.
.SỐ 11 -THÁNG 12, 2005.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 11-THÁNG 12, 2005

 

 

VỀ CÕI VÔ TÂM 
CƯỠI CHƠI CÁNH DIỀU
Nhật Chiêu

"Ta nay/ Ngồi đỉnh Vân Tiêu/ Cưỡi chơi Cánh Diều"... Vân Tiêu và Cánh Diều đều là tên những chóp núi trên dãy Yên Tử. Nhưng cả Mây và Diều đều nằm trong cảnh giới của tiêu dao, bay lượn. Với người ngồi thiền, núi nhẹ nhàng như mây, núi nhẹ nhàng như diều. Và phép lạ là đây. Huyền Quang chơi trò chơi mà thiên nhiên vẫn chơi. Sau cuộc buông bỏ, xả ly là bay, như chiếc lá, như cánh chim, như áng mây, như cánh diều…

Bản chất là thi sĩ nên tâm hồn Huyền Quang như là “Cửa mở tận tầng mây” (Môn khai vân thượng tầng).

Huyền Quang Tôn giả (1254-1334), con người nhiều huyền thoại ấy, Thiền sư rất nghệ sĩ ấy nhìn ta qua bảy thế kỷ với đôi mắt như mộng và như say trong rừng phong trên núi Yên Tử.

Đỗ đạt cao, từ chối lấy công chúa Liễu Nữ, làm quan khoảng 20 năm, hơn năm mươi tuổi mới xuất gia, đến 77 tuổi mới lãnh đạo thiền phái Trúc Lâm, trở thành vị tổ thứ ba (Trúc Lâm Đệ Tam Đại Tự Pháp)

Huyền Quang “thể mạo kỳ dị, chí khí vĩ nhân” biên soạn nhiều sách rất công phu nhưng thường thích làm thơ, ngắm hoa, thổi sáo, chơi đùa. Người yêu gió mây Yên Tử và hoa cỏ Côn Sơn hơn bất kỳ chốn thần tiên nào khác.

Người chơi với Núi, cưỡi lên nó mà đi vào cõi vô tâm, nơi đôi mắt người không còn phân biệt Cung Ma và Cõi Phật.

Chính lúc trụ trì chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, người sáng tác bài phú Vịnh Vân Yên tự bằng một tiếng Việt hồn nhiên và tươi sáng lạ kỳ. Bài phú có thể lược trích và cô đọng lại như sau:

Buông niềm trần tục
Náu tới Vân Yên
Nương am vắng
Bụt hiện từ bi
Gió hiu hiu
Mây nhè nhẹ
Kề song thưa
Thầy ngồi thiền định
Trăng vằng vặc
Núi xanh xanh
Ta nay
Ngồi đỉnh Vân Tiêu
Cưỡi chơi cánh diều
Bao nhiêu phong nguyệt
Về cõi vô tâm.

Bài thơ, hay tiếng hát trên đỉnh non cao ấy, bắt đầu bằng chữ : Buông.
Buông, một từ nhẹ như không nhưng chẳng dễ gì thốt ra trong cuộc đời này.

Níu kéo thì dễ, buông mới là khó. Con người đeo mang đủ thứ, từ quần áo đến danh vọng. Đeo mang càng nặng lại càng thích. Ai cũng biết cách đeo mang. Hả hê mà đeo mang… Nhưng buông ư? Buông thế nào đây?

Và buông đến lúc nào? Một ông tăng hỏi Thiền sư Triệu Châu rằng, nếu có người hoàn toàn trần trụi, không có gì dính thân đến với sư thì sư nói gì?

- Buông xuống đi! (phóng hạ lai!)

Đó là lời Triệu Châu. Và rồi buông Triệu Châu đi, buông cả sự trần trụi đi, không còn nhớ rằng mình đang buông. Chỉ còn lại sự buông xả mà không thấy có ai kia đang buông xả.

Chỉ có buông khi không còn lo âu và sợ chết.

Khi Pháp Loa lâm bệnh nguy kịch, Huyền Quang đến thăm, qua vài câu đối thoại, Pháp Loa đã có lời đáp cuối cùng:

- Tùy xứ Tát- bà- ha.

Đó là Pháp Loa buông cả sự sống và cái chết. Đó là buông niềm trần tục.

Con đường lên núi Yên Tử là con đường của sự buông xả - Trúc Lâm đã buông bỏ cung vàng điện ngọc.

Và Huyền Quang, người đang buông bỏ cái gì? Cái bóng của mình, những huyền thoại về mình? Cái niềm trần tục có bóng của khoa cử, sách vở, quan chức, công chúa, giai nhân, danh vọng. Cái bóng của “chín nghìn nhân duyên” (như câu thơ “Đến khi đỗ trạng chín nghìn nhân duyên” mà dân gian vẫn gán cho Huyền Quang)

Người buông niềm trần tục như buông một nỗi buồn, và đi lên Yên Tử như tìm một pháp vui.

Và “náu tới Vân Yên” không chỉ là nương náu một thiền viện. Vì Vân Yên còn là mây khói. Cánh cửa mở ra là bước vào mây khói (môn khai vân thượng tầng)

Chùa thì còn tường vách mà dựa chứ mây khói thì không. Mây khói là tự do. Mây khói náu trong tánh không.

Vì vậy Huyền Quang náu trong Vân Yên, trong mây khói, thể nghiệm lần đầu con người tự do, con người của pháp vui.

Nương am vắng
Bụt hiện từ bi
Gió hiu hiu
Mây nhè nhẹ.

Và trong cái am của vắng lặng, của hư không, có gió mây đi về. Rất dịu êm, rất thanh thoát. Gió mây là hiện thân của Bụt, hiện thân của Từ bi, của tình yêu.

Đó là Gió Bụt và đó là Mây Bụt.

Tiếng thơ của Huyền Quang Tôn giả đã “Bụt hoá” không gian của Vân Yên, của Núi.
Không gian đó là nơi mà Huyền Quang chọn để nương náu:

Náu tới Vân Yên
Nương am vắng.

Náu là gì? Ở đây, náu là ẩn mình đi, ẩn vào trong mây khói, trong cái vô tính của thiên nhiên. Trong kinh Pháp Hoa, hãy “Biết các pháp thường là vô tính”

Mây khói không có tính chất thường hằng, cố định, nên là vô tính. Vô tính cũng chính là Phật tính. Vì vậy, náu ở đây là náu vào Phật tính.

Hakuyu viết về “vô tính” (musho) như sau: “Musho có nghĩa là vô tính (no nature) đồng nghĩa với Phật tính (Buddha nature)… Và bởi chính cái vô tính này mà sự vật mới hiện ra như chúng là, không chỉ riêng ta mà là tất cả vạn pháp.”

Thế nên, vì náu vào Phật tính mới có “Bụt hiện từ bi”, vì náu vào tánh không nơi “gió hiu hiu, mây nhè nhẹ”

Bụt hiện qua gió mây nên gió mây là Bụt, các pháp là Bụt.

Nương náu chính là “Quy y”. Quy là quy ẩn, náu mình. Và Y là nương tựa, như đứa trẻ nương nhờ lòng mẹ. Lòng mẹ là hiện thân của từ bi, như Bụt.

Đối với một đứa trẻ, mẹ hiện ra với tất cả tình yêu và vẻ đẹp. Chỉ có mẹ, chỉ có từ bi, không có gì khác.

Với Huyền Quang, cái đẹp đó và tình yêu đó chính là Bụt.

Kề song thưa
Thầy ngồi thiền định
Trăng vằng vặc
Núi xanh xanh.

Khi ta thiền định thì cả vũ trụ thiền định với ta. Trăng vằng vặc là vì trăng đang thiền và núi xanh cũng là vì núi đang thiền

Khi tôi đến Hàn Sơn Tự vào một chiều mưa bay, tôi có cảm giác ấy rất rõ:

Hàn Sơn đá cũng nghe kinh
Và mưa bay cũng đang thiền mà bay.

Cái bóng nho nhỏ mà lồng lộng của Huyền Quang Tôn giả ngồi trên Núi, dưới Trăng, bỗng như bay về cười đùa với Thiền sư Hàn Sơn, người mà tôn giả rất yêu mến.

Khi Huyền Quang ngồi thiền thì vầng trăng sáng ngời vằng vặc kia đã biến thành trái tim của người.

Với Hàn Sơn Thiền sư đời Đường, thì cũng vậy:

Nhân chi kiến kỳ nguyệt
Nguyệt thị tâm xu yếu.
(Vì ta đã biết trăng rồi
Trái tim ta đó sáng ngời là trăng).

Trong không gian bát ngát của từ bi, của tình yêu luôn luôn có gió, mây, trăng, núi… nghĩa là có tự do, có chỗ trống. Chỉ có lòng tham mới dày đặc, mới thiếu chỗ trống, thiếu không gian.

“Hãy để cho một biển khơi chuyển động giữa bờ bến tâm hồn mình”, Kahlil Gibran nói (Let it rather be a moving sea between the shores of your souls.)

Hãy để cho một biển trăng chiếu sáng giữa những người thương yêu trong niềm từ bi Bụt hiện.

Hãy để cho núi xanh nâng cao những người thương yêu trong thiền định của gió trăng.

Để trái tim làm trăng sáng. Để trăng sáng làm trái tim.

Ta nay
Ngồi đỉnh Vân Tiêu
Cưỡi chơi Cánh Diều.

Vân Tiêu và Cánh Diều đều là tên những chóp núi trên dãy Yên Tử.
Nhưng cả Mây và Diều đều nằm trong cảnh giới của tiêu dao, bay lượn.
Với người ngồi thiền, núi nhẹ nhàng như mây, núi nhẹ nhàng như diều.

Và phép lạ là đây. Huyền Quang chơi trò chơi mà thiên nhiên vẫn chơi. Sau cuộc buông bỏ, xả ly là bay. Như chiếc lá, như cánh chim, như áng mây, như cánh diều…

Một đứa trẻ hồn nhiên có thể bay với một con ngựa gỗ. Và một  Huyền Quang an nhiên tự tại có thể bay với một dãy núi.

Núi đó, khi Huyền Quang mới đến Vân Yên  có lẽ chỉ là núi. Nhìn núi biết núi, nhìn nước biết nước.

Thế giới bên ngoài hiện ra trước mắt và ta thu nhận vô điều kiện, xem đó là thực tại. Và như vậy, cái nhìn chỉ hướng ra bên ngoài mà chưa biết quay vào bên trong.

Khi cái nhìn quay trở về, đó là lúc khởi sự ngạc nhiên. Thấy núi chẳng phải núi và nước chẳng phải nứớc. Huyền Quang chẳng phải là Huyền Quang.

Cái nhìn bên trong đó có vẻ như là hoài nghi. Hiện tượng núi ở đó như bản thể núi ở đâu? Đỉnh Vân Tiêu, cái cõi mây trắng kia, ở đâu vậy?

Nhưng núi vẫn đứng đấy như núi và nước vẫn trôi theo nước. Và tâm nhìn vào tâm.

Sau khi mờ đi trong mù sương nghi hoặc, núi trở lại về xanh biếc trong đôi mắt Huyền Quang, rạng ngời trong ánh trăng ngộ đạo. Núi lại hiện ra như nó là, trong như tính của nó. Trăng và gió cũng thế, hiện ra như mới lần đầu, nguyên sơ lộng lẫy. Nhưng tầm thường và vô minh thì không thấy được hiện tượng đó dù thiên nhiên đang tự hiển hiện.

Trong gió, núi như phát ra diệu âm và nói với Huyền Quang: Ngồi với tôi đi, cưỡi chơi tôi đi, Tôn giả ơi.

Và Huyền Quang bước vào cuộc chơi. Với núi.

Dù là ngồi thiền hay cưỡi chơi, bao giời Huyền Quang cũng hiện ra như một đạo sư đầy tình yêu đối với thế gian và cũng là một đạo sư đầy tình yêu đối với thế gian và cũng là một đạo sư của niềm cô đơn lẫy lừng:

Núi tuyết cô đơn đứng lẫy lừng
(Lẫm nhiên cô trĩ tuyết sơn trung).

Niềm cô đơn mà ông nói khi vịnh hoa mai. Đó là niềm cô đơn mà thế gian không hiểu nỗi. Niềm cô đơn của Hoa mai trong núi tuyết và Huyền Quang trên đỉnh Mây

Bao nhiêu phong nguyệt
Về cõi vô tâm.

Cưỡi chơi cánh Diều để làm gì? Chơi với gió, chơi với trăng. Nhưng đi chơi cũng là trở về.

Trở về quê hương, nơi chính là cõi vô tâm, nơi không còn là cõi phân biệt tán động của mọi tâm thức.

Một đạo sư nói rằng: “Con người là một tạo vật lang thang trong những cảnh giới hư nguỵ”.

Chính vì vậy, Huyền Quang muốn chấm dứt mọi cuộc lang thang, trở về ngôi nhà vô tâm.

Ra đi với một thiên nhiên vô tính và trở về với ngôi nhà vô tâm, đó là con đường cô đơn và siêu việt của Huyền Quang Tôn giả.

Tham thấu thị phi bình đẳng tướng
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan
(Thị phi, bình đẳng tướng thôi
Cung ma cõi Phật tuyệt v?i như nhau).
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 11 -THÁNG 12 2005


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)