NỖI
ĐAU
TRONG
CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN
Thảo
Vy
“Khi
nào bạn bực tức, giận dữ, hãy bất động! Ngay tại đó!
Đừng cử động! Đừng làm gì cả! Đừng nói gì - dù chỉ
một lời. Hãy im lặng và bất động hoàn toàn. Tuyệt đối
không biết gì đến kẻ hoặc sự việc làm cho mình giận
dữ” (Hạn chế sân hận, trải rộng tình thương). Đoạn
văn này được Nguyễn Ngọc Tư (NNT) trích dẫn trong lời phi
lộ của Cánh đồng bất tận (CĐBT), một tác
phẩm văn học đang làm xôn xao dư luận.
NNT
viết: “Trời ơi, mình giận muốn chết, muốn gào thét,
muốn cào cấu, muốn đập phá mà không cho mình nhúc nhích,
sao có thể hả hê?”. Và trong CĐBT, chị đã đưa một
nỗi đau vào trong cõi hận.
CĐBT
được bao trùm bởi một nỗi hận: nỗi hận bị vợ bỏ.
Thành phần hận nặng nề hơn thành phần ghét bỏ. Lâu lâu,
chúng ta cũng được nghe tiếng thở than nẫu ruột trong máy
cassette: “Ôi đàn bà, đàn bà là những niềm đau…”,
hay lại thấy một chàng trai, một người trung niên, một cụ
già… vui vẻ cho người khác xem hình xăm chữ "hận đời"
bên cạnh trái tim bị mũi tên xuyên thủng, rớm những giọt
máu… màu xanh. Nỗi hận trong CĐBT ghê gớm hơn. Khởi đầu
chỉ là sự khó chịu, ghét những gì liên quan đến người
vợ. Nhưng dần dần nó phát triển thành ý muốn tiêu diệt
những gì có thể nhắc nhở đến người vợ ấy. Trước
hết là sự đánh đập đứa con gái chỉ vì nó giống mẹ.
Sau đó, nỗi hận ấy được nâng lên thành nỗi hận phổ
quát: hận tất cả đàn bà. Ở CĐBT, người đàn ông đốt
nhà của mình rồi dẫn hai đứa con và đàn vịt vào những
cánh đồng trong cõi hận. Phản ứng thù hận người vợ phụ
bạc là lẽ thường trong cuộc sống, nên nhiều độc giả
cảm thấy tâm lý ấy có thật. Nhưng khi nỗi hận tăng lên
đến mức:"Ôi đàn bà (nói chung)ø…” thì người đọc cảm
thấy quá dữ dội. Vì vậy, nỗi hận ấy vừa thực nhưng
vừa cường điệu.
Với
nỗi hận ghê gớm, người cha đã thực hiện việc trả thù…
toàn bộ giới phụ nữ. Ông ta quyến rũ họ, và khi họ vừa
bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ chồng, bỏ con để "cuốn gói" theo…
tiếng gọi tình yêu thì ông ta ngay lập tức bỏ rơi họ.
Nỗi hận ấy đã làm cho con người không ngượng ngùng, hổ
thẹn và không chùn tay, không sợ hãi khi làm điều sai xấu.
Hổ
thẹn là một thành phần của cái biết, làm cho con người
ta tự giác chấp nhận các quy tắc của đời sống xã hội.
Sự hổ thẹn đó nảy sinh từ những giá trị chung mà mỗi
cá nhân tự cho là đúng đắn và hợp lý. Chẳng hạn, mỗi
con người ở các địa vị khác nhau trong xã hội, việc ăn
mặc, đi đứng, nói năng, hành xử đều phải tuân theo quy
cách nhất định. Người cha trong CĐBT không có trách nhiệm
dạy bảo các con, cũng không che đậy các hành vi lừa dối
của mình. Sự thù hận là cái cớ làm cho ông không còn hổ
thẹn đối với những hành vi của mình. Tính không hổ thẹn
ấy có lúc đã được đám đông hưởng ứng. Đám đông trong
đầu câu chuyện đã “đánh hội đồng" một người đàn
bà một cách hăng say mà không hổ thẹn. Trong khi, hổ thẹn
làm người ta do dự và tránh các việc sai xấu, và sự do
dự này là tốt và cần thiết cho sự ổn định xã hội.
Sợ
hãi là một thành phần khác của cái biết, làm cho người
ta ngần ngại khi hành động xấu. Người cha đã lừa dối,
dụ dỗ những người phụ nữ cả tin. Sau đó ông bỏ rơi
họ (cho bỏ ghét), mà không sợ hậu quả xấu sẽ đến cho
mình và cho các đứa con của mình. Trong các loại không sợ
hãi, thì không sợ quả báo là loại suy nghĩ làm cho xã hội
mất ổn định nhất, vì mọi hành vi đều không bị giới
hạn, miễn là thoát khỏi sự phán xét của công luận và
luật lệ.
Hổ
thẹn và sợ hãi đóng vai trò như cái phanh kìm hãm con người
làm điều sai xấu, và là bước đầu dẫn tới sự tự điều
chỉnh của bản thân. Hai thành phần này làm cho cách xử sự
của xã hội trở thành văn minh. Hổ thẹn ngăn ngừa hành
vi sai xấu từ bên trong, sợ hãi ngăn ngừa hành động từ
bên ngoài. Nhân vật người cha đã sống trong một “cõi”
không có hai yếu tố quan trọng này, nơi không có các trật
tự, luật lệ thông thường của con người. Trong “cõi”
đó, “… không thể phân biệt được đây là mẹ hay là
em, chị của mẹ; đây là vợ của anh (hay em) của mẹ;
đây là vợ của thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng.
Và thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê,
loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài chó sói…”, nghĩa là
chuyện loạn luân sẽ xảy ra. Khi sự mê muội hoạt động
thì các yếu tố bản năng như tình dục (tham dục) trở nên
mạnh mẽ và sai lệch. Trong nhiều chi tiết của câu chuyện
yếu tố tình dục chi phối mạnh, nhưng do miêu tả quá đậm
đã làm cho câu chuyện trở nên u ám hơn.
CĐBT
là sự thiếu vắng của ánh sáng, nên câu chuyện dường như
diễn ra trong nền cảnh màu xám của các cơn mộng. Sự thiếu
vắng của ánh sáng là đặc trưng của sự tối tăm (si ám).
Trạng thái tối tăm này không phải là do sự thất học, bởi
có những người trình độ học vấn cao nhưng lối sống vẫn
rất tối tăm. Người cha ấy tựa như người đi trong đêm
tối, đã rời bỏ chỗ ở của mình, mang theo hai đứa con
trong một hành trình vô định. Chính do sự mê muội, ông luôn
tạo ra nhiều nguyên nhân cho đau khổ trổ quả. Sự mê muội
ấy làm người đọc vừa thương vừa giận.
Sự
tăm tối được thúc đẩy bởi lòng tham, nóng giận hay sự
suy nghĩ sai nên đã gây ra không ít điều ác. Người cha bị
thúc đẩy bởi lòng thù hận người vợ phụ mình, đã tạo
ra nhiều tội lỗi. Tuy vậy, người cha vẫn lờ mờ cảm thấy
một trách nhiệm đối với hai đứa con của mình. Chi tiết
ông mua cho đứa con gái cái nhẫn để dành đám cưới cũng
như việc “cởi cái áo trên người để đắp lên đứa con
gái. Ông ta bò quanh nó, tìm bất cứ cái gì để có thể che
cơ thể nó dưới ánh mặt trời ”, cho thấy tình thương
và sự hối hận của người làm cha đã sống dậy. Điều
đó làm cho câu chuyện có lối thoát.
Điểm
nổi bật của CĐBT là thông điệp: hãy sống nhân ái để
khỏi bị quả báo khổ. Nguyên lý nhân quả này là một loại
nguyên lý bảo toàn trong đời sống. Thời nay, chúng ta phải
chứng kiến một nghịch lý, lớp trẻ, cần phải có một
nguyên tắc sống, nhưng họ tin hoàn toàn vào nguyên lý bảo
toàn trong tự nhiên, và không biết gì lắm về nguyên lý bảo
toàn trong đời sống. Trong khi đó, các bà già “trầu”,
còn sống chẳng bao lâu, thì lại tin vào nguyên lý bảo toàn
trong đời sống - rằng làm điều sai xấu thì phải chịu
quả báo - chẳng hiểu và cũng chẳng cần phải hiểu đến
các nguyên lý bảo toàn trong tự nhiên. Ở đây, CĐBT không
chỉ nhằm mô tả hiện thực mà dùng hiện thực để nói
lên vấn đề nhân quả. Một người trẻ như NNT mà có
thể thâm nhập vào nguyên lý nhân quả dưới dạng cụ thể
như vậy cũng là điều đáng mừng. Nó cho thấy giới trẻ
vẫn còn quan tâm đến các kết luận có giá trị vốn đã
ăn sâu trong truyền thống văn hoá của dân tộc.
Nếu
không có lời phi lộ và không có sự báo ứng thì CĐBT cũng
chỉ nằm khuất đằng sau cái bóng của Trăm năm cô đơn.
Nó làm ta nhớ tới Giọt máu của Nguyễn Huy Thiệp với câu
mở đầu “đem chuyện trăm năm giở lại bàn”. Điểm khó
khăn cho những nhà văn muốn chuyển CĐBT thành phim là, nếu
không khéo, bộ phim sẽ trở thành sự phô diễn cho một cuộc
sống dữ dội, bản năng với những ám ảnh tình dục không
lối thoát.
CĐBT
được mô tả với một ngòi bút tế nhị, nhiều khi có sự
thông cảm, có lòng thương xót đối với người và vật (như
những chú vịt hiểu ý người). Tuy nhiên, cũng có độc giả
cho rằng, do để nhân vật kể chuyện là con gái của người
chăn vịt, người trải qua những cảnh khổ, nên nhiều chi
tiết không hợp lý. Có nhiều người cảm thấy ngộp vì tính
cách dữ dội, tàn nhẫn của câu chuyện.
Văn
học Việt Nam hiện nay cũng có nhiều tác giả viết rất dữ
dội. Tuy nhiên cách xử lý của NNT có sự khác biệt. Nguyễn
Ngọc Tư đã mô tả cuộc sống bản năng của một gia đình,
cô lập nó ra khỏi ảnh hưởng của các quan niệm và các
ý thức hệ xã hội. Có nhà phê bình cho rằng “cánh
đồng” ở đây là “cánh đồng cuộc đời”
và “Tư đã đưa ngòi bút của mình ra khỏi nhà, khỏi xóm,
đến với cánh đồng. Hình như phải sống giữa đất trời
mới ra con người Nam Bộ, cả sự ngang tàng lẫn nỗi đau
đớn”. Nếu “cánh đồng cuộc đời” mà như
vậy thì quá khủng khiếp.
Trong
những mối tương tác với nhiều loại quan hệ xã hội phức
tạp (vốn có ở đồng bằng sông Cửu Long), với những yếu
tố mới trong thời đại toàn cầu đang len lỏi vào tâm trí
con người Nam Bộ, mong rằng sắp tới, tác giả sẽ có những
tác phẩm mang hơi thở thời đại hơn mà vẫn đầy tính nhân
bản.