm đềm với sự thanh thản của tâm hồn giữa cảnh vật yên bình, cô tịch của non sông tráng lệ.

Rừng núi Thượng Lào âm u,  kỳ vĩ

Thượng Lào có 11 tỉnh thì chúng tôi đã vượt qua tới 9 tỉnh. Các tỉnh được tìm hiểu tương đối kỹ là Luông Nậm Thà, Bó kẹo, Xiêng Khổng và Luông Pra Bang.

Luông Nậm Thà là tỉnh duy nhất có biên giới với cả Trung Quốc và Myanmar. Đường biên với Myanmar chính là đoạn sông Mê Kông đầu tiên chảy vào lãnh thổ Lào. Thượng Lào là nơi cư trú chủ yếu của các tộc Lào Sủng theo tín ngưỡng dân gian, thường thờ thần linh nhưng rất quý trọng đạo Phật, và trân trọng các ngôi chùa. Chùa chủ yếu là của người  Lào Lùm (sống xen kẽ) và của một bộ phận người Lào Thơng. Lào Lùm. Lào Thơng và Lào Sủng là 3 nhóm cấu thành cư dân nước Lào, trong đó Lào Lùm là người đa số (như người Kinh ở Việt Nam).

Chúng tôi đã dùng xe hơi đi ngang dọc lãnh thổ 2 tỉnh vùng cực Tây Bắc Lào nằm trong miền đất Tam Giác Vàng là Bó Kẹo và Luông Nậm Thà. Đó là những con đường rừng hẻo lánh, nhiều đoạn lầy lội, còn rất nhiều mìn chưa gỡ hết. Đây cũng là xứ sở cây anh túc của người Lào.

Ông giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Luông Nậm Thà là Ka Nông Thông cho biết, tỉnh đã có một huyện là Na Lê vừa thanh toán xong các cánh đồng thuốc phiện được quốc tế công nhận. Luông Nậm Thà chỉ có 15% diện tích tự nhiên là đất bằng, còn lại toàn là núi. Biên giới đất liền với Trung Quốc dài 145 cây số. Biên giới Mê Kông với Miến Điện dài 130 cây số. Chính quyền rất khó quản lý, không kiểm soát được việc đi lại và vận chuyển ma túy, nhất là đường biên Mê Kông. Vùng đất lưu vực hữu ngạn Mêkông bên Myanmar do 3 nhóm tự trị cai quản. Chúng hay xung đột lẫn nhau, chính phủ Miến không kiểm soát được nên phải đặt cửa khẩu ở sâu trong đất liền tới 30 cây số. Tình hình đó đặt cửa khẩu Lào ở bờ sông bên này vào thế đơn thương độc mã rất khó tác chiến với bọn xấu. Yếu tố bất ổn đã tạo điều kiện cho ma túy thâm nhập vào Lào để tiếp tục sang Trung Quốc và Việt Nam. Thỉnh thoảng vẫn xảy ra đụng độ giữa bọn buôn ma túy người Miến và người Lào do thanh toán không sòng phẳng. Chính phủ Lào đã từng bỏ tù nhiều nhân viên nhà nước dính dáng tới các đường dây này.

Huội Xai, tỉnh lỵ của tỉnh Bó Kẹo, nằm trên bờ Mê Kông. Bó Kẹo có 98 cây số Mê Kông là biên giới với Miến và với Thái (tiếp theo đoạn Mê Kông của Luông Nậm Thà). Thủ phủ của sơn trấn này là một đô thị thanh bình, thơ mộng, là cửa khẩn quốc tế thông với Xiêng Khổng của Thái lan bên bờ hữu. Thành phố có khá nhiều chùa và tu sĩ. Chúng tôi tới thăm một ngôi chùa cổ có tên là Thạt Phá Khăm, có ngôi tháp 1000 năm tuổi nằm trong lòng một ngôi tháp mới được xây bao trùm lên. Chùa tọa lạc ngay bờ sông trên đỉnh đồi, một vị trí rất đẹp, nhìn xuống dòng chảy Mê Kông và nhìn sang tỉnh Chiêng Rai của Thái Lan. Thật không ngờ, một thị trấn giữa núi rừng âm u hẻo lánh mà có được một tòa kiến trúc lộng lẫy và bề thế đến thế. Cổng chùa là một cầu thang nối con đường bờ sông với sân chùa trên đỉnh đồi có hàng trăm bậc với 2 dãy lan can là đôi rồng vàng rực rỡ dài hàng chục mét. Đứng trên sân chùa rợp bóng Cham Pa cổ thụ (tức cây sứ lớn), bạn tha hồ chiêm ngưỡng vẻ đẹp huyền ảo mơ  màng của dòng Mê Kông êm đềm trôi xuôi giữa đôi bờ núi non trùng điệp. Một tốp các vị sư trẻ (khoảng từ 7 đến 12 tuổi) đang ngồi chăm chú đọc kinh trên nền điện thờ với nét mặt ngây thơ và thánh thiện. Hầu hết con trai các gia đình Lào đều đi tu có thời hạn, thường là mấy tháng hoặc mấy năm, thậm chí có người chỉ vào chùa một vài tuần. Sứ mệnh của tu sĩ ngắn hạn là vào chùa để tu rèn đạo đức, thấm nhuần triết lý và nhân sinh quan Phật giáo, noi theo lý tưởng của Đức Phật, cầu phúc cho cha mẹ và tích đức cho con cháu. Anh Bun Chom, Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Quốc gia Lào, người hướng dẫn chúng tôi đã từng đi tu 6 năm hồi còn đi học.

Trong khuôn viên chùa còn có một phòng xin xăm và một bức tượng nữ thần nhìn xuống dòng sông. Nhìn chung, Phật giáo ở Lào vì có dung nạp những tín ngưỡng dân gian nên rất thân thiết với toàn xã hội và rất dễ đi vào lòng người. Huội Xai có rất nhiều chùa nhưng Thạt Phá Khăm có thể được xem như một biểu tượng văn hóa tiêu biểu của núi rừng biên cương, có sức sống trường tồn và mạnh mẽ.

Lướt đi trong cõi mộng

Cho tới tận bây giờ, kể cả lúc đang viết những dòng chữ này, mỗi lần nhớ lại, lòng tôi lại tràn ngập một cảm giác bâng khuâng về chuyến đi kỳ lạ đó. Nó thật sự bàng hoàng, ngây ngất và khiếp đảm. Đó là chuyến đi có một không hai trên mặt nước Mê Kông, một giang trình kỳ ảo như trong mộng, xuyên qua Tam Giác Vàng, lướt nhanh trong gió, với tốc độ kinh hồn trên hai chiếc xuồng máy siêu tốc mong manh như lá tre, lao đi như bay, ngoằn ngoèo giữa các khe đá lởm chởm của một rừng phiến thạch nhấp nhô mọc trên mặt nước Mêkông lạ lùng như một trận đồ bát quái.

Đó là một buổi sáng cuối xuân ở cao nguyên Thượng Lào trên dòng sông bên giới. Mây trời bàng bạc phủ ánh sáng dịu dàng lên khắp dải núi rừng biên cương Lào-Miến mênh mông và cô tịch. Bến đò Xiêng Cốc vắng người ẩn trong một khe núi đồ sộ. Dòng Mê Kông trong xanh lơ đãng, uốn mình theo thế núi, chậm chạp trôi xuôi như đang dưỡng sức sau một cơn vật lộn với thác ghềng ở phía thượng lưu chỉ cách đó một cây số.

Chúng tôi có sáu người ngồi trên hai chiếc xuồng máy nhỏ xíu bằng composite lắp động cơ cực mạnh. Bốn ống xả khói cuộn vào nhau thành một, tháo hết thiết bị giảm thanh để đạt tốc độ tối đa. Người ta báo trước:tốc độ trung bình là 70km/giờ, và thường xuyên phải tăng tốc để bay qua những xoáy nước sâu hoắm nếu không muốn nó cuốn xuống đáy sông, và phải uốn lượn thật nhanh để tránh những khối đá khổng lồ ngăn  lối trên suốt lộ trình nếu không muốn con thuyền tan xác trong nháy mắt. Máy quay phim phải được bọc vào 2 túi ni-lông để tránh các tia nước cực mạnh lướt ngược mạn thuyền và phải ôm thật chặt để khỏi bật ra khỏi tay. Hành lý đặt ở đáy thuyền dưới một lớp lưới chằng bọc vững chắc để khỏi văng xuống dòng sông. Áo phao cứu sinh chỉ để trang trí và có tác dụng trấn an về mặt tâm lý, vì nếu đụng đá hoặc bị cuốn vào xoáy nước, tất cả đều tan xác và chìm ngay tức khắc. Chúng tôi được báo là không thể nói chuyện với nhau trên thuyền vì tiếng động cơ sẽ cực lớn.

Vậy là đoàn lữ hành 6 người rời bến Xiêng Cốc cô liêu huyền bí, như cuộc chia tay với một bến đò hiu quạnh nào đó của các anh hùng Lương Sơn Bạc, để dấn thân vào cuộc phiêu lưu mạo hiểm khôn lường. Chỉ vừa mới làm quen với Xiêng Cốc được khoảng 2 giờ, vậy mà lúc chia tay lòng vẫn tràn đầy lưu luyến như phải từ giã một “bến xưa” với cảm giác bồi hồi, bởi đây là chuyến ra đi không trở lại, và bởi Xiêng Cốc quá nên thơ, u ẩn đến mê hồn.

Rời bến được khoảng một cây số thì cặp thuyền bắt đầu tăng tốc. Hai con thuyền mảnh mai, lả lướt, hình dáng đầy gợi cảm mà người ta thường thấy thấp thoáng trong các áng thơ Đường, lập tức trở thành những con quái vật trên sông, xé nước lao đi như tên bắn với tiếng gầm rú man rợ vang trời, làm chúng tôi bàng hoàng như lãng du vào cõi mộng. Một thế giới ghềnh đá nhấp nhô muôn hình vạn trạng giăng khắp mặt sông, tạo nên những luồng lạch nhỏ loang loáng vút ngược mạn thuyền làm mọi người rợn tóc gáy. Những lúc thuyền bay qua xoáy nước rồi rơi lại mặt sông có thể làm bạn thót tim, và một cảm giác tiếp theo lâng lâng như đang ngồi trên tấm thảm thần Ba Tư trong truyện Ngàn lẻ một đêm. Phải 30 phút sau, tất cả mới định thần để hiểu rằng mình đang có diễm phúc đắm mình trong một cõi thần tiên mà trước đây dù có mơ cũng không thể thấy. Đó là một thế giới vừa thơ mộng vừa dữ dội, vừa tĩnh lặng, vừa tràn ngập âm thanh được thêu dệt bằng hình ảnh mây trời bát ngát, sông nước mênh mông, núi non hùng vĩ, rừng già sâu thẳm, cảnh vật hoang vắng cô liêu, bao trùm lên hai con thuyền lẻ loi lao đi không bờ bến, quằn quại, điên rồ, lênh đênh trong sóng nước. Đôi bờ Mê Kông toàn là núi rừng trùng điệp, cảnh sắc thiên nhiên thực sự thanh vắng, mơ màng. Thỉnh thoảng xuất hiện bên tả, hoặc bên hữu một ngọn tháp chói vàng vút thẳng lên trời cao, dưới chân là một tòa kiến trúc lộng lẫy, rực rỡ ẩn dưới bóng cây rừng, vừa bí ẩn, vừa kiêu hãnh. Đó chính là những ngôi chùa Phật giáo Nguyên thủy với mái cong ba lớp so le theo trường phái kiến trúc Thái tộc rất độc đáo, rải rác khắp miền trung lưu của dòng sông vĩ đại.

Biết bao cảm xúc lạ lùng liên tiếp xuất hiện trên cái lộ trình kỳ lạ và bạo liệt đó mà không thể bình luận hoặc chia sẻ với ai, bởi một lẽ đơn giản là có gào thét vào tai người ngồi cạnh thì anh ta cũng chẳng nghe thấy gì. Vậy nên tất cả đều câm lặng để cho dòng suy tưởng thả sức triền miên bay theo mây trời gió núi. Thỉnh thoảng gặp một khúc sông rộng, chảy chậm, ít ghềnh đá, hai con thuyền mới tạm thôi gầm rú, rồi tự trôi giữa mặt nước mênh mông để du khách có thể bình tâm mà nhận ra rằng họ đang lênh đênh giữa miền đất Phật, bởi đây là lúc mà tiếng chuông chùa ven sông ngân vang trong tĩnh lặng có thể “đáo khách thuyền” một cách êm ả, thanh bình và gợi cảm nhất. Đó cũng là lúc mà nếu có "một cánh chim non lạc cuối ngàn” nào đó tình cờ xuất hiện, chắc chắn sẽ nằm gọn trong ống kính của chúng tôi để trở thành một trong những khoảnh khắc nao lòng nhất của “Mê Kông ký sự”.

Không thể miên man mãi với hình ảnh những ngọn tháp cao vút, những ngôi cổ tự tư lự trên bờ, những tiếng chuông chùa xa vắng, những cánh chim cô đơn, những khối núi xa mờ dưới nắng xuân vàng lạt, những cánh rừng thăm thẳm âm u, những áng mây cuối trời tiếp giáp với mặt nước…, bởi chúng tôi nhận ra rằng đây không chỉ là đất Phật, là cõi bồng lai, mà còn là sào huyệt của bọn lục lâm khét tiếng, với cái tên giang hồ ngạo mạn: “miền đất tam Giác Vàng”, mà chúng tôi đã có dịp đề cập tới trong một bài báo trước.

Trời mưa ở Tam Giác Vàng

Mê Kông có khoảng 500 cây số chảy trong lãnh thổ của Tam Giác Vàng từ Trung Quốc qua Myanmar, tới Lào và Thái Lan. Đó cũng là một trong những đoạn có phong cảnh đẹp nhất trên suốt lộ trình dài 4880 cây số của nó. “Mêkông Tam Giác Vàng” không chỉ hùng vĩ đôi bờ mà còn vô cùng tráng lệ trên mặt nước. Đó mới chính là nét độc đáo vô song của dòng sông kể từ thượng nguồn. Tam Giác Vàng không chỉ là lãnh địa đầy bí ẩn của tội ác và ma túy, là cõi thiên thu huyền ảo của thiên nhiên, mà còn là mảnh đất đầu tiên kể từ thượng nguồn mà Phật giáo Nguyên thủy bắt đầu ngự trị. Dòng sông dài gần 5000 cây số ra đi từ chân các núi tuyết cao năm, sáu, bảy ngàn mét, chảy qua lãnh thổ của Phật giáo Tạng truyền, dài khoảng 1.400 cây số; tiếp theo là phần đất của Phật giáo Đại thừa và các tín ngưỡng dân gian bản địa khác, dài khoảng 800 cây số. Phần còn lại bắt đầu từ Nam Bộ Địa khu Tư Mao và toàn châu tự trị Xi Xoang Ba Na (tức Tây Song Bản Nạp), nơi cư trú của cư dân Thái tộc thuộc tỉnh Vân Nam, ra tới bờ biển, dài khoảng 2700 cây số, chủ yếu là địa bàn cư trú của các Phật tử Tiểu thừa xen với một vài tín ngưỡng bản địa khác, trong đó có phần chảy trong lãnh thổ Nam Bộ Việt Nam có cả Phật giáo Nguyên thủy và Đại thừa. Những ngôi chùa mà chúng tôi bắt gặp từ miền Nam tỉnh Vân Nam xuống tới trung tâm Tam Giác Vàng này và xuống mãi tận phương Nam, trên cả đôi bờ tả hữu đều có một dáng vẻ tương tự: Đó là phần mái nhiều lớp, so le, chồng lên nhau, đồng thời là phần nổi bật nhất của toàn bộ tòa kiến trúc.

Du khách bị hút hồn bởi phong cảnh cực kỳ thơ mộng và hùng vĩ của các ngã ba sông biên giới đầy bí ẩn và tai tiếng, mà người ta gọi là “Trung tâm Tam Giác Vàng", trong nhiều giờ đồng hồ cho tới khi mặt trời xế núi. Tiếng chuông lúc chiều tà từ trên đỉnh đồi ngã ba sông bên đất Thái thúc dục chúng tôi đi tìm lữ quán. Xuôi về phía Nam khoảng 3 cây số, trên bờ Mêkông đất Lào có một quán trọ. Vừa đổ bộ lên bờ thì hoàng hôn cũng bắt đầu bao trùm lên toàn cõi biên thùy ba nước. Quán trọ tọa lạc trong một thung lũng biệt lập hoàn toàn thanh vắng, chủ nhân là một bác sĩ y khoa bỏ nghề sống với vợ và hai cô con gái. Ông khuyên chúng tôi nên viếng thăm ba khu thương mại và giải trí ở trung tâm Tam Giác Vàng, đó là hòn đảo Sao của Lào, sòng bạc bên đất Miến và thị trấn Sob Ruak của Thái có ngôi chùa 1200 năm tuổi. Chiều hôm đó, đoàn làm phim gặp một trận mưa nguồn hiếm có kéo dài tới tận sáng hôm sau. Trên khắp các nẻo đường tìm kiếm và tiếp cận Mê Kông rất ít khi gặp mưa nên chúng tôi coi đây là một sự may mắn. Mây đen từ trên một rặng núi xa mờ bên đất Thái kéo sang cuồn cuộn trong ánh chiều chập choạng rồi xối xả tuôn nước xuống núi rừng Thượng Lào rậm rạp. Mưa vốn đã buồn, mưa rừng càng buồn, mưa đêm ở chốn biên thùy nơi đất khách heo hút lại càng tê tái. Đêm nằm nghe mưa rơi rả rích, vừa buồn nhớ quê hương vừa nhận ra rằng, mình đang qua đêm ở một miền đất lừng danh thế giới còn rất ít người đặt chân tới. Miên man mãi và rồi bỗng nhớ tới mấy câu thơ của Huy Cận:

Đêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn…

Trong đời một con người có biết bao cơn mưa không thể nào quên, nhưng “mưa ở Tam Giác Vàng” đâu phải ai cũng có dịp từng trải. Trận mưa rừng buồn bã và mãnh liệt đó đã trở thành một dấu ấn khó quên đối với chúng tôi trong chuyến phiêu lưu trên dòng Mê Kông đầy thác ghềnh hiểm trở, kéo dài suốt 500 cây số với biết bao nỗi bâng khuâng lưu luyến, ngẩn ngơ, thán phục, thậm chí khiếp đảm, hãi hùng.

Sáng hôm sau, đợi cho trời tạnh hẳn, chúng tôi làm theo lời khuyên của ông bác sĩ rồi tiếp tục xuôi dòng. Càng dấn sâu vào mặt nước Mê Kông càng thấy tạo hóa quyền năng là bậc thầy của nghệ thuật tạo hình. Hàng trăm cây số mặt nước là cả một bức đại trường họa tài tình và diễm lệ. Hàng triệu khối đá đủ mọi hình thù lạ lùng ngoạn mục, hình như không phải được hình thành một cách tình cờ do hoạt động kiến tạo địa cầu, mà là được đẽo gọt một cách công phu và xếp đặt khéo léo dưới bàn tay của một nghệ sĩ thiên tài. Cảm giác kinh ngạc, ngây ngất cứ thế dồn dập xuất hiện khi hai con thuyền mong manh lao vút đi trong gió núi. Chúng tôi thực sự đang rơi vào một mê hồn trận của thủy thần và thạch quái, đang dấn sâu vào mê lộ của Mêkông như lạc vào chốn thiên thai, được bao bọc hai bên bằng những khối núi khổng lồ, dựng đứng, lạnh lùng nhìn xuống dòng sông hoang vắng. Sau này trong đoạn phim “Mêkông Ký sự” miêu tả lại cảnh này, lời bình đã có đoạn viết: “Cảnh vật đôi bờ quá mơ màng và huyền ảo, nó lung linh như một chốn hoang đường. Hình như chúng tôi đang lặng lẽ tiến sâu vào một cõi thần tiên nào đó được tạo dựng bằng chính niềm đam mê của tạo hóa. Lúc này, nếu được nghe ca khúc Thiên Thai của Văn Cao, có lẽ Thượng đế sẽ thấu hiểu được thế nào là sự rung động của lòng người trước thiên nhiên huyền diệu”.

Hãy tưởng tượng, dải rừng đá lạ lùng, diễm lệ dài hàng trăm, hàng trăm cây số, ken đặc mặt nước Mê Kông lung linh soi bóng những khối núi hùng vĩ đôi bờ như vậy, trên thế gian còn nơi nào có? Đó là di sản của thời gian, của vận động kiến tạo, và là ân huệ của đất trời. Chúng đứng đó đã hàng triệu, hàng triệu năm nay, và chắc chắn càng về sau càng trở nên thân thiết đối với con người. Vậy mà đã có ý kiến nên nổ mìn phá đi, để cho tiện việc đi lại của tàu thuyền. Hãy hết sức cân nhắc trước một quyết định hệ trọng, nếu không sẽ bị hậu thế nguyền rủa. “Rừng đá Mê Kông” chỉ có thể ra đời một lần và chỉ có thể được tạo dựng dưới bàn tay của tạo hóa! Phá đi thì quá dễ, bởi đó chính là sở trường của con người!

Động Phật ở cuối giang trình

Tuyến mê lộ ghềnh đá dài gần nửa ngàn cây số, uốn lượn trong khe núi trùng điệp, sau khi băng qua miền đất Phật và trái tim của Tam Giác Vàng, đã kết thúc rất đẹp ở ngoại ô kinh thành cổ kính của đất nước Triệu Voi. Đó cũng chính là chiều dài của giang trình khủng khiếp, đẹp như mơ, mà đoàn người thám hiểm Mê Kông, ra đi từ đất Sài Gòn, đã thực hiện như trải qua một giấc mộng. Tuyến mê hồn trận bằng đá tưởng như bất tận đó không kết thúc buồn tẻ, không kèn, không trống, mà hết sức oai hùng bằng một Khải Hoàn Môn, cũng bằng đá, lồng lộng dưới bầu trời ngoại vi cố đô Luông Pra Bang thơ mộng. Cái “Giang Môn Quan” lung linh sơn thủy huyền ảo, tạm gọi là “khải hoàn môn” đó, chính là đoạn Mêkông rộng lớn nằm giữa một bên là dãy núi đá có cửa sông Nậm U và một bên là khối sơn thạch khổng lồ chứa trong lòng nó một Phật động lâu đời cheo leo trên vách đá dựng đứng.

Trước khi thăm Phật động, chúng tôi thả thuyền nơi cửa sông Nậm U để chiêm ngưỡng một kỳ quan thiên nhiên khác cũng được mong đợi từ lâu, đặc biệt là đối với những du khách Việt Nam, đó là cửa sông Nậm U. Dòng nước Nậm U từ trong khe núi chảy ra, hòa vào Mê Kông thật êm đềm và lãng mạn. Trong làn nước trong xanh đó có một phần ra đi từ núi rừng Điện Biện Phủ, chảy giữa đôi bờ Nậm Rốm, lả lướt giữa cánh đồng Mường Thanh nổi tiếng, dồn nước cho Nậm U ở bên kia biên giới. Thì ra, mưa rơi trên đồi Độc Lập, đồi Him Lam, đồi A1 cuối cùng rồi cũng tới Mỹ Tho, Cần Thơ, để ra Trần Đề, Cửa Đại. Chỉ có điều là nó còn phải lang thang trên miền đất lạ, lãng du dưới các kinh thành Luông Pra Bang, Viên Chăn, Nông Pênh trước khi lại trở về với đất mẹ. Đã mấy ai chèo thuyền trên sông Tiền, sông Hậu hiểu được rằng dòng nước dưới mạn thuyền của họ lại có một phần đóng góp từ những trận mưa rừng xối xả ở tận miền Tây Bắc xa xôi!

Trờ lại Động Phật. Đây thực sự là một kỳ quan hùng vĩ, đối diện với cửa sông Nậm U ở bên kia bờ Mê Kông. Động có tên là Tham Tinh, hoặc còn gọi là Pak U vì nó nằm gần cửa sông Nậm U. Cửa Động ẩn mình trong thành núi đá vôi nhô ra sông. Động có 2 tầng. Tầng dưới là Tham Tinh, tầng trên là Tham Phun. Phải leo nhiều bậc thang dốc ngược có tay vịn mới lên được cửa hang. Từ trên cửa hang nhìn xuống, một vùng sông nước bao la được bao bọc bằng những dãy núi đá vôi cao ngất, trông giống như một hồ lớn tuyệt đẹp. Điều gây ấn tượng mạnh bao gồm cả cảnh quan huyền ảo bên ngoài và cả một khối lượng lớn tượng Phật đủ dạng ở trong hang. Hàng ngàn pho tượng Phật bằng đá, bằng gỗ, bằng đồng, bằng vàng đã tồn tại từ hơn 300 năm tại đây, với đủ loại kích cỡ từ nhỏ xíu tới dài vài mét. Tư thế cũng rất phong phú, chủ yếu là ngồi và đứng. Người ta đặt tên cho tượng theo các tư thế. Ví dụ: “Phật cầu mưa” là tượng đứng, hai tay xuôi, chỉ xuống đất; “Phật gọi thổ địa” mô tả sự giác ngộ và chiến thắng quỷ dữ, ma vương; hoặc “ Phật thiền định” là đặt tên theo tư thế ngồi thiền .v.v... Hang động này được nhà vua Sethathirat khám phá vào thế kỷ thứ 16, nhiều lần được chọn làm nơi cất giấu các bức tượng Phật quý giá những khi Luông Pra Bang có chiến tranh. Có một thời Phật động có Sư tới ở để trông coi, nay thì không còn, vì mọi người tin rằng hiện hang đã có Thần bảo hộ. Đây được coi là chốn thiêng liêng và đích hành hương của đông đảo Phật tử bốn phương. Trước kia, hàng năm vào dịp tết đón năm mới, các nhà vua Lào đều đến đây cử hành lễ thắp nến rất trang trọng để triều bái Phật tổ. Ngày nay, hàng năm vẫn diễn ra một cuộc hành hương ngoạn mục bằng thuyền trên sông Mêkông từ Luông Pra Bang tới đây, dài 25km, của đông đảo Phật tử đến dâng hương, thắp nến và chiêm bái Đức Phật như lễ hội Chùa Hương ở Việt Nam vậy.

Một thế giới ghềnh đá nhấp nhô muôn hình vạn trạng giăng khắp mặt sông, tạo nên những luồng lạch nhỏ loang loáng vút ngược mạn thuyền làm mọi người rợn tóc gáy. Những lúc thuyền bay qua xoáy nước rồi rơi lại mặt sông có thể làm bạn thót tim, và một cảm giác tiếp theo lâng lâng như đang ngồi trên tấm thảm thần. Phải 30 phút sau, tất cả mới định thần để hiểu rằng mình đang có diễm phúc đắm mình trong một cõi thần tiên mà trước đây dù có mơ cũng không thể thấy. Đó là một thế giới vừa thơ mộng vừa dữ dội, vừa tĩnh lặng, vừa tràn ngập âm thanh được thêu dệt bằng hình ảnh mây trời bát ngát, sông nước mênh mông, núi non hùng vĩ, rừng già sâu thẳm, cảnh vật hoang vắng cô liêu, bao trùm lên hai con thuyền lẻ loi lao đi không bờ bến, quằn quại, điên rồ, lênh đênh trong sóng nước. Đôi bờ Mêkông toàn là núi rừng trùng điệp, cảnh sắc thiên nhiên thực sự thanh vắng, mơ màng. Thỉnh thoảng xuất hiện bên tả, hoặc bên hữu một ngọn tháp chói vàng vút thẳng lên trời cao, dưới chân là những ngôi chùa lộng lẫy, rực rỡ ẩn dưới bóng cây rừng, vừa bí ẩn, vừa kiêu hãnh.
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 11 -THÁNG 12 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)