.
.SỐ 11 -THÁNG 12, 2005.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 11-THÁNG 12, 2005

 

 

SỰ PHÂN CỰC TRONG TÔN GIÁO
Thái Nam Thắng

Trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 20.000 tổ chức tôn giáo, giáo hội, giáo phái khác nhau… hoạt động. Điều đó cho thấy một điều ngược lại với các dự đoán, rằng khoa học, kỹ thuật công nghệ phát triển thì tôn giáo sẽ mất dần vai trò trong xã hội. Trong lịch sử, không ít lần, người ta cố tình xô đẩy tôn giáo qua một phía, và tìm mọi cách để chứng minh nó như là một rào cản cho sự “tiến bộ” của con người. Cũng bằng những phép tính đơn giản, người ta đã rút gọn tất cả các tôn giáo vào những định nghĩa nhiều khi “tiêu cực” mà thực chất định nghĩa ấy chỉ đúng với một hay một số tôn giáo nào đó mà thôi.

Trong tình hình tôn giáo có nhiều biến động như hiện nay, bất cứ một định nghĩa rút gọn nào về tôn giáo cũng là chưa đầy đủ, bởi nó không còn dừng lại ở mức độ “hư ảo” nữa, mà nó đã cụ thể thành đất đai, tiền của, quyền lực, chính trị, ngoại giao…, đặc biệt khi một số tôn giáo trở thành nhà nước, hay được thể chế hóa. Phần lớn những chiến tranh, xung đột đang diễn ra trên thế giới, về mặt hiện tượng đều xuất phát từ hai nguyên nhân chính: tôn giáo và sắc tộc. Sự bành trướng tôn giáo đi liền với sự bành trướng về văn hóa, và hơn hết nó tạo ra những “lãnh thổ” không có đường biên giới. Từ “lãnh thổ” này, tạo ra một cơ hội thuận lợi để có thể tiến tới sự hợp nhất ngoạn mục đó chính là sự đồng hóa văn hóa, bành trướng tôn giáo, và lập lên một “trật tự tôn giáo mới” khi có đủ điều kiện xảy ra. Giáo hội, về mặt thực tiễn là một tổ chức xã hội, dù có những đặc điểm, vai trò riêng, nhưng muốn hay không, nó cũng thể hiện vai trò chính trị của mình. Như vậy sẽ nảy sinh hai mâu thuẫn còn tồn tại giữa việc xác định sinh hoạt tôn giáo (như là hoạt động tôn giáo thuần túy) và thực tiễn giáo hội (là một tổ chức chính trị xã hội).

Ở Việt Nam, khi một số đạo như Cao Đài, Hòa Hảo, Tin Lành được công nhận như là một tôn giáo, thì khái niệm tôn giáo càng không thể bó hẹp vào một nội dung nào. Bởi đó chính là biểu hiện cho sự đa dạng của tự do tôn giáo… Tuy nhiên, bên cạnh đạo Mẫu, Ngọc Phật Hồ Chí Minh, Vô Thượng sư Thanh Hải…, lần lượt các “đạo lạ” khác xuất hiện, pha tạp, hòa trộn trong mình nhiều hình thức tôn giáo khác nhau, đã làm cho tình hình tôn giáo ngày càng trở nên phức tạp. Các “đạo lạ” này không chỉ lôi cuốn, hấp dẫn đối với người nghèo, người thất học, người dân tộc thiểu số mà còn cả những trí thức, quân nhân, người về hưu…

Khi nhà nước công bố tình hình tôn giáo ở Việt Nam và đưa ra con số rất “cụ thể” như 80% dân số Việt Nam không có đạo, 20% dân số Việt Nam có đạo (đạo Phật khoảng 10 triệu người, Công giáo 6 triệu tín đồ… còn lại là các tôn giáo khác). Trong khi thực chất, con số 80% ấy phần lớn đều có đạo thờ ông bà tổ tiên và có tín ngưỡng Phật giáo, nhiều người tự nhận mình là theo đạo Phật, có cảm tình đạo Phật, hay chịu ảnh hưởng từ các nghi thức tín ngưỡng Phật giáo nhưng chưa chính thức quy y Phật giáo. Ngược lại, vì một lý do tế nhị nào đó, rất nhiều người thực chất theo đạo Phật nhưng lại ghi trong hồ sơ lý lịch... của mình là “không tôn giáo”. Khi công bố con số dựa trên “văn bản cụ thể” trên đã không đánh giá hết được xu thế tôn giáo trong xã hội, làm nảy sinh sự phân định tôn giáo về mặt số lượng, tất yếu những người có đạo, đặc biệt là những người không có đạo sẽ trở thành đối tượng mở rộng tín đồ của một số tôn giáo. Từ đó dẫn đến những cách thức mà một số tôn giáo ứng xử với những đạo khác và những người không có đạo, hoặc loại trừ, hoặc lên án, hoặc dụ dỗ, hoặc ràng buộc bằng hôn nhân… Và một khi tôn giáo, giáo hội ngày càng “thể chế hóa” thì tính phân cực, chia tuyến tôn giáo trong xã hội càng cao.

Sự lớn mạnh của các “đạo lạ” đến một lúc sẽ dẫn đến việc công nhận tôn giáo, giáo hội. Trong khi đó, một đặc điểm quan trọng của tôn giáo là truyền đạo. Nhưng với một cách hiểu về giáo hội như: giáo hội phải bao gồm giáo chủ, giáo lý, giới luật, nghi lễ, tập thể tu sĩ, tu viện và tín đồ đã không nói lên hết vấn đề vốn dĩ rất phức tạp trong tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi sẽ có không ít “đạo” cố gắng để hội đủ những điều kiện kể trên với mục đích là thành lập cho được giáo hội, và thúc đẩy nhanh công việc truyền đạo... Trong khi, những hành động truyền đạo “không chính thống” được coi là hoạt động tôn giáo trái phép, truyền đạo trái phép… Nhưng như thế nào là đúng phép… thì chưa thể nói cụ thể được. Đơn cử, một số tôn giáo, giáo hội chính thức đưa ra những điều luật bắt buộc trong hôn nhân để cải đạo, buộc người khác theo đạo, trong khi pháp lệnh tôn giáo quy định mọi người có quyền tự do theo hoặc không theo tôn giáo. Như vậy, đó có được xem hành vi “truyền đạo trái phép”, vi phạm pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo hay không? Cấm tín đồ không được thờ cúng ông bà tổ tiên và các tín ngưỡng dân tộc khác có được xem là không phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt hay không?…

Toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, tác động đến nhiều mặt của cuộc sống. Nếu như tình trạng các quốc gia phát triển muốn áp đặt lên thế giới một trật tự mới, thì tôn giáo, đặc biệt là tôn giáo có thế lực và tiền của hậu thuẫn cũng muốn lập nên một “trật tự tôn giáo mới”, tấn công mạnh mẽ vào các nền văn hóa, văn minh. Việc xâm thực, mở rộng lãnh thổ tôn giáo không chỉ trình diễn bằng “sự hợp nhất thánh thần”, mà biên cương của nó cũng ngày càng được “hiện thực hóa” khi hoàn tất nhiệm vụ đồng hóa văn hóa các “nước nghèo”, các dân tộc thiểu số, thậm chí nhiều khi còn được hợp thức hóa thông qua con đường ngoại giao, viện trợ kinh tế hay phát động chiến tranh. Do đó, tôn chỉ của Liên hợp quốc là đa dạng các nền văn hóa, văn minh, trở nên khó thực hiện hơn bao giờ hết, khi các cuộc chiến tranh xung đột xảy ra chủ yếu vẫn xuất phát từ hai nguyên nhân chính là sắc tộc và tôn giáo.

Trải qua nhiều biến động của lịch sử, tôn giáo gần như vẫn là một thách thức lớn đối với tư tưởng loài người, mặc dù sự phân hóa, phân cực từ trong bản thân nó diễn ra không kém phần sâu sắc. Một vài tôn giáo lớn đã từng để lại vô số những đau thương không thể chối bỏ cho lịch sử nhân loại. Cũng có không ít lần, một số tôn giáo được “cách tân”, “thay hình đổi dạng” nhưng mục đích tôn giáo thì vẫn được tuân thủ theo một hệ thống trật tự giáo điều nhất định: “Thà mất dân tộc chứ không để mất Chúa”. Chẳng hạn, một tôn giáo “độc thần” thì không thể chấp nhận một nền văn hóa “đa thần”, trong khi đa thần là một thuộc tính tín ngưỡng phổ biến của hầu hết các dân tộc trên thế giới. Các khái niệm nhân đạo, nhân văn xuất hiện ngày một nhiều trong tôn giáo này, nhưng cho dù có gọi là “chủ nghĩa nhân văn…” này, “chủ nghĩa nhân đạo…” kia mà không chấp nhận sự khác biệt, đa dạng trong văn hóa thì dù có thay hình đổi dạng như thế nào cũng chỉ là muốn lập nên một thể chế tôn giáo “duy nhất đúng đắn” mà thôi.

Một thực tế khác cho thấy, trong khi ở các nước phát triển, tỷ lệ người theo đạo Phật ngày càng đông thì ở các nước nghèo, đạo Thiên Chúa cũng tăng nhanh số lượng tín đồ của mình. Điều đó sẽ đi ngược lại với những suy luận thông thường xưa nay về việc “xác định” thế nào là tôn giáo văn minh, hiện đại. Lý do gì mà người phương Tây đã bất tín đối với truyền thống tôn giáo của mình? F. Houtart cho rằng: “Sự phân cực trong xã hội cũng là sự phân cực trong tôn giáo”. Theo thống kê của Liên Hợp quốc, có khoảng 20% dân số thế giới là người giàu, nhưng chiếm 86% của cải thế giới, còn 80% dân số thế giới là người nghèo thì sở hữu số % của cải còn lại. Trong các quốc gia phát triển, sự phân hóa giàu nghèo diễn ra rất rõ rệt. Sự phân cực trong xã hội, cũng tác động đến sự phân cực trong tôn giáo. Những tôn giáo có thế lực và tiền của, mất chỗ đứng ngay trên “lãnh thổ” của mình, đã đẩy mạnh công cuộc truyền giáo ở các nước nghèo, và do đó, những người nghèo khổ trở thành những người dễ bị “tổn thương” nhất, đến một lúc “áo rách” không thể giữ được “lề” thì họ hoàn toàn trở thành những người “bị” mất bản sắc. Những người này được các nhà xã hội học gọi là những người bị “loại trừ”:

- Về phương diện kinh tế: họ bị loại ra khỏi đời sống khoa học kỹ thuật, sống một đời sống tạm bợ, nghèo khổ…

- Về phương diện xã hội: họ không có việc làm ổn định, bị tách ra khỏi đời sống chính trị, không được hưởng các quyền lợi như bảo hiểm, y tế, giáo dục…

- Về phương diện văn hóa: họ bị loại trừ khỏi lĩnh vực tri thức, kiến thức, thông tin, các sinh hoạt của xã hội hiện đại, thậm chí bị loại ra khỏi quyền được sống theo văn hóa, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống của mình. (*)

Khi họ trở thành những người bị “loại trừ”, họ trở nên “mất phương hướng”, và sự ý thức để bảo tồn các giá trị văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng truyền thống cũng mất dần theo sự cùng quẫn của cuộc sống. Không phải ngẫu nhiên mà một số tôn giáo lợi dụng vào đặc điểm này để tăng nhanh số lượng tín đồ của mình. Và chỉ vài thế hệ sau, những người bị “loại trừ” nhanh chóng đánh mất luôn bản sắc văn hóa của dân tộc mình.

Nền kinh tế thị trường có vẻ như đang tạo ra một “sân chơi” bình đẳng theo những “quy luật” của riêng nó, nhưng thực chất là khoét sâu thêm sự bất bình đẳng, phân hóa ngày một sâu sắc các giai tầng trong xã hội. Trong khi chưa có những giải pháp cụ thể, thiết thực cho vấn đề xác định thế nào là bản sắc văn hóa truyền thống, nhất là văn hóa của các dân tộc thiểu số thì sự “lấn sân” của một số tôn giáo đã tạo ra một thách thức mới trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Điều đáng nói là nguyên nhân sâu xa lại xuất phát từ nghèo đói, lệ thuộc và không tự chủ được với nền tảng văn hóa mà mình đang có. Vì vậy, chúng ta không thể không nói đến hai từ “thách thức” khi sự phân cực trở nên ngày một rõ rệt trong các tôn giáo. Có thể nói, yếu tố “khoan dung”, “hòa nhi bất đồng” trong truyền thống văn hóa của dân tộc luôn là bài học đáng để chúng ta cùng suy ngẫm.
 

(*)  Theo Bản đề dẫn trong Hội thảo Khoa học Về các hiện tượng tôn giáo mới do Viện Nghiên cứu Tôn giáo tổ chức, Hà Nội, tháng 5-2001.
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 11 -THÁNG 12 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)