VỀ
CÕI VÔ TÂM
CƯỠI
CHƠI CÁNH DIỀU
Nhật
Chiêu
"Ta
nay/ Ngồi đỉnh Vân Tiêu/ Cưỡi chơi Cánh Diều"... Vân
Tiêu và Cánh Diều đều là tên những chóp núi trên dãy Yên
Tử. Nhưng cả Mây và Diều đều nằm trong cảnh giới của
tiêu dao, bay lượn. Với người ngồi thiền, núi nhẹ nhàng
như mây, núi nhẹ nhàng như diều. Và phép lạ là đây. Huyền
Quang chơi trò chơi mà thiên nhiên vẫn chơi. Sau cuộc buông
bỏ, xả ly là bay, như chiếc lá, như cánh chim, như áng mây,
như cánh diều…
Bản
chất là thi sĩ nên tâm hồn Huyền Quang như là “Cửa mở
tận tầng mây” (Môn khai vân thượng tầng).
Huyền
Quang Tôn giả (1254-1334), con người nhiều huyền thoại ấy,
Thiền sư rất nghệ sĩ ấy nhìn ta qua bảy thế kỷ với đôi
mắt như mộng và như say trong rừng phong trên núi Yên Tử.
Đỗ
đạt cao, từ chối lấy công chúa Liễu Nữ, làm quan khoảng
20 năm, hơn năm mươi tuổi mới xuất gia, đến 77 tuổi mới
lãnh đạo thiền phái Trúc Lâm, trở thành vị tổ thứ ba
(Trúc Lâm Đệ Tam Đại Tự Pháp)
Huyền
Quang “thể mạo kỳ dị, chí khí vĩ nhân” biên soạn nhiều
sách rất công phu nhưng thường thích làm thơ, ngắm hoa, thổi
sáo, chơi đùa. Người yêu gió mây Yên Tử và hoa cỏ Côn
Sơn hơn bất kỳ chốn thần tiên nào khác.
Người
chơi với Núi, cưỡi lên nó mà đi vào cõi vô tâm, nơi đôi
mắt người không còn phân biệt Cung Ma và Cõi Phật.
Chính
lúc trụ trì chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, người sáng tác
bài phú Vịnh Vân Yên tự bằng một tiếng Việt hồn nhiên
và tươi sáng lạ kỳ. Bài phú có thể lược trích và cô
đọng lại như sau:
Buông
niềm trần tục
Náu
tới Vân Yên
Nương
am vắng
Bụt
hiện từ bi
Gió
hiu hiu
Mây
nhè nhẹ
Kề
song thưa
Thầy
ngồi thiền định
Trăng
vằng vặc
Núi
xanh xanh
Ta
nay
Ngồi
đỉnh Vân Tiêu
Cưỡi
chơi cánh diều
Bao
nhiêu phong nguyệt
Về
cõi vô tâm.
Bài
thơ, hay tiếng hát trên đỉnh non cao ấy, bắt đầu bằng
chữ : Buông.
Buông,
một từ nhẹ như không nhưng chẳng dễ gì thốt ra trong cuộc
đời này.
Níu
kéo thì dễ, buông mới là khó. Con người đeo mang đủ thứ,
từ quần áo đến danh vọng. Đeo mang càng nặng lại càng
thích. Ai cũng biết cách đeo mang. Hả hê mà đeo mang… Nhưng
buông ư? Buông thế nào đây?
Và
buông đến lúc nào? Một ông tăng hỏi Thiền sư Triệu Châu
rằng, nếu có người hoàn toàn trần trụi, không có gì dính
thân đến với sư thì sư nói gì?
- Buông
xuống đi! (phóng hạ lai!)
Đó
là lời Triệu Châu. Và rồi buông Triệu Châu đi, buông cả
sự trần trụi đi, không còn nhớ rằng mình đang buông. Chỉ
còn lại sự buông xả mà không thấy có ai kia đang buông xả.
Chỉ
có buông khi không còn lo âu và sợ chết.
Khi
Pháp Loa lâm bệnh nguy kịch, Huyền Quang đến thăm, qua vài
câu đối thoại, Pháp Loa đã có lời đáp cuối cùng:
- Tùy
xứ Tát- bà- ha.
Đó
là Pháp Loa buông cả sự sống và cái chết. Đó là buông
niềm trần tục.
Con
đường lên núi Yên Tử là con đường của sự buông xả
- Trúc Lâm đã buông bỏ cung vàng điện ngọc.
Và
Huyền Quang, người đang buông bỏ cái gì? Cái bóng của mình,
những huyền thoại về mình? Cái niềm trần tục có bóng
của khoa cử, sách vở, quan chức, công chúa, giai nhân, danh
vọng. Cái bóng của “chín nghìn nhân duyên” (như câu thơ
“Đến khi đỗ trạng chín nghìn nhân duyên” mà dân gian
vẫn gán cho Huyền Quang)
Người
buông niềm trần tục như buông một nỗi buồn, và đi lên
Yên Tử như tìm một pháp vui.
Và
“náu tới Vân Yên” không chỉ là nương náu một thiền
viện. Vì Vân Yên còn là mây khói. Cánh cửa mở ra là bước
vào mây khói (môn khai vân thượng tầng)
Chùa
thì còn tường vách mà dựa chứ mây khói thì không. Mây khói
là tự do. Mây khói náu trong tánh không.
Vì
vậy Huyền Quang náu trong Vân Yên, trong mây khói, thể nghiệm
lần đầu con người tự do, con người của pháp vui.
Nương
am vắng
Bụt
hiện từ bi
Gió
hiu hiu
Mây
nhè nhẹ.
Và
trong cái am của vắng lặng, của hư không, có gió mây đi
về. Rất dịu êm, rất thanh thoát. Gió mây là hiện thân của
Bụt, hiện thân của Từ bi, của tình yêu.
Đó
là Gió Bụt và đó là Mây Bụt.
Tiếng
thơ của Huyền Quang Tôn giả đã “Bụt hoá” không gian của
Vân Yên, của Núi.
Không
gian đó là nơi mà Huyền Quang chọn để nương náu:
Náu
tới Vân Yên
Nương
am vắng.
Náu
là gì? Ở đây, náu là ẩn mình đi, ẩn vào trong mây khói,
trong cái vô tính của thiên nhiên. Trong kinh Pháp Hoa, hãy “Biết
các pháp thường là vô tính”
Mây
khói không có tính chất thường hằng, cố định, nên là
vô tính. Vô tính cũng chính là Phật tính. Vì vậy, náu ở
đây là náu vào Phật tính.
Hakuyu
viết về “vô tính” (musho) như sau: “Musho có nghĩa là vô
tính (no nature) đồng nghĩa với Phật tính (Buddha nature)…
Và bởi chính cái vô tính này mà sự vật mới hiện ra như
chúng là, không chỉ riêng ta mà là tất cả vạn pháp.”
Thế
nên, vì náu vào Phật tính mới có “Bụt hiện từ bi”,
vì náu vào tánh không nơi “gió hiu hiu, mây nhè nhẹ”
Bụt
hiện qua gió mây nên gió mây là Bụt, các pháp là Bụt.
Nương
náu chính là “Quy y”. Quy là quy ẩn, náu mình. Và Y là nương
tựa, như đứa trẻ nương nhờ lòng mẹ. Lòng mẹ là hiện
thân của từ bi, như Bụt.
Đối
với một đứa trẻ, mẹ hiện ra với tất cả tình yêu và
vẻ đẹp. Chỉ có mẹ, chỉ có từ bi, không có gì khác.
Với
Huyền Quang, cái đẹp đó và tình yêu đó chính là Bụt.
Kề
song thưa
Thầy
ngồi thiền định
Trăng
vằng vặc
Núi
xanh xanh.
Khi
ta thiền định thì cả vũ trụ thiền định với ta. Trăng
vằng vặc là vì trăng đang thiền và núi xanh cũng là vì núi
đang thiền
Khi
tôi đến Hàn Sơn Tự vào một chiều mưa bay, tôi có cảm
giác ấy rất rõ:
Hàn
Sơn đá cũng nghe kinh
Và
mưa bay cũng đang thiền mà bay.
Cái
bóng nho nhỏ mà lồng lộng của Huyền Quang Tôn giả ngồi
trên Núi, dưới Trăng, bỗng như bay về cười đùa với Thiền
sư Hàn Sơn, người mà tôn giả rất yêu mến.
Khi
Huyền Quang ngồi thiền thì vầng trăng sáng ngời vằng vặc
kia đã biến thành trái tim của người.
Với
Hàn Sơn Thiền sư đời Đường, thì cũng vậy:
Nhân
chi kiến kỳ nguyệt
Nguyệt
thị tâm xu yếu.
(Vì
ta đã biết trăng rồi
Trái
tim ta đó sáng ngời là trăng).
Trong
không gian bát ngát của từ bi, của tình yêu luôn luôn có
gió, mây, trăng, núi… nghĩa là có tự do, có chỗ trống.
Chỉ có lòng tham mới dày đặc, mới thiếu chỗ trống, thiếu
không gian.
“Hãy
để cho một biển khơi chuyển động giữa bờ bến tâm hồn
mình”, Kahlil Gibran nói (Let it rather be a moving sea between the
shores of your souls.)
Hãy
để cho một biển trăng chiếu sáng giữa những người thương
yêu trong niềm từ bi Bụt hiện.
Hãy
để cho núi xanh nâng cao những người thương yêu trong thiền
định của gió trăng.
Để
trái tim làm trăng sáng. Để trăng sáng làm trái tim.
Ta
nay
Ngồi
đỉnh Vân Tiêu
Cưỡi
chơi Cánh Diều.
Vân
Tiêu và Cánh Diều đều là tên những chóp núi trên dãy Yên
Tử.
Nhưng
cả Mây và Diều đều nằm trong cảnh giới của tiêu dao,
bay lượn.
Với
người ngồi thiền, núi nhẹ nhàng như mây, núi nhẹ nhàng
như diều.
Và
phép lạ là đây. Huyền Quang chơi trò chơi mà thiên nhiên
vẫn chơi. Sau cuộc buông bỏ, xả ly là bay. Như chiếc lá,
như cánh chim, như áng mây, như cánh diều…
Một
đứa trẻ hồn nhiên có thể bay với một con ngựa gỗ. Và
một Huyền Quang an nhiên tự tại có thể bay với một
dãy núi.
Núi
đó, khi Huyền Quang mới đến Vân Yên có lẽ chỉ là
núi. Nhìn núi biết núi, nhìn nước biết nước.
Thế
giới bên ngoài hiện ra trước mắt và ta thu nhận vô điều
kiện, xem đó là thực tại. Và như vậy, cái nhìn chỉ hướng
ra bên ngoài mà chưa biết quay vào bên trong.
Khi
cái nhìn quay trở về, đó là lúc khởi sự ngạc nhiên. Thấy
núi chẳng phải núi và nước chẳng phải nứớc. Huyền Quang
chẳng phải là Huyền Quang.
Cái
nhìn bên trong đó có vẻ như là hoài nghi. Hiện tượng núi
ở đó như bản thể núi ở đâu? Đỉnh Vân Tiêu, cái cõi
mây trắng kia, ở đâu vậy?
Nhưng
núi vẫn đứng đấy như núi và nước vẫn trôi theo nước.
Và tâm nhìn vào tâm.
Sau
khi mờ đi trong mù sương nghi hoặc, núi trở lại về xanh
biếc trong đôi mắt Huyền Quang, rạng ngời trong ánh trăng
ngộ đạo. Núi lại hiện ra như nó là, trong như tính của
nó. Trăng và gió cũng thế, hiện ra như mới lần đầu, nguyên
sơ lộng lẫy. Nhưng tầm thường và vô minh thì không thấy
được hiện tượng đó dù thiên nhiên đang tự hiển hiện.
Trong
gió, núi như phát ra diệu âm và nói với Huyền Quang: Ngồi
với tôi đi, cưỡi chơi tôi đi, Tôn giả ơi.
Và
Huyền Quang bước vào cuộc chơi. Với núi.
Dù
là ngồi thiền hay cưỡi chơi, bao giời Huyền Quang cũng hiện
ra như một đạo sư đầy tình yêu đối với thế gian và
cũng là một đạo sư đầy tình yêu đối với thế gian và
cũng là một đạo sư của niềm cô đơn lẫy lừng:
Núi
tuyết cô đơn đứng lẫy lừng
(Lẫm
nhiên cô trĩ tuyết sơn trung).
Niềm
cô đơn mà ông nói khi vịnh hoa mai. Đó là niềm cô đơn mà
thế gian không hiểu nỗi. Niềm cô đơn của Hoa mai trong núi
tuyết và Huyền Quang trên đỉnh Mây
Bao
nhiêu phong nguyệt
Về
cõi vô tâm.
Cưỡi
chơi cánh Diều để làm gì? Chơi với gió, chơi với trăng.
Nhưng đi chơi cũng là trở về.
Trở
về quê hương, nơi chính là cõi vô tâm, nơi không còn là
cõi phân biệt tán động của mọi tâm thức.
Một
đạo sư nói rằng: “Con người là một tạo vật lang thang
trong những cảnh giới hư nguỵ”.
Chính
vì vậy, Huyền Quang muốn chấm dứt mọi cuộc lang thang, trở
về ngôi nhà vô tâm.
Ra
đi với một thiên nhiên vô tính và trở về với ngôi nhà
vô tâm, đó là con đường cô đơn và siêu việt của Huyền
Quang Tôn giả.
Tham
thấu thị phi bình đẳng tướng
Ma
cung Phật quốc hảo sinh quan
(Thị
phi, bình đẳng tướng thôi
Cung
ma cõi Phật tuyệt v?i như nhau).