.
.SỐ 12 -THÁNG 1, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 12-THÁNG 1, 2006

 

 


ĐÂU CHỈ ĐÀO NGUYÊN CÓ CỘI ĐÀO
Nhật Chiêu

Trong chờ đợi đã có gặp gỡ. Gặp nhau không chỉ khi tỉnh thức. Trong mộng vẫn có thể gặp nhau, một cuộc gặp gỡ sâu xa, một hẹn hò bí ẩn đầy tình yêu. Và gặp gỡ thì phải có nhân duyên chứ "Nhân gian gặp gỡ duyên tiền định. Đâu chỉ Đào nguyên có cội đào?". Cội đào không chỉ là cội đào. Đó chính là cội nguồn mà ta muốn khám phá trong ta, để gầy dựng những mảnh đất đầy hoa. Và nơi đâu ta trồng được cội đào là nơi đó ta nghe thấy tiếng gọi ẩn giấu của trời đất...

Đào nguyên, Thiên Thai, Niết bàn… ở đâu? lúc nào?
Và Đào nguyên (nguồn đào) có khác với Tiên nguyên (nguồn tiên)? Hoa đào là mùa Xuân hay còn là gì khác nữa? Khi mà Thi Phật Vương Duy phải thốt lời bi cảm trong Đào Nguyên Hành:

Xuân lai biến thị đào hoa thuỷ
Bất biện tiên nguyên hà xứ tầm.
(Xuân về tuôn nước đào hoa
Tìm nguồn tiên ấy biết là nơi đâu?).

Đang khi Xuân về tuôn nước đào hoa, ta lại nhớ chuyện Đào nguyên. Mỗi người có một nguồn đào khác nhau và những giấc mộng khác nhau.

Theo dòng nước đào hoa mùa này, tôi gặp gỡ Hải Lượng Đại Thiền sư (tức Ngô Thì Nhậm), cũng như người đã từng gặp chủ nhân núi Thiên Thai trong mộng.

Mộng, hay tự bày ra mộng thì cũng thế (Dư thiết vi mộng dã).

Tự bày ra mộng mà chơi, người soạn nên bài phú Mộng Thiên Thai, một trong những bài phú tuyệt vời nhất xưa nay.

Kể rằng: Ta đang ẩn náu ven mây thì có khách phương xa đến thăm. Khách nói: Ta là chủ nhân núi Thiên Thai…, muốn đưa ông đến núi ta mà ngao du.

Ta hỏi: Bạn có phải là chủ nhân của Lưu Nguyễn không…? Họ đã cùng bạn giao kết bao đời, sao còn tìm đến ta làm gì?

Khách kêu lên: Kiến thức con ếch! Núi Thiên Thai của ta đâu là núi của Lưu Nguyễn… Ta làm sao dắt ông đến làng “vô hà hữu” (không có đâu)?... Đây là núi mà ba vị tổ Trúc Lâm từng ghé qua truyền đạo và là nơi ta giác ngộ… Ông nên theo Tam Tổ mà học đạo từ bi.

Và người nằm mộng đã đáp lời khách như sau:

Có đôi khi:
Đất trời không hẹp
Non nước mời nhau
Chiếc bầu quẩy tứ xứ
Tay áo phất ba đào
Nhà ngụ trong vũ trụ
Cánh hồng bay vút cao
Bạn về chăm núi bạn
Đợi ta về tiêu dao
Nhân gian gặp gỡ duyên tiền định
Đâu chỉ Đào nguyên có cội đào?

Đó là phỏng dịch. Nguyên văn thế này:

Kỳ hoặc:
Thiên địa vô ải
Giang sơn tương yêu
Quải nhất biều hề thảng dương
Phất lưỡng tụ hề du ngao.
Biến vũ trụ dĩ vi lư
Phù hà hệ hồ hồng mao
Ngô tử điểm kiểm tư sơn
Đãi ngô tiêu dao
Nhân sinh giải cấu giai tiền định
Khởi trực Đào nguyên năng thụ đào?

Mộng Thiên Thai ở Ngô Thì Nhậm (1746-1803) không chỉ là giấc mộng Đào nguyên. Theo gương cha là Ngô Thì Sĩ, cả đời người ôm mộng thi thiết “Tam giáo nhất nguyên”. Vượt lên hầu hết các nhà nho đồng thời, người có cái nhìn nhất nguyên rực sáng. Cái nhìn ấy soi chiếu cả vũ trụ và nhân gian. Vũ trụ là một nên Tam giáo là một. Bao nhiêu thanh âm cũng chỉ là một tiếng lời. Cả những nơi mà người ta thấy biệt lập, người cũng xem là nhất nguyên, chẳng hạn như hai lãnh vực văn và võ. Trả lời thái độ thiển cận của Ngô Văn Sở, người nói: “Không thể tách văn ra khỏi võ. Văn võ chỉ là một”.

Chính cái nhìn nhất nguyên về vạn sự ấy đã biến Ngô Thì Nhậm thành Hải Lượng Đại Thiền sư. Và tư tưởng kỳ diệu ấy đã thể hiện thâm trầm diệu vợi trong thiền thư Đại Chân Viên Giác Thanh, nơi người luận bàn về 24 thanh của trời đất cũng như con người. Những thanh âm ấy gọi chung là Nguyên thanh, là Tiếng, là Lời, là Nguyên ngôn, là Logos của sự sống. Sau này, tác phẩm ấy trở thành phần chính văn của bộ sách nhiều người soạn là Trúc Lâm TôngChỉ Nguyên thanh. Ở đây, khi nhắc đến bộ sách này, ta sẽ gọi tắt là Nguyên thanh.

Đọc Mộng Thiên Thai trong ánh sáng của Nguyên thanh, ta sẽ thấy tầm vóc phi thường của Ngô Thì Nhậm - Hải Lượng Đại Thiền sư.

Có đôi khi
Đất trời không hẹp,
Non nước mời nhau.

Làm sao nghe được tiếng gọi mời (tương yêu) của đất trời, của nước non?

Tiếng lời ấy, thanh âm ấy chính là tiếng lời mà Hải Lượng gọi là “Tiếng lời của cái thấy”, tức Kiến thanh. Thấy mà biết. Cái mà ta nghe được là Tiếng của Đạo. Đạo thì vô hình nhưng phát ra thì như thanh phát ra. Cái Nguyên thanh đó ta nghe được vì ta cũng có tinh thần và chân thân như vũ trụ. Nhiều người hỏi chân thân của mình, Hải Lượng đáp:

Nguyên tinh là Thần
Nguyên khí là Thân
Thần giáng nguyên ấy
Ta có chân thân.
(Nguyên tinh ngô thần
Nguyên khí ngô thân
Thần giáng kỳ nguyên
Ngô thân nãi chân)

Cho nên non nước với ta bình đẳng, phát ra lời mời, mời nhau đi chơi. Và tất nhiên ta nhận lời.

Chiếc bầu quẩy tứ xứ
Tay áo phất ba đào
Nhà ngụ trong vũ trụ
Cánh hồng bay vút cao.

Ta đi chơi. Quẩy bầu, phất tay áo mà đi chơi. Đi theo tiếng gọi của Lưu động thanh. 

Lưu thì như suối chảy cuồn cuộn, động thì như gió dâng phơi phới. Trên đời không có gì không trôi, không động.

Hải Lượng đưa ra một kiến giải độc đáo: Cái trôi và cái động ấy chính là luân hồi:

“Một năm có cái luân hồi của một năm, một tháng có cái luân hồi của một tháng, một ngày có cái luân hồi của một ngày… Thích Ca chuyển bánh xe Vô ngại, Khổng Tử chu du vòng quanh các xứ, đó là luân hồi”.

Ngày tháng là luân hồi, là lữ khách trong trời đất. Ta làm lữ khách, phiêu du vào cuộc luân hồi.

Theo nghĩa đó, ta luân hồi trong niềm vui ngây ngất, thoả thích rong chơi, xem vũ trụ là nhà. Không còn ràng buộc nào, ta tung bay tuyệt vời như một cánh hồng lừng lẫy.

Ôi, tiếng gọi của Trôi, tiếng gọi của Động!
Bạn về chăm núi bạn
Đợi ta về tiêu dao.

Bạn là chủ nhân núi Thiên Thai ư? Ừ, thì bạn có núi của bạn, có cuộc chơi của bạn, và có cả sự giác ngộ của bạn nữa.

Nhưng xin bạn chờ đợi. Ta có, tất nhiên cũng có non nước của mình, Thiên Thai của mình, phải vậy không?

Rồi ta sẽ có cuộc tiêu dao chung. Nhưng trước hết, mỗi người tự chăm ngọn núi của mình. Mời là mời nhau (tương yêu), không có cái mời nào đơn phương. Cái mời đơn phương không phải là mời. Tôi đến với bạn là đang mời bạn gặp tôi.

Đó là ý nghĩa của "đợi" - Đãi ngô tiêu dao.
Đợi là Tịch nhiên vô thanh: tiếng gọi của lặng lẽ vô thanh.

Trong tiếng gọi ấy, sách Nguyên Thanh viết: “Phượng Hoàng không kêu, hễ kêu thì người ta kinh ngạc… Nhưng tiếng kêu đã chứa đựng từ trong chỗ không kêu. Đào Uyên Minh có cái đàn mộc không dây nhưng tinh thần âm luật là ở đấy”.

Cũng vậy, trong chờ đợi đã có gặp gỡ.

Gặp nhau không chỉ khi tỉnh thức. Trong mộng vẫn có thể gặp nhau. Và đó mới là cuộc gặp gỡ sâu xa, một hẹn hò bí ẩn đầy tình yêu.

Gặp nhau không chỉ khi đối diện. Thực ra, có khi đối diện mà chẳng hề gặp nhau. Có duyên thì ngoài ngàn dặm vẫn gặp nhau mà.

Và gặp gỡ thì phải có nhân duyên chứ.
Nhân gian gặp gỡ duyên tiền định
Đâu chỉ Đào nguyên có cội đào?

Bao giờ cũng thế, nhân duyên và tiền định làm sao mà không u huyền, bí ẩn. Đó là tiếng lời của ẩn dấu (Tàng thanh)

Trong Tàng thanh, Hải Lượng Đại Thiền Sư nói: “Trời đất khéo dùng âm…, biết đạo mà ở trong bóng tối, đó là Thần, Phật, Thánh hiền khéo dùng âm vậy. Cho nên đạo trời đất quý ở u, vi, bí, ẩn”.

Nếu mà không phải vậy, không có u huyền, nếu mọi cuộc gặp gỡ đều được biết trước thì đời sống còn gì vui?

Nếu như cội đào chỉ trồng được một lần và ở một nơi duy nhất? Nếu như trên đời chỉ có mỗi một người thành Phật?

“Khởi trực Đào nguyên năng thụ đào” có nghĩa là, há chỉ Đào nguyên mới trồng được đào?
Cội đào không chỉ là cội đào. Đó chính là cội nguồn mà ta muốn khám phá trong ta. “Thụ đào” (trồng đào) trong câu thơ trở thành biểu tượng cho việc gầy dựng những mảnh đất đầy hoa.

Trong Tàng thanh, Hải Lượng lại nói:

“Trăm hoa nở  sớm mai, muôn cây nứt chiều hôm, đó là trời đất khéo dùng âm”.

Và nơi đâu ta trồng được cội đào là nơi đó ta nghe thấy tiếng gọi ẩn giấu của trời đất.

Chính tiếng gọi đó đã xui cho hoa đào nở những nụ đầu tiên trong gió mưa hung hãn như một bài Haiku mùa Xuân đã cho thấy:

Cuồng dại gió mưa 
Giữa chừng vẫn nở
Đào hoa đầu mùa.
 (Amekaze no
araki hima yori
hatsu Zakura).
                     Chora

Đâu chỉ Đào nguyên có cội đào? Giữa gió mưa trần thế đào vẫn ra hoa. Đứng trên thềm địa ngục, nhà thơ của Tịnh độ là Issa vẫn nhìn thấy hoa đào chói lọi.

Đâu chỉ ở Đào nguyên? Rót rượu mời khách, gõ án mà hát vang: “Chơi Đào nguyên, hẹn cùng Thiên Thai… Ai người biết đài thiêng của trái tim ta? Trái tim ta đối cùng chính khí… Ca xong một bài, rót thêm một chén. Tâm ta bình yên…”.

Đó là lời trong mộng của tác giả. Và rồi:

Bài ca dứt lặng,
Người đi mất rồi.
Giấc mộng tàn, chợt tỉnh
Nhưng đâu mộng? đâu người? 
Bởi vì ta đấy
Tự bày ra mộng thôi!
(Ca bãi khách khứ
Dư mộng diệc giác
Tuy nhiên phi mộng dã
Dư thiết vi mộng dã).

Cuối bài Mộng Thiên Thai là tỉnh mộng. Cũng như bài thơ Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt của Lý Bạch. Nhưng thi tiên đời Đường từ mộng quay về thực tại thì buồn bã thở dài:

Hoảng kinh khởi nhi trường ta
Duy giác thời chi chẩm tịch
Thất hướng lai chi yên hà
(Tỉnh ra, hoảng hốt than dài
Gối chăn trơ đó, còn mây khói nào!).

Khác với lời than dài ấy, cái tỉnh giác trong Mộng Thiên Thai thì đầy niềm bình an, hoan lạc. Và dù không nhắc đến tiếng cười nhưng người đọc vẫn nghe dư vang một tiếng cười lồng lộng, một phong cách chơi đùa thượng thừa, chơi đùa bằng mộng: Bởi vì ta đấy, tự bày ra mộng thôi.

Cuộc chơi bày mộng của tác giả thật là kỳ tuyệt, mang đủ hình và khí của Dư thanh (tiếng lời của dư vang), vang vọng như trong hang núi của thời gian. Hay Dư thanh là tiếng của những giấc mơ?

Hoa đào vẫn nở. Hơn hai trăm năm đã trôi qua. Nhìn Xuân có thấy cội đào? Có nghe tiếng lời NGUYÊN THANH của Hải Lượng Đại Thiền sư?
 
 


SỰ PHỤC HỒI 
CÁC GIÁ TRỊ TÔN GIÁO
Trần Trung Phượng

Chính vào lúc khoa học đạt đến đỉnh cao nhất trong quá trình phát triển của nó, tôn giáo không những không mất đi như lời tiên đoán của các nhà tư tưởng thuộc phong trào Ánh Sáng, trái lại, đã có nhiều dấu hiệu không thể nhầm lẫn về sự phục hồi của tôn giáo và giá trị tâm linh ở khắp nơi trên thế giới. Đó là điều mà một số học giả gọi là “sự trở về vĩ đại” với các giá trị tâm linh trong một thế giới mà sự thống trị của khoa học, kỹ thuật và các giá trị vật chất đã không đem đến hạnh phúc đích thực cho con người.

Từ thế kỷ XVIII, hầu hết các nhà tư tưởng thuộc phong trào Ánh Sáng, với niềm tin mạnh mẽ vào sức mạnh gần như tuyệt đối của tinh thần duy lý, đều đưa ra một dự báo ảm đạm về tôn giáo, theo đó, tôn giáo sẽ biến mất trong thế kỷ XX, khi những điều kiện xã hội cho sự phát sinh niềm tin tôn giáo đã bị triệt tiêu, và nhất là khi sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật có thể giúp giải quyết được nhiều vấn đề của con người, kể cả những vấn đề có tính chất cơ bản nhất.

Như John Naisbitt đã nhận định, chính “niềm tin khoa học” đó là tiền đề của các cuộc cách mạng công nghiệp và tạo nên những sự tiến bộ kỹ thuật chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại, làm cho cuộc sống loài người có những biến chuyển hết sức sâu sắc trên nhiều bình diện khác nhau.

Nhưng chính vào lúc khoa học đạt đến đỉnh cao nhất trong quá trình phát triển của nó, tôn giáo không những không mất đi như lời tiên đoán của các nhà tư tưởng thuộc phong trào Ánh Sáng, trái lại, đã có nhiều dấu hiệu không thể nhầm lẫn về sự phục hồi của tôn giáo và giá trị tâm linh ở khắp nơi trên thế giới. Đó là điều mà một số học giả gọi là “sự trở về vĩ đại” (Le grand retour) với các giá trị tâm linh trong một thế giới mà sự thống trị của khoa học, kỹ thuật và các giá trị vật chất đã không đem đến hạnh phúc đích thực cho con người.

Tất nhiên, tuỳ theo đặc điểm môi trường văn hóa, xã hội của từng khu vực hoặc tùy theo thiên hướng của từng cá nhân mà sự phục hồi các giá trị tâm linh này có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Với ý nghĩa đó, sự phục hồi tôn giáo không nhất thiết chỉ diễn ra trong phạm vi nội bộ của các thiết chế tôn giáo có tổ chức mà còn có thể bộc lộ bên ngoài các thiết chế này, ở chính sự nhận thức lại các giá trị đích thực của tôn giáo mà vì nhiều lý do, đã từng bị ngộ nhận trong lịch sử. Ở Mỹ, theo kết quả của một số cuộc thăm dò gần đây, có đến 61% người được hỏi cho rằng tôn giáo, hiểu theo nghĩa rộng, là một điều rất quan trọng trong cuộc sống của họ; và dù sống trong một xã hội mà các giá trị vật chất được tôn sùng quá mức, họ vẫn luôn “hướng về tâm linh” dưới hình thức này hay hình thức kia.

Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù chưa có một số liệu thống kê nào được công bố chính thức, nhưng bằng vào quan sát thực tiễn, chúng ta thấy chưa bao giờ nhu cầu tâm linh của xã hội lại lớn như bây giờ, và đó chính là một tiền đề quan trọng để có thể phục hồi các giá trị tôn giáo. Tất nhiên, không ai lại đồng nhất điều đó với sự xuất hiện ngày càng nhiều những ngôi chùa, nhà thờ nguy nga tráng lệ, hoặc ở những cuộc hành hương ngày càng có đông tín đồ tham gia. Những biểu hiện hình thức đang phát triển rất đa dạng của đời sống tâm linh cũng chỉ có thể được xem là những dấu hiệu của sự hồi phục tôn giáo, mặc dù giữa sự hồi phục này với sự phục hồi đích thực các giá trị tâm linh vẫn còn là một khoảng cách khá xa.

Điều gì đã làm cho người ta đưa ra dự báo thiên niên kỷ thứ ba là thiên niên kỷ của sự hồi sinh tôn giáo?

- Trước hết, nhân loại đang sống trong một giai đoạn “chuyển tiếp vĩ đại” từ thiên niên kỷ thứ hai sang thiên niên kỷ thứ ba. Và sự chuyển tiếp này được đánh dấu bằng những thay đổi hết sức nhanh chóng, lớn lao trên hầu hết các lãnh vực của đời sống. Đứng trước thay đổi đó, con người rơi vào một trạng thái tâm lý đầy mâu thuẫn: vừa tràn trề hy vọng, vừa lạc quan về “sức mạnh trí tuệ” của mình, đồng thời lại vừa lo âu, hoảng sợ trước một tương lai mà từ trong sâu thẳm của tâm thức, con người cảm thấy chưa thực sự làm chủ được. Và khi con người bị “giằng xé” giữa hai cực mâu thuẫn như đã nói trên, thì nhu cầu và niềm tin về tâm linh càng trở nên mạnh mẽ. Để tìm lại sự bình an trong tâm hồn, phần đông thường làm theo một trong hai cách: hoặc là hướng nội theo những phong trào “tin vào cảm xúc bên trong”, hoặc là hướng ngoại, tin theo những thế lực siêu nhiên tồn tại ở bên ngoài con người.

- Khoa học, kỹ thuật tuy có sức mạnh to lớn, nhưng có những giới hạn mà nó không thể vượt qua được. Sự sùng bái mù quáng về sức mạnh của khoa học, kỹ thuật có thể đưa đến những hậu quả tiêu cực: chiến tranh, sự ô nhiễm môi trường, sự mất quân bình trong phát triển. Hơn nữa, khoa học và kỹ thuật không dạy chúng ta về ý nghĩa cuộc đời, mà chúng ta chỉ học được điều này qua kinh nghiệm cá nhân và qua đạo đức, văn chương, nghệ thuật và các giá trị tâm linh.

- Sự thất vọng của con người trước những bất cập và tiêu cực của không ít thể chế chính trị - xã hội. Cũng giống như nền văn hóa khoa học, nền văn hóa thể chế cũng có những giới hạn của nó. Và như kinh nghiệm thực tế đã cho thấy, không bao giờ nền văn hóa thể chế này có thể giải quyết được tận gốc những vấn đề mà nó đặt ra như đã hứa hẹn với công chúng. Sự tha hóa trong các thiết chế chính trị-xã hội là một điều khó tránh khỏi, và điều đó càng làm cho con người mất niềm tin vào các giá trị mà nền văn hóa thể chế này có thể tạo ra.

- Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về khoa học- kỹ thuật, tinh thần duy lý đã được đẩy lên đến mức cực đoan hơn bao giờ hết. Một khi tư duy lý trí phát triển lên đến cực độ thì sự mất quân bình trong tâm thức sẽ xảy ra. Và chức năng “thi ca”, chức năng “tưởng tượng” của tâm thức sẽ được phục hồi như một yếu tố không thể thiếu, để lập lại sự quân bình trong tâm thức. Có thể nói, cùng với sự phục hưng tôn giáo, con người cũng đang tái khám phá chiều kích cảm xúc của chính mình, đặc biệt là cảm xúc về tâm linh. Như vậy, sự phục hồi các giá trị tôn giáo không phải chỉ bắt nguồn từ các điều kiện xã hội ngoại tại mà chủ yếu xuất phát từ chính bản chất bên trong của con người, một bản chất mà theo như cách nói của nhà triết học Pháp Edgar Morin, đó là sự kết hợp đồng thời giữa trí khôn và tâm linh (L’être humain est à la fois sapiens et demens)

Thực ra, hiểu theo đúng thực chất và ý nghĩa của nó, phục hưng tôn giáo là cả một quá trình dài lâu mà hiện nay, quá trình này chỉ mới bắt đầu ở giai đoạn sơ khởi. Trong giai đoạn này, sự phục hồi chỉ mới diễn ra ở “cấu trúc bề mặt” của tôn giáo [tương đương với khái niệm “tôn giáo tĩnh” (Religion statique), một thuật ngữ do Henri Bergson đặt ra để phân biệt với “tôn giáo động” (Religion dynamique)]. Và đó chính là tiền đề để phục hồi đích thực có thể diễn ra ở “cấu trúc bề sâu” của tôn giáo, một loại “cấu trúc” liên quan mật thiết đến thế giới nội tâm của con người (thuộc phạm trù “tôn giáo động”). Với “cấu trúc bề sâu” này, một người có thể không theo bất cứ một tôn giáo có tổ chức nào nhưng vẫn là một CON NGƯỜI TÂM LINH đích thực. Và tinh thần tôn giáo đích thực là tinh thần bao dung, sẵn sàng chấp nhận những khác biệt và hòa giải các mâu thuẫn.

Trên phương diện văn hóa, có thể nói rằng, sự phục hưng tôn giáo chỉ có thể được thiết lập một cách vững chắc trên căn bản của sự hợp tác và hòa giải giữa ba nền văn hóa lớn của nhân loại: Văn hóa khoa học, Văn hóa thể chế và Văn hóa tâm linh. Trong quá khứ, đã từng có sự đối kháng hoặc mâu thuẫn giữa các nền văn hóa này, và đó là một trong những nguyên nhân tạo nên các cuộc xung đột trên nhiều bình diện khác nhau, từ cá nhân cho đến quốc gia. Có lẽ một trong những sứ mệnh cao cả nhất của văn hóa là sứ mệnh “hòa giải”, và sự “hòa giải văn hóa” này là con đường tốt nhất để tạo ra sự phục hưng tôn giáo. Đây không phải chỉ là sự phục hưng riêng của nền Văn hóa tâm linh mà còn là sự khắc phục những hạn chế, khuyết tật của nền Văn hóa khoa học và Văn hóa thể chế. Không phải chỉ có sự mâu thuẫn, đối kháng mà chính sự hòa giải giữa các nền văn hóa cũng là một động lực tạo ra tiến trình phát triển của lịch sử.
 
 


THƯỞNG NGOẠN ĐỀ TÀI PHẬT GIÁO 
TRÊN ĐỒ SỨ VIỆT NAM KÝ KIỂU
PHÚ XUÂN THỊ GIẢ

Trong kho tàng Cổ vật Việt Nam còn tồn tại một dòng đồ sứ đặc biệt, mang đậm dấu ấn văn hóa, mỹ thuật Phật giáo, hiện nay rất được giới sưu tầm nghiên cứu chú ý, ưa thích. Đó là đồ sứ được Vua chúa, tao nhân mặc khách gởi kiểu đặt làm riêng tại các lò sứ cao cấp ở Cảnh Đức Trấn - Giang Tây (Trung Quốc) từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX. Loại vật phẩm quý hiếm này được dùng để thờ tự trong các chùa chiền hoặc làm tặng phẩm kỷ niệm. Nhân dịp Xuân Bính Tuất, chúng tôi xin giới thiệu đề tài độc đáo này để độc giả Văn Hóa Phật Giáo cùng thưởng ngoạn.

DANH LAM THẮNG CẢNH

1. Chùa Thiên Mụ

Tô sứ vẽ toàn cảnh quốc tự Thiên Mụ trên gò Hà Khê ở Huế kèm với bài thơ “Thiên Mụ Hiểu Chung” của quốc chúa Thiên túng đạo nhân Nguyễn Phước Chu (1691-1725), hiệu Thanh Ngoạn, đường kính miệng 19cm, cao 8cm (hiện vật của BTLS TP. Hồ Chí Minh).

2. Chùa Tam Thai

Tô sứ vẽ cảnh Chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn-Đà Nẵng) kèm với bài thơ “Tam Thai Thính Triều” của Thiên túng đạo nhân, hiệu Thanh Ngoạn (đường kính 19cm, cao 8cm, thế kỷ XVIII).

3. Chùa Vinh Hòa

Dĩa vẽ toàn cảnh Chùa Vinh Hòa tức Thiền Tịnh Viện trên núi Linh Thái (núi rùa), gần cửa biển Tư Dung (Tư Hiền), tỉnh Thừa Thiên. Chùa này nay đã đổ nát mất tích. Mặt sau có ghi lại bài thơ Nôm “Tư Dung thắng cảnh” của Lộc Khê hầu ĐÀO DUY TỪ (1572-1634), đường kính 17cm, cao 2cm.

4. Chùa Thái Bình

Dĩa vẽ toàn cảnh chùa Thái Bình (Ngũ Hành Sơn-Đà Nẵng) thời chúa Nguyễn. Chùa này đã bị chiến tranh phá hủy mất dấu tích từ cuối thế kỷ XVIII. Mặt sau có thơ Nôm đề vịnh (đường kính 17cm, cao 2cm).

5. Chùa Thánh Duyên

Dĩa vẽ cảnh quốc tự Thánh Duyên tại núi Túy Vân gần cửa biển Tư Dung (Tư Hiền), kèm 4 câu thơ đề vịnh của Vua Thiệu Trị (Vân Sơn Thắng Tích). Đáy ghi: Xương Khê Đỗ Trừng Phủ Phụng Chế (đường kính 17cm, cao 2cm, thế kỷ XIX).

6. Tháp Điều Ngự

Dĩa vẽ toàn cảnh tháp Điều Ngự trên Túy Vân Sơn, Thừa Thiên. Đáy ghi “Uẩn Tàng Mỹ Ký” (đường kính 17cm, cao 2cm, thế kỷ XIX).

ĐIỂN TÍCH – NHÂN VẬT

1. Huệ Khả Cầu Đạo

Dĩa vẽ tích đại sư Huệ Khả tìm đến động Thiếu Thất, núi Tung Sơn cầu đạo với tổ Bồ Đề Đạt Ma. Đáy ghi: Tây Viên Hàn Mặc Lâm (đường kính 17cm, cao 2cm, thế kỷ XVIII).

2. Đạt Ma Tây Quy

Dĩa vẽ tổ sư thiền tông Bồ Đề Đạt Ma quảy một chiếc dép, đứng trên cành lau, vượt biển trở về tây trúc. (đường kính 18cm, cao 2cm, thế kỷ XVIII).

3. Hổ Khê Tam Tiếu

Dĩa vẽ tích Tổ sư tịnh độ tông Huệ Viễn đưa tiễn Nho sĩ Đào Tiềm và Đạo sĩ Lục Tu Tĩnh xuống núi vượt qua Hổ Khê. Đáy ghi: Bửu Tàng Kỳ Trân (đường kính 17cm, cao 2cm, thế kỷ XIX).

4. Pháp Thuận Tiếp Sứ

Dĩa vẽ cảnh quốc sư Pháp Thuận đời tiền Lê giả làm người chèo đò đón sứ nhà Tống là Lý Giác năm 987. Ghi câu thơ: "Nga nga lưỡng nga nga…". Đáy ghi hiệu: Hồng Đức Niên Chế (hiện vật của BTLS Hà Nội).

5. Trúc Lâm Đàm Đạo

Dĩa vẽ cảnh một thiền sư đang đàm đạo với một cư sĩ trong rừng trúc. Đáy ghi: Tứ Thời (đường kính 17cm, cao 2cm, thế kỷ XIX).

6. Phật Ấn Và Tô Đông Pha

Dĩa vẽ Hòa thượng Phật Ấn và cư sĩ Tô Đông Pha đang đi ngắm cảnh (đường kính 17cm, cao 2cm, thế kỷ XIX).
 


16 Cuộc đời người ta (Nguyễn Đăng Trung)
Đang Đánh Máy
 
 


THƠ

Nguyễn  Đạt

TRƯA VẠN PHƯỚC
Nụ cười mãi một-thoáng-qua
Niềm an lạc ấy mãi là ngàn sau
Trưa nay nắng đọng mái lầu
Tượng im. Riêng chút bụi mau thêm dần

Thốt nhiên nắng đổ xuống sân
Trong giây phút của nay-thành-ngàn-xưa.

HÓA THÂN
Xuân tới. Bài thơ của tôi
Hưng phấn che lòng ủ rũ
Ngượng ngùng là cuộc chia phôi
Giữa trái tim và ngôn ngữ

Bước của mùa đi rất chậm
Thời gian trũng xuống thanh xuân
Thơ trên mặt bàn ảm đạm
Giấu đi giùm tôi lệ hoen

Đứng dậy. Thôi đành đứng dậy
Thơ vừa xong lúc rạng đông
Ồ trên trang thơ khi ấy
Tràn ra những ngọn nắng hồng.
 

Dấu thiền

Non hồng lá bước lên xanh
Thấp một cõi tâm bình thường xuân
Nụ yên mỉm đóa môi hồng
Rưng rưng nắng ngọc mở tầng đất hoa
Giai không ngũ uẩn ca hòa
Lượm lời phố thị Phật Đà niêm sen
Đường người dặm cá tình chim
Bạn bầy chung bước dấu thiền chợt mênh.

Nguồn Trong

THƯỢNG NGUỒN TÂM THỨC

Thắp nến cội nguồn
gạch tôi thấy mặt trời sau ngàn năm chôn vùi trong đất
bể dâu vận nước
người Diên Hồng xưa đâu....
Lớp lớp nông dân khoác áo chinh phu
thây hề da ngựa
gươm Thăng Long ánh vàng kim cổ
mơ phá cường địch báo Hoàng ân
khiếp mắt Thoát Hoan
sông nhuộm máu tàn thù loang Đáy
Hồn thi phú chạnh bút nghiên đứng dậy
rũ long bào thanh thoát non Yên
đôi rồng đá rưng rưng thềm cổ Kính Thiên
tình Kẻ Chợ dàu dàu thương nhớ...
Sáng trời Long Đỗ
hồng ân xưa tạc dạ ghi lòng...

Phan Thành Minh
 
 


18 Chữ với nghĩa (Đỗ Hồng Ngọc)
Đang Đánh Máy


NHỮNG LẦN UỐNG TRÀ ĐÁNG NHỚ
TRÊN ĐẤT TRUNG HOA
Trần Đức Tuấn

Những chuyến đi làm phim tài liệu dài ngày ở các miền đất lạ đã đem lại cho tôi khá nhiều điều thú vị. Bao trùm lên tất cả là cảm nhận thế giới này quá đẹp. Nó được cấu thành không chỉ bằng vẻ tráng lệ kỳ lạ của thiên nhiên mà còn bằng những sáng tạo tài tình của con người. Một ví dụ rất nhỏ nhưng lý thú là những cuộc trà trên đất Trung Hoa. Nghệ thuật trà đạo nổi tiếng của họ và những khung cảnh thiên nhiên thơ mộng nơi bạn đang được thưởng thức những ly trà thơm ngát hoàn toàn có thể làm cho tâm hồn bạn bay bổng, chấp cánh cho tư duy của bạn vươn tới cõi mơ huyền. Nhân dịp ngày Xuân, xin mạn phép kể lại đôi điều về những cuộc trà đáng nhớ đó.

THẢO ĐƯỜNG BÁT NGHỆ UYỂN

Có thể nói, cùng với Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc…, Trung Hoa là một trong những miền đất danh tiếng của trà ngon và nghệ thuật trà đạo đặc sắc ở phương Đông. Người ta có thể để hàng giờ để nhàn đàm về đề tài này mà không chán, bởi “Văn Hoá Trà”  đã trở thành một di sản quý báu của nhiều dân tộc. Thành đô là mảnh đất của hiệp khách và văn nhân, là Kinh đô xưa của nước Thục thời Tam Quốc, và hiện là Thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên, một xứ sở huyền thoại trên lục địa Trung Hoa. Tới đây bạn sẽ có dịp viếng thăm những di tích văn hoá lừng lẫy như Võ Hầu Từ, nơi thờ Khổng Minh Gia Cát Lượng, nơi toạ lạc mộ phần của Lưu Bị; hoặc tới thăm Đỗ Phủ Thảo Đường, nơi để lại dấu ấn của Thi nhân vĩ đại đời Đường được cả nhân loại ngưỡng mộ. Trong các cuộc du ngoạn khám phá Kinh đô xứ Thục, bạn đừng quên tới Thảo Đường Bát Nghệ Uyển, một địa chỉ lừng danh của trà đạo Trung Hoa.

Thảo Đường chỉ là cụm từ giúp người ta nhớ lại hình ảnh của một thời xa vắng, bởi từ lâu nơi đây đã được nâng cấp bề thế như một “phủ đường”. Bát Nghệ Uyển là một Đại trà quán gồm nhiều đơn thể kiến trúc nằm trong vườn cổ thụ đầy hoa thơm cỏ lạ, cây cảnh và non bộ, hết sức tĩnh lặng, mơ màng. Bước vào đây, bạn có ngay cảm giác như đang trôi ngược dòng thời gian để về với xã hội đời Đường. Một không gian thật nên thơ, tĩnh lặng, thanh bình và u tịch. Chúng tôi bước vào sảnh đường của toà kiến trúc lớn nhất, một hành lang dài được trang trí bằng những chậu cảnh và những bức tranh sơn thuỷ, rồi chọn một phòng trà cỡ nhỏ khoảng dưới mười ẩm khách. Riêng hành lang này có khoảng vài chục phòng trà. Tất cả đều được bố trí biệt lập, có cửa sổ thông với không gian hoa viên nên bạn có thể nghe thấy tiếng lá xào xạc hoặc tiếng chim hót bên ngoài. Đây là một trong số ít ỏi trà quán từ lâu đời còn lại tới hôm nay, còn giữ được phong cách uống trà đời Đường, dành cho khách sành điệu và sang trọng, bởi giá rất cao.

Thông thường, khách vào đây tối thiểu cũng phải mất 3 tới 4 giờ mới tạm gọi là đủ thời gian cho một cuộc trà với đầy đủ lễ bộ nghi thức truyền thống. Tuy nhiên chúng tôi chỉ có khoảng 1 giờ nên cũng chỉ như cỡi ngựa xem hoa. Phòng trà được trang trí đẹp, rất hài hoà với khu vườn yên tĩnh, bao gồm một bộ salon dài, một quầy pha trà và một tủ lớn trưng bày trên một trăm loại danh trà hảo hạng, trong đó có những loại nổi tiếng như Long Tỉnh của Triết Giang, Thiết Quan Âm của Phúc Kiến...v.v. Phục vụ khách là hai cô gái trong trang phục truyền thống. Mở đầu, hai cô giới thiệu đôi nét về lịch sử Trà đạo Trung Hoa, kể về lai lịch một vài loại Đại danh trà độc đáo rất nổi tiếng như Bạch Mao Hầu Trà, là một loại trà do những con khỉ lông trắng được huấn luyện công phu, chuyên leo lên các đỉnh núi tuyết vĩnh cửu cao ngất, có vách đá dựng đứng, hiểm trở để hái một loại trà hoang xứ lạnh tinh khiết đượm hương thơm do băng tuyết tạo nên. Hoặc Trảm Mã Trà,  một loại trà lấy từ trong bụng ngựa đói, ăn lá trà non trên núi Vu Sơn, uống nước suối do trà rụng tan ra. Hay Trùng Diệp Trà lấy từ chất men trong bụng một loài sâu chuyên ăn lá trà trên núi Ly Sơn ở ngoại ô Tràng An tỉnh Thiểm Tây.

Tại Thảo Đường Bát Nghệä Uyển này, không có Trảm Mã Trà và Trùng Diệp Trà nhưng thay vào đó là hàng trăm loại trà hảo hạng khác có thể làm thoả mãn mọi hiếu kỳ của khách. Giá bán trung bình 1 kg ở đây là khoảng 4 triệu đồng tiền Việt. Đó là các loại danh trà Trung Hoa với lai lịch khác nhau như đặc điểm xuất xứ, cách trồng và chăm bón, điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu cần thiết cho sinh trưởng, cách thu hoạch, cách chế biến và bảo quản… Tiếp theo, các cô trình bày các công đoạn pha trà để khách quan sát, bao gồm các dụng cụ như ấm, chén, dĩa, ly, loại nước dùng để pha trà, cách nấu nước, cách rót để pha...vân vân. Cuối cùng là giai đoạn thưởng thức trà với đủ mọi nghi thức cầu kỳ, quy củ, tinh tế cùng những kiến thức để phân biệt hương vị từng loại danh trà, để tận hưởng niềm khoái cảm mà loại sản vật danh tiếng cùng thú chơi tao nhã này mang lại. Trong số vài ba loại trà mà chúng tôi thưởng thức, có một loại mà các búp trà được cuộn lại theo kiểu dây thừng và pha tới 7 lần nước mới hết hương vị, mỗi lần đều cảm thấy có hương vị khác nhau, như từ đắng đến hơi đắng, rồi ngọt dần, từ ngào ngạt dần dần đến thoang thoảng v.v. Sự thay đổi hương vị qua 7 lần  đều được báo trước để khách dễ nhận biết, và quả là kỳ diệu, chúng tôi đã cảm nhận trọn vẹn những điều kỳ thúù hết sức tinh tế đó.

Thảo Đường Bát Nghệ Uyển đã cho du khách hiểu thế nào là phong cách đời Đường của Trà đạo Trung Hoa, từ khung cảnh, cách trang trí tới nghệ thuật pha trà và thưởng thức trà. Đây quả là một địa chỉ tao nhã và mỹ lệ, tạo ấn tượng đậm đà về một thời huy hoàng xa xưa còn sót lại giữa chốn phồn hoa hiện đại. Văn hoá Trà đạo của Trung Hoa đã trải qua 4000 năm lịch sử, đặc biệt phát triển rực rỡ vào thời Đường với nội dung vô cùng phong phú, từ việc trồng, chế biến trà, chế tạo dụng cụ pha trà, đến cách pha trà, nghệ thuật thưởng thức trà... Và đặc biệt, hấp dẫn nhất là việc “bình trà”, tức bình phẩm về trà hoặc đàm luận trong lúc uống trà, một công đoạn hết sức lý thú, bởi nó có hàm lượng tri thức và văn hoá rất cao. Hai cô gái trong lúc pha trà và giới thiệu trà đã xen vào những lời bình phẩm tinh tế, độc đáo, chí lý, giúp khách phân biệt và phát hiện những phẩm chất cao quý của các loại trà ngon một cách lý thú. Nói chung, thông qua Đại trà quán này, bạn sẽ thấy Trà đạo Trung Hoa là một thú chơi tao nhã, quý phái, rất công phu, được xây dựng và tích luỹ dựa trên tính cách cầu kỳ, tinh tế của người Trung Quốc từ nhiều ngàn năm nay. Chỉ riêng cách bưng ly trà đã là một việc không đơn giản, không thể tuỳ tiện, mà phải tuân thủ nghiêm ngặt quy cách, trong đó vị trí và tư thế các ngón tay, các bàn tay và khuỷu tay phải được đặt đúng chỗ, đúng dáng…, vừa để tạo được sự thanh nhã trong phép lịch sư,ï vừa tạo được tâm lý trân trọng khi bạn thưởng thức một loại danh trà.

SƠN TUYỀN TRÀ LÂU TRÊN ĐỈNH HỔ BÀO

Đó là tên một quán trà nổi tiếng của Hàng Châu toạ lạc trên đỉnh núi cao. Dãy núi này có một con suối có tên là Hổ Bào Tuyền, nên toàn quần thể sơn lâm này được dân chúng quen gọi là núi Hổ Bào mặc dù nó có tên riêng. Hổ Bào Tuyền thực chất là một sơn viên khổng lồ như thắng cảnh Hương Sơn của ta, nhưng khác ở chỗ là nó nằm ngay trong thành phố, được tạo dựng rất công phu thành một hệ thống gồm cả hàng trăm công trình văn hoá. Mỗi công trình là một bông hoa nghệ thuật, có lịch sử lâu đời, nằm rải rác khắp núi rừng rất hài hoà với phong cảnh thiên nhiên, trong đó có khá nhiều cụm kiến trúc thắng cảnh Phật giáo. Nhìn dòng người hành hương lên cõi Phật ở đây ta có cảm giác như lễ hội Chùa Hương hoặc lễ hội Yên Tử. Danh thắng trên Hổ Bào có rất nhiều. Đẹp nhất là Ngọc Đới Trì, Ngọc Âu Thuỷ Tuyết, Lai Thượng Kiều, Trích Thuý Liên, La Hán Đường, Tế Công Điện, Hổ Bào Mộng Tuyền, Thuý Việt Đường và Sơn Tuyền Trà Lâu.

Hàng Châu là một trong những danh thắng đẹp nhất đất Trung Hoa. Xưa kia, nơi đây là Kinh đô của triều Nam Tống (Kinh đô nhà Bắc Tống nằm ở phủ Khai Phong tỉnh Hà Nam), nay là thủ phủ của tỉnh Triết Giang. Hàng Châu nổi tiếng có Tây Hồ, có sông Tiền Đường được kể trong truyện Kiều của Nguyễn Du, có tháp Lục Hoà, có khu tượng Phật Phi Lai Phong - một kỳ quan nghệ thuật Phật giáo lớn của châu Á; đặc biệt là có chùa Linh Ấn, một kiến trúc Phật giáo khổng lồ, cổ kính của đất nước Trung Hoa.

Sơn Tuyền Trà Lâu là một toà kiến trúc lớn trên đỉnh núi, giống như Thảo Đường Bát Nghệ Uyển ở Thành đô. Bên cạnh Đại trà lâu này còn có một kiến trúc đẹp nữa là Phẩm Các Trà, trông rất thơ mộng và sang trọng. Cả hai bổ sung và tôn tạo lẫn nhau, cùng với Ngọc Âu Thuỷ Tuyết và Thúy  Việt Đường tạo nên cụm công trình được ngưỡng mộ nhất.

Chúng tôi chọn một bàn trà khuất nẻo ngoài vườn của Sơn Tuyền Trà Lâu bên cạnh Thuý Việt Đường để thưởng thức loại danh trà Long Tỉnh, một sản phẩm đặc hữu của Hàng Châu. Khu vườn trên đỉnh núi này có nhiều cổ thụ cao to, được trang trí bằng những tượng đài, những phù điêu bằng đồng, bằng đa,ù miêu tả nghệ thuật và truyền thuyết về Trà đạo Trung Hoa, có dáng dấp như hoa viên của một Vương phủ nơi Kinh đô. Nếu như Thảo Đường Bát Nghệ Uyển có đủ mọi loại danh trà trong cả nước thì Sơn Tuyền Trà Lâu chỉ phục vụ một loại danh trà của địa phương là Long Tỉnh trà. Long Tỉnh trà cũng có hàng trăm loại khác nhau, trong đó có Tây Hồ Song Nguyệt trà và Sư trà là đặc biệt quý. Long Tỉnh có nghĩa là “giếng rồng”, một ngôi giếng lạ ở trên núi cung cấp nước tưới cho các vườn trà tiệm cận để tạo nên loại sản phẩm siêu hạng không nơi nào sánh được, có hương vị thơm ngon tuyệt đỉnh. Nước dùng để pha trà Long Tỉnh nhất định phải lấy từ suối Hổ Bào. Loại nước này có tỷ trọng lớn hơn nước thường, khi rót vào ly thì mặt nước có thể cao hơn miệng ly mà không tràn. Đặc biệt, đặt một đồng xu nhôm nhẹ nhàng trên mặt nước, xu không chìm. Bản thân chúng tôi đã tới thăm dòng suối lạ này và đặt thử xu trên mặt chén nước: xu nổi. Sở dĩ có tên Hổ Bào là do một truyền thuyết kể rằng, xưa kia có một vị Cao tăng từ xa tới, ông có ý định xây một ngôi chùa lớn nhưng cứ mãi lưỡng lự vì không thấy có nguồn nước. Thế rồi đêm nằm, nhà sư được Đức Phật báo mộng là sẽ cho một đôi Hổ xuống cào đất để tạo ra một con suối. Sáng hôm sau vị Cao tăng tìm tới địa điểm trong mộng và thấy một con suối đầy nước nên mới đặt tên suối là Hổ Bào Tuyền, rồi cho xây chùa bên suối.

Người ta có thể đem trà Long Tỉnh và nước suối Hổ Bào về Bắc Kinh để tiến vua, nhưng địa điểm  thưởng thức trà thì không đâu có thể so sánh với Sơn Tuyền Trà Lâu trên đỉnh Hổ Bào này. Bởi rằng, chỉ với cảnh vật nơi đây, lúc nào cũng lãng đãng sương khói như trong cõi Phật, tạo cho ta một tâm trạng bồng bềnh, thoát tục thì mọi phẩm chất siêu đẳng của Long Tỉnh trà mới phát huy đầy đủ để làm ta ngây ngất. Chính vì vậy mà trong lịch sử đã có bao vị đế vương dày công du ngoạn tới đây để được ngồi trong Sơn Tuyền Trà Lâu này. Vua Càn Long nhà Thanh nhiều lần du ngoạn Giang Nam cũng một phần bởi lý do này. Rất nhiều vị nguyên thủ nước ngoài, trong đó có Nữ hoàng Anh và các Tổng thống Mỹ cũng đã tới đây để thưởng thức hương vị tuyệt đỉnh của Tây Hồ Song Nguyệt Trà. Có lần, một vị Tổng thống Mỹ sau khi thăm Hàng Châu về, đã điện sang đề nghị Chính phủ Trung Quốc gởi cho ông  một ít “Sư trà” Long Tỉnh (loại trà thượng hạng trồng trên núi Sư Tử, được tưới  bằng nguồn nước Long Tỉnh) thì được Thủ tướng Chu Ân Lai trả lời rằng, phải tới năm sau mới có, vì loại trà này chỉ trồng ở một khu đất nhất định trên núi cao, diện tích hẹp, mỗi năm lại chỉ thu hoạch vào một ngày nhất định có tính toán theo âm lịch, nên không có nhiều. 

Chúng tôi không phải là người sành điệu trong lĩnh vực này nhưng quả thật, những chén trà thơm phức, đậm đà trên đỉnh Hổ Bào đã để lại một dấu ấn không phai mờ về một Hàng Châu lịch thiệp, tao nhã, một phong cảnh tuyệt vời và một nghệ thuật Trà đạo Trung Hoa đầy bản sắc và lý thú.

Bị lôi cuốn mạnh mẽ bởi những điều bí ẩn về trà Long Tỉnh, rồi ngây ngất về hương vị thơm ngon của nó, và cuối cùng là say mê nghệ thuật uống trà điệu nghệ của người Trung Hoa nên chúng tôi đã rời Sơn Tuyền Trà Lâu, xuống núi để thăm một xưởng sản xuất Long Tỉnh trà dưới chân Hổ Bào Tuyền. Đây là một cơ sở chế biến có quy mô lớn với quy trình khép kín, hoàn chỉnh, tuân thủ mọi quy định bắt buộc rất khắt khe, những bí quyết cổ truyền được bảo mật nghiêm ngặt, để đảm bảo sản phẩm xuất xưởng duy trì được uy tín lâu đời của Long Tỉnh trà trên khắp cõi Trung Hoa và trên thế giới.

TRÊN MẶt NHĨ HẢI HỒ

Chiếc du thuyền khổng lồ, sang trọng mang tên "Trà Hạm" chứa trong lòng nó gần 500 du khách, lướt nhẹ trên mặt hồ Nhĩ Hải cao hơn mặt biển gần 2000 mét, dài 42 km, dưới chân núi Thương Sơn cao hơn 4000 mét, nơi bắt nguồn của dòng sông Hồng Hà chảy qua Hà Nội. Giữa bờ hồ và dãy núi là Kinh thành Đại Lý xưa của Vương quốc Nam Chiếu, nơi trị vì của anh em Đoàn Chính Thuần được Kim Dung nhắc tới trong tiểu thuyết võ hiệp Thiên Long Bát Bộ. Từ trên tàu nhìn vào phía thành cổ Đại Lý, ba ngọn tháp cổ cao ngất, thon thả, tuyệt mỹ, theo phong cách kiến trúc điển hình đời Đường vàng rực, nổi bật trên nền Thương Sơn hùng vĩ, xanh thẳm. Đó chính là thắng cảnh Tam Tháp Sùng Thánh Tự nổi tiếng của Trung Hoa mà trong bộ phim Thiên Long Bát Bộ, do Trung Quốc sản xuất, ta thấy rất rõ cả chùa và tháp, trong trường đoạn Quốc vương nước Nam Chiếu từ bỏ ngai vàng tới tu ở Thiên Long Tự. Ngoài Thương Sơn ra, Nhĩ Hải Hồ còn được bao bọc bằng các khối núi đồ sộ khác, tạo nên một phong cảnh sơn thuỷ cực kỳ thơ mộng. Thỉnh thoảng con tàu lãng du lại ghé thăm một hòn đảo để viễn khách vãng cảnh chùa,  có cảm giác như đang lạc vào một chốn bồng lai.

Có thể nói, Vân Nam là tỉnh có phong cảnh thiên nhiên đẹp nhất Trung Quốc, còn Thương Sơn Nhĩ Hải chính là đệ nhất cảnh quan của mảnh đất cẩm tú này. Đây là xứ sở của người Bạch, một tộc người sơn cước có nền văn hoá rất đặc sắc, đồng thời là những cư dân sành điệu trong nghệ thuật trà đạo của nước này.

Trên con tàu du lịch tráng lệ, giữa cảnh trời mây non nước bao la, chúng tôi đã có một cuộc trà không thể nào quên. Đó là lần thưởng thức Vân Nam Bạch Tộc Trà trên mặt hồ Nhĩ Hải. Các cô gái Bạch xinh đẹp với trang phục truyền thống dâng trà mời khách trong nhạc phòng đồng thời cũng là trà phòng, bởi tại đây người ta đang trình diễn những điệu dân vũ Bạch tộc của vùng Thương Sơn Nhĩ Hải phục vụ khách dùng trà. Trong khung cảnh bồng bềnh như đi trong cõi mộng đó, du khách lần lượt được thưởng thức từng ly trà nóng thơm phức, chuyển dần từ đắng sang dịu, rồi ngọt, nhâm nhi cùng loại kẹo thơm truyền thống của người Bạch ở Thương Sơn. Chính cái chốn Bồng Lai di động trong cõi Thiên Thai này đã góp phần tôn vinh nghệ thuật trà đạo của người Bạch qua cảm giác hư ảo kỳ thú mà ẩm khách cảm nhận được bên áng hương trà…

TRÊN BỜ HỒ HUYỀN VŨ

Nam Kinh nằm ở hữu ngạn Trường Giang. Đây là một trong những Kinh đô lừng lẫy nhất của các triều đại Trung Hoa. Kinh thành xưa có những địa danh nổi tiếng gắn với nhiều áng thơ Đường bất hủ như bến Tần Hoài, cầu Chu Tước, ngõ Ô Y ..., vân vân.

Nước lồng khói toả cát trăng pha
Đậu bến Tần Hoài cận tửu gia
Con hát biết chi hờn mất nước,
Cách sông còn hát “Hậu Đình Hoa”!
(Bạc Tần Hoài của Đỗ Mục)
Bên cầu Chu Tước cỏ hoa
Ô Y đầu ngõ bóng tà tà dương
Yến xưa đài các Tạ, Vương
Bay về đậu chốn tầm thường dân gia.
(Ô Y Hạng của Lưu Vũ Tích)

Lê thê đôi điều vừa kể chỉ là để nói lên rằng, cố đô xưa vốn là mảnh đất văn nhân, là chốn tao phùng của nhiều bậc tài hoa, cũng là miền đất mà nghệ thuật trà đạo Trung Hoa đạt tới đỉnh cao của cự thăng hoa trong lịch sử.

Thành phố bên bờ sông Dương Tử có một thắng cảnh tuyệt vời. Đó là Hồ Huyền Vũ thơ mộng, mênh mông, diễm lệ, ngàn năm soi bóng Tử Kim Sơn hùng vĩ. Huyền Vũ Hồ nằm rất gần sông Trường Giang, giống như Lục Thuỷ Hồ (tức Hồ Gươm) nằm gần sông Hồng Hà vậy. Nếu như Hàng Châu có Tây Hồ, Tô Châu và Vô Tích có Thái Hồ, Đại Lý có Nhĩ Hải Hồ thì Nam Kinh có Huyền Vũ Hồ. Đó chính là chuỗi ngọc lung linh thần tiên của miền đất Trung Hoa được ví như chốn Thiên Thai nơi hạ giới.

Một chiều mưa phùn gió nhẹ, tôi và một người bạn lang thang trên bờ hồ Huyền Vũ, ngắm nhìn mặt nước mênh mông soi bóng các thành quách lâu đài và những dãy núi hùng vĩ, miên man suy nghĩ rồi lạc bước vào một trà quán thuỷ tạ xây lấn ra mặt nước hồ. Thì ra đây là Bích Loa Xuân Trà quán được nhiều người hâm mộ. Bích Loa Xuân thực ra là tên một loại đại danh trà nổi tiếng của miền Giang Nam Trung Hoa. Càn Long đời nhà Thanh rất mê loại trà này, nên mỗi lần tuần du Giang Nam bao giờ ông cũng thưởng thức trà Bích Loa Xuân ngay tại miền đất sản sinh ra nó. Bích Loa Xuân có nghĩa là trà xuân màu xanh hình con ốc. Loại trà này thu hoạch vào mùa Xuân, những búp lá non được cuốn lại theo hình con ốc, nước uống rất đượm, có màu xanh, hương thơm thoảng mát dễ chịu.

Ngồi dưới mái hiên trên mặt nước hồ, ngắm nhìn cảnh vật mơ màng, qua làn mưa bụi, thưởng thức danh trà Trung Hoa tại chính Kinh thành xưa của Minh Thái Tổ để nghĩ về trà đạo, về nền văn hoá phương Đông, về chuyện đời, về chuyện nhân tình thế thái quả là một dịp hiếm có trong đời. Chúng tôi không thuộc dân sành điệu về trà nhưng đã thường xuyên uống trà gần cả nửa thế kỷ, nên những cuộc trà tình cờ trên đất khách như thế này thường là cơ hội tuyệt vời cho sự đàm đạo. Trong cái lan man vô định đầy hứng thú ở chốn tha hương đó, người ta thường nghĩ tới quê nhà. Và thế rồi, đề tài trà đạo Việt Nam dần dần xâm chiếm toàn bộ câu chuyện.

Về mặt truyền thống, chúng ta là một điểm son trên bản đồn lịch sử văn hoá trà thế giới. Từ hàng chục thế kỷ nay, ấm trà, ly trà Việt Nam đã trở thành một phần hữu cơ trong văn hoá giao tiếp, trong tình cảm con người, trong cách đối nhân xử thế, trong tâm hồn và thói quen tư duy của người Việt. Hiện chúng ta là 1 trong 9 đại cường quốc trà của thế giới, cung cấp cho thị trường trà của 50 quốc gia và được công nhận là một trong những cái nôi của trà trên trái đất. Đối với người Việt, uống trà không chỉ đơn thuần là thưởng thức hương vị, mà cao hơn, còn là sự tận hưởng niềm hứng thú bởi bối cảnh thiên nhiên, bởi tình trạng tâm lý và cả cơ hội tư duy mà cuộc trà đem lại. Cuộc trà không chỉ đem lại thú vui ẩm thực, bởi đằng sau vị đắng ngọt của ly trà còn có cả vị đời, cũng đắng ngọt, êm đềm, cũng chua cay không kém. Nghệ thuật trà đạo Việt Nam ít khoa trương mà thẩm thấu, ít cầu kỳ mà sâu sắc, nó lặng lẽ đi vào chốn sâu thẳm của lòng người. Hãy nghe một nhà Thơ Việt Nam tâm sự:

Hương biếc tràn quanh nắp đậy hờ
Ấm sành nho nhỏ khói lên tơ
Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm
Ai biết mình sen rụng xác xơ?

Hoa sống trong bùn thuở trước đây
Lầu son giam kín nụ vàng hây
Dễ đâu bướm thoả lòng khao khát
Trinh bạch toàn thân kiếp đoạ đày.

Nâng chén mời anh thưởng vị trà
Đừng quên tan tác mấy đời hoa
Cạn từng hớp nhỏ cho sen đượm
Vớt lại trần ai một chút Ta…

Lại xin trở về với trà đạo Trung Hoa. Trong lịch sử xa xưa, nước này đã có cả một cuốn sách nói về trà, đó là cuốn Trà Kinh, tức kinh thư về trà do Lục Vũ viết vào thế kỷ thứ 8. Trong cuốn sách đó, tác giả đã trình bày chi tiết về trà đạo, như cách pha trà, nước dùng để pha, cách đun nước và nhiệt độ nước tối ưu cần có, cách giữ cho hương vị đậm đà bằng việc điều chỉnh nhiệt độ sau lúc pha...vân vân. Lịch sử trà đạo Trung Hoa trải qua 3 thời kỳ: Từ cổ cho tới thời Tuỳ, Đường, người Trung Hoa quen dùng loại trà khô đóng bánh. Đến đời Tống họ lại thích dùng trà bột. Từ Minh, Thanh tới nay thì trà búp lá được ưa dùng. Hiện các đô thị ở Trung Hoa có rất nhiều quán trà hiện đại, sang trọng với hình thức pha chế phục vụ rất phong phú. Tuy nhiên, khách viễn du tới đây thường có xu hướng tìm tới những quán trà theo phong cách đời Đường, bởi nó rất cầu kỳ và tinh tế. Dù bất cứ phong cách nào thì bí quyết thưởng thức trà trước sau cũng không thể thiếu được phần “bình trà”, tức đàm luận về triết lý trà đạo, về nhân sinh quan, biến chuyện đời thành một phần không thể thiếu của cuộc trà. Và chỉ khi đó ta mới cảm nhận hết được cái thi vị của thú chơi tao nhã này.

Theo gót chân nàng Kiều 
đến ngôi chùa thứ tư 
trong Ðoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du 
Thái Kim Lan

Tính ra trong tác phẩm ÐTTT, có ba tên chùa được nêu ra trên chặn đường lưu lạc của nàng Kiều: Quan Âm Các, Chiêu Ần Am, chùa Giác Duyên ở sông Tiền Ðường. Còn có một ngôi chùa thứ tư nào? Nhân ngày xuân ta hãy theo gót nàng Kiều đi tìm ngôi chùa ấy...

Trong quãng đời “êm đềm trước rũ màn che”, trong vòng tay che chở ấm êm của cha mẹ và hai em, không biết Kiều đã có lần nào theo mẹ đi chùa như cô gái tuổi mười sáu của Nguyễn Nhược Pháp trong “Ði chùa Hương” một sáng xuân hoa cỏ còn mờ hơi sương vào ngày mồng một tết hay vào dịp nguyên tiêu? Nguyễn Du đã không kể cho ta biết. 

Chỉ thấy khi hoa lê nở rộ vào tháng ba, hội đạp thanh, mấy chị em Kiều đi tảo mộ gặp Kim Trọng và Kiều bắt đầu yêu. Người con gái tài sắc vẹn toàn và đa đoan đa cảm ấy bắt đầu mơ mộng và ước mộng. Từ “người đâu gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có duyên gì hay không” cho đến khi “một lời, vâng tạc đá vàng thủy chung” hứa hẹn hạnh phúc vĩnh viễn “đinh ninh hai miệng một lời song song”, Kiều đã sống trong ước mộng màu hồng. Trong giấc mộng nồng nàn yêu đương, chẳng thấy bóng dáng một ngôi chùa nào hiển hiện, mà nàng Kiều rạo rực sống có lẽ cũng không quan tâm đến hai chữ “chùa chiền”. 

Ngôi chùa đã không hiện hữu trong tâm của nàng Kiều, dù trong xã hội thời bấy giờ những ngôi chùa chắc chắn đã làm nên một phần cảnh trí, không gian sống của con người đông phương. Mái chùa có thể rất là quen thộc với gia đình họ Vương, nhưng nó chưa vẽ ra một viễn tượng nào có ý nghĩa trong trí tưởng của Kiều. 

Kịp đến khi nàng tình nguyện “bán mình chuộc cha”, bị Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Tú Bà lường gạt, cuộc đời cô gái thanh lâu chỉ biết cúi đầu “sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh”. Lầu xanh ấy là nơi đày đọa tấm thân người thiếu nữ ngây thơ chưa có một chút kinh nghiệm ở đời. Nàng trở thành nô lệ cho khách làng chơi trong cái ngục tù sâu xé thể phách của người con gái yếu đuối nơi đất khách. Thanh lâu có thể nói là địa ngục đầu tiên mà Kiều nếm mùi khổ ải. Những khi “giật mình mình lại thương mình xót xa” nhớ lại “khi sao phong gấm rủ là, giờ sao tan tác như hoa giữa đường”, nàng nhớ thương mái nhà ấm cúng của cha mẹ, nhớ người yêu cũ. Nhưng hình như “nỗi lòng đòi đoạn xa gần, chẳng vò mà rối chẳng dần mà đau” ấy cũng chỉ là những cơn giật mình lúc tỉnh, phần đông là say, say để quên, say để chạy việc được trong cái guồng máy tiếp khách làng chơi, Kiều chẳng có thì giờ để nhớ đến những nơi yên tĩnh như bóng dáng một ngôi chùa. Trong tuyệt vọng nàng vẫn còn nuôi hi vọng, với sắc đẹp, với tài hoa của mình, thế nào nàng cũng có thể tìm cách thoát khỏi cá chậu chim lồng và sẽ có dịp tìm về mái nhà êm ấm của mẹ cha. Nàng đã tìm được Thúc Sinh, hào hoa công tử, sẵn sàng “trăm nghìn đổ một trận cười”, đã mê mệt nàng, nên “đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều” đã mua được nàng khỏi tay mụ Tú Bà. Từ khi thoát khỏi vòng trần ai, Kiều sống trong tình yêu đầm ấm của Thúc Sinh. Có thể nói từ khi bán mình, đây là những giờ phút hạnh phúc mà nàng đã tưởng sâu như biển tưởng dài như sông. Trong những giây phút ấy, ngôi chùa không phải là điều chi đáng nói và có lẽ nó không hiện ra trong những lúc “hương càng đậm lửa càng nồng” của nàng Kiều. 

Nhưng hạnh phúc không lâu, cơn ghen của Hoạn Thư một người đàn bà “sâu sắc nước đời” đã thành một ngọn lữa dữ. Nhà bị đốt, bị bắt cóc, bị giam giữ, quản thúc, phải làm nô tì trong gia đình họ Hoạn, nàng không biết Thúc Sinh ở đâu từ lúc chia tay. Tâm trạng rối bời trong nhớ thương thắc mắc, đồng thời bị hành hạ đánh đập, nàng như người ở trong đêm tối quờ quạng, trong lòng chỉ mong được gặp lại Thúc Sinh. Ðể rồi khi gặp mặt, cả hai lâm vào hoàn cảnh éo le thê thảm nhất của đời người: “rõ ràng thật lứa đôi ta, làm ra con ở, chúa nhà đôi nơi”, bị bắt quì chuốc rượu  cho hai vợ chồng, bắt đánh đàn mua vui, rồi phải chứng kiến người đã yêu mình đang “chung gối loan phòng” với người đàn bà khác. Ðêm hôm ấy đã là đêm dài nhất và đau khổ đến tận cùng trong đời nàng Kiều: “Một mình âm ỷ đêm chầy, Ðĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh”. Nhục nhã và bị tình phụ, còn gì để cho con người hiện diện giữa con người, còn gì để con người có thể đứng vững với người và với chính ta? 

Cô đơn và quằn quại trong tủi nhục đến tuyệt vọng, lần đầu tiên ngôi chùa đã hiện ra trong biển nước mắt năm canh không một lần chợp mắt của nàng Kiều. Ý định thoát khỏi sự đày đọa thể xác và tâm hồn, sớm khuya phải cung cúc hầu hạ hai người, phải hằng đêm vò võ chứng kiến cảnh ấm êm của người khác có thể làm cho điên loạn con người, chính ý nghĩ thoát khổ này đã đưa Kiều đến với hình ảnh  một ngôi chùa nào đó có thể gở rối cho nàng: “Rắp đem mệnh bạc, xin nhờ cửa Không”. 

Lần đầu tiên, ngôi chùa hiện ra trong tâm nàng như một cơ hội giải thoát khỏi cảnh ngộ thê thảm trong cái địa ngục trần gian là căn nhà họ Hoạn. Tâm của nàng mù mịt trong đớn đau, đang tìm cách gõ vào một cánh cửa cuối cùng, có thể đem đến bình an, bớt khổ: cửa Không. Bước châm tâm thức của nàng đang quờ quạng đi tìm một cái phao cứu vớt có thể giúp nàng vượt khỏi khổ nạn. 

Kiều được Hoạn Thư cho ra ở Quan Âm Các, giữ chùa tụng kinh.Ta hãy nghe Nguyễn Du tả cảnh chùa của gia đình họ Hoạn, mà Kiều tạm thời được đưa ra ở đó:

Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa,
Có cổ thụ, có sơn hồ…”

Rõ ràng là một ngôi chùa của nhà giàu. Một ngôi chùa trong khuôn viên thế gia vọng tộc, bế thế. Ý định của Hoạn Thư cho Kiều qua Quan Âm Các là vừa tỏ ra độ lượng thể theo ý nàng, nhưng cũng vừa để kiểm soát nàng chặc chẽ. Quan Âm Các là nhà tù giam lõng Kiều. Tất cả những nghi  thức xuất gia đều đủ cả, tam qui ngũ giới, áo cà sa, pháp danh Trạc Tuyền đều tươm tất thi hành. Kiều bắt đầu làm quen với một cuộc sống khác hẳn ngày trước không phải chiều khách làng chơi” không nô lệ phục dịch, mà chỉ “ngày pho thủ tự, đêm nhồi tâm hương”, nâu sồng, muối dưa. Nhưng thực sự lòng nàng còn nồng, còn cháy, dù đã tìm đến giọt nước cành dương để “tưới lửa lòng“ đang khổ. Đau, thương, nhớ ngùn ngụt. Không! Quan Âm Các chỉ là nơi lánh nạn trong cơn bão táp, trong cơn tuyệt vọng nhưng trong lòng Kiều vẫn còn khao khát cuộc sống ở ngoài đời. Bao lâu còn tủi hờn, đau lòng xót dạ thì bước chân của Trạc Tuyền còn lưu luyến nơi ngưỡng cửa thế gian: vùi đầu vào lời kinh là chỉ để dấu nước mắt khóc thầm cho số phận bẽ bàng, Kiều vẫn còn nhớ Thúc Sinh. Nàng là người chí tình, đã được Thúc Sinh bao bọc chở che chiều chuộng, cho nàng biết được hạnh phúc thực sự của đời sống vợ chồng, nay bỗng bị người khác không chế, tước đoạt hạnh phúc ấy, nàng vẫn cứ một lòng nhớ đến người mà mình đã nhận làm chồng hiện đang “trong gan tấc, lại gấp mười quan san”. Quan Âm Các đối với Kiều chỉ là chốn tạm lánh thân, để khỏi phải đớn đau trực diện. Chúng ta hãy nghe Nguyễn Du tả cảnh đời Quan Âm Các:

Nàng từ lánh gót vườn hoa
Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng.
Nhân duyên đâu lại mà mong,
Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thì thôi.
Phật tiền thảm lấp sầu vùi,
Ngày pho thủ tự, đêm nhồi tâm hương…
Quan phòng then nhặt, lưới mau,
Nói lời trước mắt, rơi châu vắng người.”

Bước chân của nàng Kiều đến Quan Âm Các là bước chân lưỡng lự, trong thế chẳng đặng -đừng, nơi đó chỉ là chốn tạm, xa đi bụi hồng quấn quít vướng chân, nhưng hờn tủi, thất vọng, hổi thẹn, tủi thân xen lẫn với nhớ thương vẫn sủi bọt trong lòng. 

Kịp đến khi bị Hoạn Thư bắt gặp Thúc Sinh trốn ra tình tự, nàng quá sợ hãi, bỏ trốn đi trong đêm khuya. Thân gái đặm đường lao đao, “mịt mù dặm cát đồi cây”… sợ hãi, kinh hoàng, bơ vơ không nơi bám víu. Lần đầu tiên trong đời nàng ra đi một thân một mình, quyết định lên đường dứt khoát. Những lần trước từ khi xa cha mẹ, dù miễn cưỡng, dù bị bắt buộc, nàng vẫn có người bên cạnh đi kèm theo. Ðây là lần đầu tiên Kiều mạo hiểm dấn bước một mình, cao chạy xa bay, trốn, rời bỏ người mà nàng tưởng có thể che chở cho nàng nhưng hoàn toàn bất lực trước người vợ quá sâu sắc nước đời. Những bước … tự do trong đêm khuya sao quá hãi hùng cho người con gái yếu đuối chẳng biết trông cậy vào ai. Bơ bơ trong rừng cây, giữa đêm sâu hút, giữa trời rộng bao la, tình cảnh thật là tội nghiệp vô vàn. May sao và mừng sao, thấp thoáng trong rừng cây:

Chùa đâu trông thấy nẻo xa,
Rành rành “Chiêu Ẩn am” ba chữ bài”

Bước chân của Kiều vội vàng mừng rỡ khôn xiết, có lẽ chưa bao giờ trong đời nàng đã rảo bước hăm hở đến một ngôi chùa như thế “Xăm xăm gõ mái cửa ngoài”.

Chiêu Ẩn am, ba chữ đầy ý nghĩa, xin mời người đến tá túc khỏi mọi nan nguy của cuộc đời. Và Kiều không mong gì hơn trong hoàn cảnh bấy giờ là được lưu lại nơi ấy. Lần đầu tiên nàng cảm thấy ngôi chùa thật sự là nơi cứu nạn cứu khổ. Chân nàng bước đến với nỗi mừng thoát cơn hoạn nạn, lạc loài. Nàng không mong gì hơn được ở ẩn, được yên thân. Với Chiêu Ẩn am, mái chùa trở nên không còn xa lạ. Nàng bắt đầu thân thuộc với không gian đạm bạc, yên tĩnh, hiền lành, không còn có cảm giác đau đớn bị nanh vuốt của ghen tuông cấu xé, không còn hờn tủi oán giận, nàng vui được nương náu cửa không, chứ không còn miễn cưỡng như khi ở Quan Âm Các.

Ta hãy nghe Nguyễn Du tả đời sống của Kiều trong Chiêu Ẩn Am:

Gửi thân, được chốn am mây,
Muối dưa đắp đổi, tháng ngày thong dong.
Kệ kinh câu cũ thuộc lòng,
Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay,
Sớm khuya lá bối, phướn mây,
Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương.
Thấy nàng thông tuệ khác thường,
Sư càng nể mặt, nàng càng vững chân.”

Khác với Quan Âm Các với tâm trạng đầy lo âu dằn vặt mà không dám hé lời than thở, ở Chiêu Ẩn Am, Kiều bắt đầu nếm được vị “thong dong của tháng ngày”, vị tự do không bị ràng buộc bởi tình khổ, bởi nô lệ, bởi ham muốn.

Thế nhưng, Chiêu Ần Am cũng vẫn chỉ là một run rủi tình cờ trên đường phiêu bạc của nàng Kiều như một chiếc lá rụng xuống trong vườn cây. Sự yên phận của nàng là do hoàn cảnh đưa đẩy và nàng không có chọn lựa nào khác hơn là vui mừng chấp nhận. Chiêu Ẩn Am chưa phải là ngôi chùa chắc chắn trong tâm của nàng Kiều. Có thể nàng sẽ lưu lại đó suốt cuộc đời, nếu không có những biến cố xảy ra tiếp theo, nhưng những biến cố tiếp theo cho ta thấy nàng vẫn còn là người nòi tình, nhiều ước mộng, ham sống, vẫn đam mê và ngu muội trong cõi luân hồi. 

Cho đến khi hoàn cảnh  bắt buộc phải rời Chiêu Ẩn Am, Kiều trở thành nạn nhân của bọn buôn người khác, phải đi tiếp khách ở thanh lâu. Bị bắt buộc trở lại guồng máy của cuộc đời trầm luân, Kiều lại đóng vai “con người” dấn thân kiêu ngạo trong chốn giang hồ (mắt xanh chẳng để ai vào!) và đạt đến đỉnh cao danh vọng với người hùng Từ Hải. Nàng cũng vẫn là “nhi nữ thường tình” như thưở nào, vẫn rắp tâm ân đền oán trả, vẫn yêu say sưa và vẫn ghét đắng cay, vẫn ước mơ và vẫn đầy hi vọng với cuộc đời trần thế.  Người đọc đã tưởng nàng ở trong danh vọng giàu sang, thì sẽ quên ngôi chùa, quên nơi chốn “an bần lạc đạo”, nơi nàng đã có lần lưu lại trong cơn khốn khổ. Người đọc không ngạc nhiên về sự đền ơn cứu khổ của Kiều đối với sư Giác Duyên nhưng thật sự ngạc nhiên, khi đọc được những lời Kiều, bây giờ đang ở ngôi cao mệnh phụ đường đường với Từ Hải, trò chuyện với Giác Duyên:

Nàng rằng thiên tải nhất thì,
Cố nhân đã dễ mấy khi bàng hoàng.
Rồi đây bèo hợp mây tan,
Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu”…

Hóa ra có một ngôi chùa vẫn còn nằm trong trí nhớ của Từ Hải phu nhân hiện đang giàu sang tột đỉnh, nó quen thuộc như “cố nhân”, đó là nơi trú ẩn của kẻ hành nhân lạc loài, cháy khát. Tuy đang sống trong nhung lụa, tình cảm “muối dưa” đã có một lần chia chung Kiều vẫn còn giữ trong lòng. Mái chùa ấy, vị sư ấy, đời sống thanh bần ấy đã trở thành một hình ảnh sâu lắng, hình như nó dần dần thâm căn, mọc rễ trong vô thức nàng Kiều, thân thiết quen thuộc cũng không khác ngôi nhà cha mẹ sinh thành.

Trong lời nhắn gửi sư Giác Duyên nhờ chuyển lời đến sư Tam Hợp thật gói ghém nhiều điều:

Nàng rằng: Tiền định tiên tri,
Lời sư đã dạy ắt thì chẳng sai.
Họa bao giờ có gặp người,
Vì tôi cậy hỏi một lời chung thân”.

Người viết có cảm tưởng như đang nghe bà hoặc mẹ đang ngồi tiếp một vị tiểu sư của chùa nhà trong buổi trưa nắng thét, và giữa hai ngụm trà mời khách, cẩn trọng, thân thiết hỏi thăm cảnh chùa làng nay ra sao, còn cây bồ đề đang đổ bóng trên sân, sư cụ có còn trì kinh như xưa hay đã đi hái thuốc phương xa và xin kính gửi lạy Phật lạy sư “một lời chung thân”. Nghe gần gủi và thân quen câu nhắn gửi ấy, thì biết mái chùa, nếp sống nâu sồng, các vị sư đã có mặt từ bao giờ trong trái tim của Kiều. 

Cho đến khi đỉnh cao danh vọng sụp đổ vì nhẹ dạ nghe theo lời đường mật của tên quan gian trá họ Hồ, xui Từ Hải ra hàng. Từ Hải chết, bị bắt ép nhục nhã, Kiều đã chấm dứt cuộc đời đoạn trường khổ bằng cách gieo mình xuống sông Tiền Ðường. Trong cơn mê trôi trên dòng nước, nàng được Giác Duyên cứu thoát đem trở về chùa. Mái chùa bên ven sông Tiền Ðưòng mà Giác Duyên dựng lên đơn sơ lắm, mái tranh vách đất, khác xa một trời một vực với cung điện nguy nga, mà cũng khác với những ngôi chùa nhà giàu, chỉ là một mái thảo lư đúng nghĩa với cửa không: trời nước mênh mông, lồng lộng lượng từ bi:

Giác Duyên nghe nói mừng lòng,
Lân la tìm thú bên sông Tiền Ðường.
Ðánh tranh, lợp nóc thảo đường,
Một gian nước biếc, mây vàng chia đôi.

Một mái chùa cỏ, không có gì ở bên trong, chỉ có một ý nguyện cứu người hoạn nạn. Họ gặp nhau, mừng rỡ. Trong ngôi thảo lưu đạm bạc ấy, Kiều có cảm giác từ một cơn ác mộng hồng lâu, nhà vàng gác tía, trở về trong một vũ trụ rộng mở, trong đại ngã thiên nhiên, mà bấy lâu nay nàng chỉ có một khái niệm mơ hồ mông lung. Trong không gian chay tịnh diệt cái ngã thích sở hữu, Kiều học nhìn thế giới, thiên nhiên với một nhãn quan không còn đối đãi, tù túng như ở lầu Ngưng Bích, mà mở rộng cùng chia: chia gió trăng, chia đạm bạc, chia cái vô cùng của nước mây:

Thấy nhau mầng rỡ trăm bề.
Dọn thuyền, mới rước nàng về thảo lư.
Một nhà chung chạ sớm trưa,
Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng.
Bốn bề bát ngát mênh mông,
Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau”.

Vũ trụ quan và nhân sinh quan đã xoay chiều, nhà tù luân hồi nghiệp chướng đã được mở rộng toang, ý niệm không gian và thời gian không còn hạn hẹp trong cái ngã chật chội, cỏn cỏn danh lợi. Với hai câu thơ: 

Bốn bề bát ngát mênh mông,
Triều dâng hôm sớm, mây lồng bóng sân”
so với thuở trước cảnh vật quanh lầu Ngưng Bích, nơi Kiều bị giam lỏng:
“Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ, bụi hồn dặm kia”.

Nguyễn Du đã diễn tả sự giải phóngcủa nàng Kiều bằng 4 chiều biến đổi: ba chiều không gian như ngoại cảnh và chiều thứ tư là thời gian nội tâm, trong sự chuyển vần từ tù túng trói buộc sang thong dong đi về “hôm sớm”, “trước sau”. Chỉ với hai câu thơ đầy hình tượng thiên nhiên mở ra ý niệm siêu hình về thời gian và không gian, cũng đủ cho thấy sức sáng tạo thi ca và tư tưởng của Nguyễn Du quyện vào nhau như cánh đại bàng lướt gió, nếu có ai như nhà phê bình Ðổng Văn Thanh  muốn đem con chim đại bàng này nhốt lại trong chuồng gà thì chỉ chuốc lấy thất bại mà thôi..

Chính nơi thảo lưu này Kiều đã thấm nhuần cuộc sống nương cửa Bồ Ðề, tuy nhiên Giác Duyên cũng đã nhận thấy lòng trần của Kiều vẫn còn chưa dứt hẳn, nàng vẫn còn một căn bệnh chưa nguôi: nhớ nhà! Khi con người vừa mới sinh ra, nó đã bắt đầu nhớ, nhớ mẹ. Kiều không nhớ không được:

Phật tiền ngày bạc lân la,
Ðăm đăm, nàng cũng nhớ nhà khôn khuây”.

Nhớ như thế thì không tu được. Phải quay trở lại trần thôi. Mái chùa ấy vẫn còn là một định chế bên ngoài cho Kiều dừng chân , tạm thời thoát tục, nàng thụ động chấp nhận bước chân vào đó, vui mừng được thoát nạn khi ở trong đó, nhưng nó vẫn ở ngoài Kiều. Nó vẫn còn là điều gì theo qui ước ngay cả khi nàng nói:

Mùi Thiền đã bén muối dưa,
Màu thiền, ăn mặc đã ưa nâu sồng.
Sự đời đã tắt lửa lòng,
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi”.

Kiều tưởng đã dừng chân nơi thảo am ở sông Tiền Ðường, ấy vậy mà nàng vẫn còn lưu luyến chưa dứt được sợi dây ràng buộc của tình cũ nghĩa xưa, của cha mẹ thân yêu. Cũng thật thường tình, có thể thông cảm mà không hoài nghi thắc mắc tự vấn: 

Có nên thất vọng hay nên vui mừng khi thấy Kiều được đoàn tụ gia đình? Có thật Kiều đã rời bỏ mái thảo lưu có nhiều trăng, nhiều mây, sông nước mênh mang ấy? Ngay khi nàng “giã sư giã cảnh” theo lệnh phụ thân trở về với gia đình là thôi, bỏ hết con đường học đạo? 

Nguyễn Du không trả lời những thắc mắc ngớ ngẩn ấy, mà đòi ta phải đi tìm. Cuộc đoàn tụ đã được Nguyễn Du diễn tả với tất cả sự nhạy bén thấu hiểu tâm trạng và tâm lý người trở về cũng như của mọi nhân vật. Trong chuỗi thơ liên tiếp đầy diễn biến nội tâm “bi hoan mấy nỗi” ta bỗng bắt gặp một hai câu thơ tuồng như vô tình mà rất hữu ý giữa những câu ca ngợi cuộc hòa hợp tâm đắc Kiều Kim: 

Khi chén rượu khi cuộc cờ,
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên.
Ba sinh đã phỉ mười nguyền,
Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy
Nhớ lời, lập một am mây,
Khiến người thân tín rước thầy Giác Duyên.
Ðến nơi đóng cửa cài then.
Rêu trùm kẽ gạch, cỏ lên mái nhà.
Sư đà hái thuốc phương xa,
Mây bay, hạc lánh, biết là tìm đâu?
Nặng vì chút nghĩa bấy lâu,
Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai”.

Và chợt hiểu thêm một điều: bước chân trở lại trần của nàng Kiều lần này không giống những bước chân ra đi vào cõi hồng trần nữa, nó tương tự như bước chân của một thực thể đã liễu tri được mọi qui luật của cuộc đời, từ đó đã được giải phóng, một thực thể đã ra khỏi dòng đời nhưng lại bước về, nhập thế. Kiều nhập thế lần này khác với lần trước, nàng không quên mái chùa. Hơn thế nữa, nàng lập nên một am mây, một cửa Không, ngay giữa lòng đời, miệt mài một chữ “nghĩa” với người với đời. 

Bước vào ngôi chùa ấy, nàng Kiều không còn lưỡng lự tiến thối, không còn cảm giác tạm thời, cảm giác bị động, bởi vì chính nàng là người chủ động, người sáng tạo ra nó, là người „phát tâm Bồ đề“ cho ý nguyện tiếp tục công việc hàng tâm. Bước vào chùa hay đi vào đời đối với Kiều bấy giờ cũng trong cùng một ý nghĩa trọn thành, không đối đãi.

Ngôi chùa ấy vô danh, chỉ là một am mây thôi, không rồng bay phượng múa, cũng không có sư sãi, nhưng tinh tấn hôm mai dầu đèn. Nó đúng là VÔ MÔN, hay có thể viết trên cửa một chữ “TÂM”, tùy duyên ai bước đến… 

Muenchen cuối năm 2005


HOA XUÂN 
TRONG CÁC CHÙA NHẬT BẢN
Hằng Minh

Đại Hòa, một vùng đồi núi rộng lớn thuộc cố đô Nại Vương (Nara), tạo hóa đã ban tặng cho nơi đây một cảnh sắc thiên nhiên vô cùng xinh đẹp, đặc biệt là vào mùa Xuân. Khi Xuân về, muôn hoa đua nhau nở rộ nơi các tự viện, như muốn tô điểm và dâng mình cúng dường lên Đức Phật.

Tháng Hai, Xuân đến khi cái lạnh cuối Đông vẫn còn đó, tuyết vẫn lác đác rơi như luyến tiếc chưa chịu nhường chỗ cho nắng Xuân. Đây chính là lúc hàng vạn cây hồng mai, bạch mai bắt đầu nở hoa, như thúc giục mùa Đông kia hãy qua đi nhường chỗ cho Xuân về. Đến chùa Dược Sư và và chùa Đông Đại trong thời khắc giao mùa này, bạn sẽ được ngắm nhìn tuyết rơi trên những cánh hoa, và trong cái giá lạnh cuối Đông ấy bạn sẽ cảm nhận được Xuân đang đến qua sắc hoa rực rỡ, qua hương hoa tao nhã của một rừng mai khoe sắc trong vườn chùa.

Cùng với mai, cỏ dại cũng hồi sinh; xương bồ, hoa sen của thung lũng Đại Hòa cũng bắt đầu nở hoa. Khi cỏ dại lên xanh ngát thì cũng là lúc Nhị Nguyệt Đường của Đông Đại cử hành “lễ lấy nước” dâng cúng Phật, cầu cho quốc thái dân an. Như để trang nghiêm thêm buổi lễ, các loài hoa trà, mộc lan, mộc qua, đào, đỗ quyên, tử đinh hương cũng đua nhau nở rộ khắp khuôn viên chùa Đông Đại, và khi (các loài hoa ấy đang độ mãn khai cũng là lúc Lễ hội hoa được tiến hành (từ 30/4 đến 5/4 hàng năm). 

Mai, đào, anh đào, mẫu đơn, kim ngân, tử đằng, đỗ nhược, bách hợp, cúc và trà là 10 loại hoa được dâng cúng Phật trong Lễ hội hoa. Hoa trà, loài hoa vốn được xem linh thiêng, được trồng ở hầu hết các tự viện của vùng Đại Hòa, gồm có sơn trà, bát tiên trà, đa sắc trà, hồng trà và trà đại đóa. Bạch trà ở khuôn viên Khai Sơn đường cùng với hồng trà của Chùa Truyền Hương và ngũ sắc trà của Chùa Bạch Hào là loại hoa trà nổi tiếng của vùng Nại Lương. Ngũ sắc trà ở Chùa Bạch Hào là loài cây trà cổ thụ, có tuổi thọ khoảng 400 tuổi, có 3 sắc hoa hồng, trắng, đỏ trên một cây. Tiết trời ấm dần lên, những cây hoàng hoa rực rỡ khoe sắc vàng, những cây tuyết liễu, đỗ quyên trổ hoa trắng muốt toát một màu thanh khiết. Khi sơn trà nở rộ khắp vùng Đại Hòa cũng là lúc 35.000 cây anh đào trắng của vùng núi Cát Dã, các vườn anh đào của Chùa Đông Đại, Chùa Dược Sư, Chùa Đương Ma, Chùa Đại Dã tiếp cũng đều nở rộ. Nổi tiếng có cây anh đào 900 tuổi ở Chùa Phật Long, cây anh đào 300 tuổi ở Chùa Đại Dã. Đặc biệt hoa anh đào ở Chùa Kim Nhai có sắc trắng xanh, khi hoa nở thì lá cũng chuyển sang màu nâu và màu đỏ, hoa nở tuần tự từ cành thấp lên cao, từ ngoài vào trong, vì thế loại hoa này thường được nhắc đến trong các tác phẩm văn học. 

Khi mùa hoa anh đào kết thúc cũng là lúc mùa hoa cải dầu và Hoa Sen bắt đầu. Lúc này, thời gian như muốn ngừng lại để không làm xao động những cánh hoa cải dầu, không làm chao nghiêng những cành sen.

Vào cuối tháng Tư đến giữa tháng Năm là lúc hoa thạch nam nở rộ. nổi tiếng nhất là vườn thạch nam ở Chùa Thất Sinh có khoảng 3.000 cây, với sắc hồng nhạt còn hơi đọng sương khi bình minh ló dạng. 

Vào cuối tháng Tư, khi mùa Xuân chưa qua mà những cơn mưa rào đã vội vã đổ xuống, cũng chính là lúc mẫu đơn đơm hoa. Nổi tiếng nhất là vườn hoa mẫu đơn ở Chùa Trường Cốc với hơn 7.000 cây thuộc 150, loại đủ các sắc màu hồng nhạt, hồng đậm, đỏ tía, trắng, vàng. Cảnh hoa mẫu đơn nở trong mưa thật đẹp, thật ảo diệu làm sao! Lúc này cũng là mùa hoa đỗ quyên. Đỗ quyên ở Chùa Trường Nhạc là loại cây cao quá đầu người, hoa màu đỏ sậm, mọc thành từng khóm ở hai bên đường núi dẫn vào chùa.

Cuối Xuân, quỳnh hoa vội vã nở như để tránh cái oi bức mùa hè đang chực chờ đến. Hoa quỳnh vốn là loài hoa nổi tiếng của Dương Châu, quê hương Hòa thượng Giám Chân, vậy nên nó được trồng nhiều ở Chùa Đường Chiêu Đề (một ngôi chùa cổ do Hòa thượng sáng lập) để tưởng nhớ ngài.

Nhìn những mùa hoa đi qua ta cảm nhận được lẽ vô thường nơi vạn vật. Từ đó biết quí trọng hơn từng giây phút hiện tại, sống trọn vẹn hơn với hiện tại.
 
 


Trên đường về
nghe Thiền ca Phạm Duy
Nguyễn Đắc Xuân

 Tơi đã cĩ album 10 Bài Thiền Ca của Phạm Duy cách đây hơn mười năm. Lúc đĩ tơi đang làm báo ở Đà Nẵng nên chưa cĩ điều kiện thời gian để suy ngẫm về cái thế giới tâm linh trong Thiền Ca của ơng. Đến sau ngày tơi nghỉ việc cơng (7.1998), chủ động được thời gian, tơi nghe lại nhạc Thiền Phạm Duy, đọc kỹ lời và suy ngẫm, nhiều khi tơi cĩ cảm giác mới lạ như trước đây tơi chưa từng nghe bao giờ. Phạm Duy đã sáng tác nhạc tình cảm của con người với con người, nhạc xã hội của con người với xã hội. Sáng tác Thiền Ca, nhạc sĩ Phạm Duy muốn đưa con người vào cõi tâm linh, cõi trời, cõi Phật. Đến cái tuổi “cổ lai hy” ơng mới “ngộ” được con đường nầy. 

Bà xã tơi là một Phật tử, tuy rằng xưa nay rất mê nhạc Phạm Duy, nhưng khi nghe xong album 10 Bài Thiền Ca, bà bảo: “Trong Thiền cũng cĩ tình yêu nhưng là thứ “tình yêu đã diệt dục” chứ làm gì lại cĩ những chuyện “Ta lơi em về, ta kéo em đi; nâng em lên trời, đem xuống âm ty; chơn em trong lịng, xong lấy em ra” (Chiều, Thiền Ca số 6) và “Ăn cho vừa, chơi cho thật, sống cho thẳng, chết cho ngay, yêu cho lâu, ghét cho mau, khĩc cho đầy, cười cho rõ” (Răn, Thiền Ca số 8)? Khơng riêng gì bà xã của tơi mà nhiều Phật tử khác cũng cĩ cùng nhận xét như thế. Họ chưa chấp nhận nhạc Thiền của Phạm Duy. 

Trong những ngày sắp bước sang Xuân Bính Tuất nầy, gặp lại Phạm Duy ở Sài gịn, tơi rất thấm thía bài Thiền Ca số 2 mang tên Võng. Mở đầu bài ca ơng viết: “Tơi nằm võng, võng đưa võng đưa ”. Vâng, ở đời cĩ thể cịn cĩ nhiều người chưa từng nằm võng của mẹ mắc dưới mái tranh nghèo, dưới bĩng tre, bĩng dừa ở làng quê. Nhưng chiếc võng cuộc đời thì khơng ai tránh được. Cĩ người bảo tơi chiếc võng cuộc đời chính là thân phận làm người. Chiếc võng cuộc đời nĩ đẩy đưa con người từ đỉnh cực nầy sang đỉnh cực đối nghịch. Đĩ là “Cõi tử, cõi sinh; Cõi tình, cõi hận; Núi đợi, vực chờ; Niềm vui, nỗi khổ”. Chiếc võng cuộc đời đưa theo quy luật của trời đất (sinh, tử), theo khát vọng của tình người (tình-hận, vui-khổ). Nhạc sĩ Phạm Duy đã sống một cuộc đời tận cội rễ của cuộc sống mới chứng nghiệm và rút ra được những ý tưởng đĩ. Phạm Duy khơng cưỡng được “cái sự võng đưa” của cuộc đời, nhưng ơng khơng buơng xuơi theo số phận. Võng đưa mặc võng, ơng vẫn “…nằm đĩ, nằm im mọi chỗ...”. Cái “nằm im mọi chỗ” trong tâm hồn Phạm Duy là “Đất nước tơi, tiếng nước tơi, người Việt tơi” mà ơng đã sớm thể hiện trong bài Tình Ca sáng tác cách đây hơn 50 năm. Nếu cĩ một sát-na nào đĩ chiếc võng đời dừng lại trong thế thăng bằng, thì cái “nằm im mọi chỗ” của Phạm Duy sẽ là nơi gặp gỡ của hai chiều lên-xuống, phải-trái, đơng-tây.

Bao giờ con người thốt