Truyện ngắn
CHỊ
TUYẾT
Trần
Văn Thưởng
Những
cơn mưa chưa thấm đất ở Sài Gòn vào mùa này làm cho tôi
nhớ đến vùng cao quê hương đến da diết. Bây giờ đang
là tháng Tư, nghĩa là miền cao nguyên sắp bước vào mùa mưa.
Những trận mưa chuyển mùa không đủ để thối đất, lở
đồi nơi núi rừng mà chỉ vừa giăng mắc cho nỗi buồn đậu
lại. Bây giờ đang là tháng Tư, nghĩa là còn quá một tháng
nữa gia đình tôi di cư vào Nam. Như vậy đời tôi có đến
ba quê hương. Từ miền biển xứ Quảng dạt lên An Khê cao
nguyên. Nay mai lại thiên dời vào thành thị. Trong ba nơi, không
biết nơi nào nặng nghĩa hơn, nhưng có một điều chắc chắn
rằng, tôi sẽ không bao giờ quên miền đất đã cột chặt
thuở thiếu thời của tôi. Cũng như tôi không thể quên được
niềm thương và lòng ăn năn mỗi khi ngoảnh đầu quay về
chốn cũ.
Tháng
Giêng vừa rồi, ba của Đại đột ngột mất. Vừa từ Sài
Gòn về nhà ăn Tết, tôi nghe tin ấy ngay. Cha mẹ tôi giục:
- Con
lên thắp vài nén hương cho bác Thứ. Khổ cho bác gái, nhà
còn đông con.
Tôi
ngỡ ngàng:
- Làm
sao đến nỗi ấy, mẹ?
- Bị
sốt rét rừng. Bác ấy đi rẫy về nằm liệt giường đến
non một tháng. Đi đúng hôm ba mươi Tết. Khổ thân, chắc
là chưa kịp cúng sao giải hạn.
Nhà
tôi cách nhà bác Thư non năm cây số. Tôi ở Thị trấn An
Khê. Nhà bác Thứ ở xã Chí Công. Tôi và Đại hồi nhỏ học
chung lớp, chơi thân với nhau. Chuyện nhà Đại, tôi rõ lắm.
Cả gia đình bác Thứ quý tôi như ngươi nhà. Hồi còn sống,
bác Thứ thường nói đùa với tôi rằng: “Nếu mày không
chê, tao gả con Tuyết cho. Nhất gái hơn hai mà...” Tính ra
chị Tuyết hơn tôi hai tuổi. Bác Thứ bảo tuổi hai đứa
hợp nhau lắm. Hồi ấy, tôi chưa nghĩ chuyện xa xôi, nên chỉ
cười trừ.
Lúc
tôi lên thì đủ mặt cả nhà, chỉ thiếu mỗi Đại còn đi
thăm rẫy chưa về.
Chị
Tuyết ở dưới bếp lướt thướt đi lên:
- Đàm
mới về?
- Dạ…
Chị
đi lên nhà trên sửa soạn đèn nhang cho tôi thi lễ. Đứng
trước bàn thờ khói hương nghi ngút, tôi lặng người mặc
niệm. Khuôn mặt cương nghị của bác Thứ trong bức ảnh
thờ như đang hướng nhìn tôi chằm chặp.
Được
một lúc thì Đại về. Mới một năm mà hắn già đi nhiều,
cộng với nỗi buồn gia đình nên người hắn trông sụt hẳn.
Dựng cuốc đằng chái nhà, chưa kịp rửa chân, hắn vào với
tôi ngay. Hắn gật đầu chào, giọng buồn buồn:
- Mày
mới về!
- Ừ.
Tao vừa thắp mấy nén hương cho bác.
Mặt
hắn thừ ra. Hắn chậm rãi châm trà mời tôi. Lúc lâu, hắn
bảo:
- Để
chị Tuyết dọn cơn ăn. Tối nay mày ở chơi với tao.
- Ừ.
Còn hơn tuần nữa tao mới vô Sài Gòn, lo gì.
Đoạn,
hắn quay sang hỏi thăm tôi:
- Dạo
rày trong đó sống ra sao?
- Cũng
tàm tạm, đủ sống qua ngày.
*
* *
Mấy
hôm sau, nghe lời mẹ tôi về chùa cúng sao giải hạn. Tôi
không tin mấy chuyện vận mạng, bùa quả, nhưng vì mẹ ép
quá nên tôi cũng đi. Tháng Giêng, người ta đổ về chùa cầu
tài lộc đông. Hôm đó, tình cờ tôi gặp chị Tuyết. Chị
cũng về chùa cúng sao. Trước lễ đàn cầu an, chị chắp
tay cung kính nguyện cầu. Khói hương toả nghi ngút. Tiếng
chuông chùa ngân nga, tiếng mõ điểm đều nhịp cùng với
lời kinh tụng niệm của sư thầy, trong cảnh thâm nghiêm,
tất cả đượm một hương vị giải thoát, đưa con người
lánh khỏi những buồn vui, hệ luỵ nơi trần thế. Khi thành
tâm, tôi mới thấy hết ý nghĩa của việc lễ chùa. Nó không
phải là một thứ nghi lễ tầm thường mà là một triết
lý của đời sống tâm linh.
Lúc
hạ lễ, tôi thấy chị Tuyết đứng nhìn quanh quất như ngóng
tìm ai. Tôi tới chào:
- Chị
về chùa một mình?
- À,
Đàm hả? Khi nãy chị đi quá giang xe của ông Bảy ở gần
nhà. Mới thấy đây, không biết đi đằng nào rồi.
- Hay
tôi đưa chị về?
- Phiền
Đàm quá. Để một chặp chị đi về cùng ông Bảy.
- Chị
khỏi phải ngại. Tôi đi có một mình.
- Ừ.
Vậy cũng được.
Đêm
mùng Bảy, trăng non mọc hững hờ như một thiếu nữ đang
giận tình nhân. Tôi đèo chị đi trong màn sương đêm mờ
mờ. Quá hai con dốc, cả hai chưa nói lời nào. Chị ngồi
đằng sau im lặng ngoan ngoãn. Một chặp thì chị cất tiếng
hỏi:
- Đàm
có tin vào Trời Phật không?
- Tin,
còn chị?
- Chị
cũng không biết nữa. Nhưng chị tin ở đời ai cũng có số
kiếp.
Từ
bé đến giờ chị chỉ biết cái nhà, vườn rau. Chị ít khi
đi ra ngoài. Bác Thứ và Đại thì lo cái rẫy, cái nương.
Trên chị là một người chị lớn, đã có chồng con ở dưới
xuôi. Chị Tuyết còn cả một đàn em nữa. Quanh năm, chị
làm bạn với giếng nước, luống cải, liếp rau. Chị là
viên ngọc quý trong gia đình bác Thứ. Chăm làm, hiền hậu
nết na. Ở tuổi hăm lăm, hăm sáu chị vẫn chưa bị những
nỗi cay nghiệt của cuộc đời xô tới. Chị mộc mạc như
một nhánh lan rừng. Chị lại có vẻ đẹp tự nhiên của
hoa Pơ-lang, càng mặn mà cái hương của núi rừng vào lúc
cuối mùa. Chị là hồn phách của miền cao nguyên này trong
lòng tôi.
- Trăng
mùng Bảy đẹp quá – Chị thảng thốt.
- Tôi
giật mình, khẽ ừ. Mái tóc chị quất vào lưng tôi thấm
thía. Trời bắt đầu lạnh hơn. Áo tôi ướt thẫm. Tôi không
biết đó là sương trời hay là mái tóc chị ướt sương phất
vào lưng áo tôi.
Hai
hôm sau, tôi lên nhà bác Thứ. Còn đúng hai ngày nữa tôi vào
Sài Gòn. Lúc ấy, cả nhà vừa ăn cơm xong, đang ngồi quây
quần nhau trên giường. Đại vỗ vai tôi:
- Cố
hữu lên đúng dịp lắm. Tao có cái này.
Hắn
đưa tay chỉ vào cái ghè rượu mới mang về từ làng dân
tộc Ba Na Thượng. Hắn hóm hỉnh:
Của
Giàng (trời) đấy. Ek đi (uống đi)!
Chúng
tôi ngồi sương sương với nhau bên bếp lửa hồng đã được
bày đâu ra đấy. Tôi ngậm cần, kéo một hơi thật sâu. Vị
chua chua, ngọt ngọt, hăng hắc cộng với hơi men nồng làm
ấm lòng người khách quen. Người tôi ngây ngất. Hương vị
cao nguyên hoang dã, đậm đà và nồng nàn đến khó quên.
Hứng
lên, chúng tôi bắc cái ghế dài ra ngoài trời đêm. Trăng
mùng Chín vừa khởi sự, ánh vàng nhoè lung ảo. “Cho mày
ngâm khí sương miền cao một đêm nữa để nay mai vào Sài
Gòn còn có cái để nhớ”. Lúc lâu, Đại lại cất tiếng
thở dài, cái kiểu tư lự giống hệt bác Thứ mỗi khi có
chuyện gia đình đại sự.
- Đàm
nè, là cố hữu thâm giao tao mới nói để mày hiểu bụng
tao. Cái chuyện chị Tuyết ấy mà. Chậc, chị hy sinh cho cái
nhà này nhiều quá, quên cả việc đi lấy chồng. Tao sợ,
cứ dùng dằng mãi rồi lỡ thì, tội cho chị ấy.
Lúc
ấy, không dưng, đúng, tôi không sao hiểu nỗi duyên cớ đẩy
đưa mình nói ra ý nghĩ thiếu suy xét này:
- Hay
là tao đến với chị Tuyết?
Đại
ngẩng đầu nhìn tôi chăm chăm. Rồi hắn quay mặt đi. “Chuyện
tình cảm, lại là chuyện cả đời, không nên cưỡng ép.
Tuỳ đấy. Thì mày cứ liệu”.
Tôi
lại nhắm mắt đưa chân đi tiếp:
- Tao
thấy cái cảnh ấy cũng hay lắm. Nay mai tao sẽ xin về ở
hẳn một toà báo nào đấy. Sáng, chồng đến toà soạn. Chiều,
vui vầy cùng vợ con. Vợ có thể mở ngay một quán hàng bán
buôn gì đấy. Cái cảnh hạnh phúc nhỏ nhen ấy thường hay
gặp ở các tay văn sĩ hồi trước.
- Đó
là ý của mày. Thì đấy, mày cứ liệu tính.
Rồi
hắn lầm rầm điều gì mà tôi không rõ, chỉ nghe lỏm được
câu “…có vong linh cha chứng giám”.
Đêm
trước ngày tôi rời miền cao. Đại xuống tiễn chân. Lần
đi này có thể là vĩnh tuyệt. Sau khi đắn đo về chuyện
chị Tuyết, tôi thấy bất an, càng nghĩ, tôi thấy mình quá
nông nỗi trong một giấy phút bốc đồng. Cuối cùng, tôi
phải đem tâm ý ra giãi bày với Đại. Khó khăn lắm tôi mới
thốt nổi mấy lời này:
- Đại
à… cho tao rút lại lời hôm trước… Thực tình tao chưa
muốn trói buộc.
Nghe
tôi nói xong những lời những lời như thế, Đại quắc mắt.
Hắn nhìn tôi chết trân. Tính hắn rất nóng, xưa nay thế.
Mặt hắn đỏ lừ. Hắn có thể ra đấm giáng vào mặt tôi.
Nhưng hắn đã không làm thế, mà ngậm ngùi, chua chát:
- Chính
mày ngỏ ý, rồi cũng chính mày rút lời. Mày nhanh thay đổi
quá.
Nói
xong, hắn dứt khoát từ tôi. Mặc cho những lời phân bày
nhạt nhẽo của cái thằng tôi hèn nhát. Đúng, tôi là một
thằng hèn, một thằng vô liêm sỉ. Có phải thực sự tôi
chưa thích trói buộc, hay vì cuộc sống còn nhiều trắc trở
nên tôi mới nhanh thay lòng, chưa đến mà đã vội đi? Hay
như người ta bảo về lẽ người đời, bắt chim thì bắt
chim đậu chứ ai cố đi bắt đàn chim bay. Cũng may là tôi
chưa thổ lộ để chị Tuyết biết, không thì chị đã đau
khổ nhường nào.
Chuyến
đi vào Sài Gòn của tôi hôm ấy thật u ám, nặng nề. Nhiều
tháng trời trôi qua, tôi vẫn không làm sao trút được gánh
nặng trong lòng. Một niềm ân hận day trở tôi không nguôi.
Tháng Giêng, tháng Hai, tháng Ba rồi tháng Tư… Những cơn mưa
tháng Tư của trời Sài Gòn ập xuống bất chợt làm tôi chạnh
nhớ về miền cao quê hương. Lúc này, tôi thành tâm cầu mong
sao ở nhà chị Tuyết sớm lấy chồng. Nhưng cứ thắc thỏm
không biết chị có được hạnh phúc không?