Sự
kiện nổi bật nhất trong năm qua
CON
NGƯỜI, THIÊN NHIÊN, SIÊU NHIÊN
Cao
Huy Thuần
Công
việc đầu tiên của báo Tết là điểm lại những sự kiện
nổi bật nhất trên thế giới trong năm qua. Không phải là
tờ báo chính trị, Văn Hóa Phật Giáo sẽ không lựa chọn
những sự kiện chính trị. Nhưng dù chính trị hay không, ai
cũng phải thừa nhận rằng, thiên tai là sự kiện nổi bật
nhất, gây ấn tượng sâu mạnh nhất trong lòng con người
trên toàn thế giới.
Thiên
tai là chuyện của muôn đời; muôn đời con người phải đối
phó. Nhưng thiên tai trong năm qua vượt quá mức tưởng tượng
của con người, vượt quá sức chịu đựng của một nước,
gây chấn động chưa bao giờ thấy trong lương tâm cá nhân,
lương tâm xã hội, lương tâm quốc gia, lương tâm chính trị.
Hơn thế nữa, thiên tai xảy ra dồn dập, khắp nơi, tưởng
như sấm sét kéo dài từ đầu trời đến cuối trời của
một cơn thịnh nộ chưa hả dạ. Tai họa nào sắp giáng xuống
cho cả nhân loại chăng? Hồng thủy sắp dâng lên chăng? Tìm
đâu chiếc bè cứu thế? Nơi này, nơi khác, không thiếu gì
nhà tiên tri, nhân thiên tai hãi hùng trong năm qua, mượn oai
của siêu nhiên để giải mã những ẩn số mà con người
vốn đặt trên thiên nhiên từ thuở hồng hoang.
Gây
ấn tượng về siêu nhiên lớn nhất là sóng thần ở Á châu.
Chuyện xảy ra cuối năm Thân, nhưng liên hệ mật thiết với
năm Dậu, Thân Dậu niên lai, sóng thần thỉnh thoảng vẫn
hiện ra trên màn ảnh như chuyện vẫn còn quá mới. Một lớp
sóng, hai lớp sóng ... Chưa kịp hiểu biển muốn nói gì thì
cả trăm ngàn người đã chết một loạt, hàng ngàn xác bị
cuốn trôi, nhà cửa tan tành bình địa. Thiên nhiên đâu có
bao giờ trở mặt chớp nhoáng như vậy? Hủy diệt bạo ngược
thế kia? Ấy là thiên nhiên chăng? Hay là siêu nhiên nào đó?
Câu hỏi chỉ đặt ra về sau. Phản ứng đầu tiên của con
người là xúc động trước nỗi khổ của đồng loại. Là
thương, chứ không phải sợ. Sóng thần rút đi, một làn sóng
khác dâng lên, không kém thần thánh, trong lòng trắc ẩn của
cả thế giới: đợt sóng liên đới đầu năm Dậu. Có bao
giờ phương Tây liên đới với phương Đông đến thế đâu?
Ào ào, tiền đóng góp của tư nhân đổ vào quỹ cứu trợ,
đầy ắp, tràn ra đến nỗi các tổ chức từ thiện ở Pháp
không biết làm gì cho hết. Chủng tộc, quốc gia, tôn giáo...
bao nhiêu hàng rào ngăn cách con người với nhau bỗng phút
chốc ngả rạp trước xúc cảm. Trong đời sống chuộng vật
chất ngày nay, người phương Tây, vốn thiên về cá nhân chủ
nghĩa, lại càng thêm vị kỷ; sóng thần đánh thức dậy lòng
vị tha vẫn tiềm tàng ở đấy. Sóng vị tha của tư nhân
lôi cuốn theo hành động bác ái của doanh nhân và quyết định
xóa nợ của các chính phủ. Đã đành màn ảnh truyền hình
là sức mạnh ghê gớm đã thúc đẩy bác ái, vị tha, như
có thể tạo ra bất cứ gì khác, nhưng nếu trái tim của con
người khô cằn, lấy đâu ra giọt nước xót thương để
đưa đến hành động? Từ tai biến của năm Thân, năm Dậu
rút ra một bài học lạc quan về gốc thiện nơi con người.
Thế giới ngày nay càng ngày càng đi sâu vào toàn cầu hóa,
từ kinh tế, thương mại, văn hóa cho đến tiêu khiển, nhàn
du : bãi biển Phuket của Thái Lan nhuộm hồng thân hình của
tứ xứ. Bỗng nhiên sóng thần khởi lên một hiện tượng
toàn cầu hóa khác : toàn cầu hóa của lòng thiện, của ý
thức trái đất là của chung, là vật báu, là số mạng tập
thể của muôn loài. Có lẽ đó là câu trả lời tích cực
nhất mà những con người mong manh có thể ngửa mặt lên để
nói với thiên nhiên cuồng nộ: chính mong manh của kiếp người
dạy cho con người biết phải sống như thế nào với chính
mình, với chung quanh mình, với đồng loại, với toàn thế
giới, và cả với cuồng bạo của thiên nhiên. Thiên nhiên
phá đổ, con người chung nhau xây dựng lại. Thiên nhiên là
ác chăng? Con người chỉ có câu trả lời duy nhất là thiện.
Bởi vì nếu phá đổ là ác thì xây dựng là thiện. Hễ có
phá đổ thì có xây dựng: cái thiện nằm trong chính cái ác.
Sau
sóng thần, hình như các tiếng nói tôn giáo chân chính đều
có khuynh hướng trả lời theo cách đó. Công lý của Thượng
đế là tín điều của đạo Hồi : từ đó phần đông người
Hồi giáo cắt nghĩa rằng, sóng thần là thịnh nộ của Allah,
tai họa là trừng phạt của ngài. Nhưng tại sao người tốt
cũng bị trừng phạt như người xấu? Để cắt nghĩa điều
không thể cắt nghĩa đó, giới cấp tiến trong Hồi giáo nói
khác : khi tạo ra con người tự do, Thượng đế cho phép có
cái ác, nhưng tự mỗi người phải sử dụng tự do của mình
để làm điều tốt. Các lý thuyết gia cấp tiến của đạo
Do Thái cũng giải thích tương tự, tuy rằng trong Thánh kinh,
Thượng đế lắm khi xuất hiện dưới bộ mặt trả thù dữ
tợn. Họ nói : Thượng đế tạo ra vũ trụ và những yếu
tố trong vũ trụ, nhưng những yếu tố này do luật thiên nhiên
chi phối, độc lập với ý muốn của Thượng đế và ý muốn
của con người. Thượng đế tạo ra vũ trụ, nhưng vũ trụ
tiếp tục xoay vần theo con đường của nó. Descartes, cùng
các triết gia của thế kỷ XVIII, cũng đã từng nói như vậy,
và chính tư tưởng này đã đẩy Thượng đế ra khỏi thiên
nhiên. Thiên Chúa giáo rõ ràng hơn nữa: Giê su không loại
bỏ cái ác, ngài chỉ vẽ ra cho thấy con đường đưa đến
Thượng đế và đời sống vĩnh hằng. Giê su cũng không cắt
nghĩa cái ác và tại sao Thượng đế cho phép cái ác; chính
ngài là nạn nhân của cái ác, và ngài đến để sống như
thế với mọi người. Thánh kinh (Luc 13, 4-5) có kể chuyện
cái tháp Siloé: cái tháp đó đổ xuống, làm chết 18 người,
chết vô lý. Giê su nêu lên vấn đề tội ác của nạn nhân
nhưng để gạt bỏ ngay tức khắc. Ngài nói: nếu các người
không theo đạo của ta, các người sẽ chết nhanh chóng như
thế.
Đạo
Phật, ai cũng biết, không tìm câu giải đáp ở đâu khác
ngoài nơi chính con người. Con người tạo nghiệp cho mình,
và con người tập thể tạo nghiệp tập thể. Phúc hay họa
là do mình tạo ra, ngay cả việc sinh vào tập thể nào cũng
là do nghiệp mình kiếp trước. Ai muốn tin hay không tùy ý,
nhưng tương lai nằm cả trong tay mình. Không có câu giải đáp
nào đưa đến hành động tích cực, dũng mãnh hơn thế. Cụ
thể mà nói một chuyện nhỏ, giá như con người đừng phá
rừng để xây khách sạn ngay trên bãi biển Phuket, khu rừng
đã có thể ngăn cản bớt sức công phá dữ tợn của sóng
thần. Thiên nhiên bao giờ cũng có hai bộ mặt : vừa là mẹ
hiền, vừa là dì ghẻ. Tự thiên nhiên không có thiện ác,
thiện ác nằm trong con người và con người có khả năng biến
cải. Người Tây phương kinh hoàng nhìn sóng thần trên màn
ảnh, nhưng họ cũng kinh ngạc và thán phục nhìn dân tộc
Thái bình tỉnh trong tai họa để bình tỉnh cứu giúp nhau
: "mai pen rai, chẳng hề chi, họ nói như vậy, rồi tai họa
sẽ qua ... " Thay vì đặt câu hỏi về thịnh nộ của một
ông thần nào đó, cả dân tộc Thái cùng ra sức xây dựng,
tái tạo. Rồi tất cả sẽ như trước, mai pen rai. Người
Tích Lan cũng một lời như thế. Họ lạy Phật, nhưng họ
biết Phật không bao giờ giận, chỉ duy nhất thương. Có gì
tích cực hơn?
Bão
Katrina ở Mỹ gây chấn động thế giới trên một lĩnh vực
khác : đây là lần đầu tiên nước giàu nhất, mạnh nhất
trên hoàn cầu ngả quỵ dưới uy vũ của thiên nhiên. Không
cần phải có bom nguyên tử, gió và nước đã lột xác nước
Mỹ, chỉ còn để lại độc cái quần đùi : lần đầu tiên
nước Mỹ đưa ra hình ảnh một nước nghèo lạc hậu, với
xác chết không chôn, với cướp bóc, với bạo lực, với
súng nổ để giành nhau một chỗ đứng trên xe buýt di tản,
với nạn nhân không miếng ăn, nước uống, với người sống
không hơn con vật, với hàng ngàn hình hài bị vất ra ngoài
đường, với hơi thối xông lên trong thành phố ma, chìm trong
đêm tối không đèn; và trên tất cả, với một chính quyền
bất lực, cả tiểu bang lẫn liên bang, một xã hội lồ lộ
bất công giàu nghèo, đen trắng. Ai cũng biết thực tế đen
trắng ở Mỹ, ai cũng biết 67% dân chúng ở thành phố New
Orleans là đen và 30% trong số da đen sống dưới mức nghèo,
nhưng khi thấy trên màn ảnh toàn một màu da đen ngoi ngóp
với tang thương, đâu rồi nước Mỹ làm gương cho thế giới?
Chẳng lẽ Thượng đế chỉ nhắm vào người da đen để trừng
phạt
Người
Mỹ tự hỏi: nước Mỹ không đủ phương tiện để đối
phó với một trận bão, không đủ tiền bạc để nâng mức
sống của người da đen, tại sao lại phung phí sức người,
sức của tận xứ Irak xa xôi? Chính phủ Mỹ cắt nghĩa chiến
tranh ở đấy là cần thiết để bảo đảm an ninh của dân
chúng Mỹ, để xây dựng dân chủ ở Trung Đông, vậy đâu
là an ninh của chính dân Mỹ trước thiên tai, đâu là dân
chủ tại chính nước Mỹ khi bất công, nghèo đói, dốt nát
khiến cả một giai tầng xã hội bỏ phiếu bằng cách tẩy
chay thùng phiếu?
Người
Mỹ tự hỏi thêm: đâu rồi hào quang 11-9 của ông Bush, khi
cả một thành phố ngập nước giơ nắm tay lên trời chửi
thề bầu trời nặng trịch mây xám, vắng ngắt bóng dáng
trực thăng của vị nguyên thủ quốc gia? Sa lầy chiến tranh
ở bên ngoài, bối rối lãnh đạo ở bên trong, với uy tín
suy sụp, bao lâu nữa ông Bush còn đưa nước Mỹ vào con đường
đơn phương can thiệp vũ lực, tấn công ngoại giao, áp chế
thế giới với hệ ý thức của mình ? Bao lâu nữa áp lực
tân bảo thủ còn đè nặng trên ngoại giao của Mỹ? Bao lâu
nữa, như phản ứng tự nhiên, khuynh hướng quay về bên trong,
củng cố nội lực, sẽ ngẩng mặt lên, hứa hẹn với thế
giới một nước Mỹ từ tốn hơn, bớt trịch thượng, biết
nghĩ đến quyền lợi của đồng minh hơn, lãnh đạo thông
minh hơn? Một nước Mỹ nêu cao gương sáng với những giá
trị dân chủ, tự do của mình, không cần xuất cảng nhân
quyền với dân chủ bằng xe tăng và thánh kinh của born again,
vốn là chủ trương của Jefferson thời lập quốc. Không chừng
bão Katrina muốn nhắc nhở lại mẫu mực lý tưởng cố hữu
ấy chăng?
Động
đất ở Cachemire đưa thế giới về lại với xứ nghèo. Không
phải chỉ nghèo, Cachemire còn là đất của hận thù, khủng
bố, khích động tôn giáo từ khi biên giới chia cắt giữa
Ấn Độ và Pakistan vạch ngang qua đó năm 1948, trao cho Ấn
Độ một vùng đất lớn trên đó đa số dân là Hồi giáo.
Đất Ấn dân Hồi: tranh chấp bắt nguồn từ đó, kéo dài
không nguôi, chiến tranh dường như lúc nào cũng có thể bùng
nổ. Hai bên đang mài dũa nanh vuốt nguyên tử thì ầm lên
động đất ngày 8-10 trên phần đất thuộc Hồi. Bao nhiêu
người chết? Con số 58.000 có thể nhân lên gấp đôi nếu
79.000 người bị thương và 3 triệu nạn nhân không nơi trú
ẩn không được cứu trợ cấp tốc để chống đỡ với
mùa đông khắc nghiệt trắng xóa tuyết chung quanh Hy Mã Lạp
Sơn. Địa thế hiểm trở, đường sá tan tành, cứu trợ chỉ
có thể đến tự trên trời, mà trực thăng thì thiếu. Tác
giả vô tâm của thống khổ, trời đất đâu có nghe tiếng
kêu bi thương!
Nhưng
con người thì nghe, kể cả con người thù hận. Cho nên người
thù Ấn Độ đề nghị với người thù Hồi Quốc, và hai
bên đồng ý mở năm cửa ngỏ trên đường biên giới khóa
kín để cứu trợ có thể mượn đường Ấn và để nạn
nhân Hồi có thể qua lại với gia đình bên kia lằn ranh. "Lằn
ranh" là cách nói của Pakistan, vì họ không nhận biên giới
chia cắt là vĩnh viễn. Yếu thế, khí giới của họ là khủng
bố, khủng bố bên kia lằn ranh và khủng bố tận kinh đô
của kẻ tử thù. Vài giờ trước khi hai bên ký kết mở năm
cửa, khủng bố nổ bom giữa thủ đô Ấn, giết 60 thường
dân giữa chợ và trên xe buýt. Biên giới vẫn mở, cứu trợ
qua lại. Động đất ở Cachemire xúc động lương tâm chính
trị, củng cố thêm khuynh hướng hòa hoãn giữa hai bên, bắt
đầu bằng hòa hoãn giữa hai chính phủ trước hiểm họa
nguyên tử. Hai bên lằn ranh, thù địch nhường chỗ cho liên
đới giữa người với người.
Một
lần nữa, câu trả lời tích cực nhất cho khổ đau do thiên
tai nằm sẵn trong trái tim. Nhìn vào đó thì biết mình phải
làm gì, thì chỉ thấy bi thương trước mắt phải cứu, không
thấy những thế lực siêu nhiên dọa nạt nào buộc đầu
gối phải quỳ như lệnh truyền của giới tôn giáo cực đoan
ở Mỹ. Quỳ xuống! Nhìn đi! Chẳng thấy vết tàn phá do Katrina
để lại hao hao giống hình dáng của bào thai đó sao! Chẳng
thấy bao nhiêu y viện chuyên phá thai nằm dọc trên con đường
cơn bão đã quét qua sao? Hãy nhìn Thượng đế trừng phạt!
Cũng
vậy, suốt năm qua, trên báo chí, trên mạng lưới, xôn xao
những thuyết giảng về ngày tận thế, cũng ở Mỹ. Nào sóng
thần, nào bão Katrina, nào liên miên cuồng phong trên vịnh
Mexico, nào động đất ở Cachemire, nào cúm gà trên toàn thế
giới... triệu chứng gì vậy nếu không phải là tín hiệu
của Ngày Tận Thế? Thượng đế đã tạo ra vũ trụ tất
Thượng đế cũng có quyền năng chấm dứt. Chấm dứt bao
giờ thì Thượng đế giữ kín bí mật cho riêng ngài, nhưng
chấm dứt thế nào thì các nhà tiên tri nghĩ ra nhiều kịch
bản khác nhau tùy cách diễn dịch một câu trong Kinh Thánh
nói đến một ngàn năm hạnh phúc. Trong lịch sử châu Âu,
thuyết ngàn năm cứ thỉnh thoảng rộ lên. Có thuyết nói:
trước ngày tận thế, nhân loại sẽ sống ngàn năm hạnh
phúc, hòa bình, phồn thịnh. Như vậy là đang hạnh phúc cũng
lo: mỗi bước của hạnh phúc cũng đồng thời là mỗi bước
đi tới tận thế. Có thuyết nói: đâu phải, hỗn loạn dồn
dập xảy ra trước rồi ngàn năm hạnh phúc mới đến sau.
Như vậy cũng không hết phân vân: đang đợi cái gì đây,
đợi tận thế và Chúa hiện ra rạng rỡ, hay đợi ngàn năm
hạnh phúc địa đàng?
Nhiều
vị lãnh đạo nhà thờ ở Mỹ trong phái Évangéliste bây giờ
cũng giải thích cho tín đồ theo hai lối khác nhau đó. Vị
nào không quá bám sát theo chữ trong Thánh kinh thì nói: ảnh
hưởng của Thiên Chúa giáo sẽ lớn rộng trên khắp thế
giới cho đến khi toàn thế giới đều theo đạo cả; tình
trạng tốt lành đó sẽ đưa đến ngàn năm hòa bình, phồn
thịnh. Đây là các vị hậu thiên niên; hậu, vì họ tin Giê
su sẽ hiện ra sau ngàn năm hạnh phúc đó. Vị nào bám chặt
chữ thì nói: ngàn năm là đây rồi, đang trải ra trước mắt,
nhưng cái ác vẫn đang tồn tại và chỉ bị triệt tiêu khi
nào Giê su trở lại. Đây là các vị tiền thiên niên. Tất
nhiên vị nào cũng đúng cả, vì chẳng ai sống được ngàn
năm để phán vị nào sai. Điều đáng nói là, thiên tai trong
năm Dậu tăng cường ưu thế của các vị tiền thiên niên,
nghĩa là các vị xúi ta nhìn đời với cặp mắt bi quan. Lịch
sử, theo họ, là nhất quyết càng ngày càng đi tới giai đoạn
tồi tệ, khốn đốn, và giai đoạn đó chỉ chấm dứt khi
Chúa hiện ra lại và ngự trị ngàn năm (1).
Trong
thế giới mà tất cả đều trở thành thị trường, siêu
nhiên cũng không tránh khỏi số phận. Càng làm dấy lên văn
hóa tận thế, các vị thủ lãnh cực đoan càng đông thêm
tín đồ ; càng khuyên nhủ "phải giúp kẻ nghèo khổ", tín
đồ càng thưa đi (2). Tín đồ càng thưa hơn nữa nếu có
vị nào nhắn nhủ thêm: tác giả của ngày tận thế không
có ai khác hơn con người, nếu con người cứ tiếp tục hủy
hoại thiên nhiên tàn khốc như hai nước lớn nhất thế giới
đang làm hiện nay. Dù thiên nhiên có khi tàn bạo, thiên nhiên
là nguồn sống của con người. Nếu có siêu nhiên thì mỗi
ngọn cỏ, mỗi giọt sương cũng là siêu nhiên. Con người
cũng có khả năng siêu nhiên! Bí hiểm của thiên nhiên, có
thể con người không bao giờ hiểu hết. Nhưng chính vì không
bao giờ hiểu hết cho nên thái độ sống tỉnh táo và hợp
lý nhất là đối đãi với thiên nhiên như thiên nhiên muôn
đời vẫn thế, nghĩa là vừa mẹ hiền vừa dì ghẻ, hai mặt
đối nghịch nhau có sẵn nơi bất cứ sự vật gì. Vì đối
nghịch nhau từ trong bản chất, cho nên sự vật mới tồn
tại; nếu chỉ có nắng mà không có mưa, có nóng mà không
có lạnh, có ngày mà không có đêm thì thiên nhiên đã chết
rũ tự bao giờ mà con người cũng không có mặt trên trái
đất. Đối nghịch nhau là luật tồn tại nơi mỗi sự vật,
cho nên đừng thấy mặt này mà quên mặt kia, hai mặt chỉ
là một, bao giờ cũng là một của mỗi thực thể. Tách cái
mặt dữ tợn của thiên nhiên ra, rồi gán cho nó một ông
thần thịnh nộ là thái độ sống không đưa đến bình an.
Hãy xem người ngư phủ Tích Lan nhìn biển vài ngày sau cơn
sóng hãi hùng: mây hồng buổi sáng, nước êm, mặt trời lấp
lánh, vẫn biển muôn đời nuôi sống, nào đâu ông thần ra
oai?
Chú
thích:
(1)
và (2) When Bad News Looks Like Doomsday, New York Times, 22-10-2005.
NIỀM
VUI CHÁNH PHÁP
HT.
Thích Minh Châu
Nhân
dịp đầu xuân năm nay, tôi gửu đến quý Phật tử bài giảng
có chủ đề Pháp Lạc hay Niềm vui Chánh pháp. Sở dĩ chúng
tôi chọn đề tài này là bởi chúng tôi cảm nghiệm Pháp
lạc hay lợi ích thiết thực của lời Phật dạy đối với
đời sống hằng ngày của người Phật tử chúng ta, một
khi lời dạy ấy được chấp nhận thực hành hay được khéo
vận dụng vào cuộc sống. Đức Phật mô tả Pháp của Ngài
là “thiết thực hiện tại”, “không có thời gian”, “đến
để mà thấy”, “có khả năng hướng thượng”, “để
người trí tự mình giác hiểu”. Theo kinh nghiệm của những
người chuyên hành trì thì Pháp của Đức Phật tựa như bánh
mật mà vị ngọt của nó đến liền qua mỗi lần nếm1. Nói
khác đi, người ta sẽ cảm nhận Pháp lạc hay lợi ích thiết
thực của những lời Phật dạy ngay trong khi thực hành chúng.
Pháp ở đây tiêu biểu cho lời dạy của Đức Phật hay giáo
lý của Ngài và như vậy Pháp lạc hay niềm vui Chánh pháp
có nghĩa là niềm hạnh phúc hay an lạc đạt được nhờ thực
hành Chánh pháp hay theo đuổi lời dạy của Đức Phật. Nói
đến hạnh phúc tức là nói đến kinh nghiệm nội tâm mà
tự thân mỗi người cảm nghiệm trong cuộc sống, tùy thuộc
vào nhận thức và quan điểm của người ấy về cuộc đời
và về ý nghĩa cuộc đời.
Đạo
Phật đề cập nhiều cấp độ hạnh phúc hay kinh nghiệm lạc
thọ khác nhau và nêu rõ mức độ thù thắng giữa chúng2.
Ví dụ, thú vui giác quan hay sự thỏa mãn lòng ham muốn sắc
đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, cảm xúc êm dịu được
gọi là dục lạc (kàmasukha/nandi). Đức Phật gọi niềm vui
hay hạnh phúc này là cảm giác lạc, hạ liệt lạc, phàm phu
lạc, phi thánh lạc và khuyên các môn đệ của mình không
nên tìm cầu bởi lạc ấy vui ít, khổ nhiều, não nhiều,
sự nguy hiểm càng nhiều hơn, gắn với khao khát, thất vọng,
lo âu, giành giật, tranh chấp, cướp bóc, đấu tranh, bạo
động, chiến tranh, tội ác và hình phạt3. Niềm vui của sự
nỗ lực hướng thiện, bỏ ác làm lành, được cảm nhận
ngay trong đời này và tận hưởng đời sau được gọi là
thiên lạc (devasukha/rati). Loại hạnh phúc này được Đức
Phật mô tả là hướng thượng, tối thắng, không sợ hãi
bởi nó siêu việt dục lạc hay thú vui giác quan và bởi nó
phát sinh do tâm nguyện và công đức làm lành lánh dữ. Niềm
vui hay sự tịnh lạc đạt được do điều phục tâm và nhờ
chứng đắc các thiền (jhàna) được gọi là thiền lạc (samàdhipìti/jhànasukha).
Đức Phật gọi niềm vui này là ly dục lạc, viễn ly lạc,
an tịnh lạc, giải thoát lạc bởi nó phát sinh do duyên ly
dục, ly các ác bất thiện pháp, do tâm định, do xả niệm
lạc trú và do xả niệm thanh tịnh, thông qua các cấp độ
thiền chứng. Niềm vui hay sự an lạc do phát triển trí tuệ,
thấy rõ bản chất các pháp, hướng đến đoạn trừ vô minh,
tham ái, chấp thủ được gọi là giải thoát lạc hay Niết
bàn lạc (vimuttasukha/Nibbànasukha). Đức Phật mô tả trạng
thái giải thoát hay Niết bàn là tối thắng lạc (Nibbànamï
paramamï sukhamï). Như vậy, ngoại trừ dục lạc mà Đức Phật
gọi là cảm giác lạc, hạ liệt lạc, phàm phu lạc, phi thánh
lạc và khuyên các môn đệ của mình nên tránh xa vì vui ít,
khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm càng nhiều hơn, thiên
lạc, thiền lạc và giải thoát lạc được xem là tối thắng,
cao thượng và được gọi chung là Pháp lạc (Dhammasukha/pìti)
bởi chúng phát sinh trên cơ sở thực hành Chánh pháp hay theo
đuổi lời dạy của Đức Phật.
Chúng
tôi nêu quan điểm Pháp lạc hay kinh nghiệm hạnh phúc của
việc hành trì lời Phật dạy để xác minh một vấn đề
quan trọng: Nếp sống Phật giáo luôn luôn là nếp sống hạnh
phúc an lạc. Chúng ta sống theo lời dạy của Đức Phật có
nghĩa là chúng ta đang sống hạnh phúc trong Chánh pháp, đang
tận hưởng Pháp lạc. Để minh chứng cho quan điểm vừa nêu,
chúng tôi muốn giới thiệu với quý Phật tử hai nếp sống
mang lại Pháp lạc - nếp sống thực hành 10 điều thiện và
nếp sống hành thiền - mà trong các bản kinh của Ngài4 Đức
Phật đã gọi là pháp hành hiện tại lạc tương lai quả
báo cũng lạc.
Thứ
nhất là nếp sống thực hành 10 thiện nghiệp, được Đức
Phật gọi là pháp hành hiện tại lạc tương lai quả báo
cũng lạc. Đây là nếp sống hay pháp hành liên quan đến việc
tu tập thân khẩu ý mà người Phật tử cần theo đuổi nhằm
mục đích tịnh tu tam nghiệp. Trong bản kinh Đắc Pháp Đại
kinh, Đức Phật nói đến mục đích sự tu tập và quả quyết
rằng người ta sẽ đạt được hạnh phúc ngay lập tức qua
việc thực hành 10 thiện nghiệp. Theo Ngài, hạnh phúc đến
với con người ngay trong lúc người ấy đang làm điều lành
và lẽ tất nhiên sẽ đến sau khi điều lành đã được làm.
Ngài ví sự kiện một người làm lành tựa như một người
đau bệnh kiết nhận được một bát thục tô trộn lẫn với
đường và mật, trong khi uống người ấy được sảng khoái
bởi vị ngọt bát thục tô, sau khi uống vị ấy được thoát
khỏi cơn bệnh5:
“Này
các Tỷ-kheo, ví như lạc, mật, thục tô và đường trộn
lẫn với nhau. Rồi có người đi đến bị bệnh kiết lỵ.
Và có người nói với người ấy như sau: ‘Này bạn, đây
là lạc, mật, thục tô và đường trộn lẫn với nhau. Nếu
bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, bạn sẽ được thích
thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, bạn sẽ được
an lạc’. Người kia có thể uống, sau khi suy nghĩ, không có
từ bỏ. Trong khi uống, người kia được thích thú về sắc,
về hương, về vị. Sau khi uống, người kia được an lạc.
Này các Tỷ-kheo, Ta nói pháp hành này giống như ví dụ ấy,
tức là pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo cũng
lạc”.
Như
vậy, trái với quan điểm của một số người cho rằng, để
theo đuổi mục đích tôn giáo người ta phải hy sinh niềm
vui hiện tại cho hạnh phúc mai sau, giáo lý của Đức Phật
được giảng dạy cho việc nắm bắt hạnh phúc hiện tại
lẫn tương lai. Kinh nghiệm thực hành 10 thiện nghiệp được
mô tả trên đây cho chúng ta thấy rằng từ bỏ sát sanh, từ
bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ
bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc
ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham, sân, si là những
việc làm mang lại niềm vui và hạnh phúc ngay lập tức cho
người thực hành, đồng thời dự báo một tương lai tái
sinh tốt lành cho người ấy sau khi từ giã cõi đời này.
Như vậy, một người Phật tử chuyên tâm thực hành lời
Phật dạy, quyết tâm bỏ ác làm lành, sẽ cảm nhận hạnh
phúc ngay trong hiện tại, ngang qua việc làm của mình, đồng
thời sẽ tận hưởng phước báo đời sau do nhân các thiện
nghiệp. Vị ấy được gọi là người chiến thắng hai đời,
đời này và đời sau:
Thứ
hai là nếp sống hành thiền, cũng được gọi là pháp hành
hiện tại lạc tương lai quả báo cũng lạc. Đây là nếp
sống hay pháp hành liên quan đến việc huấn luyện tâm thức
ngang qua pháp môn Tứ niệm xứ. Đức Phật gọi thiền là
pháp hành hiện tại lạc tương lai quả báo cũng lạc bởi
lẽ thiền đưa đến các trạng thái hỷ lạc và an tịnh ngay
lập tức cho người thực hành; ngoài ra, thiền cũng dự báo
một tương lai tái sinh tốt lành cho người hành trì, trong
trường hợp vị ấy chưa đoạn trừ tận gốc các phiền
não lậu hoặc:
“Này
các Tỷ-kheo, thế nào là pháp hành hiện tại lạc và tương
lai quả báo cũng lạc? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người
ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất,
một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ; diệt
tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái
hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất
tâm; ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc
thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và
an trú Thiền thứ ba; xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm
thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không
lạc, xả niệm thanh tịnh. Vị ấy sau khi thân hoại mạng
chung, được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như
vậy này các Tỷ-kheo, được gọi là pháp hành hiện tại
lạc và tương lai quả báo cũng lạc.”
Với
kinh nghiệm của mình, Đức Phật mô tả trạng thái Sơ thiền
là hỷ lạc do ly dục sanh và bảo hỷ lạc ấy thấm nhuần
thân tâm người hành thiền, giống như cục bột tắm, được
thấm nhuần nước ướt khi được trộn nhồi với nước.
Ngài gọi trạng thái Nhị nhiền là hỷ lạc do định sanh
và bảo, hỷ lạc ấy thầm nhuần thân tâm người hành thiền,
giống như một hồ nước, được thấm nhuần nước mát do
lòng hồ được xây kín và do thỉnh thoảng trời có mưa lớn.
Trạng thái thiền thứ ba (Tam thiền) được Đức Phật gọi
là xả niệm lạc trú và Ngài bảo, cảm giác lạc thọ ấy
thấm nhuần thân tâm người hành thiền, giống như các hoa
sen sinh ra và lớn lên trong nước, được thấm nhuần nước
mát từ đầu cho đến gốc rễ. Bậc Đạo sư mô tả trạng
thái thiền thứ tư (Tứ thiền) là xả niệm thanh tịnh và
bảo, trạng thái thuần tịnh ấy thấm nhuần thân tâm người
hành thiền, giống như một người ngồi dùng tấm vải trắng
trùm kín thân thể khiến toàn thân đều được phủ kín bởi
tấm vải trắng.
Những
mô tả và lối so sánh về bốn trạng thái thiền trên đây
của Đức Phật cho chúng ta một hình ảnh sống động về
Pháp lạc hay kinh nghiệm hạnh phúc của pháp môn hành thiền
là như thế nào. Và như vậy, chúng ta có thể nói rằng, một
người hành thiền tức là một người đang sống trong hạnh
phúc an lạc. Vị ấy hạnh phúc an lạc bởi thân tâm vị ấy
được thấm nhuần, tràn đầy với hỷ lạc do ly dục sanh,
với hỷ lạc do định sanh, với xả niệm lạc trú và với
xả niệm thanh tịnh. Đức Phật gọi thiền (jhàna) là hiện
tại lạc trú (ditïtïhadhammasukhavihàra), nghĩa là sống hạnh
phúc ngay trong hiện tại. Ngoài ra, Ngài cũng xem thiền là con
đường dẫn đến cõi lành, tức một đời sống tái sinh
tốt lành cho người hành thiền, trong trường hợp vị ấy
chưa đoạn sạch các lậu hoặc.
Chúng
tôi vừa giới thiệu với quý Phật tử hai nếp sống hay pháp
hành mang lại Pháp lạc hiện tại và tương lai cho người
thực hành. Đức Phật gọi hai nếp sống này là pháp hành
hiện tại lạc tương lai quả báo cũng lạc, nghĩa là những
nếp sống hay việc làm đưa đến hạnh phúc hiện tại là
tương lai cho những ai khéo thực hành. Chúng ta là Phật tử,
phát nguyện quy y nương tựa Tam Bảo và thực hành lời Phật
dạy, lẽ tất nhiên chúng ta sẽ hưởng được Pháp lạc hay
niềm vui Chánh pháp do công phu tu tập của chúng ta.
Điều
chúng tôi muốn lưu ý với quý Phật tử là, chúng ta cần
phải tuyệt đối tin tưởng ở giáo lý của Đức Phật và
nỗ lực thực hành theo lời dạy của Ngài. Có như vậy chúng
ta mới hưởng được Pháp lạc, mới thấy hết giá trị to
lớn mà giáo lý đạo Phật đem đến cho chúng ta. Hai nếp
sống, bỏ ác làm lành và hành thiền, mà chúng tôi vừa trình
bày trên đây nói rõ giá trị thiết thực của giáo lý Đức
Phật đối với đời sống của chúng ta. Đó là các chỉ
dẫn đạo đức và tâm linh hết sức căn bản và cần thiết
cho nếp sống hạnh phúc hướng thượng của người Phật
tử. Hai nếp sống ấy vừa giúp chúng ta thành tựu hạnh phúc
hiện tại và tương lai, vừa nâng cao giá trị đạo đức
và tâm linh của đời sống chúng ta, khiến cho cuộc sống
của chúng ta càng tăng thêm ý nghĩa và giá trị. Chúng ta có
thể nói rằng, ít có hệ thống giáo lý nào mà phương pháp
thực hành lại đơn giản nhưng cùng lúc đưa đến hai kết
quả vừa thiết thực vừa cao quý như lời dạy của Đức
Phật. Rõ ràng, để có hạnh phúc và nâng cao đời sống đạo
đức tâm linh, người ta không cần tới bất kỳ phương tiện
vật chất nào, ngoài việc xem xét nội tâm và sống đạo
đức trong sạch.
Vấn
đề thứ hai chúng tôi muốn lưu ý với quý Phật tử la,ø
chúng ta cần phải hết sức trân trọng gìn giữ và phát huy
truyền thống đạo đức và tâm linh vốn có của chúng ta
trong bối cảnh xã hội và thế giới đang có nhiều chuyển
đổi lớn và nhanh chóng dẫn đến các quan niệm lệch lạc
về giá trị nhân sinh do kết quả sự phát triển của công
nghệ thông tin và khoa học kỹ thuật. Gần đây chúng tôi
có đọc một số sách báo của người Tây phương viết về
đời sống văn hóa của họ so sánh với văn hóa truyền thống
Đông phương và nhận ra rằng rất nhiều người Tây phương
ngày nay hết lòng ca ngợi văn hóa Đông phương, đặc biệt
là truyền thống tâm linh Phật giáo. Chúng tôi ngạc nhiên
không phải vì chúng tôi không hiểu ra căn nguyên khiến văn
hóa Tây phương khó tránh khỏi khủng hoảng, mà bởi chúng
tôi nghĩ rằng văn hóa Đông phương nói chung và đạo Phật
nói riêng hẳn phải có một giá trị đặc biệt thiết thực
nào đó đối với nhân sinh mới khiến cho người Tây phương,
vốn rất xem trọng các giá trị thực dụng, chú ý tới. Chúng
tôi nêu vấn đề người Tây phương quan tâm đến Phật giáo
để lưu ý với quý vị về giá trị của truyền thống đạo
đức và tâm linh mà chúng ta may mắn được thừa hưởng.
Chúng ta không nên vì một vài lợi ích vật chất trước mắt
mà bỏ quên các giá trị tâm linh lâu đời của mình. Chúng
ta đang có trong tay nhiều di sản văn hóa tâm linh quý giá mà
những người khác đang tìm kiếm.
Matthieu
Ricard, một khoa học gia thuộc Viện Pasteur Pháp, nói rằng
xã hội Tây phương có thừa phương tiện để xoa dịu những
đau khổ vật chất nhưng lại rất thiếu phương tiện để
xây dựng hạnh phúc tinh thần6. Ông cho rằng thế giới Tây
phương không cần đến các phương tiện vật chất nhưng cần
đến tri kiến giúp cho con người thoát khổ7. Jean Francois cũng
thừa nhận sự kiện rằng triết lý Tây phương không đáp
ứng được các nhu cầu hiện nay của quần chúng (Tây phương)
đang quay về với các truyền thống đạo đức cổ điển
nhằm tìm kiếm những nguyên tắc chỉ đạo người ta phải
sống như thế nào, phải vươn tới nghệ thuật sống và phải
hướng dẫn cuộc đời mình ra sao8. Theo ông, phương Tây đã
phát triển mạnh về khoa học nhưng không còn đạo đức và
minh triết khả dĩ chấp nhận được9.
Chúng
tôi dẫn vài ý kiến phát biểu của các khoa học gia phương
Tây để chúng ta thấy rằng người Tây phương quan tâm đến
Phật giáo không phải vì họ thiếu các phương tiện để
xây dựng hạnh phúc vật chất nhưng vì họ đang cần các
chỉ dẫn căn bản cho cuộc sống đạo đức và tâm linh. Các
chỉ dẫn căn bản về đạo đức tâm linh ấy là gì thì như
chúng tôi đã trình bày, đó là nếp sống bỏ ác làm lành
hay nếp sống hành thiền.
Bởi
vậy, chúng ta sống bỏ ác làm lành hay sống hành thiền theo
lời dạy của Đức Phật tức là chúng ta đang trân trọng
gìn giữ và phát huy các giá trị đạo đức và tâm linh của
đời sống chúng ta, cùng lúc chúng ta có thể chia sẻ với
người khác những kinh nghiệm đạo đức và tâm linh mà họ
đang tìm kiếm. Tôi cho rằng đạo Phật có thể góp phần
đáng kể trong việc chia sẻ với người khác những kinh nghiệm
đạo đức và tâm linh và tôi tin người Phật tử chúng ta
có thể làm tốt việc này, bởi hơn ai hết chúng ta hiểu
rất rõ giá trị Pháp lạc hay hạnh phúc của việc thực hành
lời Phật dạy và hơn ai hết chúng ta là những người sống
với lý tưởng lợi mình lợi người.
Cầu
chúc quý Phật tử một năm mới thấm nhuần Pháp lạc.
1
Kinh Mật hoàn (Trung Bộ).
2
Tiểu kinh Khổ uẩn, Kinh Ma Kiến Đề và Kinh Đa thọ (Trung
Bộ).
3
Đại kinh Khổ uẩn (Trung Bộ).
4
Tiểu kinh Pháp hành và Đắc Pháp Đại kinh (Trung Bộ).
5
Đắc Pháp Đại kinh (Trung Bộ).
6,
7 , 8, 9, Hồ Hữu Hưng, Đối thoại giữa Triết học và Phật
giáo, tr. 232, 254, 224, 353.
BA
ĐIỀU CẦU NGUYỆN
THÔNG
THƯỜNG
Thích
Nhất Hạnh
Chúng
ta có những mong ước, có những điều tâm nguyện, và chúng
ta muốn những điều đó được thực hiện, vì vậy mà chúng
ta cầu nguyện...
Đại
đa số chúng ta mong ước gì? Trước hết là mong ước về
sức khỏe. Tất cả chúng ta ai cũng mong ước có sức khỏe.
Chúng ta mong ước gì nữa? Mong ước sự thành công. Làm gì
chúng ta cũng muốn thành công, đi tu cũng muốn thành công chứ
đừng nói đi buôn. Chúng ta thường chúc tết nhau về hai mặt
thành công và thịnh vượng. Điều thứ ba chúng ta mong ước
là sự hài hòa. Thiếu điều thứ ba này chúng ta không sống
hạnh phúc được. Chúng ta có liên hệ với những người
khác, và nếu liên hệ giữa chúng ta với những người này
không được tốt đẹp thì ta không có hạnh phúc, vì vậy
mà ta cầu cho sự liên hệ hàng ngày giữa ta và người kia
có sự hài hòa.
Ở
Đài Bắc có một phụ nữ rất đau khổ vì chồng đi đánh
bạc. Bà không biết làm gì hơn là đi đến chùa cầu nguyện.
Xin Đức Bồ tát làm sao để chồng mình bỏ bài bạc, nếu
không thì mối liên hệ giữa mình với chồng sẽ rất cực
nhọc, rất khổ đau. Một bên làm lụng buôn bán tảo tần,
một bên phung phí tiền bạc, không để ý gì đến vợ con.
Đó là vấn đề liên hệ. Người đàn bà này không cầu tiền
bạc, không cầu thành công, không cầu sức khỏe, mà chỉ
cầu xin Đức Bồ tát cứu giúp, xui khiến cho chồng mình bỏ
bài, bỏ bạc.
Có
một phụ nữ khác, tới chùa cầu nguyện để người đàn
bà kia buông chồng mình ra, tại vì chồng mình đang bị đặt
dưới ảnh hưởng của người đàn bà ấy. Chúng ta hãy tưởng
tượng một người đàn bà đang đau khổ, ngày đêm khóc thầm,
tại vì chồng mình đã bỏ rơi mình để đi theo một người
đàn bà khác. Trong lòng bà chứa chất những đau khổ, những
oán hận, những ganh tị, những niềm đau, nỗi khổ đó biểu
lộ ra trong đời sống hàng ngày. Con mắt bà chứa đầy oán
trách, lời nói bà chứa đầy cay đắng. Nhưng bà càng làm
như vậy thì ông chồng bà lại càng chán ngán bà và càng
bám sát lấy người đàn bà kia. Bấy giờ người vợ đó
chỉ có cách đến chùa để lạy Đức Bồ tát Quán Thế Âm,
cầu cho người đàn bà kia buông thả chồng mình ra.
Cầu
nguyện như vậy có đúng không, nhất là trong tinh thần đạo
Bụt? Có cần sự thực tập nào đi theo sự cầu nguyện đó
hay không. Trong sự cầu nguyện này có Niệm, có Định, có
Tuệ, có Từ, có Bi hay không? Hay chỉ có sự giận hờn, sự
trách móc, sự ganh tị, sự uất hận mà thôi? Nếu không có
những năng lượng của Niệm, của Định, của Tuệ, của
tình thương thì làm sao đường dây có điện? Làm sao lời
cầu của mình thấu đến tai Bồ tát được?
Phải
có trí tuệ để thấy rằng mình, chồng mình, và người đàn
bà kia có liên hệ mật thiết với nhau. Phải có những năng
lượng phát xuất từ chính mình thì mình mới có thể thiết
lập được liên hệ với chồng, và với người đàn bà kia.
Tất cả những điều đó đều thuộc phạm vi thực tập.
Chúng
ta cầu nguyện bằng cách nào? Chúng ta phải cầu nguyện bằng
cả thân, cả miệng, và cả ý; nghĩa là ta phải cầu nguyện
bằng ý, bằng lời, và bằng cả sự sống hàng ngày của
ta. Thân-khẩu-ý phải hợp nhất lại trong một niệm, và trong
tình trạng gọi là thân tâm nhất như đó, chúng ta mới có
thể chế tác ra được cái năng lượng của đức tin, của
thương yêu, và chúng ta mới thay đổi được tình trạng.
Chúng
ta hãy nhìn vào ba điều cầu nguyện thông thường của mọi
người. Trước hết là cầu xin sức khỏe. Phần lớn chúng
ta đều là những người nghèo mà ham, đều là những "thằng
mõ" mong được gõ cửa nhà trời! Chúng ta mong mình có cái
sức khỏe gọi là thân hảo. Perfect health. Nhưng cái gọi là
sức khỏe toàn hảo đó chỉ là một ý niệm, nó không bao
giờ có thật sự trong sự sống.
Sở
dĩ chúng ta còn sống ở đây là nhờ chúng ta có bệnh. Nếu
không bệnh thì chúng ta không thể nào sống được. Người
nào trong chúng ta cũng trải qua cái thời gian đau vặt vãnh,
ốm liên miên, nhất là trong thời thơ ấu. Con người là một
cây lau, một sinh vật yếu đuối, luôn luôn bị hăm dọa bởi
những con vi khuẩn, những con nấm độc. Chúng đầy dẫy ở
trong không khí, trong nước uống, trong thức ăn. Ba loại sinh
vật li ti luôn rình rập, hăm dọa chúng ta, là vi trùng (bacteria)
vi khuẩn (virus) và nhiễm khuẩn (Fungus).
Chính
nhờ những lần đau vặt vãnh, chính nhờ luôn luôn bị bao
vây, bị tấn công bởi những con vi sinh đó, mà trong người
chúng ta mới phát triển ra được một hệ thống kháng thể,
để phòng thủ và bảo vệ cho ta. Như vậy, thì nhờ có bệnh,
nên mình mới biết tự vệ để sống còn. Cho nên đừng ham
mình có một sức khỏe không tật bệnh, một sức khỏe tuyệt
đối. Không bệnh thì không có sức khỏe. Chúng ta phải biết
nhận thức điều đó và phải biết sống hòa bình, an lạc
với bệnh của mình.
Trong
bụng hơi đầy hơi thì đừng nói rằng vì đầy hơi nên mình
ngồi thiền không được! Phải tập ngồi thiền với một
ít hơi trong bao tử. Có hơi trong bao tử mà ngồi thiền có
an lạc thì mới gọi là biết tu tập. Đừng bao giờ
nghĩ rằng chừng nào hết đầy hơi thì mình mới ngồi thiền
an lạc được. Nếu vậy thì mình không bao giờ có thể tạo
được an lạc trong khi ngồi thiền. Trong chúng ta, người nào
cũng có một ít bệnh ,chúng ta phải ký một hiệp ước sống
chung an lạc với bệnh của mình. Vì vậy mà trong sự cầu
nguyện đừng bao giờ mơ tưởng tới cái gọi là hoàn toàn
không có bệnh. Trong bài kệ: Đệ tử kính lạy, mình phải
hiểu câu thân không tật bệnh là không tật bệnh đến độ
không tu tập được. Phải có một sức khỏe tối thiểu nào
đó thì mới tu tập thành công được.
Ví
dụ trong khu vườn của chúng ta có ba trăm cây rất đẹp,
nào cây tùng, cây bách, cây bồ đề, cây liễu, cây hạnh,
cây lê, cây táo.v.v. Trong khu vườn của chúng ta cũng có thể
có ba bốn cây bị chết. Nhưng không phải vì vậy mà khu vườn
không đẹp. Mình đừng than khóc khi thấy ba bốn cây trong
vườn bị chết khô. Mình phải vui lên vì có đến ba trăm
cây trong vườn còn khỏe mạnh. Trong cơ thể mình cũng vậy.
Mình có một bệnh, hai bệnh, ba bệnh . Nhưng những bộ phận
khác của cơ thể mình đang còn rất tốt. Phải thấy như
vậy. Mật của anh còn tốt không? Hai lá phổi của chị còn
tốt không? Hai chân chú còn đi vững không? Tại sao mình không
sung sướng nhận diện những yếu tố đó của sức khỏe,
mà cứ nói rằng tại sao tôi cứ đau cái này, nhức cái kia
hoài. Mình phải nhận diện những yếu tố tích cực. Mình
phải biết trong người của mình có thể còn tới bảy mươi,
tám mươi, hoặc chín mươi phần trăm cơ phận còn tốt. Đừng
bao giờ than phiền, đừng bao giờ cầu mong một tình trạng
sức khỏe gọi là toàn hảo. Cái đó không bao giờ có. Ngay
cả Đức Bổn sư, Ngài cũng cần có Tôn giả A Nan xoa bóp,
Ngài cũng đã từng bị bệnh đau bụng.
Nếu
mình có vài ba bệnh, và nếu tật bệnh đó không trầm trọng
đến độ có thể ngăn cản sự tu tập của mình, thì đó
đã xem là thân không tật bệnh. Với những ốm đau lặt vặt,
mình vẫn có thể hàng ngày an vui tu tập, pháp Bụt nhiệm
mầu, để mau ra khỏi luân hồi và giúp được cho nhiều
người khác rồi.
Nếu
chúng ta có một công thức để cầu nguyện cho mọi người
đều có sức khỏe tuyệt đối thì mọi nhà thương đều
đóng cửa, tất cả các y tá, các bác sĩ đều thất nghiệp.
Thành ra chúng ta phải thực tế, đừng mơ tưởng những điều
trên mây. Bệnh tật là một thực tại mà chúng ta phải chấp
nhận, chúng ta phải ký một hiệp ước sống chung an lạc
với chúng. Mình chỉ cần một sức khỏe tương đối. Vì
vậy, trong khi cầu nguyện, chúng ta đừng quá đòi hỏi. Nếu
tất cả mọi người không bệnh, không chết thì làm gì có
chỗ để chúng ta ngồi trong thiền đường này? Trái đất
cũng sẽ không đủ chỗ chứa! Chúng ta phải biết rằng cái
bệnh và cái chết là một phần của sự sống.
Điều
cầu nguyện thứ hai là sự thành công. Ai cũng muốn thành
công. Nhà buôn cũng muốn thành công với tư cách nhà buôn:
nhà văn muốn nổi tiếng, muốn bán sách chạy; người làm
phim muốn phim của mình được nhiều hãng mua. Ai cũng muốn
thành công cả. Người nào cũng muốn cầu nguyện để cho
sự làm ăn của mình thịnh vượng, thành công. Mỗi khi tết
đến chúng ta thường chúc nhau thịnh vượng, nhưng sự thịnh
vượng đó có hẳn cái yếu tố không thể có của hạnh phúc
không? Đó là câu đáng hỏi.
Ngoài
ra, sự thịnh vượng của một người phải kéo theo sự không
thịnh vượng của người khác hay không? Nếu một nước sản
xuất lúa gạo như Việt Nam mà không xuất cảng được lúa
gạo thì nguy lắm. Nếu tất cả các nước đều có thể sản
xuất đủ gạo cho nước mình thì ai là người mua số lúa
gạo thặng dư của các nước khác? Cho nên thỉnh thoảng phải
có những năm mất mùa. Thế giới có những nước cần mua
lúa, mua gạo thì những nước sản xuất lúa gạo mới có
thể làm ăn được. Vì vậy cho nên tất cả chỉ có giá trị
tương đối mà thôi.
Điều
cầu nguyện thứ ba là sự hài hòa. Hài hòa cũng vậy, hài
hòa là làm thế nào để có tình thương, làm thế nào để
có sự hòa điệu giữa mình và người mình thương, giữa
mình và gia đình mình, giữa mình và xã hội mình. Đây là
một yếu tố khác của hạnh phúc. Chúng ta có thể làm gì
và chúng ta có thể cầu nguyện cho điều này không? Và cầu
nguyện theo lối nào, theo công thức nào?
Đó
là ba đối tượng cầu nguyện của rất đông người trong
chúng ta, nhỏ cũng như lớn. Thường thường chúng ta cầu
nguyện cho chính chúng ta trước, rồi mới cầu nguyện cho
người ta thương. Thông thường thì ta không cầu nguyện cho
người dưng nước lã, và nhất là không cầu nguyện cho những
người chúng ta ghét, những người đã làm khổ ta.