VẬT
LÝ LƯỢNG TỬ
VÀ
PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA
Lưu
Chấn Thành
Từ
khi quyển “Đạo của Vật Lý” của Capra được xuất bản
năm 1976, càng khiến cho giới khoa học quan tâm hơn nữa về
sự hội tụ giữa ngành Vật lý hạt và Phật học, đặc
biệt là sự xác nhận mới đây về những tương tác không
định xứ giữa các hạt (mà Einstein bác bỏ, coi như là “một
tác động ma quái từ xa”).
Các
thí nghiệm trong Vật lý lượng tử dường như đã chứng
minh rằng cần một quan sát viên có mặt để làm cho khả
năng trở thành hiện thực. Việc này có nhiều tương đồng
với khái niệm SUNYATA (Không) của Phật giáo Đại thừa.
Sunyata
thường được dịch sang tiếng Anh là “emptiness” (sự trống
rỗng), mặc dầu trong tiếng Phạn gốc nó còn có nghĩa là
tiềm năng.
Vật
lý lượng tử là một thành tựu nổi bật trong việc mô tả
toán học về hình thái của vật chất và năng lượng ở
mức độ các hạt cơ bản. Không có khác biệt nào giữa những
tiên đoán của thuyết lượng tử và quan sát thực nghiệm
nào đã được tìm thấy từ trước đến nay (Penrose, 1990).
Nên
lưu ý rằng, giá trị của một lý thuyết khoa học thường
được đánh giá bằng sức mạnh tiên đoán của nó hơn là
sức mạnh mô tả của nó. Những lý thuyết chỉ hoàn toàn
là mô tả, thay vì tiên đoán một cách có thể thử nghiệm
được, thì ít hoặc không có giá trị khoa học.
Điều
quan trọng cần nhấn mạnh rằng những phương trình toán học
của Vật Lý Lượng tử không mô tả sự hiện hữu thực
sự. Chúng tiên đoán tiềm năng hiện hữu việc phát triển
những phương trình của Cơ học Lượng tử cho một hệ thống
gồm những hạt cơ bản, cho ra một loạt vị trí, giá trị
số và thuộc tính tiềm ẩn của những hạt tiến hóa, và
thay đồi theo thời gian. Nhưng đối với bất cứ hệ thống
nào, chỉ có một trong những trạng thái tiềm ẩn này có
thể trở thành hiện thực, và đây là khám phá cách mạng
của vật lý lượng tử. Cái gì bắt buộc một loạt tiềm
năng đảm nhận một tự số nào đó, thì đó là hành động
của quan sát. Vật chất và năng lượng tự nó không phải
là một hiện tượng, và không trở thành hiện tượng cho
đến lúc quan sát được chúng. Nhiều thí nghiệm cho ta một
cảm nhận nào đó về sự tương tác của trí tuệ và vật
chất ở mức độ cơ bản của hiện hữu.
Sunyata
lượng tử
Về
cơ bản, thuyết lượng tử nói rằng, những hạt cơ bản
bị trống rỗng về hiện hữu cố hữu và chỉ hiện hữu
trong một trạng thái không xác định của các tiềm năng.
Chúng không có sự hiện hữu cố hữu từ phía chính nó, và
không trở nên “hiện thực” cho đến lúc một trí tuệ
tương tác với chúng và cho chúng một ý nghĩa. Ở bất cứ
nơi nào và bất cứ cách nào, không có trí tuệ thì không
có ý nghĩa và không có hiện thực. Đây là một kết luận
giống như lời dạy của Phật giáo Đại thừa về Không (Sunyata).
Vũ
trụ lượng tử
Biểu
hiện cuối cùng của Sunyata lượng tử là khi thuyết Lượng
tử được áp dụng cho toàn thể vũ trụ. Theo một số nhà
vũ trụ học, vũ trụ đã bắt đầu bằng một sự hỗn loạn
lượng tử trong một cái KHÔNG vô tận (giả thuyết của Hartle-
Hawking). Vũ trụ vẫn còn là một chồng chất lượng tử khổng
lồ của tất cả trạng thái khả dĩ cho đến lúc trí tuệ
nguyên thủy đầu tiên quan sát nó, làm cho nó sụp đổ thành
một hiện thực. Lý thuyết hấp dẫn này được thảo luận
trong nguyên lý về sự tham gia của con người (Participatory
Anthropic Principle).
(Theo
http://www.geocities.com/scimah/index.htm/)