BÁNH
CHƯNG,
BÁNH
TÉT, BÁNH DÀY, XÔI VÀ CỐM
Huỳnh
Ngọc Trảng
Bánh
tét là một lễ vật được làm theo tín lý phồn thực của
cư dân nông nghiệp, cụ thể là cư dân cấy (tỉa) lúa (nếp).
Phải chăng, tín lý phồn thực có tuổi đời cổ xưa hơn
quan niệm về “trời tròn đất vuông” của sự tích bánh
dày và bánh chưng?...
Sự
tích suy nguyên về bánh chưng và bánh dày mà ngày nay chúng
ta đều biết và xác tín là do Tiết Liêu/ Lang Liêu - một
trong các người con của vua Hùng - làm ra là câu chuyện được
ghi chép trong Lĩnh Nam chích quái (thế kỷ XV).
Truyện
kể rằng:
Sau
khi vua Hùng Vương phá được giặc Ân, nhân quốc gia vô sự,
muốn truyền ngôi cho con, bèn triệu hai mươi vị quan lang và
công tử lại mà phán rằng: “Ta muốn truyền ngôi cho kẻ
nào làm ta vừa ý, cuối năm nay mang trân cam mỹ vị đến
để tiến cúng tiên vương cho ta được tròn đạo hiếu thì
sẽ được ta truyền ngôi”.
Thế
là các con đều đua nhau đi tìm của ngon vật lạ khắp trên
cạn dưới bể, nhiều không sao kể xiết. Duy có vị công
tử thứ 18 là Tiết Liêu, bà mẹ trước kia vốn bị vua ghẻ
lạnh, mắc bệnh mà chết, tả hữu ít người giúp đỡ, khó
xoay xở, nên đêm ngày lo lắng, mộng mị bất an. Một đêm
kia mộng thấy thần nhân tới nói rằng: “Các vật trên trời
đất và mọi của quí của người không gì bằng gạo. Gạo
có thể nuôi người khỏe mạnh và ăn không bao giờ chán,
các vật khác không thể hơn được. Nay đem gạo nếp làm
bánh, cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng hình
đất và trời rồi dùng lá bọc ngoài, ở trong cho mỹ
vị để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ”.
Tiết Liêu tỉnh dậy, mừng rỡ mà nói rằng: “Thần nhân
giúp ta vậy!”.
Nói
rồi bèn theo lời dặn trong mộng mà làm, chọn thứ gạo nếp
trắng tinh, lặt lấy những hạt tròn mẩy không bị vỡ, vo
cho sạch, lấy lá xanh bọc chung quanh làm hình vuông, cho trân
cam mỹ vị vào bên trong để tượng trưng cho việc đại địa
chứa chất vạn vật rồi nấu chín, gọi là bánh chưng. Lại
lấy gạo nếp nấu chín, giã cho nát, nặn thành hình tròn,
tượng trưng cho trời gọi là bánh dày.
Đến
kỳ, vua vui vẻ truyền các con bày vật dâng tiến. Xem qua khắp
lượt, thấy không thiếu thức gì. Duy có Tiết Liêu chỉ tiến
dâng bánh chưng và bánh dày. Vua kinh ngạc mà hỏi, Tiết Liêu
đem giấc mộng thuật lại. Vua đem nếm, thấy ngon miệng không
chán, hơn hẳn các thức của các con khác, tấm tắc khen hồi
lâu rồi cho Tiết Liêu được nhất.
Đến
ngày Tết, vua lấy bánh này dâng cúng cha mẹ. Thiên hạ bắt
chước (1).
Câu
chuyện này có một số chi tiết cần phải xem xét:
1.
Trước hết, khái niệm “trời tròn đất vuông” vốn có
nguồn gốc từ Trung Quốc (2). Từ thế kỷ thứ X, An Nam dần
dần thoát ly khỏi uy quyền phương Bắc, và đến triều Lý
(1009-1225), nước Đại Việt mới thực sự là một quốc gia
độc lập. Phật giáo được coi là quốc giáo, tăng lữ tham
gia vào hàng ngũ quan lại, và một số vị vua thời Lý, Trần
đã tự mình đứng ra thành lập các tông phái, thiền phái
(Lý Thánh Tông mở phái Thảo Đường, Lý Cao Tông tự xưng
là Phật, Trần Nhân Tông là sơ Tổ Trúc Lâm yên Tử, được
tôn là Điều Ngự Giác Hoàng). Tuy vậy, về mặt quản lý
nhà nước, do tiếp nhận văn hoá phương Bắc, nước Đại
Việt độc lập vẫn tổ chức theo quan niệm vương quyền
Nho giáo. Ngoài các khái niệm Thiên Vương, Phật-Vua, vẫn còn
thừa nhận khái niệm Thiên Tử (Ông vua Con Trời). Như vậy,
vua vẫn phải lưu tâm đến việc tế cáo "Cha Trời, Mẹ Đất"
cũng như phong thần các xứ (Thiên Tử phong bách thần) để
tỏ rõ uy quyền với các thần linh trong nước. Đàn Xã Tắc
lập năm 1048 và đàn Viên Khâu (Gò đất hình tròn, theo nguyên
tắc đàn xây ở phía Nam kinh thành để tế trời, gọi là
đàn Nam Giao), đàn Vu ở phía Nam kinh thành được nhắc tới
vào các năm 1137-1138 (3). Nói chung, việc tế Trời-Đất đến
thời Lê mới thực sự hoàn bị theo nghi lễ Nho giáo. Song
kể từ thế kỷ XI, việc dựng đàn tròn, đàn vuông để
tế "Cha Trời, Mẹ Đất" đã cho thấy khái niệm “trời tròn
đất vuông” đã tồn tại trong nếp nghĩ của người dân
nước ta từ lâu
2.
Các tác giả Lĩnh Nam chích quái sau đó đã khuôn công năng
của hai loại bánh này vào việc cúng tổ tiên, tôn vinh chuẩn
mực hiếu đạo, một giá trị luân lý cốt lõi của Nho giáo;
để vua Hùng nói: “Tiến cúng tiên vương cho ta tròn đạo
hiếu”, và cuối truyện xác định: “Đến ngày Tết vua
lấy bánh này dâng cúng cha mẹ. Thiên hạ bắt chước…”.
Tục cúng bánh chưng, bánh dày vào ngày Tết được mô tả
từ câu truyện này, về sau được xác tín là tập tục ra
đời từ thời Hùng Vương.
Nhưng
Tết, xét từ nguyên uỷ là lễ thức, lễ hội được tiến
hành sau mùa gặt hàng năm hay bắt đầu mùa gieo cấy. Thời
điểm này tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và tập quán
canh tác của mỗi tộc người. Tết như vậy có chức năng
kép: tạ ơn thần linh và tổ tiên về kết quả vụ mùa đã
qua và cầu mong kết quả cho vụ mùa năm tới. Nói chung, các
cư dân nông nghiệp luôn tiến hành một loạt nghi lễ theo
các tiến trình phát triển của cây lúa. Với những lễ vật
tương ứng.
- Lúa
vừa chín tới: lễ cúng ăn cốm.
- Lúa
chín gặt: lễ cúng cơm mới.
- Gặt
xong đưa vào kho: lễ mừng lúa mới, với lễ vật là các
thứ chế biến từ gạo tẻ và nếp như: cơm, xôi, bánh…
Cốm
là lễ vật phổ biến trong lễ cúng mừng lúa lúc đã cứng
hạt. Cốm là sản phẩm chế biến bằng cách rang lúa nếp,
giã cho dẹp lại và sàng sảy để bỏ trấu đi. Dữ liệu
của nhà dân tộc học Từ Chi viết về loại cơm chul (cơm
chùn), lễ vật trong dịp Ăn cơm mới của người Mường,
tuồng như đã hé mở cho chúng ta biết về nguyên ủy của
cốm: lúa gặt về còn ướt sũng, không có thời gian phơi
khô, mới được làm thành lễ vật dâng cúng ngay để mọi
người bắt tay vào gặt. Chỉ còn một cách là đem “rang”
(có hạt bung ra) rồi giã nhẹ để tách vỏ. Gạo đó chế
thành cơm chul (4). Lúa nếp rang nở bung ra mà người miền
Bắc gọi là bỏng thì ở Trung Bộ (kể cả Nam Bộ) gọi là
nổ. Bánh nổ là lễ vật truyền thống vào dịp Tết ở Trung
Bộ, và nổ là lễ vật bắt buộc trong nhiều đám cúng việc
lề ở Nam Bộ. Phải chăng đó là di duệ của cốm, và xa
xưa hơn là cơm chul?
Cơm
là lễ vật bắt buộc trong lễ cúng cơm mới của nhiều tộc
người, và cũng là lễ vật của nhiều lễ cúng khác. Tuy
nhiên, vì sự bình dị của nó mà cơm không được người
ta coi là lễ vật thực sự như xôi. Rõ ràng trong nếp nghĩ
phổ biến của nhiều tộc người, xôi là lễ vật bởi nó
phải có trong các cuộc lễ mà hiếm hoi trong bữa ăn thường
ngày. Gạo nếp quý hiếm hơn gạo tẻ, và vì có hương thơm
nên được chọn làm lễ vật dâng cúng. Nói chung, gạo là
thức ăn chính của con người nên nó có ý nghĩa thuộc về
nghi lễ. Lúa gạo luôn được coi là có nguồn gốc thiêng
liêng, là hạt ngọc trời; nó biểu trưng cho sự sung túc,
sự sinh sản dồi dào, nhờ trời mới có và sự thanh khiết
nguyên sơ. Người Thái đồ, nấu xôi có nhuộm màu: xôi đỏ
tượng trưng cho Mặt Trời, xôi vàng tượng trưng cho Mặt
Trăng (Tết Cầu mùa: Xíp Xì)(5). Người Nùng làm xôi bảy
màu để “tượng trưng cho chặng đường lịch sử bảy tháng
đầy ý nghĩa trong một năm đất trời xoay chuyển, nhưng gắn
liền với lịch sử dân tộc” (mỗi màu tượng trưng một
tháng, từ tháng Giêng đến tháng Bảy)(6). Cơm cúng đơm vào
chén, bát, thậm chí còn nèn, gọi “chén cơm in”. Còn xôi
đơm ra đĩa hay mâm, phổ biến từ “mâm xôi”, luôn gợi
cho ta hình ảnh của một sự vun cao lên tròn trịa và sung
mãn, biểu thị cho sự phồn thực.
Từ
xôi đến bánh dày chỉ là một bước ngắn: lấy xôi nếp
giã nát ra và vun lên thành mâm bánh dày. Loại bánh làm bằng
nếp như vậy vẫn là lễ vật “thanh khiết nguyên sơ” như
xôi. Với người Chăm, lễ vật trong Tết Rija Nưga của họ
có xôi, bỏng (nổ) và bánh đúc(7). Với người Dao, trong Tết
nhảy của họ có lễ vật không thể thiếu là bánh bằng
bột gạo nắn tròn, treo tòng teng trên những cây mía đặt
ở gian giữa bàn thờ Bàn Vương(8). Đó là hai ví dụ về
hai loại bánh “tròn đầy”, thuộc thứ lễ vật được
chế biến bằng bột gạo có phần kỳ công hơn bánh dày.
Bánh dày không chỉ là đặc sản của người Việt, mà nó
còn là thứ lễ vật bắt buộc, đã thành tục lệ trong văn
hóa của nhiều tộc người. Tết của người H'mông là một
ví dụ: “Bánh dày là hương vị không thể thiếu, một biểu
tượng trên bàn thờ tổ tiên trong ngày Tết của người H'mông”(9).
Ở người H'mông Hang Kia, Pà Cò cũng có truyền thuyết suy
nguyên về bánh dày của dân tộc mình. Nội dung truyền thuyết
hoàn toàn khác với sự tích bánh chưng bánh dày của người
Việt, mà chủ ý là nói về nguồn gốc lúa nếp: ông Tổ
người Hmông lấy được từ xứ sở của người tí hon dưới
lòng đất, và hàng năm, người Hmông làm bánh dày để tưởng
nhớ tổ tiên và tạ ơn con chim đại bàng đã cứu ông Tổ
mình ngày xưa(10). Một tập tục liên quan đến loại bánh
dày này là trong mấy ngày đầu năm phải ăn bánh dày trắng,
tuyệt đối không được nướng bánh dày. Nếu nướng, người
H'mông cho rằng năm đó nương rẫy sẽ bị hạn hán(11). Điều
này cho chúng ta thấy: bánh dày theo quan niệm của người H'mông
là biểu thị nương rẫy, là đất, nói rộng ra là “không
gian sinh tồn” .
3.
Nói chung, bánh dày là một lễ vật được hình thành trong
một quá trình nhất định, khuôn theo một tâm thức thuần
khiết từ quan niệm thiêng về gạo (tẻ và nếp) của cộng
đồng các cư dân trồng/ tỉa lúa. Nó vừa là nhân vừa là
quả của nền văn hóa lúa; ở đó, nó là biểu tượng của
tín lý phồn thực hơn là tín lý tư biện về vũ trụ. Điều
này cũng có phần tương tự đối với cái bánh chưng.
Xét
về chất lượng, nội dung thì bánh chưng và bánh tét là một,
chúng chỉ khác nhau ở hình thức: một là hình vuông và một
là hình ống-dài.
Rảo
qua các dữ liệu dân tộc học, chúng ta thấy bánh chưng có
ở người Việt miền Bắc, người Mường (gọi là pênh pang),
người Thái (gọi là kháu tốm kích), người Tày, người Khmú
(gần như bánh chưng tròn của người Tày)…
Báng
tét có ở người Việt miền Trung, miền Nam, người Thái (cũng
có bánh tét gọi là kháu tốm boóng cựa), người Hrê (gọi
là bánh mau nhich), người Kadong, người Xinh mun… (12).
Có
thể nói, bánh chưng và bánh tét cùng tồn tại trong đại
gia đình các dân tộc ở nước ta, thậm chí cụ thể ngay
trong từng tộc người (Thái, Việt…). Vấn đề đặt ra là
tại sao cùng là một thứ chất liệu mà gói theo hai kiểu
(thậm chí là ba kiểu - nếu kể thêm bánh ú, gói theo kiểu
bánh ít “nóc chùa”) để làm gì, và kiểu nào ra đời trước?
Bánh
chưng được gói theo hình vuông, tượng trưng cho trời (Lĩnh
Nam chích quái). Bánh tét gói theo hình ống, tròn, dài, biểu
tượng sinh thực khí nam, bản nguyên sức mạnh của sự sinh
sản(13). Trong thời gian điền dã ở vùng Khmer Nam Bộ, tôi
được một vị à-cha (thầy lễ) nói nhỏ vào tai rằng bánh
tét là “cái đó của Preah Ầy-Xô” (Preah Ầy-xô là thần
Siva).
Bánh
tét là một lễ vật được làm theo tín lý phồn thực của
cư dân nông nghiệp, cụ thể là cư dân cấy (tỉa) lúa (nếp).
Phải chăng, tín lý phồn thực có tuổi đời cổ xưa hơn
quan niệm về “trời tròn đất vuông” của sự tích bánh
dày và bánh chưng?...
Chú
thích:
(1)
Vũ Quỳnh - Kiều Phú, Lĩnh nam chích quái, Đinh Gia Khánh chủ
biên, Nguyễn Ngọc San biên khảo-giới thiệu, In lần thứ
hai. NXB Văn Học, H., 1990, tr. 56-58.
(2)
Việc này được nói trong nhiều sách vở. Ở đây, xin xem:
-
Thời cổ Trung Quốc có những lý luận chủ yếu nào về vũ
trụ, trong sách Lịch sử văn hóa Trung Quốc, NXB Cổ Tịch
Thượng Hải (Bản dịch của Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt,
Đào Phương Chi, NXB Văn Hóa Thông Tin, H; 1999, tập II, tr. 110-114.
-
Tiêu Mạc, Kiến trúc Trung Quốc, Tủ sách Văn hóa Nghệ thuật
Trung Quốc (Bản dịch của Mai Chi, NXB Thế giới, H, 2002).
(3)
Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, Bản dịch của Trịnh Đình
Rư, NXB Văn học, H, 1972, tr. 47 (truyện Thiên tổ địa chủ
xã tắc đế quân); tr 81-82 (truyện Ứng thiên hóa dục nguyên
trung hậu thổ điạ kỳ nguyên quân).
(4)
Trần Từ, Người Mường ở Hoà Bình, Hội KHLS, H, 1996, tr.
193; 341. (phụ chú P1)
(5)
Vũ Thị Hoa, Lễ hội cầu mùa của người Thái ở Tây Bắc
Việt Nam, NXB VHTT, H, 1997, tr. 88-89.
(6)
Trần Hữu Sơn (chủ biên), Lễ hội cổ truyền Lào Cai, NXB
Văn hóa Dân tộc, H; 1999, tr. 84-85.
(7)
Ngô Văn Doanh, Tết năm mới cổ truyền của người Chăm (lễ
hội Rija Nưgar), trong Tết năm mới ở Việt Nam, NXB VHTT, H;
1999, tr. 141.
(8)
Nguyễn Hữu Thức, Xuân Tết với ngưới Dao Đeo Tiền (Hòa
Bình), trong Tết năm mới ở Việt Nam, sđd, tr. 151.
(9)
(10) Nguyễn Hữu Thức, Tết cổ truyền của người Hmông tỉnh
Hoà Bình, sđd, tr. 171-172.
(11)
Nguyễn Hữu Thức, bài đã dẫn, tr 184.
(12)
Chúng tôi dựa vào và đối chiếu từ các dữ liệu của một
số sách, bài báo đã công bố. Ở vấn đề này, xem Vũ Thị
Hoa, sđd, phần người Thái (tr. 75-76) và phần phụ lục (tr.
171-275).
(13)
Xem J. Chevalier và A. Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa
thế giới, NXB Đà Nẵng, 1997, tr. 92; 265; 534-538; 778-779.
CHỢ
TẾT
Ở
DƯƠNG GIAN VÀ ÂM PHỦ
Tây
Tạng
Những
chợ tết dương gian, trong văn học cổ Việt Nam còn ghi lại
đây đó một loại chợ âm phủ mở vào mỗi đêm 30 tháng
Chạp. Chợ này khác với “chợ âm phủ” ở Đà Lạt (vốn
là chợ dương gian dành cho người sống lui tới về đêm),
nó cũng khác với quán “cơm âm phủ” ở Huế (thường đỏ
đèn vào đêm khuya cho người sống tới ăn). Mà chợ này,
mở cho người sống lẫn người chết - người sống gánh
gạo muối, mang thúng bánh kẹo, rỗ hoa quả đến chợ lấy
cớ mua bán, song kỳ thực mục đích chỉ để dò tìm linh
hồn hình bóng của người thân đã khuất hiện về...
Ở
Hà Nội, chợ hoa Hàng Lược làm xao xuyến nhiều thế hệ
“hoa của đất”. Vì từ lâu đời, cứ vào cuối năm, Hàng
Lược đã cùng Hàng Bông, Hàng Mã, Hàng Khoai rực rỡ những
đào phai, đào bích, hải đường, thủy tiên, thược dược,...
thành nơi thu hút những người đẹp như tiên đến ngắm hoa,
mua hoa, hỏi tên hoa, trò chuyện về hoa, làm rộ lên “một
trời hoa” từ 23 tháng chạp. Tới 30 tết hoa vẫn đợi người
đến rước. Đêm trừ tịch thì hoa và hương trầm đã có
mặt trên bàn thờ tổ. Giây phút thiêng liêng nhất của thời
khắc giao hòa giữa năm cũ và năm mới vẫn có hoa, cần có
hoa, thức cùng hoa và lễ lạy cùng hoa. Lúc ấy, trong mười
phương như hồng tụ vào một phương duy nhất, tất cả hương
đều hóa hương trầm, và kết thành một đám mây hương,
như ý nghĩa mà thầy đã dạy:
- Này
con, tất cả hoa đều là hoa sen, con có biết không?
Thầy
chỉ nói một câu như thế, không giải thích gì thêm. Dầu
tôi thành kính quỳ gối hỏi, thầy cũng chỉ cười không
đáp. Thầy ngồi ngay ngắn, im lặng nghe tiếng chuông đầu
tiên của năm mới gõ vào đúng giao thừa. Tôi vào đời một
mình và biết thêm nhiều chợ hoa tết nữa. Ở đó các loài
mang tên đào, mai, hồng, lan, cúc,... dù chúng có những mùi
thơm riêng, màu sắc riêng, vẻ đẹp riêng, thì chúng cũng
đều phải kham nhẫn, chịu đựng tự thành tựu chính mình
sau một thời gian dài gân rung mạch chuyển. Chúng phải tự
lớn mạnh cạnh những trợ duyên bên ngoài, tự khẳng định
mình trong gió nắng thất thường. Chặng đường nỗ lực
vươn lên để nở thành những bông hàm tiếu không khác cái
nỗ lực dâng mình lên khỏi bùn đen để nở những nụ hồng
thanh khiết như sen vậy. Và tất cả đều có thể có mặt
trong các chợ tết trên nguồn dưới biển cho những con người
đang đợi, đang cần đến chúng ở chợ Thanh Chiêm, chợ Cồn,
chợ Hàn, chợ Mới, chợ Bàn Thạch, Cẩm Lệ ở đất Quảng
chẳng hạn. Ở phố cổ Hội An, chợ tết mở bên cạnh chùa
Ông, có “mực tàu giấy đỏ”, có bánh tét, bánh tổ, bánh
nổ, bánh in, bánh khô, bánh tráng, bánh thuẩn, bánh mè và
hoa vạn thọ. Những năm gần đây hoa huệ được trồng ở
ngoại ô phố cổ góp thêm sắc xuân cạnh nhiều loại hoa
quen thuộc như thược dược, hồng nhung. Những thảm rau Trà
Quế làm nền cho chúng khoe sắc. Xa xa phố cổ, người ta nhắc
đến chợ tết vùng quê trung du, đó là chợ phiên Trung Phước
ở huyện Quế Sơn với đủ trầm hương, mật ong, nấm mèo,
cau khô, đường đen bên cạnh những mặt hàng quí như ngà
voi, sừng nai, lụa là tứ xứ. Người đi chợ phiên từ phía
Đông lên, hoặc từ thượng nguồn sông Thu Bồn đổ xuống
: đôi ta kẻ bộ người thuyền – chợ phiên Trung Phước
thành duyên một đời. Chợ họp từ sáng mùng 3 đến trưa
đứng bóng thì tan: bóng ai mới đó đi mô - để anh lận đận
thân cô một mình - mai ni dầu có tái sinh - thì cho anh tấm
xuân tình của em. Tạm biệt, họ hẹn nhau đến mùa mai nở,
mong chờ năm sau nhóm phiên chợ tết mới. Chợ tết có khi
do một hoàng tử lập ra, như chợ Gia Lạc mỗi năm mở một
lần ở Thừa Thiên-Huế. Hoặc do người dân tự động nhóm
lại dưới những lều nhỏ lợp tranh, trên vách tre mắc đầy
những tranh tết vẽ hình Quan Âm, Bát tiên, Lã Vọng, Ngũ phụng
tề phi, hoặc sự tích trong truyện Thạch Sanh, Tam Quốc; dưới
đất bày những con gà đất xanh vàng hồng tía mời gọi trẻ
em. Tới phương Nam, chợ tết rộn ràng dưới nắng, có hoa
Gò Vấp chở vào, Sa Đéc chở lên, Đà Lạt đem xuống... Cạnh
những chợ tết dương gian, trong văn học cổ Việt Nam còn
ghi lại đây đó một loại chợ âm phủ mở vào mỗi đêm
30 tháng Chạp. Chợ này khác với “chợ âm phủ” ở Đà
Lạt (vốn là chợ dương gian dành cho người sống lui tới
về đêm). Chợ này hàng quán cũng khác với quán “cơm âm
phủ” ở Huế (thường đỏ đèn vào đêm khuya cho người
sống tới ăn). Mà chợ này, mở cho người sống lẫn người
chết - người sống gánh gạo muối, mang thúng bánh kẹo, rỗ
hoa quả đến chợ lấy cớ mua bán, song kỳ thực mục đích
chỉ để dò tìm linh hồn hình bóng của người thân đã khuất
hiện về. Người ta tin rằng, đó là dịp duy nhất trong năm
để linh hồn người chết cùng những thân quyến còn sống
gặp mặt trò chuyện, hỏi han. Thầy tôi bảo chỗ họp chợ
thường dưới một gốc đa lớn ở ngoại thành Thăng Long
ngày cũ. Ở đó, vào đêm trừ tịch, trước giao thừa một
chút, người ta nghe có tiếng cười tiếng khóc tiếng mừng
tiếng vui vọng lên dưới ánh sáng của những ngọn đuốc
lập lòe, ấm áp. Nó không âm u ghê sợ hoàn toàn như cảnh
giới của địa phủ, vì nó được sưởi ấm bằng những
tấm tình mong đợi. Nhờ đó thế gian một lần nhìn lại
thân sơ. Có kẻ tin, người không, song một chợ âm phủ như
thế vẫn được người ta truyền miệng lâu đời, mà với
tôi, nhớ nhất là câu chuyện của thầy kể dưới đây.
Có
một đôi nam nữ nọ yêu nhau nồng nàn lắm. Sắp đến ngày
cưới, bỗng chàng trai ngã bệnh nặng, chạy chữa khắp nơi
không lành. Trước khi chết, anh ta cầm tay người yêu dặn
dò: “Đêm 30 tết năm nay em hãy ra họp chợ ở gốc đa ngoài
thành, anh sẽ đợi em nơi đó”. Cô gái đau lòng chôn cất
người yêu rồi đợi đến cuối tháng Chạp năm ấy bồi
hồi mang thúng rỗ đựng hương hoa, bánh mứt hệt như người
đi mua bán đến chợ tết âm phủ để tìm. Cô ta đứng dưới
gốc đa thấy kẻ qua người lại thầm thì, yêu đương, thề
thốt, cười, khóc rưng rưng... Nhưng nhìn quanh tuyệt không
thấy bóng chàng đâu. Đợi mãi, đợi mãi gần tới giao thừa,
các bóng ma đã lui về cõi chết, người sống cũng về nhà
gần hết, mà bóng người yêu của cô vẫn không thấy hiện.
Nước mắt cô chảy dài lặng lẽ. Cô đoan chắc có một trắc
trở gì đây khiến chàng không hiện hình lên chợ. Cô nghĩ
thầm mình phải tìm rõ nguyên do mới được. Nghĩ như thế
và nhớ tới lời thề với chàng rằng: “Sống không lấy
được nhau thì chết sẽ tìm đến nhau” nên sau ba ngày tết,
cô ta tự vẫn với mong ước sẽ gặp lại chàng bên suối
vàng. Nhưng sau khi trút hơi thở cuối cùng, đến trước Diêm
Vương, cô ta mới hay rằng chàng đã sớm đầu thai lên dương
thế theo nghiệp lực của mình, chứ đâu còn ở cõi âm nữa
mà tìm. Bẽ bàng hơn, cô ta được biết do nhân duyên nhiều
đời tích tụ, nên khi đầu thai trở lại, chàng đã chuyển
thành thân nữ, và làm công chúa của vua nhà Lý đương thời.
Nghe vậy, hồn cô gái kia lúng túng, rối bời trước một
thực tế trái ngang so với những mong chờ thao thức của mình.
Dẫu vậy, cô ta vẫn giữ nguyên ý định muốn gặp lại chàng,
dầu chàng đã thay hình đổi dạng, để thử coi còn nhớ
mình không. Bởi tình thức nặng nề như thế nên cô cứ nài
nỉ Diêm vương cho mình đầu thai gặp chàng càng sớm càng
hay. Diêm Vương cười:
- Để
làm gì chứ? Chàng ta đã chuyển ra thân nữ rồi, thành công
chúa rồi, ngươi có gặp cũng hoài duyên thôi.
Nhưng
cô ta vẫn van xin mãi. Rốt cuộc Diêm vương chiều lòng nói:
“Được. Nhưng muốn sống chung một nhà với người yêu
đời trước của ngươi thì không có cách nào hơn là ngươi
phải sinh ra làm con của người ấy. Một điều nữa, lần
tái sinh này, do tác động của phước duyên nhiều đời, ngươi
phải biến từ thân nữ thành thân nam. Nghĩa là ngươi sinh
ra làm con trai của người yêu ngươi. Nói rõ hơn, ngươi phải
đầu thai làm con trai của công chúa hiện đời, ngươi chịu
không?”.
Cô
ta đồng ý. Và thế là, mười tám năm sau, công chúa (vốn
là chàng) sinh được một trai (vốn là nàng). Họ sống chung
một nhà nhưng không nhìn ra nhau, bởi ngũ ấm của họ đã
thành bức tường ngăn che, không cho họ thấy lại diện mục
ngày xưa, và bởi tình yêu kiếp nào nay đã chuyển sang tình
mẫu tử.
Thầy
tôi bảo: “Người ta đi trên đời như đi vào chợ với bao
nhiêu hàng hóa bừa bộn, ngổn ngang. Dù là chợ hoa thì cũng
có ngày tan. Kiếp này làm nữ, kiếp khác làm nam. Kiếp này
làm vợ, kiếp sau làm chồng. Kiếp này làm mẹ, kiếp nữa
làm con. Cứ mãi trộn lẫn vai vế và chuyển hóa giới tính
hoài hoài trong vòng nghiệp lực. Đó là sự thật đã, đang
và sẽ mãi mãi diễn ra không loại trừ một ai”. Thầy căn
dặn đừng ôm “cái tôi” của mình mà sống trôi lăn, và
đọc cho tôi nghe mấy lời của ngài Phó Đại Sĩ: "Đêm đêm
ôm Phật ngủ. Sáng sáng cùng Phật dậy. Nói nín đồng vừa
vặn. Đứng ngồi chẳng lìa nhau". Được như thế thì tuy
là ngày thường cũng vui như ngày tết, phải không bạn, những
người thân thương nhiều đời của tôi đang đọc dòng chữ
cuối bài này?
HOA
VẠN THỌ
Trầm
Nguyên Ý Anh
Trong
các dịp lễ, Tết hay những ngày giỗ má, tôi thường mua
hoa vạn thọ về chưng, cúng. Bạn bè thắc mắc: “Sao người
ta bày bán biết bao là hoa đẹp và quý, bạn lại mua thứ
hoa vạn thọ rẻ tiền kia!”. Những lúc như vậy tôi chỉ
cười: “Tại má mình thích hoa vạn thọ”, vậy thôi! Thật
ra, mỗi khi tôi thêm một tuổi là má xa tôi thêm một năm.
Thuở tôi còn nhỏ, nhà nghèo lại đông con nên ba má vất
vả lắm. Má phải xoay sở mọi thứ bằng những đồng lương
ít ỏi của ba. Nhà ít khi được ăn thịt, chỉ ăn khô mắm
quanh năm. Cái đầu trẻ thơ của tôi nào biết má đã đau
đớn nhường nào khi đám con mình thiếu ăn, thiếu mặc. trên
bàn thờ Phật và bàn thờ ông bà, quanh năm chỉ có hoa vạn
thọ. Thời ấy, tôi cứ tưởng má thích nên tôi cũng thích
theo. Tôi ra trường, làm việc, kiếm được mấy đồng lương
chật vật buổi giao thời, bữa cơm gia đình bắt đầu
có thịt. Một lần, tôi mua về một bó hồng và hoàng cúc,
má tôi trầm trồ khen đẹp. Tôi ngạc nhiên: “Con tưởng
má chỉ thích hoa vạn thọ?”. Má tôi cười buồn: “Lúc
đó, nhà nghèo quá! Chỉ có hoa vạn thọ là rẻ thôi!”. Tôi
chợt hiểu ra tại sao suốt thời gian dài đằng đẵng, má
cứ nói mình không thích ăn thịt. Để nuôi được sáu đứa
con học hành, má đã chịu thương, chịu khó biết bao nhiêu.
Và
hôm nay, ngày giỗ má không thiếu thức ăn ngon, đó là tấm
lòng của chúng tôi dâng má nhưng má không còn nữa. Nhìn lên
bàn thờ, những bông hoa vạn thọ mang đến hình ảnh thân
thương ngàn đời-má của chúng tôi.
VỀ
TẾT
Trần
Kiêm Đoàn
Nhiều
dịp đưa người thân lên phi trường San Francisco về quê hương
ăn Tết, nhìn dòng người lũ lượt về quê, tôi bỗng nao
nao liên tưởng đến giống cá Hồi rủ nhau lũ lượt về
nguồn...
Tết
về! Về Tết!
Có
phải chỉ riêng trên quê hương Việt Nam mới mong đợi Tết
về?
Sau
mùa mưa dầm kéo dài, ngày lê thê, đêm rả rích suốt cả
mùa Đông với bầu trời xuống thấp và không gian nhỏ lại,
Tết như từ một miền "Vô trú" trở về. Miền Vô trú có
nhiều sương mù và nắng mới vàng mơ, nên Tết mang về một
ít nắng bất chợt và những sớm sương mù lành lạnh cho
mạ và cho em. Màu sương pha của Tết đậu trên những luống
cải vàng của mạ. Tết sẽ vực dậy những bước đi lom
khom trong tơi lá, cất những cái lồng ấp của ôn mệ trên
giàn thúng mủng sau hè. Tết giúp mở bớt nhiều lớp áo -
trong lớp rách, ngoài lớp lành - của o gái quê nghèo, để
chỉ còn một chiếc áo mới ôm cái lưng ong và bờ vai vỡ
đất của tuổi xuân thì "gái 17, bẻ gãy sừng trâu". Dáng
Tết xanh hơn và hương Tết đậm hơn vào những ngày cuối
tháng Chạp. Và đến đêm ba mươi thì dẫu có đóng cửa Tết
vẫn vô nhà; sáng mồng một, dẫu có khóa chặt cửa trước,
cài then cửa sau, Tết vẫn ung dung túa ra đường cười tươi
chào những người áo mới...
Tuổi
thơ ở làng, tôi đã đợi những mùa Tết về với tâm trạng
vừa hiện thực vừa mơ mộng như thế đó. Tết Việt Nam
là một thời điểm giao hòa giữa ước mơ và hiện thực.
Ước mơ không bao giờ cạn và hiện thực không bao giờ đầy
nên người Việt Nam "Về Tết" bằng điệu sống khát khao
của con dơi cũ về đong đưa dưới mái nhà cổ xưa, chứ
không đón Tết hay ngắm Tết mông lung từ thế giới bên ngoài.
Về Tết là về với hơi ấm của mái nhà thừa tự; về với
mẹ dù mẹ còn đó hay mất rồi nhưng vẫn mường tượng
dang tay đứng đợi. Về Tết là về với thế giới sơ xưa,
xa mà gần với nỗi lòng cô Tấm, nụ cười chú Cuội, bản
lĩnh Thằng Bờm, hào khí Thạch Sanh... đã "dzú" chín vàng
hươm cất trong ngăn thần thoại và nỗi xúc động ôm chầm
những người thân bằng xương bằng thịt.
Tết
về trên quê hương. Quê hương về giữa lòng người. Nhưng
lòng người về đâu trong mùa Tết? Những câu hỏi có vẻ
kỳ lạ xàng quanh như kiểu thiền sư ra công án. Nhưng quả
thật, khi nói có một "công án về Tết" cho người Việt Nam
là một cách nói chân tình mà không sợ mang tiếng lạm dụng
danh từ. Vì sao chữ "Tết" lại không thể là thoại đầu
cho một công án về Tết?
Thuở
nhỏ ở làng, cứ mỗi năm được mạ cho ăn canh cải cay đầu
mùa nấu với khuyết tươi là tôi biết Tết đang về
lấp ló đâu đó ở sau hè. Với tôi ngày đó, Tết không bao
giờ mở cửa đi thẳng vào nhà. Tết là là một hứa hẹn
ngập ngừng đầy réo gọi của bầy trẻ xóm nghèo, nhưng
cũng là nỗi lo quắn ruột của những bà mẹ quê. Mắt mạ
hom hem mỗi buổi sáng vì mất ngủ. Mạ lo cho ngày Tết với
tư thế của một người hiếu đạo thờ cúng tổ tiên ông
bà. Kính cẩn lo cung bái đã đành, mạ còn phải lo cho bầy
trẻ. Dù chỉ là chiếc áo vải to và đôi guốc mộc không
sơn, nhưng trăm thứ dập dồn đều đổ hết trên đôi vai
trần mạ gánh. Mạ chừa mấy buồng chuối sau hè để cúng
Tết; giữ mấy bụi chuối vườn sau để lấy lá gói bánh
Tét. Mạ bán cặp gà giò để may cho con cái áo mới; chừa
con heo để bán lấy tiền mua bao nhiêu là hàng Tết chắt chiu.
Riêng mạ thì chẳng có chi, ngoài mái tóc sau mỗi mùa Đông
lại bạc hơn. Áo mới của mạ là đôi bông tai thòa và cái
áo dài vải đọan màu hoa lý, chỉ sờn mà không bao giờ cũ,
nên cứ mỗi năm, mạ lại đem ra "diện" trong ba ngày Tết.
Có lẽ vì mạ không có chi cả nên lòng mạ trống trải, bao
la và sâu hút như cái giếng trời không đáy. Lòng mạ cao
vời dọi vào sâu thẳm đời con như trăng soi đáy giếng.
Ngỡ như gần, thật gần trong tầm tay với, nhưng chẳng bao
giờ chạm được giới hạn tận cùng.
Tết
Về! Cái khoảng không bao la sâu thẳm của lòng mẹ không nói
một lời nào nhưng lại có vô biên lời để nói, để gọi
những đứa con về Tết. Những đứa con Việt Nam xa quê
dường như có một sự thôi thúc vô hình trong mùa Tết của
giống cá Hồi (Salmon). Đấy là một sự thôi thúc vô
hình thiên nhiên của nòi giống phải trở về nguồn cội.
Nhiều
dịp đưa người thân lên phi trường San Francisco về quê hương
ăn Tết, nhìn dòng người lũ lượt về quê, tôi bỗng nao
nao liên tưởng đến giống cá Hồi rủ nhau lũ lượt về
nguồn...
Cá
Hồi! Suốt một cuộc hành trình chung thân ngắn ngủi trong
khoảng từ 5 đến 7 năm, đàn cá Hồi sinh ra trên một dòng
sông nào đó, nhưng cuối đời, cá Hồi phải trở về nguồn
cội để sinh nở lần cuối cùng và nằm xuống vĩnh viễn
ở đó. Có những giống cá Hồi như Chinook, ly cách dòng sông
quê hương đến 5.000 cây số để sống vẫy vùng ngoài biển
cả. Nhưng rồi cuối một mùa Đông nào đó, Chinook "động
lòng quê" và gọi đàn tìm về quê hương nguồn cội. Có thể
nói cuộc hồi hương của đàn cá Hồi Chinook là một cuộc
về nguồn cảm động nhất trong mọi sinh vật của địa cầu.
Từ khi rời đại dương bắt đầu về dòng sông xưa, đàn
cá Hồi Chinook không thiết gì ăn uống. Quay đầu một mạch
bơi thẳng về nguồn. Trên cuộc hành trình trở về quê
cũ dài gần ba lần chặng đường từ Sài Gòn về Hà Nội,
đàn cá Hồi phải chiến đấu thường trực với bao nhiêu
gian nan hiểm trở dọc đường. Trước những đàn cá
lớn tìm mồi hung hãn, trong những dòng cuồng lưu của đại
dương nóng lạnh bất thường, với những cạm bẫy của biết
bao lưới săn vây bủa..., đàn cá Hồi dù cho thịt nát xương
tan (nghĩa đen) vẫn không không bao giờ đổi hướng. Sau cuộc
hành trình, có những đàn cá Hồi tìm về được dòng sông
xưa, cả trăm con chỉ còn vỏn vẹn lơ thơ dăm ba con sống
sót. Và những con cá sống sót hầu hết đều mang thương
tích đầy mình... Thế mà sau năm năm, vào cuối mùa Đông,
đàn cá Hồi vẫn lũ lượt về nguồn. Về nguồn lần cuối
không phải để tìm một con nước sâu hơn, để xây tổ trên
những đỉnh rong rêu phù hoa hơn, mà để được gối đầu
an nghĩ một giấc sau cùng giữa lòng nước cội nguồn của
quê hương yêu dấu!
Sự
thôi thúc Về Tết của những người Việt xa quê không mang
nặng tính bản năng như cá Hồi, nhưng từ trong ý thức gắn
bó yêu thương vẫn có những níu kéo rộn ràng không giải
thích được. Cũng như chẳng có ai giải thích được sâu
bao nhiêu là biên giới tận cùng của lòng mẹ - đáy trăng!
Hơn
20 năm với những cái Tết Về xa xứ, đã nhiều lần vào
ngày mồng một Tết bên quê nhà mà bên này, tôi vẫn miệt
mài làm việc. Khi tất cả mọi người đều làm việc, dù
đang có một đất trời mùa Xuân trỗi dậy, nhưng tôi biết
ăn Tết với ai đây? Tôi cố làm ra vẻ dửng dưng trong
một xã hội dửng dưng như người mẹ mĩm cười tiễn con
ra đi với "cái cười bằng mười cái khóc". Dù đó là ở
Trung Quốc, ở Nhật Bản, Hàn Quốc..., Mỹ châu, Phi châu,
hay Âu châu... thì cũng chẳng có nơi nào để cho lòng mình
về Tết.
Nơi
xứ người, khái niệm về "Năm Mới" đâu có thiêng liêng
một cách tự nhiên và đồng bộ như ở quê mình. Chỉ 3 nước
trên thế giới có chung một ngày cho Năm Mới là Trung Hoa,
Hàn Quốc và Việt Nam. Nhật, Thái Lan, Lào, Campuchia... mỗi
nước đều có một ngày Năm Mới khác nhau. Trên đất Mỹ
này, sẽ không có ai quan tâm thắc mắc khi trên cùng một đường
phố có người láng giềng Do Thái mừng Năm Mới vào cuối
tháng 9; người Mỹ "Happy New Year" vào ngày đầu tháng giêng;
ông hàng xóm sau nhà người Nga dòng Orthodox cắm hoa mừng Năm
Mới vào cuối tháng Giêng; gia đình người Iran đầu đường
mừng Năm Mới vào tháng Hai; bà người Lào diện áo lễ hội
múa để mừng Năm Mới vào tháng Ba...! Cái thời điểm thiêng
liêng "mừng Xuân nhân loại" ở quê nhà không còn là mốc
thời gian duy nhất mở đầu một năm đáng ghi nhớ đối với
người khác xứ.
Ngày
xưa, tôi vẫn hiểu lầm về khái niệm "Ăn Tết" là Tết để
ăn. Ăn nhiều thứ ngon mà ngày thường không có. Nhưng khổ
nỗi, cái ăn của truyền thống Việt Nam không dừng lại ở
vật chất mà ăn là một chuỗi phản ứng gợi nhớ có điều
kiện. Những ngày cuối tháng Chạp như bây giờ mà đến những
cửa hàng Việt Nam và Á Châu ở những nơi đông người Việt
như Santa Ana, San Jose, Houston, Seattle, Sacramento... thì hàng Tết
chẳng thiếu một món gì. Từ bánh chưng, bánh tét, bánh màu
đủ loại đến mứt các thứ, đồ nhắm Bắc-Trung-Nam, hoa
quả tươi đủ màu đủ giống đều có bày bán ê hề. Thậm
chí, giấy vàng mã, bài vu,ï cua bầu, bài tới đều có bày
bán nhan nhãn. Chỉ cần một ngày lương của một người
thợ trung bình là đủ sắm các loại thức ăn cho ba ngày Tết.
Thế nhưng, cho dù vật chất có rôm rả đến mức nào đi
nữa thì tâm trạng Về Tết vẫn không bao giờ hiển hiện
để có "nụ Tầm Xuân nở ra xanh biếc" nơi xứ người, vì
một lẽ đơn giản là xứ người không có Tết nên Tết không
về!
Ở
quê nhà, ra đường là gặp Tết, về nhà gặp Tết, hay vụng
tìm cũng gặp Tết. Tết nức trong không gian, Tết tràn
trong không khí. Thế mà nơi đây chỉ có Tết trong lòng người.
Hàng năm, vào mùa Tết, những nhóm người Việt tha hương
còn đậm tình đất nước, cũng gắng Về Tết và tìm nhau
trong ngày Tết qua những Hội Tết cuối tuần. Cuộc vui lẻ
loi bao giờ cũng cảm động...
Nếu
không về thì biết bao giờ mới tới, nhưng đã quyết về
thì sớm muộn gì cũng sẽ tới. Đàn cá Hồi yếu đuối thế
kia còn mãi mãi trung thành với chính mình không chuyển hướng,
huống chi con người mang nặng suy tư? Trong suy tư, mỗi người
có một lối về. Đối tượng quay về có thể chẳng cần
một tấm vé nào cả. Tấm vé về lại với chính mình không
bao giờ mua được, vì khi bước lên tàu cũng là lúc quay đi.
Quê hương đích thực là cõi sơ xưa, là hồn thiên cổ nằm
tĩnh lặng trong mỗi con người!
Đừng
lỗi hẹn với chính mình. Năm nay Tết Về ta sẽ gọi mình
Về Tết!
(Sacramento,
Cali., U.S., tháng Chạp, Ất Dậu)
08
Bản sắc dân tộc: nếu quyết lòng giữ thì giữ được!
(trò chuyện với GSTS Trần Văn Khê, Hoàng Độ – Nam Thắng)
(Đang
đánh máy)
Tản mạn:
CÂY
NÊU NGÀY TẾT
VÀ
CHIẾC ÁO CÀ SA CỦA BỤT
Phước
Cảnh
Tôi
tròn xoe mắt lạc vào thế giới cổ tích theo lời Nội kể.
Trong thế giới lung linh huyền ảo đó, tôi từng gặp Bụt
hiện ra giúp đỡ nàng Tấm, giúp anh chàng Khoai qua câu chuyện
Tấm Cám và truyện Cây Tre Trăm Đốt..., và giờ đây, trong
câu chuyện của Nội, Bụt còn hiện ra trồng Cây Nêu để
giúp dân mình giữ đất, giữ làng...
Chiều
30 Tết, khi mâm cỗ được dâng lên bàn thờ đón ông bà tổ
tiên về ăn Tết cùng con cháu cũng là lúc mọi nhà đều không
quên trồng Cây Nêu trước cổng nhà mình. Ký ức về tuổi
thơ, về cái nắng vàng ươm của chiều 30 tết, về nồi bánh
chưng sôi sùng sục trên bếp lửa hồng, và nhất là được
lẽo đẽo theo Nội ra Đình xem các cụ trồng Cây Nêu của
làng trong bầu không khí quyện tỏa trầm hương ngào ngạt
ấy...luôn khiến tôi cảm thấy nao lòng. Cây Nêu ngày Tết
có tự bao giờ, đối với tuổi thơ của tôi, điều đó thật
là thiêng liêng, lung linh, huyền ảo...
- Ai
làm ra Cây Nêu ngày Tết hả Nội?
- Cây
Nêu có từ thuở xa xưa lắm, Nội bảo, hồi ấy dân mình
bị quỷ xâm hại, chiếm hết đất đai, Bụt từ phương Tây
đến đã bày cho tổ tiên mình trồng Cây Nêu để giữ đất,
giữ làng.
Chuyện
kể rằng, thuở ấy quỷ đến chiếm hết đất đai, bắt
dân ta trở lại làm thuê cho chúng. Lúc đầu quỷ bắt dân
ta trồng lúa, đến vụ, chúng bảo "cho gốc lấy ngọn". Vậy
là dân mình rơi vào cảnh khốn đốn vô cùng. Bụt từ phương
Tây lại, dạy dân vun đất trồng khoai lang, năm đó dân mình
được bội thu còn quỷ chỉ nhận được toàn lá là lá!
Vụ sau, quỷ ra điều kiện "cho ngọn lấy gốc", Bụt
dạy dân trở lại trồng lúa, vậy là thóc ùn ùn chạy về
nhà dân còn quỷ được chỉ toàn gốc rạ! Ức quá,
quỷ ra điều kiện "lấy cả gốc lẫn ngọn", Bụt lại cho
dân giống ngô (bắp) để trồng, và vụ đó quỷ lại đắng
cay nhìn từng gánh ngô chạy về nhà dân còn mình chỉ được
toàn gốc và ngọn!
Bị
thua đau, quỷ đòi lại tất cả ruộng đất, không cho dân
mình làm mướn nữa. Bụt dạy dân điều đình với quỷ,
chỉ xin một miếng đất nhỏ để trồng cây tre và mắc chiếc
áo Cà-sa của Bụt trên đó. Bóng chiếc áo Cà-sa tỏa đến
đâu thì đó là đất của dân, còn lại là đất của quỷ.
Quỷ đồng ý. Khi người trồng cây tre xong, Bụt đứng trên
ngọn tre tung chiếc áo Cà-sa thành một tấm vải rộng, cây
tre cũng cao dần lên, bóng chiếc áo Cà-sa dần dần đã che
kín mặt đất. Thấy uy thần của Bụt như vậy, quỷ sợ
hãi, cứ lùi dần lùi dần, và cuối cùng phải chạy ra ở
ngoài biển Đông. Về sau, quỷ nhiều lần kéo vào đánh phá
hòng chiếm lại đất, nhưng tổ tiên ta nhờ có sự trợ giúp
của Bụt, đã khiến cho quỷ phải rập đầu chịu tội, không
dám quấy phá nữa.
Quỷ
van xin, mỗi năm vào dịp Tết, chúng được vào đất liền
vài hôm để thăm phần mộ ông bà tổ tiên đang chôn tạm
trên đất của người. Với lòng khoan dung độ lượng, Bụt
và tổ tiên ta đã bằng lòng. Và kể từ đó, cứ mỗi dịp
Tết về dân ta thường có tục trồng Cây Nêu trước cổng
nhà, trên cóù treo chùm lá dứa và chiếc khánh đất, để
mỗi khi gió thổi rung Cây Nêu, quỷ nghe tiếng khánh vang lên,
thấy chùm lá dứa đong đưa thì không dám lại gần chỗ ở
của người quấy phá...
Tôi
tròn xoe mắt lạc vào thế giới cổ tích theo lời Nội kể.
Trong thế giới lung linh huyền ảo đó, tôi từng gặp Bụt
hiện ra giúp đỡ nàng Tấm, giúp anh chàng Khoai qua câu chuyện
Tấm Cám và truyện Cây Tre Trăm Đốt..., và giờ đây, trong
câu chuyện của Nội, Bụt còn hiện ra trồng Cây Nêu để
giúp dân mình giữ đất, giữ làng...
- Vậy
nên, mỗi khi Tết về mình phải trồng Cây Nêu ở ngoài Đình
làng phải không Nội?
-
Cây Nêu là biểu tượng văn hóa truyền thống của tổ tiên
mình cháu ạ, Nội bảo. Sau này lớn lên cháu sẽ hiểu, không
chỉ mỗi nhà, mỗi làng đều có trồng Cây Nêu khi Xuân về,
mà cả quốc gia, dân tộc mình cũng phải trồng Cây Nêu như
vậy. Và quan trọng hơn, không phải đợi đến ngày Tết mới
trồng Cây Nêu, mỗi người cũng phải trồng cho mình một
Cây Nêu ở trong lòng, cháu ạ.
- Làm
sao trồng Cây Nêu ở trong lòng được hả Nội? Trong lòng
mình có quỷ đâu mà phải trồng Cây Nêu?
- Chỉ
cần có cái tâm là trồng được cháu ạ. Một khi Cây Nêu
được cắm lên, đó là biểu tượng văn hóa thiêng liêng
cho mọi người cùng hướng về, để luôn nhớ đến gốc
tích nguồn cội của mình, và đó cũng là bức tường tinh
thần kiên cố nhất để chống lại sự nô dịch văn hóa
của các thế lực xấu ác ngoại lai, như bọn quỷ trong câu
chuyện mà Nội vừa kể cho cháu nghe vậy.
Thuở
ấy, nghe Nội kể mà lòng tôi cứ miên man, không hiểu ý Nội
muốn nói gì. Giờ đây, khi tôi đủ lớn khôn để hiểu ra
những ý nghĩ thâm trầm đó thì Nội đã đi xa. Đúng là mỗi
người cần phải trồng cho mình một Cây Nêu ở trong lòng,
và trên quê hương xứ sở của mình cũng cần trồng lên một
Cây Nêu như vậy, nhất là trong bối cảnh hội nhập văn hóa
hiện nay.
Bây
giờ đã là tháng Chạp, cái cảm giác hồi hộp mong Tết đến
từng ngày của thời ấu thơ lại ùa về trong tôi. Ước gì
tôi được trở lại những ngày thơ ấu ấy, để được
lẻo đẻo theo Nội ra Đình làng xem các cụ trồng Cây Nêu,
để được ngây ngất trong mùi trầm hương nghi ngút của
một buổi chiều cuối năm, và lại miên man nghe Nội kể về
chuyện Cây Nêu ngày Tết.
NÉT
MỚI
TRONG
LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG
MÙA
XUÂN BÍNH TUẤT – 2006
Theo
truyền thống mỗi độ xuân về, chùa Hương (Hà Tây) lại
nô nức cảnh trẩy hội của khách thập phương. Mùa lễ hội
năm nay có gì mới, PV VHPG đã phỏng vấn Đại đức Thích
Minh Hiền, trụ trì chùa Hương, về vấn đề này.
Đại
đức cho biết vài nét về chùa Hương trong mấy năm trở lại
đây?
- Kể
từ năm 1989, cố Thượng tọa Thích Viên Thành, trụ trì đời
thứ 11 theo thiền phả Hương Tích, chính thức nhận lại sự
quản lý nội tự Chùa Hương từ Ban Quản lý thắng cảnh
Hương Sơn. Quần thể chùa Hương gồm chùa Thiên Trù, chùa
Tiên Sơn, chùa Giải Oan, động Hương Tích, động Hinh Bồng,
chùa Long Vân, chùa Tuyết Sơn, chùa Bảo Đài, chùa Thanh Sơn,
chùa Hương Đài, v.v...
Từ
đó, cố Thượng tọa đã trùng tu tôn tạo rất nhiều, nhất
là phục hồi các công trình bị tàn phá trong chiến tranh vào
những năm 1947-1950 như Chính điện, Tổ đường, cổng Nam
Thiên Môn v.v... Có thể nói hiện nay chùa đã đi vào nề nếp
quy củ của một sơn môn, với những công trình vốn có trước
đây.
Đến
tháng Tư năm 2002, cố Thượng tọa viên tịch, chúng tôi kế
nhiệm Trụ trì chốn tổ và thừa kế Phật công tác xây dựng.
Một trong những công trình mà chúng tôi mới xây dựng để
tri ân Tôn sư đó là vườn tháp đá Chân Tịnh.
Bên
cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu hành hương của hơn 50 vạn
Phật tử và du khách trong suốt ba tháng lễ hội sắp tới,
chúng tôi đã cho xây dựng Quán Âm kiều (cầu Quán Aâm), nhằm
giải quyết sự ách tắc trong việc đi lại ở cửa ra vào
động Hương Tích. Những công trình trùng tu tôn tạo của
quần thể di tích Chùa Hương trong khoảng 15 năm trở lại
đây với kinh phí hàng chục ngàn tỷ đồng, nguồn từ hằng
tâm hằng sản của Tăng Ni, Phật tử thập phương và nhân
dân mọi miền đối với danh lam thắng cảnh chùa Hương.
Quần
thể chùa Hương đang được Bộ VHTT đề nghị UNESCO công
nhận là Di sản Thiên nhiên - Văn hóa thế giới, chắc chắn
điều đó sẽ trở thành hiện thực trong vài năm tới.
Khi
trùng tu, tôn tạo các công trình cũ và xây dựng những công
trình mới trong quần thể chùa Hương, Đại đức có theo tiêu
chí kiến trúc nào nhằm vừa giữ gìn bản sắc kiến trúc
đồng thời không phá vỡ sự hài hòa với cảnh quan thiên
nhiên vốn có?
- Theo
quy hoạch của Bộ VHTT, tổng diện tích của quần thể chùa
Hương là 18.000ha, với nhiều công trình kiến trúc, chúng tôi
cố gắng giữ gìn mô thức kiến trúc Phật giáo vốn có,
đặc biệt kiến trúc đặc thù của loại hình chùa - động,
một loại hình kiến trúc hiếm thấy ở nước ta. Chúng tôi
cũng rất tôn trọng yếu tố thiên nhiên. Chùa Hương vẫn
giữ được danh xưng "Nam Thiên Đệ Nhất động" thu hút nhiều
tao nhân mặc khách hành hương, vãng cảnh khi mùa Xuân đến.
Chúng
tôi luôn luôn bảo lưu nếp sống thiền môn thanh tịnh và
và cảnh quan thiên nhiên đồng thời hạn chế tối đa những
biến thái văn hóa du lịch của thời kinh tế thị trường.
Vừa
qua, báo chí lên tiếng rằng, người ta dự định xây dựng
một nhà máy xử lý rác thải cạnh quần thể chùa Hương,
có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái
của vùng này, Đại đức có thể cho biết về tình trạng
này như thế nào?
Cuối
năm 2004, một số nhà đầu tư có kế hoạch xây dựng nhà
máy xử lý rác thải cạnh chùa Hương, cách động Hương Tích
chỉ 6km. Chúng tôi đã lên tiếng cùng với các cơ quan chức
năng và rồi nhà máy đó đã được chuyển sang vị trí khác.
Tuy
nhiên, có một vấn đề nữa là rác thải do các du khách hành
hương mang đến rồi bỏ lại cũng ảnh hưởng rất nhiều
đến môi trường, hiện nay chúng tôi xử lý thủ công (đốt
và chôn). Ban tổ chức lễ hội chùa Hương rất mong mỗi người
khi đến đây hãy tự ý thức điều này. Chúng tôi cũng có
dự kiến kết hợp với Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
xây dựng một lò xử lý rác thải trong tương lai.
Thưa
Đại đức, lễ hội chùa Hương năm nay có gì khác so với
các năm trước?
Nét
mới đầu tiên là chúng tôi đưa vào sử dụng chính thức
Quan Âm kiều. Nét mới thứ hai là động Hương Tích đã có
điện, chủ động được ánh sáng. Nét mới thứ ba là công
trình cáp treo do HUCTRACO đầu tư.
Còn
những hoạt động khác thì vẫn như mọi năm, vào ngày mồng
6 tháng Giêng năm Bính Tuất (2006) Ban tổ chức sẽ làm lễ
khai hội Chùa Hương tại chính điện chùa Thiên Trù, dự kiến
có hàng chục nghìn người tham dự. Cao điểm của lễ hội
là vào dịp Khánh đản Đức Quán Thế Âm (Phật Bà Chùa Hương)
đêm 18 rạng 19 tháng Hai âm lịch rực rỡ ánh đèn với “ngũ
bách hoa đăng” (tượng trưng cho 500 danh hiệu của Bồ tát
Quán Thế Âm) tại động Hương Tích, nơi được xem là đạo
tràng của Bồ tát Quán Thế Âm Việt Nam, và kết thúc vào
ngày 25 tháng 3 âm lịch, ngày giỗ tổ Hương Tích. Ngoài ra,
trong thời gian lễ hội còn có các lễ kỳ an (rằm tháng Giêng),
giỗ tổ đời thứ 10 của Hương Tích (12 tháng Giêng) và nhiều
buổi thuyết pháp ở chùa Thiên Trù...
Cũng
một điềm lạ nơi đất thiêng, cứ đến lúc vãn hội, vào
khoảng các ngày 24, 25 tháng 3 âm lịch, trời lại đổ mưa
rào, dân gian gọi đó là mưa rửa chùa, như tẩy trần quần
thể Hương Tích để trả chùa về với không gian u tịch của
chốn sơn môn thanh tịnh, nơi được xem là Đạo tràng của
Bồ tát Quán Thế Aâm tại nước ta.
Xin
cảm ơn Đại đức.
Nguyên
Đức thực hiện
NGÀY
XUÂN
TRẨY
HỘI CHÙA HƯƠNG
Vũ
Hồng Thuật
(Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam)
Sự
khoan thai của mái chèo đưa con thuyền lướt nhẹ trên mặt
nước, gợi cho ta nhớ về cội nguồn "văn hóa thuyền" của
người Việt cổ xa xưa. Con thuyền chở các thiện nam tín
nữ đến với cõi Phật, khai mở trí tuệ, hướng lòng người
về với thiện tâm. Ngồi ngắm cảnh núi non, cảnh thuyền
ra vào tấp nập mới hay, tuy không ai quen ai mà những lời
kể hạnh về sự tích Bà Chúa Ba, những tiếng chào nhau "A
Di Đà Phật" lại cứ ngân nga trên dòng Suối Yến...
Ở
Việt Nam, ít ai lại không biết đến Lễ hội Chùa Hương,
bởi đây là lễ hội diễn ra ở phạm vi rộng nhất, dài
ngày nhất và thu hút nhiều khách thập phương nhất. Đối
tượng hành hương chủ yếu là các Phật tử, người dân
lao động, người buôn bán, thanh thiếu niên..., và cả du khách
nước ngoài. Bài viết này, tiếp cận dưới giác độ văn
hóa, đi từ lễ hội đương đại lần về lịch đại để
bóc tách các lớp văn hóa Phật giáo đan xen với văn hóa tín
ngưỡng dân gian trên nền bức tranh văn hóa Phật giáo Việt
Nam.
Lễ
hội Chùa Hương gồm có hai phần: phần lễ và phần hội.
Phần lễ là những lễ thức liên quan đến cúng tế ở đền
Trình (đền Ngũ Nhạc) và chùa Thiên Trù; phần hội có múa
tứ linh, hát chèo, hát chầu văn, kể hạnh... Đó là những
hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian hết sức sinh động.
Du
khách trẩy hội Chùa Hương, ngoài đi lễ Phật còn kết hợp
tham quan du lịch. Các Phật tử từ khắp mọi miền đất nước
đã về chiêm bái cảnh Phật Hương Sơn, không phân biệt tuổi
tác, địa vị, dân tộc, tôn giáo hay quốc gia. Bởi vậy,
lượng người đến Chùa Hương mỗi năm một đông, và thời
gian lễ hội không chỉ bó hẹp trong 3 tháng Xuân mà các tháng
còn lại trong năm vẫn có người hành hương, chiêm bái, thưởng
ngoạn.
Trong
tâm thức của người đi lễ, Hương Sơn là đất Phật. Với
một quần thể chùa tháp, hang động rất đa dạng, mỗi ngôi
chùa đều ghi lại dấu ấn văn hóa, dấu ấn lịch sử và
cả huyền thoại về Bà Chúa Ba hóa thân thành Bồ tát Quán
Thế Âm để cứu khổ, cứu nạn cho tất cả chúng sinh. Phật
giáo du nhập vào Việt Nam đã có sự "tương thích" với tín
ngưỡng mẫu hệ để tồn tại và phát triển, mà hệ thống
thờ Tứ pháp ở khu vực Chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh)
là một ví dụ. Ở Ấn Độ, Bồ tát Quán Thế Âm có thân
tướng nam, khi truyền sang Việt Nam thì mang hình tướng nữ.
Với Chùa Hương, tuyến Thiên Trù, động Hương Tích cũng cho
ta thấy sự giao thoa văn hóa giữa Phật giáo với tín ngưỡng
bản địa rất sinh động, mà điển hình là sự tích Bà Chúa
Ba đến Am Phật Tích, Suối Giải Oan gột rửa nỗi oan ức
bụi trần, trước khi hóa thân trở thành Bồ tát. Pho tượng
Bà Chúa Ba được tạc bằng đá xanh từ thời Tây Sơn (1793),
hiện được tôn thờ tại động Hương Tích, là biểu tượng
đẹp đẽ về sự chân tu hành đạo cứu đời, và trở thành
hình tượng gần gũi thân thương, cảm thông sâu sắc với
chúng sinh.
Ở
Việt Nam, chỉ có Chùa Hương và Bích Động (Ninh Bình) là
hai địa điểm tâm linh có hành trình bằng đò, bằng thuyền
trên suối để vào chốn Bồng lai tiên cảnh thắp hương lễ
Phật. Sự khoan thai của mái chèo đưa con thuyền lướt nhẹ
trên mặt nước, gợi cho ta nhớ về cội nguồn "văn hóa thuyền"
của người Việt cổ xa xưa. Nay con thuyền trên dòng Suối
Yến không chỉ là phương tiện đi lại mà còn là con thuyền
Bát Nhã chở các thiện nam tín nữ đến với cõi Phật, khai
mở trí tuệ, hướng lòng người về với thiện tâm. Ngồi
trên thuyền ngắm cảnh núi non, cảnh thuyền ra vào tấp nập,
tuy không ai quen ai mà những lời kể hạnh về sự tích Bà
Chúa Ba, những tiếng chào nhau "A Di Đà Phật" lại cứ ngân
nga trên dòng Suối Yến, tạo ra một sắc thái rất riêng của
lễ hội Chùa Hương.
Duyên
may cho ai đi lễ Chùa Hương vào ngày khai hội mùng 6 tháng
Giêng sẽ được thỏa mình chiêm ngưỡng cảnh múa rồng,
phượng, rùa, lân của các bậc thượng võ làng Yến Vĩ, Đục
Khê, Hội Xá, Phú Yên..., biểu diễn múa rồng trên thuyền
giữa dòng Suối Yến, từ ngoài Chùa Trình vào tận chùa Thiên
Trù rất ngoạn mục. Tiết mục múa rồng không chỉ để làm
tăng thêm phần sinh động cho ngày hội, mà thực chất là
tái hiện lại cảnh giao hòa giữa trời đất, con người và
muôn vật... nhằm cầu cho mưa thuận gió hòa.
Rời
Thiên Trù, du khách hòa mình vào núi non, vãng cảnh chùa, bắt
đầu một cuộc đăng trình lên núi. Leo núi, chơi hang, thăm
động là nét sinh hoạt văn hóa rất cổ, nay còn diễn ra ở
một số dân tộc như Mường (Hòa Bình, Thanh Hóa), Thái (Nghệ
An), Tày (Thái Nguyên, Lạng Sơn)... Du khách nâng bước chân
nhẹ nhàng trên những phiến đá xanh, tay chống gậy trúc leo
núi, với kỳ vọng được chiêm ngưỡng vẻ đẹp u huyền
của tạo hóa trong động Hương Tích, và thỏa mình ngắm nhìn
các pho tượng Phật, Bồ tát đã ăn sâu trong tiềm thức văn
hóa của người việt.
Du
khách đến chùa Hương, ngoài lễ Phật, ngắm cảnh thiên nhiên
còn được thưởng thức các làn điệu hát chèo đò, kể
hạnh của các sư, vãi ở các ngôi chùa làng đồng bằng Bắc
Bộ đến vui hội chùa Hương. Sự giao lưu văn hóa giữa các
vùng miền, giữa các Phật tử, và khách thập phương, tạo
thành bản sắc văn hóa Phật giáo rất riêng ở Việt Nam.
Đi
lễ chùa Hương, du khách được cảm nhận vẻ đẹp của dòng
suối Yến, núi rừng, các công trình kiến trúc Phật giáo,
tăng thêm sự hiểu biết về giá trị văn hóa của thời kỳ
đồ đá, của văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn qua các di chỉ khảo
cổ học đã được khai quật trong quần thể di tích chùa
Hương. Được ngắm nhìn những trang sử khắc trên bia đá
lưu truyền cho hậu thế, các ngôi bảo tháp của các bậc
thiền sư, ẩn hiện dưới mái chùa cổ kính, càng tăng thêm
vẻ đẹp huyền diệu của chốn A lan nhã. Thưởng thức các
món ăn đặc sản của núi rừng như chè củ mài, rau sắng,
mơ, hay mua các vị thuốc Nam của cư dân bản địa mang về
nhà chữa bệnh, và nhất là mua cây cảnh với quan niệm hái
lộc đầu năm...
Đến
với lễ hội chùa Hương, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp
huyền diệu của sông nước bao la, của trời đất hùng vĩ,
của núi rừng huyền bí, của hang động ngời sáng, của cổ
tháp, của sự đa dạng về văn hóa. Cảnh đẹp, hội vui không
chỉ hấp dẫn người trần mà còn làm say lòng Phật, Thánh.
Để rồi, qua bao nhiêu điểm vân du, vẫn thấy Bà Chúa Ba
đã thả hồn về cõi Tịnh Độ, lại hóa thân thành Bồ tát
để cứu giúp cho muôn dân. Chùa Hương đang mở rộng vòng
tay đón chào du khách đến chiêm bái một kho tàng di sản văn
hóa của dân tộc đang được nâng niu, giữ gìn cho muôn đời
sau.