.
.SỐ 12 -THÁNG 1, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 12-THÁNG 1, 2006

 

 


Sự kiện nổi bật nhất trong năm qua
CON NGƯỜI, THIÊN NHIÊN, SIÊU NHIÊN
Cao Huy Thuần

Công việc đầu tiên của báo Tết là điểm lại những sự kiện nổi bật nhất trên thế giới trong năm qua. Không phải là tờ báo chính trị, Văn Hóa Phật Giáo sẽ không lựa chọn những sự kiện chính trị. Nhưng dù chính trị hay không, ai cũng phải thừa nhận rằng, thiên tai là sự kiện nổi bật nhất, gây ấn tượng sâu mạnh nhất trong lòng con người trên toàn thế giới. 

Thiên tai là chuyện của muôn đời; muôn đời con người phải đối phó. Nhưng thiên tai trong năm qua vượt quá mức tưởng tượng của con người, vượt quá sức chịu đựng của một nước, gây chấn động chưa bao giờ thấy trong lương tâm cá nhân, lương tâm xã hội, lương tâm quốc gia, lương tâm chính trị. Hơn thế nữa, thiên tai xảy ra dồn dập, khắp nơi, tưởng như sấm sét kéo dài từ đầu trời đến cuối trời của một cơn thịnh nộ chưa hả dạ. Tai họa nào sắp giáng xuống cho cả nhân loại chăng? Hồng thủy sắp dâng lên chăng? Tìm đâu chiếc bè cứu thế? Nơi này, nơi khác, không thiếu gì nhà tiên tri, nhân thiên tai hãi hùng trong năm qua, mượn oai của siêu nhiên để giải mã những ẩn số mà con người vốn đặt trên thiên nhiên từ thuở hồng hoang.

Gây ấn tượng về siêu nhiên lớn nhất là sóng thần ở Á châu. Chuyện xảy ra cuối năm Thân, nhưng liên hệ mật thiết với năm Dậu, Thân Dậu niên lai, sóng thần thỉnh thoảng vẫn hiện ra trên màn ảnh như chuyện vẫn còn quá mới. Một lớp sóng, hai lớp sóng ... Chưa kịp hiểu biển muốn nói gì thì cả trăm ngàn người đã chết một loạt, hàng ngàn xác bị cuốn trôi, nhà cửa tan tành bình địa. Thiên nhiên đâu có bao giờ trở mặt chớp nhoáng như vậy? Hủy diệt bạo ngược thế kia? Ấy là thiên nhiên chăng? Hay là siêu nhiên nào đó? Câu hỏi chỉ đặt ra về sau. Phản ứng đầu tiên của con người là xúc động trước nỗi khổ của đồng loại. Là thương, chứ không phải sợ. Sóng thần rút đi, một làn sóng khác dâng lên, không kém thần thánh, trong lòng trắc ẩn của cả thế giới: đợt sóng liên đới đầu năm Dậu. Có bao giờ phương Tây liên đới với phương Đông đến thế đâu? Ào ào, tiền đóng góp của tư nhân đổ vào quỹ cứu trợ, đầy ắp, tràn ra đến nỗi các tổ chức từ thiện ở Pháp không biết làm gì cho hết. Chủng tộc, quốc gia, tôn giáo... bao nhiêu hàng rào ngăn cách con người với nhau bỗng phút chốc ngả rạp trước xúc cảm. Trong đời sống chuộng vật chất ngày nay, người phương Tây, vốn thiên về cá nhân chủ nghĩa, lại càng thêm vị kỷ; sóng thần đánh thức dậy lòng vị tha vẫn tiềm tàng ở đấy. Sóng vị tha của tư nhân lôi cuốn theo hành động bác ái của doanh nhân và quyết định xóa nợ của các chính phủ. Đã đành màn ảnh truyền hình là sức mạnh ghê gớm đã thúc đẩy bác ái, vị tha, như có thể tạo ra bất cứ gì khác, nhưng nếu trái tim của con người khô cằn, lấy đâu ra giọt nước xót thương để đưa đến hành động? Từ tai biến của năm Thân, năm Dậu rút ra một bài học lạc quan về gốc thiện nơi con người. Thế giới ngày nay càng ngày càng đi sâu vào toàn cầu hóa, từ kinh tế, thương mại, văn hóa cho đến tiêu khiển, nhàn du : bãi biển Phuket của Thái Lan nhuộm hồng thân hình của tứ xứ. Bỗng nhiên sóng thần khởi lên một hiện tượng toàn cầu hóa khác : toàn cầu hóa của lòng thiện, của ý thức trái đất là của chung, là vật báu, là số mạng tập thể của muôn loài. Có lẽ đó là câu trả lời tích cực nhất mà những con người mong manh có thể ngửa mặt lên để nói với thiên nhiên cuồng nộ: chính mong manh của kiếp người dạy cho con người biết phải sống như thế nào với chính mình, với chung quanh mình, với đồng loại, với toàn thế giới, và cả với cuồng bạo của thiên nhiên. Thiên nhiên phá đổ, con người chung nhau xây dựng lại. Thiên nhiên là ác chăng? Con người chỉ có câu trả lời duy nhất là thiện. Bởi vì nếu phá đổ là ác thì xây dựng là thiện. Hễ có phá đổ thì có xây dựng: cái thiện nằm trong chính cái ác. 

Sau sóng thần, hình như các tiếng nói tôn giáo chân chính đều có khuynh hướng trả lời theo cách đó. Công lý của Thượng đế là tín điều của đạo Hồi : từ đó phần đông người Hồi giáo cắt nghĩa rằng, sóng thần là thịnh nộ của Allah, tai họa là trừng phạt của ngài. Nhưng tại sao người tốt cũng bị trừng phạt như người xấu? Để cắt nghĩa điều không thể cắt nghĩa đó, giới cấp tiến trong Hồi giáo nói khác : khi tạo ra con người tự do, Thượng đế cho phép có cái ác, nhưng tự mỗi người phải sử dụng tự do của mình để làm điều tốt. Các lý thuyết gia cấp tiến của đạo Do Thái cũng giải thích tương tự, tuy rằng trong Thánh kinh, Thượng đế lắm khi xuất hiện dưới bộ mặt trả thù dữ tợn. Họ nói : Thượng đế tạo ra vũ trụ và những yếu tố trong vũ trụ, nhưng những yếu tố này do luật thiên nhiên chi phối, độc lập với ý muốn của Thượng đế và ý muốn của con người. Thượng đế tạo ra vũ trụ, nhưng vũ trụ tiếp tục xoay vần theo con đường của nó. Descartes, cùng các triết gia của thế kỷ XVIII, cũng đã từng nói như vậy, và chính tư tưởng này đã đẩy Thượng đế ra khỏi thiên nhiên. Thiên Chúa giáo rõ ràng hơn nữa: Giê su không loại bỏ cái ác, ngài chỉ vẽ ra cho thấy con đường đưa đến Thượng đế và đời sống vĩnh hằng. Giê su cũng không cắt nghĩa cái ác và tại sao Thượng đế cho phép cái ác; chính ngài là nạn nhân của cái ác, và ngài đến để sống như thế với mọi người. Thánh kinh (Luc 13, 4-5) có kể chuyện cái tháp Siloé: cái tháp đó đổ xuống, làm chết 18 người, chết vô lý. Giê su nêu lên vấn đề tội ác của nạn nhân nhưng để gạt bỏ ngay tức khắc. Ngài nói: nếu các người không theo đạo của ta, các người sẽ chết nhanh chóng như thế.

Đạo Phật, ai cũng biết, không tìm câu giải đáp ở đâu khác ngoài nơi chính con người. Con người tạo nghiệp cho mình, và con người tập thể tạo nghiệp tập thể. Phúc hay họa là do mình tạo ra, ngay cả việc sinh vào tập thể nào cũng là do nghiệp mình kiếp trước. Ai muốn tin hay không tùy ý, nhưng tương lai nằm cả trong tay mình. Không có câu giải đáp nào đưa đến hành động tích cực, dũng mãnh hơn thế. Cụ thể mà nói một chuyện nhỏ, giá như con người đừng phá rừng để xây khách sạn ngay trên bãi biển Phuket, khu rừng đã có thể ngăn cản bớt sức công phá dữ tợn của sóng thần. Thiên nhiên bao giờ cũng có hai bộ mặt : vừa là mẹ hiền, vừa là dì ghẻ. Tự thiên nhiên không có thiện ác,  thiện ác nằm trong con người và con người có khả năng biến cải. Người Tây phương kinh hoàng nhìn sóng thần trên màn ảnh, nhưng họ cũng kinh ngạc và thán phục nhìn dân tộc Thái bình tỉnh trong tai họa để bình tỉnh cứu giúp nhau : "mai pen rai, chẳng hề chi, họ nói như vậy, rồi tai họa sẽ qua ... " Thay vì đặt câu hỏi về thịnh nộ của một ông thần nào đó, cả dân tộc Thái cùng ra sức xây dựng, tái tạo. Rồi tất cả sẽ như trước, mai pen rai. Người Tích Lan cũng một lời như thế. Họ lạy Phật, nhưng họ biết Phật không bao giờ giận, chỉ duy nhất thương. Có gì tích cực hơn? 

Bão Katrina ở Mỹ gây chấn động thế giới trên một lĩnh vực khác : đây là lần đầu tiên nước giàu nhất, mạnh nhất trên hoàn cầu ngả quỵ dưới uy vũ của thiên nhiên. Không cần phải có bom nguyên tử, gió và nước đã lột xác nước Mỹ, chỉ còn để lại độc cái quần đùi : lần đầu tiên nước Mỹ đưa ra hình ảnh một nước nghèo lạc hậu, với xác chết không chôn, với cướp bóc, với bạo lực, với súng nổ để giành nhau một chỗ đứng trên xe buýt di tản, với nạn nhân không miếng ăn, nước uống, với người sống không hơn con vật, với hàng ngàn hình hài bị vất ra ngoài đường, với hơi thối xông lên trong thành phố ma, chìm trong đêm tối không đèn; và trên tất cả, với một chính quyền bất lực, cả tiểu bang lẫn liên bang, một xã hội lồ lộ bất công giàu nghèo, đen trắng. Ai cũng biết thực tế đen trắng ở Mỹ, ai cũng biết 67% dân chúng ở thành phố New Orleans là đen và 30% trong số da đen sống dưới mức nghèo, nhưng khi thấy trên màn ảnh toàn một màu da đen ngoi ngóp với tang thương, đâu rồi nước Mỹ làm gương cho thế giới? Chẳng lẽ Thượng đế chỉ nhắm vào người da đen để trừng phạt  

Người Mỹ tự hỏi: nước Mỹ không đủ phương tiện để đối phó với một trận bão, không đủ tiền bạc để nâng mức sống của người da đen, tại sao lại phung phí sức người, sức của tận xứ Irak xa xôi? Chính phủ Mỹ cắt nghĩa chiến tranh ở đấy là cần thiết để bảo đảm an ninh của dân chúng Mỹ, để xây dựng dân chủ ở Trung Đông, vậy đâu là an ninh của chính dân Mỹ trước thiên tai, đâu là dân chủ tại chính nước Mỹ khi bất công, nghèo đói, dốt nát khiến cả một giai tầng xã hội bỏ phiếu bằng cách tẩy chay thùng phiếu? 

Người Mỹ tự hỏi thêm: đâu rồi hào quang 11-9 của ông Bush, khi cả một thành phố ngập nước giơ nắm tay lên trời chửi thề bầu trời nặng trịch mây xám, vắng ngắt bóng dáng trực thăng của vị nguyên thủ quốc gia? Sa lầy chiến tranh ở bên ngoài, bối rối lãnh đạo ở bên trong, với uy tín suy sụp, bao lâu nữa ông Bush còn đưa nước Mỹ vào con đường đơn phương can thiệp vũ lực, tấn công ngoại giao, áp chế thế giới với hệ ý thức của mình ? Bao lâu nữa áp lực tân bảo thủ còn đè nặng trên ngoại giao của Mỹ? Bao lâu nữa, như phản ứng tự nhiên, khuynh hướng quay về bên trong, củng cố nội lực, sẽ ngẩng mặt lên, hứa hẹn với thế giới một nước Mỹ từ tốn hơn, bớt trịch thượng, biết nghĩ đến quyền lợi của đồng minh hơn, lãnh đạo thông minh hơn? Một nước Mỹ nêu cao gương sáng với những giá trị dân chủ, tự do của mình, không cần xuất cảng nhân quyền với dân chủ bằng xe tăng và thánh kinh của born again, vốn là chủ trương của Jefferson thời lập quốc. Không chừng bão Katrina muốn nhắc nhở lại mẫu mực lý tưởng cố hữu ấy chăng?

Động đất ở Cachemire đưa thế giới về lại với xứ nghèo. Không phải chỉ nghèo, Cachemire còn là đất của hận thù, khủng bố, khích động tôn giáo từ khi biên giới chia cắt giữa Ấn Độ và Pakistan vạch ngang qua đó năm 1948, trao cho Ấn Độ một vùng đất lớn trên đó đa số dân là Hồi giáo. Đất Ấn dân Hồi: tranh chấp bắt nguồn từ đó, kéo dài không nguôi, chiến tranh dường như lúc nào cũng có thể bùng nổ. Hai bên đang mài dũa nanh vuốt nguyên tử thì ầm lên động đất ngày 8-10 trên phần đất thuộc Hồi. Bao nhiêu người chết? Con số 58.000 có thể nhân lên gấp đôi nếu 79.000 người bị thương và 3 triệu nạn nhân không nơi trú ẩn không được cứu trợ cấp tốc để chống đỡ với mùa đông khắc nghiệt trắng xóa tuyết chung quanh Hy Mã Lạp Sơn. Địa thế hiểm trở, đường sá tan tành, cứu trợ chỉ có thể đến tự trên trời, mà trực thăng thì thiếu. Tác giả vô tâm của thống khổ, trời đất đâu có nghe tiếng kêu bi thương! 

Nhưng con người thì nghe, kể cả con người thù hận. Cho nên người thù Ấn Độ đề nghị với người thù Hồi Quốc, và hai bên đồng ý mở năm cửa ngỏ trên đường biên giới khóa kín để cứu trợ có thể mượn đường Ấn và để nạn nhân Hồi có thể qua lại với gia đình bên kia lằn ranh. "Lằn ranh" là cách nói của Pakistan, vì họ không nhận biên giới chia cắt là vĩnh viễn. Yếu thế, khí giới của họ là khủng bố, khủng bố bên kia lằn ranh và khủng bố tận kinh đô của kẻ tử thù. Vài giờ trước khi hai bên ký kết mở năm cửa, khủng bố nổ bom giữa thủ đô Ấn, giết 60 thường dân giữa chợ và trên xe buýt. Biên giới vẫn mở, cứu trợ qua lại. Động đất ở Cachemire xúc động lương tâm chính trị, củng cố thêm khuynh hướng hòa hoãn giữa hai bên, bắt đầu bằng hòa hoãn giữa hai chính phủ trước hiểm họa nguyên tử. Hai bên lằn ranh, thù địch nhường chỗ cho liên đới giữa người với người. 

Một lần nữa, câu trả lời tích cực nhất cho khổ đau do thiên tai nằm sẵn trong trái tim. Nhìn vào đó thì biết mình phải làm gì, thì chỉ thấy bi thương trước mắt phải cứu, không thấy những thế lực siêu nhiên dọa nạt nào buộc đầu gối phải quỳ như lệnh truyền của giới tôn giáo cực đoan ở Mỹ. Quỳ xuống! Nhìn đi! Chẳng thấy vết tàn phá do Katrina để lại hao hao giống hình dáng của bào thai đó sao! Chẳng thấy bao nhiêu y viện chuyên phá thai nằm dọc trên con đường cơn bão đã quét qua sao? Hãy nhìn Thượng đế trừng phạt!

Cũng vậy, suốt năm qua, trên báo chí, trên mạng lưới, xôn xao những thuyết giảng về ngày tận thế, cũng ở Mỹ. Nào sóng thần, nào bão Katrina, nào liên miên cuồng phong trên vịnh Mexico, nào động đất ở Cachemire, nào cúm gà trên toàn thế giới... triệu chứng gì vậy nếu không phải là tín hiệu của Ngày Tận Thế? Thượng đế đã tạo ra vũ trụ tất Thượng đế cũng có quyền năng chấm dứt. Chấm dứt bao giờ thì Thượng đế giữ kín bí mật cho riêng ngài, nhưng chấm dứt thế nào thì các nhà tiên tri nghĩ ra nhiều kịch bản khác nhau tùy cách diễn dịch một câu trong Kinh Thánh nói đến một ngàn năm hạnh phúc. Trong lịch sử châu Âu, thuyết ngàn năm cứ thỉnh thoảng rộ lên. Có thuyết nói: trước ngày tận thế, nhân loại sẽ sống ngàn năm hạnh phúc, hòa bình, phồn thịnh. Như vậy là đang hạnh phúc cũng lo: mỗi bước của hạnh phúc cũng đồng thời là mỗi bước đi tới tận thế. Có thuyết nói: đâu phải, hỗn loạn dồn dập xảy ra trước rồi ngàn năm hạnh phúc mới đến sau. Như vậy cũng không hết phân vân: đang đợi cái gì đây, đợi tận thế và Chúa hiện ra rạng rỡ, hay đợi ngàn năm hạnh phúc địa đàng? 

Nhiều vị lãnh đạo nhà thờ ở Mỹ trong phái Évangéliste bây giờ cũng giải thích cho tín đồ theo hai lối khác nhau đó. Vị nào không quá bám sát theo chữ trong Thánh kinh thì nói: ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo sẽ lớn rộng trên khắp thế giới cho đến khi toàn thế giới đều theo đạo cả; tình trạng tốt lành đó sẽ đưa đến ngàn năm hòa bình, phồn thịnh. Đây là các vị hậu thiên niên; hậu, vì họ tin Giê su sẽ hiện ra sau ngàn năm hạnh phúc đó. Vị nào bám chặt chữ thì nói: ngàn năm là đây rồi, đang trải ra trước mắt, nhưng cái ác vẫn đang tồn tại và chỉ bị triệt tiêu khi nào Giê su trở lại. Đây là các vị tiền thiên niên. Tất nhiên vị nào cũng đúng cả, vì chẳng ai sống được ngàn năm để phán vị nào sai. Điều đáng nói là, thiên tai trong năm Dậu tăng cường ưu thế của các vị tiền thiên niên, nghĩa là các vị xúi ta nhìn đời với cặp mắt bi quan. Lịch sử, theo họ, là nhất quyết càng ngày càng đi tới giai đoạn tồi tệ, khốn đốn, và giai đoạn đó chỉ chấm dứt khi Chúa hiện ra lại và ngự trị ngàn năm (1). 

Trong thế giới mà tất cả đều trở thành thị trường, siêu nhiên cũng không tránh khỏi số phận. Càng làm dấy lên văn hóa tận thế, các vị thủ lãnh cực đoan càng đông thêm tín đồ ; càng khuyên nhủ "phải giúp kẻ nghèo khổ", tín đồ càng thưa đi (2). Tín đồ càng thưa hơn nữa nếu có vị nào nhắn nhủ thêm: tác giả của ngày tận thế không có ai khác hơn con người, nếu con người cứ tiếp tục hủy hoại thiên nhiên tàn khốc như hai nước lớn nhất thế giới đang làm hiện nay. Dù thiên nhiên có khi tàn bạo, thiên nhiên là nguồn sống của con người. Nếu có siêu nhiên thì mỗi ngọn cỏ, mỗi giọt sương cũng là siêu nhiên. Con người cũng có khả năng siêu nhiên! Bí hiểm của thiên nhiên, có thể con người không bao giờ hiểu hết. Nhưng chính vì không bao giờ hiểu hết cho nên thái độ sống tỉnh táo và hợp lý nhất là đối đãi với thiên nhiên như thiên nhiên muôn đời vẫn thế, nghĩa là vừa mẹ hiền vừa dì ghẻ, hai mặt đối nghịch nhau có sẵn nơi bất cứ sự vật gì. Vì đối nghịch nhau từ trong bản chất, cho nên sự vật mới tồn tại; nếu chỉ có nắng mà không có mưa, có nóng mà không có lạnh, có ngày mà không có đêm thì thiên nhiên đã chết rũ tự bao giờ mà con người cũng không có mặt trên trái đất. Đối nghịch nhau là luật tồn tại nơi mỗi sự vật, cho nên đừng thấy mặt này mà quên mặt kia, hai mặt chỉ là một, bao giờ cũng là một của mỗi thực thể. Tách cái mặt dữ tợn của thiên nhiên ra, rồi gán cho nó một ông thần thịnh nộ là thái độ sống không đưa đến bình an. Hãy xem người ngư phủ Tích Lan nhìn biển vài ngày sau cơn sóng hãi hùng: mây hồng buổi sáng, nước êm, mặt trời lấp lánh, vẫn biển muôn đời nuôi sống, nào đâu ông thần ra oai?
 

Chú thích:
(1) và (2) When Bad News Looks Like Doomsday, New York Times, 22-10-2005.   


NIỀM VUI CHÁNH PHÁP 
HT. Thích Minh Châu

Nhân dịp đầu xuân năm nay, tôi gửu đến quý Phật tử bài giảng có chủ đề Pháp Lạc hay Niềm vui Chánh pháp. Sở dĩ chúng tôi chọn đề tài này là bởi chúng tôi cảm nghiệm Pháp lạc hay lợi ích thiết thực của lời Phật dạy đối với đời sống hằng ngày của người Phật tử chúng ta, một khi lời dạy ấy được chấp nhận thực hành hay được khéo vận dụng vào cuộc sống. Đức Phật mô tả Pháp của Ngài là “thiết thực hiện tại”, “không có thời gian”, “đến để mà thấy”, “có khả năng hướng thượng”, “để người trí tự mình giác hiểu”. Theo kinh nghiệm của những người chuyên hành trì thì Pháp của Đức Phật tựa như bánh mật mà vị ngọt của nó đến liền qua mỗi lần nếm1. Nói khác đi, người ta sẽ cảm nhận Pháp lạc hay lợi ích thiết thực của những lời Phật dạy ngay trong khi thực hành chúng. Pháp ở đây tiêu biểu cho lời dạy của Đức Phật hay giáo lý của Ngài và như vậy Pháp lạc hay niềm vui Chánh pháp có nghĩa là niềm hạnh phúc hay an lạc đạt được nhờ thực hành Chánh pháp hay theo đuổi lời dạy của Đức Phật. Nói đến hạnh phúc tức là nói đến kinh nghiệm nội tâm mà tự thân mỗi người cảm nghiệm trong cuộc sống, tùy thuộc vào nhận thức và quan điểm của người ấy về cuộc đời và về ý nghĩa cuộc đời. 

Đạo Phật đề cập nhiều cấp độ hạnh phúc hay kinh nghiệm lạc thọ khác nhau và nêu rõ mức độ thù thắng giữa chúng2. Ví dụ, thú vui giác quan hay sự thỏa mãn lòng ham muốn sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, cảm xúc êm dịu được gọi là dục lạc (kàmasukha/nandi). Đức Phật gọi niềm vui hay hạnh phúc này là cảm giác lạc, hạ liệt lạc, phàm phu lạc, phi thánh lạc và khuyên các môn đệ của mình không nên tìm cầu bởi lạc ấy vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm càng nhiều hơn, gắn với khao khát, thất vọng, lo âu, giành giật, tranh chấp, cướp bóc, đấu tranh, bạo động, chiến tranh, tội ác và hình phạt3. Niềm vui của sự nỗ lực hướng thiện, bỏ ác làm lành, được cảm nhận ngay trong đời này và tận hưởng đời sau được gọi là thiên lạc (devasukha/rati). Loại hạnh phúc này được Đức Phật mô tả là hướng thượng, tối thắng, không sợ hãi bởi nó siêu việt dục lạc hay thú vui giác quan và bởi nó phát sinh do tâm nguyện và công đức làm lành lánh dữ. Niềm vui hay sự tịnh lạc đạt được do điều phục tâm và nhờ chứng đắc các thiền (jhàna) được gọi là thiền lạc (samàdhipìti/jhànasukha). Đức Phật gọi niềm vui này là ly dục lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giải thoát lạc bởi nó phát sinh do duyên ly dục, ly các ác bất thiện pháp, do tâm định, do xả niệm lạc trú và do xả niệm thanh tịnh, thông qua các cấp độ thiền chứng. Niềm vui hay sự an lạc do phát triển trí tuệ, thấy rõ bản chất các pháp, hướng đến đoạn trừ vô minh, tham ái, chấp thủ được gọi là giải thoát lạc hay Niết bàn lạc (vimuttasukha/Nibbànasukha). Đức Phật mô tả trạng thái giải thoát hay Niết bàn là tối thắng lạc (Nibbànamï paramamï sukhamï). Như vậy, ngoại trừ dục lạc mà Đức Phật gọi là cảm giác lạc, hạ liệt lạc, phàm phu lạc, phi thánh lạc và khuyên các môn đệ của mình nên tránh xa vì vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm càng nhiều hơn, thiên lạc, thiền lạc và giải thoát lạc được xem là tối thắng, cao thượng và được gọi chung là Pháp lạc (Dhammasukha/pìti) bởi chúng phát sinh trên cơ sở thực hành Chánh pháp hay theo đuổi lời dạy của Đức Phật.

Chúng tôi nêu quan điểm Pháp lạc hay kinh nghiệm hạnh phúc của việc hành trì lời Phật dạy để xác minh một vấn đề quan trọng: Nếp sống Phật giáo luôn luôn là nếp sống hạnh phúc an lạc. Chúng ta sống theo lời dạy của Đức Phật có nghĩa là chúng ta đang sống hạnh phúc trong Chánh pháp, đang tận hưởng Pháp lạc. Để minh chứng cho quan điểm vừa nêu, chúng tôi muốn giới thiệu với quý Phật tử hai nếp sống mang lại Pháp lạc - nếp sống thực hành 10 điều thiện và nếp sống hành thiền - mà trong các bản kinh của Ngài4 Đức Phật đã gọi là pháp hành hiện tại lạc tương lai quả báo cũng lạc. 

Thứ nhất là nếp sống thực hành 10 thiện nghiệp, được Đức Phật gọi là pháp hành hiện tại lạc tương lai quả báo cũng lạc. Đây là nếp sống hay pháp hành liên quan đến việc tu tập thân khẩu ý mà người Phật tử cần theo đuổi nhằm mục đích tịnh tu tam nghiệp. Trong bản kinh Đắc Pháp Đại kinh, Đức Phật nói đến mục đích sự tu tập và quả quyết rằng người ta sẽ đạt được hạnh phúc ngay lập tức qua việc thực hành 10 thiện nghiệp. Theo Ngài, hạnh phúc đến với con người ngay trong lúc người ấy đang làm điều lành và lẽ tất nhiên sẽ đến sau khi điều lành đã được làm. Ngài ví sự kiện một người làm lành tựa như một người đau bệnh kiết nhận được một bát thục tô trộn lẫn với đường và mật, trong khi uống người ấy được sảng khoái bởi vị ngọt bát thục tô, sau khi uống vị ấy được thoát khỏi cơn bệnh5: 

“Này các Tỷ-kheo, ví như lạc, mật, thục tô và đường trộn lẫn với nhau. Rồi có người đi đến bị bệnh kiết lỵ. Và có người nói với người ấy như sau: ‘Này bạn, đây là lạc, mật, thục tô và đường trộn lẫn với nhau. Nếu bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, bạn sẽ được an lạc’. Người kia có thể uống, sau khi suy nghĩ, không có từ bỏ. Trong khi uống, người kia được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, người kia được an lạc. Này các Tỷ-kheo, Ta nói pháp hành này giống như ví dụ ấy, tức là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo cũng lạc”. 

Như vậy, trái với quan điểm của một số người cho rằng, để theo đuổi mục đích tôn giáo người ta phải hy sinh niềm vui hiện tại cho hạnh phúc mai sau, giáo lý của Đức Phật được giảng dạy cho việc nắm bắt hạnh phúc hiện tại lẫn tương lai. Kinh nghiệm thực hành 10 thiện nghiệp được mô tả trên đây cho chúng ta thấy rằng từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham, sân, si là những việc làm mang lại niềm vui và hạnh phúc ngay lập tức cho người thực hành, đồng thời dự báo một tương lai tái sinh tốt lành cho người ấy sau khi từ giã cõi đời này. Như vậy, một người Phật tử chuyên tâm thực hành lời Phật dạy, quyết tâm bỏ ác làm lành, sẽ cảm nhận hạnh phúc ngay trong hiện tại, ngang qua việc làm của mình, đồng thời sẽ tận hưởng phước báo đời sau do nhân các thiện nghiệp. Vị ấy được gọi là người chiến thắng hai đời, đời này và đời sau: 

Thứ hai là nếp sống hành thiền, cũng được gọi là pháp hành hiện tại lạc tương lai quả báo cũng lạc. Đây là nếp sống hay pháp hành liên quan đến việc huấn luyện tâm thức ngang qua pháp môn Tứ niệm xứ. Đức Phật gọi thiền là pháp hành hiện tại lạc tương lai quả báo cũng lạc bởi lẽ thiền đưa đến các trạng thái hỷ lạc và an tịnh ngay lập tức cho người thực hành; ngoài ra, thiền cũng dự báo một tương lai tái sinh tốt lành cho người hành trì, trong trường hợp vị ấy chưa đoạn trừ tận gốc các phiền não lậu hoặc: 

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ; diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm; ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba; xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy này các Tỷ-kheo, được gọi là pháp hành hiện tại lạc và tương lai quả báo cũng lạc.” 

Với kinh nghiệm của mình, Đức Phật mô tả trạng thái Sơ thiền là hỷ lạc do ly dục sanh và bảo hỷ lạc ấy thấm nhuần thân tâm người hành thiền, giống như cục bột tắm, được thấm nhuần nước ướt khi được trộn nhồi với nước. Ngài gọi trạng thái Nhị nhiền là hỷ lạc do định sanh và bảo, hỷ lạc ấy thầm nhuần thân tâm người hành thiền, giống như một hồ nước, được thấm nhuần nước mát do lòng hồ được xây kín và do thỉnh thoảng trời có mưa lớn. Trạng thái thiền thứ ba (Tam thiền) được Đức Phật gọi là xả niệm lạc trú và Ngài bảo, cảm giác lạc thọ ấy thấm nhuần thân tâm người hành thiền, giống như các hoa sen sinh ra và lớn lên trong nước, được thấm nhuần nước mát từ đầu cho đến gốc rễ. Bậc Đạo sư mô tả trạng thái thiền thứ tư (Tứ thiền) là xả niệm thanh tịnh và bảo, trạng thái thuần tịnh ấy thấm nhuần thân tâm người hành thiền, giống như một người ngồi dùng tấm vải trắng trùm kín thân thể khiến toàn thân đều được phủ kín bởi tấm vải trắng. 

Những mô tả và lối so sánh về bốn trạng thái thiền trên đây của Đức Phật cho chúng ta một hình ảnh sống động về Pháp lạc hay kinh nghiệm hạnh phúc của pháp môn hành thiền là như thế nào. Và như vậy, chúng ta có thể nói rằng, một người hành thiền tức là một người đang sống trong hạnh phúc an lạc. Vị ấy hạnh phúc an lạc bởi thân tâm vị ấy được thấm nhuần, tràn đầy với hỷ lạc do ly dục sanh, với hỷ lạc do định sanh, với xả niệm lạc trú và với xả niệm thanh tịnh. Đức Phật gọi thiền (jhàna) là hiện tại lạc trú (ditïtïhadhammasukhavihàra), nghĩa là sống hạnh phúc ngay trong hiện tại. Ngoài ra, Ngài cũng xem thiền là con đường dẫn đến cõi lành, tức một đời sống tái sinh tốt lành cho người hành thiền, trong trường hợp vị ấy chưa đoạn sạch các lậu hoặc.  

Chúng tôi vừa giới thiệu với quý Phật tử hai nếp sống hay pháp hành mang lại Pháp lạc hiện tại và tương lai cho người thực hành. Đức Phật gọi hai nếp sống này là pháp hành hiện tại lạc tương lai quả báo cũng lạc, nghĩa là những nếp sống hay việc làm đưa đến hạnh phúc hiện tại là tương lai cho những ai khéo thực hành. Chúng ta là Phật tử, phát nguyện quy y nương tựa Tam Bảo và thực hành lời Phật dạy, lẽ tất nhiên chúng ta sẽ hưởng được Pháp lạc hay niềm vui Chánh pháp do công phu tu tập của chúng ta. 

Điều chúng tôi muốn lưu ý với quý Phật tử là, chúng ta cần phải tuyệt đối tin tưởng ở giáo lý của Đức Phật và nỗ lực thực hành theo lời dạy của Ngài. Có như vậy chúng ta mới hưởng được Pháp lạc, mới thấy hết giá trị to lớn mà giáo lý đạo Phật đem đến cho chúng ta. Hai nếp sống, bỏ ác làm lành và hành thiền, mà chúng tôi vừa trình bày trên đây nói rõ giá trị thiết thực của giáo lý Đức Phật đối với đời sống của chúng ta. Đó là các chỉ dẫn đạo đức và tâm linh hết sức căn bản và cần thiết cho nếp sống hạnh phúc hướng thượng của người Phật tử. Hai nếp sống ấy vừa giúp chúng ta thành tựu hạnh phúc hiện tại và tương lai, vừa nâng cao giá trị đạo đức và tâm linh của đời sống chúng ta, khiến cho cuộc sống của chúng ta càng tăng thêm ý nghĩa và giá trị. Chúng ta có thể nói rằng, ít có hệ thống giáo lý nào mà phương pháp thực hành lại đơn giản nhưng cùng lúc đưa đến hai kết quả vừa thiết thực vừa cao quý như lời dạy của Đức Phật. Rõ ràng, để có hạnh phúc và nâng cao đời sống đạo đức tâm linh, người ta không cần tới bất kỳ phương tiện vật chất nào, ngoài việc xem xét nội tâm và sống đạo đức trong sạch. 

Vấn đề thứ hai chúng tôi muốn lưu ý với quý Phật tử la,ø chúng ta cần phải hết sức trân trọng gìn giữ và phát huy truyền thống đạo đức và tâm linh vốn có của chúng ta trong bối cảnh xã hội và thế giới đang có nhiều chuyển đổi lớn và nhanh chóng dẫn đến các quan niệm lệch lạc về giá trị nhân sinh do kết quả sự phát triển của công nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật. Gần đây chúng tôi có đọc một số sách báo của người Tây phương viết về đời sống văn hóa của họ so sánh với văn hóa truyền thống Đông phương và nhận ra rằng rất nhiều người Tây phương ngày nay hết lòng ca ngợi văn hóa Đông phương, đặc biệt là truyền thống tâm linh Phật giáo. Chúng tôi ngạc nhiên không phải vì chúng tôi không hiểu ra căn nguyên khiến văn hóa Tây phương khó tránh khỏi khủng hoảng, mà bởi chúng tôi nghĩ rằng văn hóa Đông phương nói chung và đạo Phật nói riêng hẳn phải có một giá trị đặc biệt thiết thực nào đó đối với nhân sinh mới khiến cho người Tây phương, vốn rất xem trọng các giá trị thực dụng, chú ý tới. Chúng tôi nêu vấn đề người Tây phương quan tâm đến Phật giáo để lưu ý với quý vị về giá trị của truyền thống đạo đức và tâm linh mà chúng ta may mắn được thừa hưởng. Chúng ta không nên vì một vài lợi ích vật chất trước mắt mà bỏ quên các giá trị tâm linh lâu đời của mình. Chúng ta đang có trong tay nhiều di sản văn hóa tâm linh quý giá mà những người khác đang tìm kiếm. 

Matthieu Ricard, một khoa học gia thuộc Viện Pasteur Pháp, nói rằng xã hội Tây phương có thừa phương tiện để xoa dịu những đau khổ vật chất nhưng lại rất thiếu phương tiện để xây dựng hạnh phúc tinh thần6. Ông cho rằng thế giới Tây phương không cần đến các phương tiện vật chất nhưng cần đến tri kiến giúp cho con người thoát khổ7. Jean Francois cũng thừa nhận sự kiện rằng triết lý Tây phương không đáp ứng được các nhu cầu hiện nay của quần chúng (Tây phương) đang quay về với các truyền thống đạo đức cổ điển nhằm tìm kiếm những nguyên tắc chỉ đạo người ta phải sống như thế nào, phải vươn tới nghệ thuật sống và phải hướng dẫn cuộc đời mình ra sao8. Theo ông, phương Tây đã phát triển mạnh về khoa học nhưng không còn đạo đức và minh triết khả dĩ chấp nhận được9. 

Chúng tôi dẫn vài ý kiến phát biểu của các khoa học gia phương Tây để chúng ta thấy rằng người Tây phương quan tâm đến Phật giáo không phải vì họ thiếu các phương tiện để xây dựng hạnh phúc vật chất nhưng vì họ đang cần các chỉ dẫn căn bản cho cuộc sống đạo đức và tâm linh. Các chỉ dẫn căn bản về đạo đức tâm linh ấy là gì thì như chúng tôi đã trình bày, đó là nếp sống bỏ ác làm lành hay nếp sống hành thiền. 

Bởi vậy, chúng ta sống bỏ ác làm lành hay sống hành thiền theo lời dạy của Đức Phật tức là chúng ta đang trân trọng gìn giữ và phát huy các giá trị đạo đức và tâm linh của đời sống chúng ta, cùng lúc chúng ta có thể chia sẻ với người khác những kinh nghiệm đạo đức và tâm linh mà họ đang tìm kiếm. Tôi cho rằng đạo Phật có thể góp phần đáng kể trong việc chia sẻ với người khác những kinh nghiệm đạo đức và tâm linh và tôi tin người Phật tử chúng ta có thể làm tốt việc này, bởi hơn ai hết chúng ta hiểu rất rõ giá trị Pháp lạc hay hạnh phúc của việc thực hành lời Phật dạy và hơn ai hết chúng ta là những người sống với lý tưởng lợi mình lợi người. 

Cầu chúc quý Phật tử một năm mới thấm nhuần Pháp lạc. 
 

1 Kinh Mật hoàn (Trung Bộ).
2 Tiểu kinh Khổ uẩn, Kinh Ma Kiến Đề và Kinh Đa thọ (Trung Bộ). 
3 Đại kinh Khổ uẩn (Trung Bộ).
4 Tiểu kinh Pháp hành và Đắc Pháp Đại kinh (Trung Bộ). 
5 Đắc Pháp Đại kinh (Trung Bộ).
6, 7 , 8, 9, Hồ Hữu Hưng, Đối thoại giữa Triết học và Phật giáo, tr. 232, 254, 224, 353.


BA ĐIỀU CẦU NGUYỆN 
THÔNG THƯỜNG
Thích Nhất Hạnh

Chúng ta có những mong ước, có những điều tâm nguyện, và chúng ta muốn những điều đó được thực hiện, vì vậy mà chúng ta cầu nguyện...

Đại đa số chúng ta mong ước gì? Trước hết là mong ước về sức khỏe. Tất cả chúng ta ai cũng mong ước có sức khỏe. Chúng ta mong ước gì nữa? Mong ước sự thành công. Làm gì chúng ta cũng muốn thành công, đi tu cũng muốn thành công chứ đừng nói đi buôn. Chúng ta thường chúc tết nhau về hai mặt thành công và thịnh vượng. Điều thứ ba chúng ta mong ước là sự hài hòa. Thiếu điều thứ ba này chúng ta không sống hạnh phúc được. Chúng ta có liên hệ với những người khác, và nếu liên hệ giữa chúng ta với những người này không được tốt đẹp thì ta không có hạnh phúc, vì vậy mà ta cầu cho sự liên hệ hàng ngày giữa ta và người kia có sự hài hòa.

Ở Đài Bắc có một phụ nữ rất đau khổ vì chồng đi đánh bạc. Bà không biết làm gì hơn là đi đến chùa cầu nguyện. Xin Đức Bồ tát làm sao để chồng mình bỏ bài bạc, nếu không thì mối liên hệ giữa mình với chồng sẽ rất cực nhọc, rất khổ đau. Một bên làm lụng buôn bán tảo tần, một bên phung phí tiền bạc, không để ý gì đến vợ con. Đó là vấn đề liên hệ. Người đàn bà này không cầu tiền bạc, không cầu thành công, không cầu sức khỏe, mà chỉ cầu xin Đức Bồ tát cứu giúp, xui khiến cho chồng mình bỏ bài, bỏ bạc.

Có một phụ nữ khác, tới chùa cầu nguyện để người đàn bà kia buông chồng mình ra, tại vì chồng mình đang bị đặt dưới ảnh hưởng của người đàn bà ấy. Chúng ta hãy tưởng tượng một người đàn bà đang đau khổ, ngày đêm khóc thầm, tại vì chồng mình đã bỏ rơi mình để đi theo một người đàn bà khác. Trong lòng bà chứa chất những đau khổ, những oán hận, những ganh tị, những niềm đau, nỗi khổ đó biểu lộ ra trong đời sống hàng ngày. Con mắt bà chứa đầy oán trách, lời nói bà chứa đầy cay đắng. Nhưng bà càng làm như vậy thì ông chồng bà lại càng chán ngán bà và càng bám sát lấy người đàn bà kia. Bấy giờ người vợ đó chỉ có cách đến chùa để lạy Đức Bồ tát Quán Thế Âm, cầu cho người đàn bà kia buông thả chồng mình ra.

Cầu nguyện như vậy có đúng không, nhất là trong tinh thần đạo Bụt? Có cần sự thực tập nào đi theo sự cầu nguyện đó hay không. Trong sự cầu nguyện này có Niệm, có Định, có Tuệ, có Từ, có Bi hay không? Hay chỉ có sự giận hờn, sự trách móc, sự ganh tị, sự uất hận mà thôi? Nếu không có những năng lượng của Niệm, của Định, của Tuệ, của tình thương thì làm sao đường dây có điện? Làm sao lời cầu của mình thấu đến tai Bồ tát được?

Phải có trí tuệ để thấy rằng mình, chồng mình, và người đàn bà kia có liên hệ mật thiết với nhau. Phải có những năng lượng phát xuất từ chính mình thì mình mới có thể thiết lập được liên hệ với chồng, và với người đàn bà kia. Tất cả những điều đó đều thuộc phạm vi thực tập.

Chúng ta cầu nguyện bằng cách nào? Chúng ta phải cầu nguyện bằng cả thân, cả miệng, và cả ý; nghĩa là ta phải cầu nguyện bằng ý, bằng lời, và bằng cả sự sống hàng ngày của ta. Thân-khẩu-ý phải hợp nhất lại trong một niệm, và trong tình trạng gọi là thân tâm nhất như đó, chúng ta mới có thể chế tác ra được cái năng lượng của đức tin, của thương yêu, và chúng ta mới thay đổi được tình trạng.

 Chúng ta hãy nhìn vào ba điều cầu nguyện thông thường của mọi người. Trước hết là cầu xin sức khỏe. Phần lớn chúng ta đều là những người nghèo mà ham, đều là những "thằng mõ" mong được gõ cửa nhà trời! Chúng ta mong mình có cái sức khỏe gọi là thân hảo. Perfect health. Nhưng cái gọi là sức khỏe toàn hảo đó chỉ là một ý niệm, nó không bao giờ có thật sự trong sự sống.

Sở dĩ chúng ta còn sống ở đây là nhờ chúng ta có bệnh. Nếu không bệnh thì chúng ta không thể nào sống được. Người nào trong chúng ta cũng trải qua cái thời gian đau vặt vãnh, ốm liên miên, nhất là trong thời thơ ấu. Con người là một cây lau, một sinh vật yếu đuối, luôn luôn bị hăm dọa bởi những con vi khuẩn, những con nấm độc. Chúng đầy dẫy ở trong không khí, trong nước uống, trong thức ăn. Ba loại sinh vật li ti luôn rình rập, hăm dọa chúng ta, là vi trùng (bacteria) vi khuẩn (virus) và nhiễm khuẩn (Fungus).

Chính nhờ những lần đau vặt vãnh, chính nhờ luôn luôn bị bao vây, bị tấn công bởi những con vi sinh đó, mà trong người chúng ta mới phát triển ra được một hệ thống kháng thể, để phòng thủ và bảo vệ cho ta. Như vậy, thì nhờ có bệnh, nên mình mới biết tự vệ để sống còn. Cho nên đừng ham mình có một sức khỏe không tật bệnh, một sức khỏe tuyệt đối. Không bệnh thì không có sức khỏe. Chúng ta phải biết nhận thức điều đó và phải biết sống hòa bình, an lạc với bệnh của mình.

Trong bụng hơi đầy hơi thì đừng nói rằng vì đầy hơi nên mình ngồi thiền không được! Phải tập ngồi thiền với một ít hơi trong bao tử. Có hơi trong bao tử mà ngồi thiền có an lạc thì mới  gọi là biết tu tập. Đừng bao giờ nghĩ rằng chừng nào hết đầy hơi thì mình mới ngồi thiền an lạc được. Nếu vậy thì mình không bao giờ có thể tạo được an lạc trong khi ngồi thiền. Trong chúng ta, người nào cũng có một ít bệnh ,chúng ta phải ký một hiệp ước sống chung an lạc với bệnh của mình. Vì vậy mà trong sự cầu nguyện đừng bao giờ mơ tưởng tới cái gọi là hoàn toàn không có bệnh. Trong bài kệ: Đệ tử kính lạy, mình phải hiểu câu thân không tật bệnh là không tật bệnh đến độ không tu tập được. Phải có một sức khỏe tối thiểu nào đó thì mới tu tập thành công được.

Ví dụ trong khu vườn của chúng ta có ba trăm cây rất đẹp, nào cây tùng, cây bách, cây bồ đề, cây liễu, cây hạnh, cây lê, cây táo.v.v. Trong khu vườn của chúng ta cũng có thể có ba bốn cây bị chết. Nhưng không phải vì vậy mà khu vườn không đẹp. Mình đừng than khóc khi thấy ba bốn cây trong vườn bị chết khô. Mình phải vui lên vì có đến ba trăm cây trong vườn còn khỏe mạnh. Trong cơ thể mình cũng vậy. Mình có một bệnh, hai bệnh, ba bệnh . Nhưng những bộ phận khác của cơ thể mình đang còn rất tốt. Phải thấy như vậy. Mật của anh còn tốt không? Hai lá phổi của chị còn tốt không? Hai chân chú còn đi vững không? Tại sao mình không sung sướng nhận diện những yếu tố đó của sức khỏe, mà cứ nói rằng tại sao tôi cứ đau cái này, nhức cái kia hoài. Mình phải nhận diện những yếu tố tích cực. Mình phải biết trong người của mình có thể còn tới bảy mươi, tám mươi, hoặc chín mươi phần trăm cơ phận còn tốt. Đừng bao giờ than phiền, đừng bao giờ cầu mong một tình trạng sức khỏe gọi là toàn hảo. Cái đó không bao giờ có. Ngay cả Đức Bổn sư, Ngài cũng cần có Tôn giả A Nan xoa bóp, Ngài cũng đã từng bị bệnh đau bụng.

Nếu mình có vài ba bệnh, và nếu tật bệnh đó không trầm trọng đến độ có thể ngăn cản sự tu tập của mình, thì đó đã xem là thân không tật bệnh. Với những ốm đau lặt vặt, mình vẫn có thể hàng ngày an vui tu tập, pháp Bụt nhiệm mầu, để mau ra khỏi luân hồi  và giúp được cho nhiều người khác rồi.

Nếu chúng ta có một công thức để cầu nguyện cho mọi người đều có sức khỏe tuyệt đối thì mọi nhà thương đều đóng cửa, tất cả các y tá, các bác sĩ đều thất nghiệp. Thành ra chúng ta phải thực tế, đừng mơ tưởng những điều trên mây. Bệnh tật là một thực tại mà chúng ta phải chấp nhận, chúng ta phải ký một hiệp ước sống chung an lạc với chúng. Mình chỉ cần một sức khỏe tương đối. Vì vậy, trong khi cầu nguyện, chúng ta đừng quá đòi hỏi. Nếu tất cả mọi người không bệnh, không chết thì làm gì có chỗ để chúng ta ngồi trong thiền đường này? Trái đất cũng sẽ không đủ chỗ chứa! Chúng ta phải biết rằng cái bệnh và cái chết là một phần của sự sống. 

Điều cầu nguyện thứ hai là sự thành công. Ai cũng muốn thành công. Nhà buôn cũng muốn thành công với tư cách nhà buôn: nhà văn muốn nổi tiếng, muốn bán sách chạy; người làm phim muốn phim của mình được nhiều hãng mua. Ai cũng muốn thành công cả. Người nào cũng muốn cầu nguyện để cho sự làm ăn của mình thịnh vượng, thành công. Mỗi khi tết đến chúng ta thường chúc nhau thịnh vượng, nhưng sự thịnh vượng đó có hẳn cái yếu tố không thể có của hạnh phúc không? Đó là câu đáng hỏi.

Ngoài ra, sự thịnh vượng của một người phải kéo theo sự không thịnh vượng của người khác hay không? Nếu một nước sản xuất lúa gạo như Việt Nam mà không xuất cảng được lúa gạo thì nguy lắm. Nếu tất cả các nước đều có thể sản xuất đủ gạo cho nước mình thì ai là người mua số lúa gạo thặng dư của các nước khác? Cho nên thỉnh thoảng phải có những năm mất mùa. Thế giới có những nước cần mua lúa, mua gạo thì những nước sản xuất lúa gạo mới có thể làm ăn được. Vì vậy cho nên tất cả chỉ có giá trị tương đối mà thôi.

Điều cầu nguyện thứ ba là sự hài hòa. Hài hòa cũng vậy, hài hòa là làm thế nào để có tình thương, làm thế nào để có sự hòa điệu giữa mình và người mình thương, giữa mình và gia đình mình, giữa mình và xã hội mình. Đây là một yếu tố khác của hạnh phúc. Chúng ta có thể làm gì và chúng ta có thể cầu nguyện cho điều này không? Và cầu nguyện theo lối nào, theo công thức nào?

Đó là ba đối tượng cầu nguyện của rất đông người trong chúng ta, nhỏ cũng như lớn. Thường thường chúng ta cầu nguyện cho chính chúng ta trước, rồi mới cầu nguyện cho người ta thương. Thông thường thì ta không cầu nguyện cho người dưng nước lã, và nhất là không cầu nguyện cho những người chúng ta ghét, những người đã làm khổ ta.
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 12 -THÁNG 1 2006


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)