SỰ
PHÂN CỰC TRONG TÔN GIÁO
Thái
Nam Thắng
Trên
thế giới hiện nay có khoảng hơn 20.000 tổ chức tôn giáo,
giáo hội, giáo phái khác nhau… hoạt động. Điều đó cho
thấy một điều ngược lại với các dự đoán, rằng khoa
học, kỹ thuật công nghệ phát triển thì tôn giáo sẽ mất
dần vai trò trong xã hội. Trong lịch sử, không ít lần, người
ta cố tình xô đẩy tôn giáo qua một phía, và tìm mọi cách
để chứng minh nó như là một rào cản cho sự “tiến bộ”
của con người. Cũng bằng những phép tính đơn giản, người
ta đã rút gọn tất cả các tôn giáo vào những định nghĩa
nhiều khi “tiêu cực” mà thực chất định nghĩa ấy chỉ
đúng với một hay một số tôn giáo nào đó mà thôi.
Trong
tình hình tôn giáo có nhiều biến động như hiện nay, bất
cứ một định nghĩa rút gọn nào về tôn giáo cũng là chưa
đầy đủ, bởi nó không còn dừng lại ở mức độ “hư
ảo” nữa, mà nó đã cụ thể thành đất đai, tiền của,
quyền lực, chính trị, ngoại giao…, đặc biệt khi một số
tôn giáo trở thành nhà nước, hay được thể chế hóa. Phần
lớn những chiến tranh, xung đột đang diễn ra trên thế giới,
về mặt hiện tượng đều xuất phát từ hai nguyên nhân chính:
tôn giáo và sắc tộc. Sự bành trướng tôn giáo đi liền
với sự bành trướng về văn hóa, và hơn hết nó tạo ra
những “lãnh thổ” không có đường biên giới. Từ “lãnh
thổ” này, tạo ra một cơ hội thuận lợi để có thể tiến
tới sự hợp nhất ngoạn mục đó chính là sự đồng hóa
văn hóa, bành trướng tôn giáo, và lập lên một “trật tự
tôn giáo mới” khi có đủ điều kiện xảy ra. Giáo hội,
về mặt thực tiễn là một tổ chức xã hội, dù có những
đặc điểm, vai trò riêng, nhưng muốn hay không, nó cũng thể
hiện vai trò chính trị của mình. Như vậy sẽ nảy sinh hai
mâu thuẫn còn tồn tại giữa việc xác định sinh hoạt tôn
giáo (như là hoạt động tôn giáo thuần túy) và thực tiễn
giáo hội (là một tổ chức chính trị xã hội).
Ở
Việt Nam, khi một số đạo như Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành
được công nhận như là một tôn giáo, thì khái niệm tôn
giáo càng không thể bó hẹp vào một nội dung nào. Bởi đó
chính là biểu hiện cho sự đa dạng của tự do tôn giáo…
Tuy nhiên, bên cạnh đạo Mẫu, Ngọc Phật Hồ Chí Minh, Vô
Thượng sư Thanh Hải…, lần lượt các “đạo lạ” khác
xuất hiện, pha tạp, hòa trộn trong mình nhiều hình thức
tôn giáo khác nhau, đã làm cho tình hình tôn giáo ngày càng
trở nên phức tạp. Các “đạo lạ” này không chỉ lôi
cuốn, hấp dẫn đối với người nghèo, người thất học,
người dân tộc thiểu số mà còn cả những trí thức, quân
nhân, người về hưu…
Khi
nhà nước công bố tình hình tôn giáo ở Việt Nam và đưa
ra con số rất “cụ thể” như 80% dân số Việt Nam không
có đạo, 20% dân số Việt Nam có đạo (đạo Phật khoảng
10 triệu người, Công giáo 6 triệu tín đồ… còn lại là
các tôn giáo khác). Trong khi thực chất, con số 80% ấy phần
lớn đều có đạo thờ ông bà tổ tiên và có tín ngưỡng
Phật giáo, nhiều người tự nhận mình là theo đạo Phật,
có cảm tình đạo Phật, hay chịu ảnh hưởng từ các nghi
thức tín ngưỡng Phật giáo nhưng chưa chính thức quy y Phật
giáo. Ngược lại, vì một lý do tế nhị nào đó, rất nhiều
người thực chất theo đạo Phật nhưng lại ghi trong hồ sơ
lý lịch... của mình là “không tôn giáo”. Khi công bố con
số dựa trên “văn bản cụ thể” trên đã không đánh giá
hết được xu thế tôn giáo trong xã hội, làm nảy sinh sự
phân định tôn giáo về mặt số lượng, tất yếu những
người có đạo, đặc biệt là những người không có đạo
sẽ trở thành đối tượng mở rộng tín đồ của một số
tôn giáo. Từ đó dẫn đến những cách thức mà một số
tôn giáo ứng xử với những đạo khác và những người không
có đạo, hoặc loại trừ, hoặc lên án, hoặc dụ dỗ, hoặc
ràng buộc bằng hôn nhân… Và một khi tôn giáo, giáo hội
ngày càng “thể chế hóa” thì tính phân cực, chia tuyến
tôn giáo trong xã hội càng cao.
Sự
lớn mạnh của các “đạo lạ” đến một lúc sẽ dẫn
đến việc công nhận tôn giáo, giáo hội. Trong khi đó, một
đặc điểm quan trọng của tôn giáo là truyền đạo. Nhưng
với một cách hiểu về giáo hội như: giáo hội phải bao
gồm giáo chủ, giáo lý, giới luật, nghi lễ, tập thể tu
sĩ, tu viện và tín đồ đã không nói lên hết vấn đề vốn
dĩ rất phức tạp trong tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi sẽ có
không ít “đạo” cố gắng để hội đủ những điều kiện
kể trên với mục đích là thành lập cho được giáo hội,
và thúc đẩy nhanh công việc truyền đạo... Trong khi, những
hành động truyền đạo “không chính thống” được coi
là hoạt động tôn giáo trái phép, truyền đạo trái phép…
Nhưng như thế nào là đúng phép… thì chưa thể nói cụ thể
được. Đơn cử, một số tôn giáo, giáo hội chính thức
đưa ra những điều luật bắt buộc trong hôn nhân để cải
đạo, buộc người khác theo đạo, trong khi pháp lệnh tôn
giáo quy định mọi người có quyền tự do theo hoặc không
theo tôn giáo. Như vậy, đó có được xem hành vi “truyền
đạo trái phép”, vi phạm pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
hay không? Cấm tín đồ không được thờ cúng ông bà tổ
tiên và các tín ngưỡng dân tộc khác có được xem là không
phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt hay không?…
Toàn
cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến nhiều mặt
của cuộc sống. Nếu như tình trạng các quốc gia phát triển
muốn áp đặt lên thế giới một trật tự mới, thì tôn
giáo, đặc biệt là tôn giáo có thế lực và tiền của hậu
thuẫn cũng muốn lập nên một “trật tự tôn giáo mới”,
tấn công mạnh mẽ vào các nền văn hóa, văn minh. Việc xâm
thực, mở rộng lãnh thổ tôn giáo không chỉ trình diễn bằng
“sự hợp nhất thánh thần”, mà biên cương của nó cũng
ngày càng được “hiện thực hóa” khi hoàn tất nhiệm vụ
đồng hóa văn hóa các “nước nghèo”, các dân tộc thiểu
số, thậm chí nhiều khi còn được hợp thức hóa thông qua
con đường ngoại giao, viện trợ kinh tế hay phát động chiến
tranh. Do đó, tôn chỉ của Liên hợp quốc là đa dạng các
nền văn hóa, văn minh, trở nên khó thực hiện hơn bao giờ
hết, khi các cuộc chiến tranh xung đột xảy ra chủ yếu vẫn
xuất phát từ hai nguyên nhân chính là sắc tộc và tôn giáo.
Trải
qua nhiều biến động của lịch sử, tôn giáo gần như vẫn
là một thách thức lớn đối với tư tưởng loài người,
mặc dù sự phân hóa, phân cực từ trong bản thân nó diễn
ra không kém phần sâu sắc. Một vài tôn giáo lớn đã từng
để lại vô số những đau thương không thể chối bỏ cho
lịch sử nhân loại. Cũng có không ít lần, một số tôn giáo
được “cách tân”, “thay hình đổi dạng” nhưng mục
đích tôn giáo thì vẫn được tuân thủ theo một hệ thống
trật tự giáo điều nhất định: “Thà mất dân tộc chứ
không để mất Chúa”. Chẳng hạn, một tôn giáo “độc
thần” thì không thể chấp nhận một nền văn hóa “đa
thần”, trong khi đa thần là một thuộc tính tín ngưỡng
phổ biến của hầu hết các dân tộc trên thế giới. Các
khái niệm nhân đạo, nhân văn xuất hiện ngày một nhiều
trong tôn giáo này, nhưng cho dù có gọi là “chủ nghĩa nhân
văn…” này, “chủ nghĩa nhân đạo…” kia mà không chấp
nhận sự khác biệt, đa dạng trong văn hóa thì dù có thay
hình đổi dạng như thế nào cũng chỉ là muốn lập nên một
thể chế tôn giáo “duy nhất đúng đắn” mà thôi.
Một
thực tế khác cho thấy, trong khi ở các nước phát triển,
tỷ lệ người theo đạo Phật ngày càng đông thì ở các
nước nghèo, đạo Thiên Chúa cũng tăng nhanh số lượng tín
đồ của mình. Điều đó sẽ đi ngược lại với những suy
luận thông thường xưa nay về việc “xác định” thế nào
là tôn giáo văn minh, hiện đại. Lý do gì mà người phương
Tây đã bất tín đối với truyền thống tôn giáo của mình?
F. Houtart cho rằng: “Sự phân cực trong xã hội cũng là sự
phân cực trong tôn giáo”. Theo thống kê của Liên Hợp quốc,
có khoảng 20% dân số thế giới là người giàu, nhưng chiếm
86% của cải thế giới, còn 80% dân số thế giới là người
nghèo thì sở hữu số % của cải còn lại. Trong các quốc
gia phát triển, sự phân hóa giàu nghèo diễn ra rất rõ rệt.
Sự phân cực trong xã hội, cũng tác động đến sự phân
cực trong tôn giáo. Những tôn giáo có thế lực và tiền của,
mất chỗ đứng ngay trên “lãnh thổ” của mình, đã đẩy
mạnh công cuộc truyền giáo ở các nước nghèo, và do đó,
những người nghèo khổ trở thành những người dễ bị “tổn
thương” nhất, đến một lúc “áo rách” không thể giữ
được “lề” thì họ hoàn toàn trở thành những người
“bị” mất bản sắc. Những người này được các nhà
xã hội học gọi là những người bị “loại trừ”:
- Về
phương diện kinh tế: họ bị loại ra khỏi đời sống khoa
học kỹ thuật, sống một đời sống tạm bợ, nghèo khổ…
- Về
phương diện xã hội: họ không có việc làm ổn định, bị
tách ra khỏi đời sống chính trị, không được hưởng các
quyền lợi như bảo hiểm, y tế, giáo dục…
- Về
phương diện văn hóa: họ bị loại trừ khỏi lĩnh vực tri
thức, kiến thức, thông tin, các sinh hoạt của xã hội hiện
đại, thậm chí bị loại ra khỏi quyền được sống theo
văn hóa, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, tín ngưỡng truyền
thống của mình. (*)
Khi
họ trở thành những người bị “loại trừ”, họ trở
nên “mất phương hướng”, và sự ý thức để bảo tồn
các giá trị văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng truyền thống cũng
mất dần theo sự cùng quẫn của cuộc sống. Không phải ngẫu
nhiên mà một số tôn giáo lợi dụng vào đặc điểm này
để tăng nhanh số lượng tín đồ của mình. Và chỉ vài
thế hệ sau, những người bị “loại trừ” nhanh chóng đánh
mất luôn bản sắc văn hóa của dân tộc mình.
Nền
kinh tế thị trường có vẻ như đang tạo ra một “sân chơi”
bình đẳng theo những “quy luật” của riêng nó, nhưng thực
chất là khoét sâu thêm sự bất bình đẳng, phân hóa ngày
một sâu sắc các giai tầng trong xã hội. Trong khi chưa có
những giải pháp cụ thể, thiết thực cho vấn đề xác định
thế nào là bản sắc văn hóa truyền thống, nhất là văn
hóa của các dân tộc thiểu số thì sự “lấn sân” của
một số tôn giáo đã tạo ra một thách thức mới trong việc
giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của
dân tộc. Điều đáng nói là nguyên nhân sâu xa lại xuất
phát từ nghèo đói, lệ thuộc và không tự chủ được với
nền tảng văn hóa mà mình đang có. Vì vậy, chúng ta không
thể không nói đến hai từ “thách thức” khi sự phân cực
trở nên ngày một rõ rệt trong các tôn giáo. Có thể nói,
yếu tố “khoan dung”, “hòa nhi bất đồng” trong truyền
thống văn hóa của dân tộc luôn là bài học đáng để chúng
ta cùng suy ngẫm.
(*)
Theo Bản đề dẫn trong Hội thảo Khoa học Về các hiện tượng
tôn giáo mới do Viện Nghiên cứu Tôn giáo tổ chức, Hà Nội,
tháng 5-2001.