.
.SỐ 11 -THÁNG 12, 2005.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 11-THÁNG 12, 2005

 

 

VẬT LÝ LƯỢNG TỬ 
VÀ PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA
Lưu Chấn Thành

Từ khi quyển “Đạo của Vật Lý” của Capra được xuất bản năm 1976, càng khiến cho giới khoa học quan tâm hơn nữa về sự hội tụ giữa ngành Vật lý hạt và Phật học, đặc biệt là sự xác nhận mới đây về những tương tác không định xứ giữa các hạt (mà Einstein bác bỏ, coi như là “một tác động ma quái từ xa”).

Các thí nghiệm trong Vật lý lượng tử dường như đã chứng minh rằng cần một quan sát viên có mặt để làm cho khả năng trở thành hiện thực. Việc này có nhiều tương đồng với khái niệm SUNYATA (Không) của Phật giáo Đại thừa.

Sunyata thường được dịch sang tiếng Anh là “emptiness” (sự trống rỗng), mặc dầu trong tiếng Phạn gốc nó còn có nghĩa là tiềm năng.

Vật lý lượng tử là một thành tựu nổi bật trong việc mô tả toán học về hình thái của vật chất và năng lượng ở mức độ các hạt cơ bản. Không có khác biệt nào giữa những tiên đoán của thuyết lượng tử và quan sát thực nghiệm nào đã được tìm thấy từ trước đến nay (Penrose, 1990).

Nên lưu ý rằng, giá trị của một lý thuyết khoa học thường được đánh giá bằng sức mạnh tiên đoán của nó hơn là sức mạnh mô tả của nó. Những lý thuyết chỉ hoàn toàn là mô tả, thay vì tiên đoán một cách có thể thử nghiệm được, thì ít hoặc không có giá trị khoa học.

Điều quan trọng cần nhấn mạnh rằng những phương trình toán học của Vật Lý Lượng tử không mô tả sự hiện hữu thực sự. Chúng tiên đoán tiềm năng hiện hữu việc phát triển những phương trình của Cơ học Lượng tử cho một hệ thống gồm những hạt cơ bản, cho ra một loạt vị trí, giá trị số và thuộc tính tiềm ẩn của những hạt tiến hóa, và thay đồi theo thời gian. Nhưng đối với bất cứ hệ thống nào, chỉ có một trong những trạng thái tiềm ẩn này có thể trở thành hiện thực, và đây là khám phá cách mạng của vật lý lượng tử. Cái gì bắt buộc một loạt tiềm năng đảm nhận một tự số nào đó, thì đó là hành động của quan sát. Vật chất và năng lượng tự nó không phải là một hiện tượng, và không trở thành hiện tượng cho đến lúc quan sát được chúng. Nhiều thí nghiệm cho ta một cảm nhận nào đó về sự tương tác của trí tuệ và vật chất ở mức độ cơ bản của hiện hữu.

Sunyata lượng tử

Về cơ bản, thuyết lượng tử nói rằng, những hạt cơ bản bị trống rỗng về hiện hữu cố hữu và chỉ hiện hữu trong một trạng thái không xác định của các tiềm năng. Chúng không có sự hiện hữu cố hữu từ phía chính nó, và không trở nên “hiện thực” cho đến lúc một trí tuệ tương tác với chúng và cho chúng một ý nghĩa. Ở bất cứ nơi nào và bất cứ cách nào, không có trí tuệ thì không có ý nghĩa và không có hiện thực. Đây là một kết luận giống như lời dạy của Phật giáo Đại thừa về Không (Sunyata).

Vũ trụ lượng tử

Biểu hiện cuối cùng của Sunyata lượng tử là khi thuyết Lượng tử được áp dụng cho toàn thể vũ trụ. Theo một số nhà vũ trụ học, vũ trụ đã bắt đầu bằng một sự hỗn loạn lượng tử trong một cái KHÔNG vô tận (giả thuyết của Hartle- Hawking). Vũ trụ vẫn còn là một chồng chất lượng tử khổng lồ của tất cả trạng thái khả dĩ cho đến lúc trí tuệ nguyên thủy đầu tiên quan sát nó, làm cho nó sụp đổ thành một hiện thực. Lý thuyết hấp dẫn này được thảo luận trong nguyên lý về sự tham gia của con người (Participatory Anthropic Principle).

(Theo http://www.geocities.com/scimah/index.htm/)
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 11 -THÁNG 12 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)