KHOẢNG
TRỐNG VĂN HÓA
Thảo
Vy
Văn
Quyến, một cậu bé vừa rời làng quê đã được đưa thẳng
vào đấu trường bóng đá, không lâu sau trở thành một ngôi
sao sáng của nền bóng đá Việt Nam. Và người ta nghĩ rằng,
anh sinh ra là để dành cho những trận đấu lớn, thế nhưng
trong trận đấu lớn nhất - trận đấu tìm hạnh phúc cho
mình - anh lại đang vấp ngã. Mọi người đều bàng hoàng
về vụ án bán độ đang diễn ra.
Tất
cả đều thấy nơi các cầu thủ một sự khiếm khuyết về
văn hóa, hay “khoảng trống văn hóa”, như một nhà bình
luận bóng đá đã viết.
Bộ
trưởng, Chủ nhiệm UBTDTT Nguyễn Danh Thái, đã có một số
ý kiến đánh giá. Ông nêu lên bốn nguyên nhân tạo ra "khoảng
trống văn hóa" đó: (1). bệnh thành tích; (2). chưa chú trọng
công tác giáo dục các cầu thủ về chính trị, tư tưởng,
đạo đức; (3). công tác quản lý yếu kém; (4). nhân sự,
huấn luyện viên yếu kém. “Bức tâm thư” này đã được
đón nhận một cách không tích cực, bởi chỉ riêng mỗi việc
mô tả "khoảng trống văn hóa" ấy thôi cũng đã là một câu
chuyện dài nhiều tập.
Phó
Chủ tịch LĐBĐ Việt Nam Vũ Quang Vinh khi nghe tin vụ án đã
tiếc nuối:"Giá như cầu thủ của mình học cao hơn trình
độ hiện tại thì có thể không dẫn đến chuyện tày trời
này” (Báo Thanh Niên, ngày 18-12-2005). “Có thể” nghĩa là
không chắc chắn.
HLV.
Riedl cũng nói: "Tôi không dám khẳng định là nếu học vấn
cao con người ta sẽ có văn hóa hay đạo đức hơn, nhưng tôi
tin, những cầu thủ dính vào chuyện tiêu cực này, nếu có
trình độ thì rất có thể họ sẽ suy nghĩ khác, hành động
khác". "Không dám khẳng định" cũng có nghĩa là không chắc
chắn.
Thực
tế, trong vụ án tế bào mầm đang diễn ra ở Hàn Quốc, chúng
ta thấy một người có danh hiệu khoa học gia cấp cao như
Giáo sư Hwang Woo-Suk cũng vẫn giả mạo về kết quả
nghiên cứu. Vậy thì học vấn cao không phải là lý do chính
cho việc có đạo đức. Câu hỏi đặt ra là: yếu tố nào
trong việc dạy dỗ ở nhà trường sẽ làm cho các cầu thủ
trở thành những người “được giáo dục đến nơi đến
chốn”? Phương thức giáo dục các yếu tố đó cho các cầu
thủ như thế nào?
Mọi
sự giáo dục đều phải được bắt đầu từ lòng tin (tín)
vào cái đúng, cái tốt. Lòng tin vốn được ví như ngọc
châu thanh thủy, có công năng làm nước đục trong trở lại.
Viên ngọc lòng tin ở trong nhận thức làm cho người ta chấp
nhận các lời dạy bảo và có thể ngăn ngừa nhiều điều
sai xấu.
Đa
số lãnh đạo nghành TDTT và Huấn luyện viên, ngay cả những
người mong muốn sự trung thực, cũng “tin” rằng, làm “bóng
đá sạch” là sẽ chịu thiệt thòi, hy sinh, chịu sức
ép của cả “búa” lẫn “đe”. Hiện trạng đó cũng cho
thấy rằng, dường như thành tích chỉ có thể tạo ra từ
những điều gian lận, và rằng nếu khéo léo che dấu thì
chắc chắn sẽ “hạ cánh an toàn”. Có rất nhiều người
hôm trước thì “đau lòng” trước sự sa ngã của cầu thủ,
hôm sau đã bị cơ quan điều tra phát hiện ra họ là một
trong các nguyên nhân làm cầu thủ sa ngã! Nếu làm điều đúng
tốt có thể có kết quả xấu, làm điều sai xấu vẫn có
được kết quả tốt, nghĩa là luật nhân quả bị đảo ngược,
thì chúng ta không thể tạo lòng tin cho cầu thủ được.
Câu
lạc bộ Sông Lam Nghệ An là một ví dụ. Để đạt được
vinh quang một cách nhanh chóng, trong bối cảnh bóng đá Việt
Nam có nhiều tiêu cực, một số quan chức của Câu lạc bộ
này đã nóng vội trong việc ngụy tạo ra các thành tích bằng
những phương pháp sai xấu. Nổi cộm hơn cả là việc chi
tiền để mua chức vô địch trong mùa bóng ở đầu thiên
niên kỷ. Tất cả là vì vinh quang của bóng đá Nghệ An. Thành
tích thì đã như ý nguyện của một số nhà lãnh đạo, nhưng
hậu quả của nó thật là to lớn. Các cầu thủ trẻ mặc
dù được hưởng lợi từ những thành tích ấy nhưng lại
không còn coi trọng những người thầy của họ nữa. Tâm
hồn họ trở nên hoang vu. Đây thực sự là khoảng trống
“chết người” về văn hóa.
Trong
thâm tâm, mỗi cầu thủ đều cho rằng, để đạt được
kết quả đỉnh cao cần phải có "các yếu tố khác", nên
sự tự tin vào năng lực của mình bị đánh mất, và vì thế
mà sự phấn đấu cho nghề nghiệp cũng không cao. Các nhược
điểm ấy được đem nguyên vẹn lên đội tuyển quốc gia,
đến nỗi ông Riedl phàn nàn rằng, không biết cầu thủ Việt
Nam được giáo dục cơ bản thế nào mà nhiều lời ông nói
chỉ như nước đổ đầu vịt.
Việc
xa lánh điều sai xấu có quá trình tự nhiên của nó: đầu
tiên, con người ta phải nhận thức được diễn trình của
các cám dỗ, nhận thức được hương vị ngọt ngào của
các cám dỗ; kế đến phải nhận thức được những điều
nguy hiểm của cám dỗ; và cuối cùng, phải có biện pháp
thích hợp để xa lìa những điều cám dỗ.
Văn
Quyến trước khi rời khỏi làng quê của mình, anh chưa bao
giờ thấy được hương vị ngọt ngào của danh và lợi. Năm
16 tuổi đã là cầu thủ xuất sắc nhất vòng chung kết U-16
của châu Á. Năm 19 tuổi đoạt danh hiệu Quả bóng vàng 2003.
Thu nhập do quảng cáo của anh đạt mức 1 tỉ đồng một
năm. Như vậy, danh và lợi đã đến quá nhanh chóng. Anh không
kịp nhận thức các nguy hiểm của cám dỗ, không nhận được
những cảnh báo cẩn thận, không được giáo dục nghiêm khắc
một cách đúng mức thì đã rơi vào những cạm bẫy.
Văn
Quyến, Quốc Vượng đã tham gia vào đường dây bán độ -
chuyện này nằm ngoài ý muốn của lãnh đạo TDTT Nghệ An.
Những người có trách nhiệm trong việc mua chức vô địch
cho SLNA năm 2000-2001 đã “hạ cánh an toàn”. Tuy nhiên, "cái
nhân" họ gây ra đã biến dị khôn lường, phát triển tiếp
cho tới "cái quả" bán độ tại Sea Games 23.
Người
ta sẽ không dễ sa ngã nếu như nhận thức được sự nguy
hại trong các hành vi của mình. Nếu có những ràng buộc nghiêm
khắc hơn, có lẽ Văn Quyến đã không bị sa ngã. HLV Riedl
có nhắc lại một kinh nghiệm: “Sau khi tập, áo cầu thủ
đẫm mồ hôi, tôi nhắc đi nhắc lại là phải thay không thì
ốm, nhưng chỉ khi tôi ra lệnh nếu ai không thực hiện sẽ
bị phạt 20 USD thì lời đề nghị mới được chấp hành
tử tế”. (Báo Thanh Niên, 18-12-2005). Trong cơ chế thị trường,
các cầu thủ đã được lĩnh đồng lương rất cao (trên 6
triệu 1 tháng) nhưng lại được yêu cầu thấp. Với mức
lương chỉ tròm trèm 1 triệu đồng, nhiều công nhân của
ta phải chấp nhận tăng ca tới tối. Làm cho các công ty lớn
của nước ngoài lương 600-700 USD cũng phải “làm ngày không
đủ, tranh thủ làm đêm”. Những người cảnh sát hình sự
với số lương không nhiều, nhưng đã phải dành gần như
toàn bộ thời gian sống và cả tính mạng mình để giữ gìn
sự yên ổn cho xã hội. Với mức lương chuyên nghiệp và
mức thưởng như hiện nay, hoàn toàn công bằng nếu yêu cầu
các cầu thủ phải giao phó toàn bộ thì giờ cho nghề nghiệp.
Do đó, các quy định cho cầu thủ không chỉ giới hạn ở
trong sân tập, nó còn phải hạn chế cả mặt hưởng thụ
quá mức của cầu thủ ở ngoài xã hội. Chẳng hạn, trong
thời hạn hợp đồng cấm đánh bạc, cấm dùng chất gây
nghiện, cấm những trò chơi làm mụ mẫm đầu óc… không
chỉ khi huấn luyện mà cả khi ở ngoài sân tập. Thực tế,
tất cả các hành vi vừa đề cập đều làm giảm sút phong
độ, ảnh hưởng đến thành tích của tập thể và dẫn đến
những hành vi phạm pháp.
Người
ta cũng sẽ khó sa ngã, nếu như họ biết hổ thẹn và có
tự trọng khi hành động. Việc đó chỉ có thể làm được
nếu các cầu thủ nhận thức được những điều đúng tốt.
Trong thời đại internet như hiện nay, lượng thông tin và độ
phức tạp ngoài xã hội lớn gấp nhiều lần ở trong trường
lớp và sân tập. Do đó vấn đề chú ý tới việc cầu thủ
xử lý thời gian rỗi thế nào trở thành yếu tố cực kỳ
quan trọng. Tăng cường học tập văn hóa cho cầu thủ là
một cách định hướng cho việc hữu ích hóa thời gian trống.
Thực hiện các hoạt động xã hội, hoạt động từ thiện
cũng là một giải pháp tích cực giúp các cầu thủ đáp ứng
được mục tiêu đó.
Cuối
cùng, cần phải nhắc đến tác dụng giáo dục của các phương
tiện truyền thông. Nó phải phát hiện, đề cao được phẩm
chất tốt đẹp của các vận động viên để làm gương cho
giới trẻ phấn đấu. Đồng thời nó cũng phải đóng vai
trò cảnh báo sự xuống cấp về phẩm chất của họ. Sự
tập trung khắc họa, ca ngợi sự vinh quang của các nhà vô
địch, của những tài năng trẻ mà không chú ý nhiều đến
các phẩm chất và quá trình rèn luyện của họ dễ làm tăng
tính tự mãn, kiêu ngạo mà không làm tăng hai yếu tố biết
hổ thẹn, biết sự nguy hại ở họ. Các biểu tượng này,
do tác dụng rộng lớn của truyền thông lại trở thành thần
tượng của nhiều bạn trẻ. Họ khâm phục tài năng của
những người tạo ra thành tích, nhưng tác dụng giáo dục
trong các thần tượng đó không cao.
Sau
khi vụ bán độ của các tuyển thủ bóng đá nam tại Sea Games
23 bị đổ vỡ, Báo Tuổi trẻ đã đăng một loạt bài về
"chuyện đằng sau những tấm huy chương vàng" của các bộ
môn khác. Những câu chuyện như thế, thực sự có tác dụng
giáo dục rất lớn, là những tấm gương phấn đấu cho thế
hệ trẻ.
ĐỐI
THOẠI
GIỮA
NHÀ SƯ VÀ NHÀ TRIẾT HỌC
"Le
moine et le philosophe"
Cao
Huy Thuần dịch
Lời
nói đầu: Hai tác giả của cuốn sách ghi ở trên là Jean-Fraçois
Revel va Mathieu Ricard. Tác giả đầu là một triết gia Pháp
có tiếng. Sách của ông còn được dịch ở Mỹ .Tác giả
sau Mathieu Ricard, Tiến sĩ khoa học, trước đây là nghiên cứu
gia ở viện Pasteur, từ bỏ tương lai sự nghiệp khoa học
sáng chói, gọt tóc đi tu ở Tây Tạng từ hai mươi năm. Ông
nhiều lần tháp tùng Ngài Đạt Lai Lạt Ma trong những dịp
Ngài thăm viếng nước Pháp. Jean-Fraçois Revel là bố.
Mathieu Ricard là con. Hai bố con đối thoại với nhau trong cuốn
"Le moine et le philosophe" (nhà Sư và nhà triết học) xuất bản
đầu năm 1997 ở Pháp và vẫn còn là một trong những cuốn
sách đắt khách nhất trong năm. Đối thoại trên 400 trang sách,
mỗi người đứng trên lập trường của mình, không nhân
nhượng, nhưng với lòng kính trọng của con, với lòng khâm
phục của bố. Con đã làm bố khâm phục chân lý cao siêu
mà con đã theo.
Mathieu
Ricard: Chẳng có một sự vật gì là thường xuyên bất biến;
lý vô thường vi tế nằm nơi mọi sự vật, chẳng một khoảnh
khắc nào mà sự vật không thay đổi. Và bởi vì ý thức
của ta do sự vật trước mắt mà khởi lên, hễ có bao nhiêu
hiện trạng thay đổi của đối tượng vô thường trước
mắt thì có bấy nhiêu khoảnh khắc thay đổi của ý thức.
Tính vô thường xảy ra trong khoảnh khắc của mọi sự vật
và của tư tưởng, dẫn ta đi rất xa: nó chứng minh rằng,
trong thế giới hiện tượng, ví thử có một thực thể nào
đó bất biến, thường còn, tự nó hiện hữu, thì ý thức
của ta chắc sẽ "dính cứng" vào đó và cứ thế mà kéo dài
ra bất tận. Và cứ thế, tất cả mọi ý thức trên đời
này chắc sẽ bị thực thể nó "xí gạt" mà dính chặt hoài
vào đó. Chính vì cái lý vô thường đó mà Phật giáo đã
ví thế giới hiện tượng như một giấc mơ hay một huyễn
tượng, hay như dòng nước chảy lúc nào cũng khác nhau và
chẳng bao giờ ai nắm bắt được. Ngay cả những vật có
vẻ sờ sờ ra đấy, cái bàn chẳng hạn, cũng thay đổi trong
từng khoảnh khắc vô cùng nhỏ khởi lên do từng thay đổi
vô cùng nhỏ của thế giới bên ngoài. Chỉ cái tổng hợp
của những khoảnh khắc đó cho ta cái cảm giác có một thực
thể thô sơ.
Jaen
Francois Revel: Quan điểm này đối nghịch với một ý nghĩ
chủ yếu của Plato. Nơi tất cả các triết gia Hy Lạp, nhưng
đặc biệt là nơi Plato, người ta đều thấy ý nghĩ đó,
ám ảnh đó: ý nghĩ rằng ta không thể thấu hiểu những gì
đang biến chuyển, thay đổi. Đối với họ, bởi vì hiện
tượng - trong ngôn ngữ Hy Lạp có nghĩa là “Cái gì đang
hiện ra đấy”, thế giới cảnh tượng. Ở trong tình trạng
không ngừng luân chuyển, cho nên ta không thể hiểu thấu đáo,
vững chắc, rốt ráo được. Vì thế, tất cả các triết
học Tây phương cho đến Kant - đều cố gắng tìm cho ra đằng
sau hiện tượng yếu tố bền vững, vĩnh cửu, có thể làm
đối tượng cho một sự hiểu biết vững vàng. Toán học
cung cấp mẫu mực vững vàng của mình cho cố gắng đó. Từ
điểm khởi đầu của tư tưởng Tây phương, toán là mẫu
mực hoàn hảo đầu tiên đáp ứng được nhu cầu của tư
tưởng về khái niệm. Và như vậy, người ta muốn khám phá,
ở đằng sau các hiện tượng, những nguyên tắc vĩnh cửu:
đó là những luật… Bởi vậy, để thoát ra khỏi sự biến
động hỗn loạn của thế giới hiện tượng, người ta tìm
xem, đằng sau thế giới đó, thế giới những cấu trúc, tìm
xem đâu là những liên hệ quả, đâu là những liên hệ nhân
quả, đâu là những luật vĩnh cửu. Epicure, hay nói đúng hơn,
đồ đệ của ông, nhà thơ La tinh Lucrèce, gọi những luật
đó là những hiệp ước, qua đó các vị thần bảo đảm
sự tương quan tốt đẹp giữa trí óc con người với thực
tại bên ngoài.
M.R:
Ấy, hãy chú ý! Có những luật, điều đó không có nghĩa
rằng có những thực thể vĩnh cửu đàng sau những hiện tượng.
Phật giáo hoàn toàn thừa nhận rằng thế giới hiện tượng
do luật nhân quả chi phối một cách không trốn tránh được.
Nhưng những luật đó, cũng như những hiện tượng mà những
luật đó chi phối, đều không phải là những thực thể vĩnh
cửu, độc lập, tự hiện hữu: chẳng có cái gì hiện hữu
tự nó và do nó, tất cả có mặt là vì những mối quan hệ
hỗ tương giữa những nguyên nhân và điều kiện. Trái đất
có sức hút, luật đó không tự nó hiện hữu nếu chẳng
có sự vật. Một tảng đá là do các nguyên tử hợp lại.
Mỗi nguyên tử lại chỉ là năng lượng. Cái cầu vồng là
do tia nắng đùa nghịch trên hơi mù của mưa, nó hiện ra,
người ta thấy nó, nhưng nó không có thật. Chỉ cần một
yếu tố tan mất là hiện tượng đó biến mất tiêu. Vậy
thì “cái cầu vồng” không có bản chất riêng của nó,
và người ta không thể nói có sự tiêu tan, biến mất của
một cái gì không có. “Cái gì” đó nhờ tập hợp tạm
thời của một số yếu tố mà hiện ra như huyễn tượng,
nhưng tập hợp đó cũng thế thôi, cũng chẳng phải là những
thực thể tự có.
J.F
R: tất cả những hiện tượng thiên nhiên đâu có thể đem
ví hết với các cầu vồng!
M.R:
Nhưng tất cả những hiện tượng đều đích thực là kết
quả của một tập hợp những yếu tố thoáng qua trong giây
lát. Chẳng bao giờ có những hiện tượng vĩnh cửu và độc
lập. Như có người đã nói, “chẳng có cái gì độc lập
hiện hữu cả, như bông hoa chẳng thể mọc ra giữa trời”.
Để trở lại vấn đề luật, chẳng có gì chứng tỏ rằng
có những luật tương tự những nguyên tắc vĩnh cửu chi phối
các hiện tượng, Muốn hiểu những luật đó phải vận dụng
trí óc, và khoa học đã làm một sự lựa chọn siêu hình
khi tuyên bố rằng ta có thể, bằng những khái niệm của
ta, khám phá bản chất tận cùng của một thế giới hiện
hữu độc lập với những khái niệm của ta. Phật giáo gặp
gỡ poincaré khi ông này nói đại khái rằng dù cho bản chất
của một thực tại, độc lập với một trí óc đang suy nghĩ
về nó, dù cho bản chất đó thế nào đi nữa, thực tại
đó chẳng bao giờ đến được với trí óc của ta, chẳng
bao giờ ta hiểu được nó. Và người ta có thể nói rằng
nếu ví thử không có loài người, thực tại như là loài
người quan niệm cũng chấm dứt, hết hiện hữu.
J-F
R: Dù sao đi nữa thì cũng có những luật về vật lý!
M.R:
Không hẳn như thế đâu! Tất nhiên người ta có thể nghĩ
rằng thực tại hàm chứa trong thế giới hiện tượng có
thể được diễn tả bằng ngôn ngữ toán học, không chịu
ảnh hưởng gì của chủ quan. Nhưng, như Alan Wallace đã tóm
tắt: “Những nguyên lý hiển nhiên, axioms, của toán
học cho đến gần đây vẫn được xem như những chuyện hiển
nhiên chẳng cần phải chứng minh. Thế mà ở thế kỷ trước,
có nhiều nhà toán học nói rằng định đề Euclide chẳng
hạn không đúng cũng chẳng sai, chỉ là những “luật chơi”
(…) Bây giờ thì rõ ràng rằng những nguyên lý hiển nhiên
của toán học bắt nguồn trực tiếp hoặc gián tiếp từ
kinh nghiệm của chúng ta, và vì vậy người ta không thể nói
rằng toán học bao gồm những luật về một thực tại hoàn
toàn độc lập với kinh nghiệm”. Cũng vậy, quả quyết rằng
người ta không thể khám phá ra những thực thể bền vững
đằng sau những hiện tượng, điều đó cũng đối nghịch
với tư tưởng trong vài triết lý của Ấn Độ giáo về những
“khái niệm tổng quát” chẳng hạn khái niệm “cây” hiện
hữu trong mỗi cây, hoặc khái niệm “hiện hữu” làm bản
chất cho bất cứ cái gì đang có.
J-F
R: Ấy, đây là tư tưởng của Platon!
M.R:
Thế thì giống nhau, Phật giáo bác bỏ khái niệm đó, nói
rằng nếu ví thử có một khái niệm “cây” như vậy, thì
cây nào cũng có cùng một chất đó, và như vậy tất cả
mọi cây đều phải mọc lên cùng một lúc và cùng một lề
lối như nhau, bởi vì một thực thể vĩnh cửu không thể
là nguyên nhân của một cái gì thay đổi và đa dạng. Mà
thật vậy, mỗi một việc tạo ra hoặc lớn lên đã phá huỷ
sự vĩnh cửu của một thực thể, bởi vì thực thể này
không còn cùng là một thực thể nữa, trước và sau.
J-F
R: Ta không thể lẫn lộn nguyên lý hiển nhiên và định
đề, cũng không thể đồng hoá với định đề của toán
học - khoa học tự bản chất - những kiến thức về vật
lý và sinh học, vốn phải kiểm chứng không ngừng giữa quan
sát, lý thuyết và thực nghiệm. Nhưng đây không phải là
chỗ để bàn về triết lý các khoa học. Để trở lại vấn
đề tương quan giữa Đông và Tây, triết lý Ấn độ giáo
gần với triết của platon hơn là Phật giáo, bởi vì, đối
với platon, “Cái cây tự nó” hiện hữu trong thế giới
siêu cảm giác, và tất cả mọi cây hiện hữu trong thế giới
cảm giác - nghĩa là thế giới hiện tượng - đều là những
bản sao chép “cảm giác” của cái cây “có thể hiểu được”,
và tất nhiên chẳng bản sao chép nào phản chiếu được sự
hoàn hảo của cái cây-tự-nó. Chẳng hạn, người họa sĩ
toàn bích muốn vẽ cái cây lý tưởng phải theo học triết
lý của Platon để có ý tưởng tuyệt đối, để có kiểu
mẫu về cái cây-tự-nó, hầu vẽ cái cây lý tưởng, chứ
không phải cái hiện tượng-cây, vốn chỉ là một trong vô
vàn diễn tả bất toàn về cái cây-tự-nó… Platon khinh miệt
hội họa, nói rằng khi ông họa sĩ vẽ cái giường, cái bàn,
ông ta chỉ làm bản sao chép về một bản sao chép. Cái bàn
thật mà người ta thấy trong một căn nhà nào đó đã là
bản sao chép của cái bàn-tự-nó trong thế giới siêu cảm
giác. Vậy cái bàn được vẽ trong bức tranh là ở một tầm
mức thấp hơn nữa của thực tại. Từ đó mà nảy ra cái
ám ảnh về một đối kháng: đối kháng giữa thế giới cảm
giác, không thể hiểu được vì luôn luôn biến đổi, và
thế giới siêu cảm giác liên quan đến những thực thể có
thể hiểu được. Có thể xích lại gần chăng tư tưởng
đó với triết lý Ấn độ giáo? Và Phật giáo phản ứng
lại như thế nào?
M.R:
Có lẽ phải nói rằng, có những quan điểm tương đồng giữa
Ý niệm của Platon và những khái niệm “tổng quát” của
Ấn độ giáo, trong cái nghĩa rằng cả hai quan niệm có những
thực thể cố định đàng sau những hiện tượng. Phật giáo,
ngược lại, bàn luận rất sâu và rất phức tạp để bác
bỏ sự hiện hữu của bất cứ thực thể vĩnh cửu nào.
Cái luận đề của Ấn độ giáo bị Phật giáo bác bỏ triệt
để nhất là một luận đề về một tạo hoá toàn năng,
như là Ishvara. Tranh luận đã diễn ra vài thế kỷ trước
khi đạo Thiên Chúa ra đời. Đây là ý tưởng về một tạo
hóa, tự có chứ chẳng do ai sinh ra, tự có chứ chẳng do một
nguyên nhân nào trước đó, tự sáng tạo ra vũ trụ vì tự
mình muốn như thế. Biện chứng pháp của Phật giáo bác bỏ
luận đề đó từng điểm một. Trước hết là toàn năng,
bởi vì tạo hóa là phải toàn năng. Ví thử tạo hóa chẳng
quyết định sáng tạo; như thế vị đó chẳng còn là toàn
năng bởi vì ông ta sáng tạo dưới ảnh hưởng của dục
vọng sáng tạo.
J-F
R: Đẹp như các nghịch ngôn của Zénon!
M.R:
Tạo hóa có thể là một thực thể vĩnh cửu? Không, bởi
vì vị đó khác nhau trước khi và sau khi sáng tạo. Thât vậy,
ông ta trở thành “đấng đã sáng tạo”. Hơn nữa, nếu
ông ta sáng tạo ra tất cả vũ trụ, điều này phải nhất
thiết bao hàm ý nghĩa rằng tất cả mọi nguyên nhân của
vũ trụ đều phải hiện hữu trong ông. Thế mà một trong
những nền tảng của luật nhận quả - nghiệp - là: một
sự kiện không thể xảy ra chừng nào toàn thể những nguyên
nhân và điều kiện làm nó xảy ra chưa hội đủ, và sự
kiện đó không thể không xảy ra chừng nào nguyên nhân và
điều kiện đó hội đủ. Điều này có nghĩa rằng Tạo Hóa,
hoặc là chưa bao giờ có thể sáng tạo, hoặc là phải sáng
tạo thường xuyên! Những lý luận đó và nhiều lý luận
khác nữa có thể áp dụng để chống lại tất cả những
tư tưởng nào chủ trương có một tạo hóa vĩnh cửu, toàn
năng, tự có…
J-F
R: Phục sát đất! Cứ có cảm tưởng như đang nghe một nhà
biện chứng của phái hoài nghi thời thượng cổ, hoặc một
đồ đệ của Epicure, của Zénon đang bác bỏ tư tưởng về
một Thượng đế sáng tạo.
M.R:
Những lý luận biện chứng đó vẫn còn tiếp tục cho đến
ngày nay ở Á châu trong những tranh luận triết lý. Người
ta cũng phân biệt khía cạnh tương đối của những hiện
tượng, và bản chất sâu xa của những hiện tượng đó.
Đứng về phương diện tuyệt đối, Phật giáo nói rằng một
“thực thể” thật sự hiện hữu không thể sinh ra hoặc
mất đi, lại nói rằng hiện hữu không thể do hư vô mà sinh
ra, bởi vì dù cho có muôn vàn nguyên nhân đi nữa cũng không
thể làm sinh ra một cái gì vốn không hiện hữu, hoặc một
cái gì đã hiện hữu rồi, bởi vì cái đó không cần phải
sinh ra nữa.
J-F
R: Tưởng như nghe đối đáp của Platon trong Parménide!
M.R:
Dù sao chăng nữa, khi mổ xẻ quá trình nhân quả dưới cái
nhìn của chân lý tuyệt đối, người ta bắt buộc phải kết
luận rằng quá trình đó không thể liên hệ những thực thể
đang hiện có: hoặc là nhân biến mất trước quả, và trong
trường hợp đó nhân - vì không hiện hữu nữa - nên không
thể có liên hệ gì với quả; hoặc là nhân tồn tại vào
lúc quả sinh, và như thế thì không có nhân quả gì nữa,
bởi vì không thể có liên hệ nhân quả giữa những sự vật
xảy ra cùng một lúc.
J-F
R: Có chứ! Có chứ!
M.R:
Không! Hai thực thể đang tự nó hiện hữu và đồng thời
hiện hữu không thể có một liên hệ nhân quả; ngay cả một
liên hệ gì đó cũng không, huống hồ nhân quả.
J-F
R: có những liên hệ nhân quả trong quá trình diễn tiến của
thời gian, nhưng cũng có những liên hệ nhân quả trong trường
hợp nhân hiện hữu đồng thời với quả.
M.R:
Ví dụ?
J-F
R: Ví dụ tôi đang thở dưỡng khí và dưỡng khí đó
làm tôi tiếp tục sống. Nhân ở đây là thực thể của dưỡng
khí, và tôi ở đây là người đang thở: hai thực thể đó
xảy ra đồng thời.
Không!
Bởi dưỡng khí ấy và thân hình kia biến chuyển trong từng
giây phút; không thể nói về một thực thể “dưỡng khí”
và một thực thể “thân hình” trường tồn, tự nó hiện
hữu, cái này tác động lên cái kia mà vẫn đồng thời với
nhau! Nếu hạt và trái đều là những thực thể tự nó hiện
hữu thì không thể có liên hệ nhân quả gì giữa hai bên,
liên hệ đồng thời cũng không mà liên hệ sau trước cũng
không, bởi vì nhân - ở đây là hạt - phải tiêu tan cho quả
- ở đây là trái - mọc ra, và một sự vật không hiện hữu
nữa thì cũng không sinh ra được cái gì hết.
J-F
R: Đúng thế, nhưng đó là mẫu liên hệ nhân quả trong đó
nhân có trước quả, bởi vì có diễn tiến sau trước trong
thời gian. Nhưng người ta cũng có thể nói có nhân quả đồng
thời: Chẳng hạn ánh sáng mặt trời và cái lá cây kia đang
trút hơi thở năng lượng mặt trời. Có hai mẫu liên hệ
nhân quả.
M.R:
Không phải cái mặt trời của giây phút hiện tại này tạo
ra cái lá cây mà ta đang thấy kia.
J-F
R: Không phải, nhưng đó là ánh sáng mặt trời của lúc mà
nó đến với nhánh cây, dù cho ánh sáng đó có mất một chút
thời gian để đến mặt đất… Hiểu một cách cổ điển,
có những liên hệ nhân quả đồng thời cũng như có những
liên hệ nhân quả sau trước. Không phải cứ có diễn tiến
sau trước là có liên hệ nhân quả, và không phải liên hệ
nhân quả nào cũng có diễn tiến sau trước. Đó là tranh luận
cổ điển giữa Hume và Kant.
M.R:
những tia nắng mặt trời mà hơi ấm đã khiến cho nhánh cây
kia mọc mầm không phải là những tia nắng mặt trời sưởi
ấm nhánh cây lúc nó mọc mầm. Nhân ở đây không còn nữa,
không hiện hữu nữa. Nếu tôi làm rơi cái bình hoa này trước
mắt tôi, nhân và quả không thể diễn biến đồng thời được
- cái bình chưa chạm đất lúc tôi làm nó rơi.
J-F
R: Thế nhưng cái ví dụ dưỡng khí vừa nói ban nãy…
M.R:
Dưỡng khí không phải là một thực thể trường tồn; nó
thường xuyên biến chuyển. Nhân và quả đồng thời.
J-F
R: Vâng, đồng ý, không đồng thời…
M.R:
Dưỡng khí có đấy, nhưng có như một hiện tượng thô, nhưng
đó không phải là thứ dưỡng khí kia, thứ dưỡng khí vừa
làm máu hồi sinh.
J-F
R: Cái cột đỡ mái nhà là nguyên nhân cản mái nhà khỏi
sập. Đấy, nhân và quả là đồng thời.
M.R:
Điều muốn nói là thế này: trên bình diện tương đối,
nghĩa là trên bình diện chân lý ước lệ như chúng ta thường
hiểu, luật nhân quả là không thể tránh được. Nhưng nếu
chúng ta đứng trên bình diện luận lý tuyệt đối, luật
nhân quả không thể xảy ra với những thực thể có một
hiện hữu thường còn và vững chắc. Vậy thì trong thế giới
hiện tượng này, chẳng tìm đâu ra một thực thể - dù chỉ
một mà thôi - bất biến, độc lập, tự nó hiện hữu.
J-F
R: Đó là nói về một liên hệ nhân quả giữa những sự
kiện, nhưng có những liên hệ giữa những cấu trúc. Chẳng
hạn giữa những cơ năng trong cái nghĩa toàn thể… một chiếc
tàu nổi trên nước. Nước và chiếc tàu đồng hiện hữu.
Tỷ trọng của nước là nhân của sự việc chiếc tàu nổi.
Nước và chiếc tàu đồng hiện hữu.
M.R:
Chính thế, không có liên hệ nhân quả giữa những thực thể;
chỉ có những liên hệ gọi là cấu trúc giữa những sự
vật thoáng qua mà Phật tử chúng tôi gọi là những liên hệ
hỗ tương: “Cái này có bởi cái kia có; cái này sanh ra trên
nền tảng cái kia”. Chẳng có cái gì tự bản thân nó
có, độc lập với những sự kiện khác. Mỗi một yếu tố
của sợi dây xích nhân quả là một tổng hợp những yếu
tố đến rồi đi trong một quá trình biến đổi bất tận;
đó chẳng phải là một diễn tiến trong thời gian của những
yếu tố tách biệt nhau và độc lập với nhau. Đó là lý
lẽ chứng tỏ rành rành rằng sự vật là không có, nghĩa
là không hiện hữu một cách độc lập và thường xuyên,
dù cho đó là một ông Thượng đế sinh ra vạn vật hoặc
một hạt nguyên tử tự nó mà có, chẳng cần nguyên nhân
nào hay điều kiện gì, độc lập với mọi sự vật khác.
Cao
Huy Thuần dịch
03
Chúng ta cần tình thương (Dalai Lama)
Đang
Đánh Máy
TÌM
HIỂU NGUỒN GỐC
CHÙA
CÂY MAI
Nguyễn
Đình Tư
Ngày
nay, đi trên đại lộ Hồng Bàng thuộc địa bàn Quận 6 và
Quận 11, chúng ta không còn thấy gò Cây Mai với dòng suối
lượn quanh, cũng như chùa Cây Mai với mõ sớm chuông chiều,
với thi nhân mặc khách bầu rượu túi thơ nữa, mà chỉ thấy
mặt bằng thẳng tắp với một chiếc am nhỏ xíu nhang tàn
khói lạnh bên đường phố rộng thênh thang. Tại sao lại
có cảnh tang thương như vậy?
Sách
Gia Định Thành Thông chí có ghi: "Gò Cây Mai cách phía Nam trấn
(Phiên An) 30,5 dặm. Ở đây gò đất nổi cao có nhiều Nam
mai, nhành cỗi rườm rà, nhưng khi hoa nở không có tuyết,
chỉ có lá hộ vệ mùi thơm mà thôi. Thứ hoa này bẩm linh
khí sinh ra, không đem trồng ở nơi khác được. Trên có ngôi
chùa An Tôn, đêm đọc Bối kinh (kinh Phật chép trên lá bối),
chuông mai trống chiều vang rền trong mây khói, mường tượng
như thế giới nhà Phật ở Ấn Độ. Lại có suối trong chảy
quanh chân gò, các du nữ chiều mát chống thuyền hái sen. Gặp
những giai tiết thì văn nhân thi sĩ mang bầu rượu, theo từng
bậc cấp leo lên, ngâm vịnh tại nơi đầu gò, dưới gốc
mai hoa cùng văn tự nồng nức mùi hương. Thật là một thắng
cảnh cho người du lãm.
Gò
này xưa là chỗ chùa tháp của người Khmer, nền móng còn
nhận rõ. Năm Bính Tý (1816) niên hiệu Gia Long thứ 15 có thầy
Tăng trùng tu lại, đào lấy được ngói gạch cỡ lớn của
người xưa rất nhiều, và lại đào được hai miếng vàng
lá, tư bề đều vuông một tấc, mỗi miếng nặng ba đồng
cân, trên mặt chạm hình “Cổ Phật cỡi voi”, có lẽ đấy
là cái vật của Hồ tăng dùng để trấn tháp đó chăng?(1)
Còn
sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn
cũng chép về chùa Cây Mai, ngoài những chi tiết mô tả giống
như Trịnh Hoài Đức trên đây, còn cho chúng ta thêm một số
thông tin khác như: chùa cây Mai còn gọi là Mai Khâu, toạ lạc
tại thôn Tân Long (tổng Tân Phong Thượng), huyện Tân Long
(phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định), có 7 cây mai, số lượng cụ
thể vào thời Tự Đức. Còn Trịnh Hoài Đức không cho biết
có bao nhiêu cây.
Nhận
xét về thắng cảnh Gò Cây Mai và chùa Cây Mai, tác giả sách
Đại Nam nhất thống chí viết: “Chỗ này cũng là thắng
địa của phương Nam. Nhưng cảnh chùa có lúc thịnh, lúc suy,
cây mai có lúc tươi, lúc tàn. Cái ấy hình như ám hợp với
nhau. Mỗi khi hoa mai rụng bay đi vào chỗ nào không biết thì
cảnh chùa u trầm, vắng vẻ tăng đồ, trông rất buồn bã.
Đến khi linh cơ chuyển phục giữa không tế bay về, thì cảnh
chùa với hoa mai đồng thời song song thạnh phát. Trước kia
không ai để ý đến. Từ khi cất chùa đến nay sự suy thịnh
đã trở đi trở lại 2 lần như thế. Có phải Thiên nữ tán
hoa(2) chăng? Hay là cây quỳnh ở Dương Châu (3) chăng? Xưa
có một thi nhân đi qua đây có đề bài thơ rằng:
Thiền
môn hà xứ phỏng mai hoa
Tạm
yết chinh tiên thuyết Phạn gia(4)
Hương
nhập trà bình yên chính nỗn,
Nhất
sinh trần lự bán tiêu ma.
Dịch
nghĩa:
Cửa
thiền ta đến viếng mai hoa?
Tạm
gác chinh tiên luận Thích già
Hương
quyện bình trà đương ngút khói(5)
Một
đời trần lụy nửa tiêu ma(6)".
Theo
sự mô tả trên đây, gò Cây Mai tương đối cao, vì muốn
lên đến chùa, người ta phải leo qua nhiều bậc tam cấp.
Chu vi cũng không phải hẹp, vì quanh dưới chân gò có dòng
suối nước trong, tức là một con rạch có trồng sen, sâu
và rộng, nên các cô thanh nữ muốn hái sen phải bơi thuyền
qua lại. Trên đồi có ngôi chùa Ân Tôn xây dựng từ
trước, không rõ năm nào, nhưng phỏng đoán vào thời các
chúa Nguyễn, vì đến năm Gia Long thứ 15 đã có vị sư trụ
trì trung tu (trùng tu chứ không phải xây dựng). Trên gò còn
có 7 gốc mai cổ thụ, thuộc giống Nam mai, hoa màu trắng,
nên về sau các nhà thơ vùng Đồng Nai - Gia Định thành lập
Thi xã đặt tên là Bạch Mai Thi xã.
Trong
con mắt các tao nhân mặc khách, đồi Cây Mai và chùa Cây Mai
tạo thành cảnh trí rất đẹp, rất nên thơ, thanh nhã. Cho
nên vào các mùa Xuân hàng năm, khi hoa mai nở rộ, mùi hương
lan toả khắp nơi, cùng với thiện nam tín nữ lũ lượt lên
chùa lễ Phật cầu phước đầu năm, các thi nhân lại có
dịp bầu rượu túi thơ, rủ nhau lên ngồi dưới gốc mai
phía đầu gò, thưởng thức cái không khí trong lành thoang
thoảng hương mai, cùng nhau xướng hoạ, ngâm vịnh, nhả ngọc
phun châu, tiêu dao thoát tục. Về sau, các thi nhân họp lại
thành lập Bạch Mai thi xã để hằng năm đến hẹn lại lên,
bao gồm các nhà thơ khắp Nam Kỳ Lục tỉnh. Thành viên của
Thi xã là những ông Cử, ông Tú, ông Nhiêu, ông Đồ.
Hiện
nay còn lại 3 bài thơ chữ Hán xưa nhất của Trịnh Hoài Đức
vịnh cảnh chùa Cây Mai, chúng tôi xin trích ra một bài thơ
để mọi người cùng thưởng lãm:
Mai
Khâu vãn thiếu
Mai
Khâu vãn thướng lược đông phong,
Nhất
vọng tiêu nhiên nhãn bất cùng.
Thôn
xá chẩm khê yên thu ngoại,
Mục
đồng hoành địch thảo nguyên trung.
Ngưu
tương giải ngột quy cao lũng,
Nha
dĩ từ giao tập mậu tùng.
Trù
tướng minh vân thiên miễu miễu
Trù
trì vô ngữ ỷ ngô đồng.
Dịch
nghĩa:
Gò
Cây Mai buổi chiều nhìn từ xa
Chiều
đến gò mai hứng gió đông
Xa
trông cảnh vắng, mắt khôn cùng.
Xóm
nhà gối suối mờ cây, khói,
Đồng
cỏ vang âm sáo mục đồng.
Quạ
họp về cây, rời bãi trống,
Trâu
chờ cởi ách, lại vùng giồng.
Trời
cao mây tối giăng buồn bã,
Đứng
tựa ngô đồng lặng ngó trông
(Nguyễn Khuê dịch)(7)
Năm
1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, nhưng không dám
đóng quân trong thành, bèn triệt phá rồi rút xuống đóng
tại đồn Hữu Bình. Thỉnh thoảng quân Pháp ở đồn Hữu
Bình bị nghĩa quân ta ban đêm đột kích đánh phá, nên chúng
bèn lập phòng tuyến trên bộ từ chùa Khải Tường qua chùa
Kim Chương, từ chùa Kiểng Phước xuống đến chùa Cây Mai,
và chúng gọi là phòng tuyến các chùa (Ligue des Pagodes), nhằm
ngăn cản quân ta đột kích. Pháp đã biến các chùa thành
các trại quân, trong đó có chùa Cây Mai. Các tượng Phật
và tự khí đều bị phá huỷ. Cây cối xung quanh chùa bị
chặt phá, tạo thành vùng đất trống cho chúng dễ tuần phòng.
Từ đó không còn cảnh tài tử giai nhân thưởng ngoạn Mai
Sơn nữa. Hầu hết thành viên của Bạch Mai Thi xã tị địa
tới vùng tự do hoặc tham gia nghĩa quân kháng chiến chống
Pháp. Tôn Thọ Tường sau khi làm tay sai cho Pháp có làm bài
thơ vịnh chùa Cây Mai để bào chữa cho hành động hợp tác
với thực dân Pháp, quay lưng lại với dân tộc:
Bài
xướng
Đau
đớn cho mai cách dưới đèo
Mười
phần trong sạch phận cheo leo
Sương
in tuyết đóng nhành thưa thớt
Xuân
đến thu về lá quạnh hiu
Lặng
lẽ chuông quen cơn bóng xế
Tò
te kèn lạ mặt trời chiều
Những
tay rượu thánh, thi thần cũ
Trông
cảnh bao nhiêu tiếc bấy nhiêu.
Lê
Quang Chiểu tức Cai Tổng Chiểu ở thôn Phong Điền, Hậu Giang
đã họa lại bài thơ đó với lời lẽ mỉa mai.
Bài
họa
Tìm
mai mấy độ đã xa đèo
Xót
nhẽ thân gầy sắn vẫn leo
Sương
tuyết bốn mùa hoa sạch sẽ,
Gió
đông đòi trận sắc tiu hiu.
Đẩy
đưa cõi Phật hơi kèn sớm,
Quạnh
quẽ nhành chim xế bóng chiều.
Thầm
tiếc phỏng còn phong cảnh cũ,
Văn
nhơn tài tử biết bao nhiêu(8).
Ngày
nay, đi trên đại lộ Hồng Bàng thuộc địa bàn Quận 6 và
Quận 11, chúng ta không còn thấy gò Cây Mai với dòng suối
lượn quanh, cũng như chùa Cây Mai với mõ sớm chuông chiều,
với thi nhân mặc khách bầu rượu túi thơ nữa, mà chỉ thấy
mặt bằng thẳng tắp với một chiếc am nhỏ xíu nhang tàn
khói lạnh bên đường phố rộng thênh thang. Tại sao lại
có cảnh tang thương như vậy?
Số
là khi người Pháp bắt đầu xây dựng khu đô thị Chợ Lớn
thì vùng này còn rất nhiều kinh rạch, ao đầm cần phải
san lấp để có mặt bằng thực hiện các công trình công
cộng như đường sá, công thự, chợ phố. Chính quyền thực
dân Pháp đã cho triệt hạ gò Cây Mai, lấy đất để sang
lấp kinh rạch, vì vậy ngày nay không còn dấu tích gì của
gò Cây Mai nữa. Chùa Cây Mai (hay chùa Ân Tôn) cũng không còn.
Nó được thay thế bằng một cái am nhỏ mà người dân địa
phương nói là vị trí của chùa Cây Mai xưa, nhưng lại nằm
lọt trong khuôn viên của khu quân sự, nên dân chúng không
thể lui tới tham quan được.
Thiết
nghĩ, chùa Cây Mai là một di tích, thắng cảnh nổi tiếng
của Sài Gòn-Gia Định, vì thế, chính quyền Thành phố và
Bộ Quốc phòng nên giao lại cho Giáo hội Phật giáo Việt
Nam, mà đại diện là Thành hội Phật giáo để trùng tu, khôi
phục lại cảnh thiền môn, cho thiện nam tín nữ lui tới hành
hương và thu hút du khách đến thưởng lãm. Mong thay!
(1)
Trịnh Hoài Đức, Gia Định Thành thông chí (Tu Trai Nguyễn
Tạo dịch), Nha Văn hoá phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn
hóa xuất bản 1972, tập thượng, tr. 37-38.
(2)
Thiên nữ là thần Thiên Nữ; Tán hoa là rải hoa. Kinh Duy Ma
chép: Giữa hội có thần Thiên nữ lấy hoa trời rải lên
mình các vị Bồ tát, hoa đều rơi rớt đi cả. Khi rải đến
một vị đệ tử lớn thì hoa dính vào mình của đệ tử
ấy. Thiên nữ nói: đó là vì kiết tập chưa giải hết, nên
hoa dính vào mình (Tu Trai Nguyễn Tạo chú giải).
(3)
Từ Nguyên chép: Tại đền thờ Hậu thổ ở Dương Châu có
một cây hoa quỳnh, tương truyền do người đời Đường trồng,
qua đời Tống có làm quán Phồn Ly và đình Vô Song ở bên
cây quỳnh. Vua Nhân Tông đến, cho bứng cây quỳnh ấy về
trồng trong vườn cấm, hơn một năm thì cây quỳnh khô héo,
bèn đem trả lại Dương Châu thì cây quỳnh sống lại (Tu
Trai Nguyễn Tạo chú giải).
(4)
Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Lục
tỉnh Nam Việt (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch), Nha Văn hóa Phủ
Quốc gia Giáo dục Sài Gòn xuất bản 1959, tập thượng, tr.
81-82; và Đại Nam nhất thống chí, Phạm Trọng Điềm dịch,
NXB Thuận Hoá Huế 1992, tập V, tr. 237-238.
(5),
(6) Nguyễn Thị Thanh Xuân - Nguyễn Khuê - Trần Khuê, Sài Gòn
Gia Định qua thơ văn xưa, NXB Tổng Hợp TP. HCM, 1987, tr. 87-88;
337-338.
ĐI
CHỢ HOA TƯƠI ĐẦU MỐI...
Nguyễn
Ngọc Quý
Nói
đến chợ hoa tươi đầu mối Sài Gòn là nói đến chợ hoa
Hồ Thị Kỷ, quận 10. Theo thói quen, người ta thường lấy
tên đường làm tên chợ. Chợ được mọc lên một cách tự
phát ở khu dân cư, có lẽ cũng đã nhiều năm rồi. Các quầy
hoa ở đây chủ yếu là do tận dụng mặt tiền nhà ở, và
được nới rộng thêm bởi những cọc tre, bạt nhựa... Hoa
mới đưa về được bó thành từng bó lớn, xếp thành đống,
hoặc đóng thùng. Hoa hoa bán lẻ được cắm trong những chiếc
chậu nhựa to, nhỏ đủ màu, trông có vẻ manh mún, nhỏ lẻ.
Tuy diện tích của chợ không lớn lắm, chỉ rảo 15 phút là
hết chợ, nhưng cứ nhìn những chuyến ô tô nối nhau chở
hoa về, và hoa nhanh chóng được tủa đi khắp, thì biết đây
vẫn là chợ hoa đầu mối quen thuộc của những cửa hàng
hoa, những người bán buôn, bán lẻ hoa tại các chợ khác
nhau trong thành phố.
Chủng
loại hoa ở đây khá đa dạng, tuy nhiên chủ yếu vẫn là
hoa cúc, vạn thọ, huệ, lan, dơn, hồng, ly, cẩm chướng, đồng
tiền, sen, lan..., và các loại hoa, lá dùng để cắm điểm
như hoa bi, thạch thảo, sa-lem, lá đinh lăng, dương sỉ...
Chợ
đông vào buổi sáng và vắng dần vào buổi trưa, nhưng đến
chiều tối là đông trở lại, vì tùy theo từng giờ trong
ngày mà hoa từ miền Tây, Đà Lạt, Hà Nội... đổ về. Theo
những người bán buôn ở đây cho biết, hoa Đà Lạt lớn,
màu sắc đẹp và phong phú, nhất là các loại cúc (đủ loại,
đủ màu), nên được người ta quen mua. Nhưng cũng tùy theo
đối tượng, ví dụ hoa dùng để cúng như huệ, thì những
người bán lẻ tại các chợ vẫn thích huệ ở các tỉnh
miền Tây hơn, đặc biệt là huệ Long An, Bình Chánh, vì nó
nở đẹp và rất thơm nên dễ bán. Những người thỉnh thoảng
mới đi chợ hoa thì cũng khó phân biệt được hoa nào đến
từ Đà Lạt và hoa nào đến từ miền Tây.
Vào
các ngày rằm, mùng một, đặc biệt là các dịp lễ lớn
của Phật giáo như: Phật Đản, Vu Lan, Rằm tháng Mười, Tết,
Rằm tháng Giêng (10-12 giờ khuya ngày 14, 3-5 giờ sáng ngày
15), chợ hoa khá đông, người ta chen chân nhau để mua hoa.
Những người bán buôn, bán lẻ chờ hoa về từ rất sớm,
có khi họ phải thức trắng đêm mới mua được hoa mới;
sau đó lại hối hả chuyển đến các chợ cho kịp. Những
dịp này, tiêu thụ chủ yếu vẫn là các loại hoa cúng như
huệ, dơn, cúc... Nhiều chùa trong thành phố cũng tìm đến
đây để mua hoa với số lượng lớn nhằm tiết kiệm phần
nào chi phí. Còn các ngày lễ ngoài tôn giáo như 14/2, 8/3, 20/11...
hoa cũng được bán rất nhiều nhưng chủ yếu là hoa hồng.
Như vậy mùa vụ của những người kinh doanh hoa cũng được
chia ra rất rõ, đó là thời điểm tiêu thụ hoa cúng và hoa
tặng. Các chủ trang trại cũng nắm được đặc điểm này
mà cung ứng, và hoa vẫn được bán với giá vừa phải, chỉ
trừ bị mất mùa do thời tiết, sâu bệnh là người người
mua phải chịu giá cao gấp mấy lần, nhiều khi không đủ
hoa để cung cấp cho thị trường.
Có
điều, người mua hoa không phải cứ đến chợ hoa đầu mối
vào bất cứ lúc nào là có thể mua được hoa với giá rẻ.
Hoa từ các tỉnh được trở về, bán trực tiếp cho các chủ
buôn hoa lớn, sau đó lại được phân phối đến các quầy
hoa nhỏ hơn ở đây, rồi hoa lại được những người bán
buôn, bán lẻ hoa tại các chợ khác mua lại. Mức giá sau mỗi
lần qua tay đương nhiên là khác nhau. Và ở đây, người bán
cũng hay quen nói thách, cùng một loại hoa, nhưng quầy trước
và quầy sau là hai cái giá khác nhau, có khi cách biệt cả
một nửa tiền. Để ý sẽ thấy, hoa được chia làm 3 loại:
1, 2, 3; hoa mới, hoa được 2,3 ngày, hoa cũ. Cả ba loại đều
bó 100 bông, hoặc 50 bông. Khách không quen mua có thể mua nhầm
bông loại 2,3 với giá của bông loại 1... Về đến nhà, khi
giở ra, người mua sẽ thấy ngay: nhiều bông đã bị héo,
bông to, bông nhỏ, bông dài, bông ngắn, thậm chí bông không
có cuống. Với nhiều cửa hàng cắm hoa, họ lại thích mua
bông loại 2, 3, miễn là hoa còn tươi, mới chuyển về, còn
dài ngắn, thì đằng nào khi cắm hoa giỏ họ cũng phải cắt
ngắn.
Hoa
cũng được xem là một mặt hàng khá xa xỉ, nên nhiều lúc
được đẩy lên với cái giá cao chót vót. Cùng là huệ, ngày
thường, chỉ phải mua với giá 120.000đ đến 150.000đ (có
khi chỉ 80.000đ) một trăm bông, nhưng đến ngày tết thì chỉ
mua được 10-20 bông. Các hoa như cúc, cẩm chướng dao động
từ 30-40 đến 70-80 ngàn một bó 100 bông (có khi 50 bông). Hoa
sen từ 120.000đ đến 300.000đ một trăm bông (tùy thuộc vào
người mua là ai). Với giá cá như vậy, rất khó để người
mua cảm nhận được công vun bón, chăm tỉa của người trồng
hoa. Nhưng trong cuộc sống, mỗi nghề nghiệp đều có trăm
cách mua, trăm cách bán, trăm cách sống với nghề... Nhìn những
người nghèo đi quanh chợ, hỏi giá và mua được vào bó thọ
về cúng ông bà tổ tiên trong dịp lễ tết, mới thấy, dù
thế nào hoa cũng không thể thiếu trong cuộc sống vui buồn
của đời người. Chợt nhớ đến những ngày xa xưa, với
những gánh hàng hoa duyên dáng của những mẹ những chị nơi
đường làng: họ mang hoa đi là mang cái đẹp ấm áp đến
cho mọi người, mọi nhà, và lời lãi chỉ vừa đủ để
thưởng cho cái công chăm sóc, vun trồng...
ĐẠI
SƯ KHUÔNG VIỆT
(933
- 1011)
Phước
Cảnh
Đại
sư Khuông Việt, một tôn hiệu cao quý mà vua Đinh Tiên Hoàng
xưng tụng Thiền sư Ngô Chân Lưu, truyền pháp đời thứ 4
dòng thiền Vô Ngôn Thông, vị Tăng thống đầu tiên trong lịch
sử Phật giáo Việt Nam, một gương mặt ngoại giao tiêu biểu,
có nhiều đóng góp cho buổi đầu của nền độc lập dân
tộc: Bậc Đại sư khuông phò nước Việt.
Đường
Khuông Việt hiện nằm trên địa bàn quận Tân Phú, TP. HCM,
là một con đường khá lớn, kéo dài từ đại lộ Hòa Bình
(Q.11) đến đại lộ Âu Cơ (Q. Tân Bình). Và có lẽ đây là
con đường duy nhất trên đất nước ta được mang tên Đại
sư Khuông Việt, mặc dù cố đô Hoa Lư mới là nơi Đại sư
gắn bó trong suốt mấy mươi năm hành đạo và giúp vua trị
nước.
Sách
Thiền uyển tập anh cũng như các bộ chính sử nước ta còn
ghi lại rằng: Đại sư họ Ngô (hậu duệ của Ngô Quyền),
người làng Cát Lợi, huyện Thường Lạc, dung mạo khôi ngô,
tính tình phóng khoáng. Tuổi nhỏ theo Nho học, lớn lên quy
y Phật, thọ cụ túc giới với Thiền sư Vân Phong ở chùa
Khai Quốc, và từ đó, sư đọc khắp trăm luận, tỏ ngộ
yếu chỉ Thiền tông. Năm 40 tuổi, uy danh Đại sư đã vang
tận triều đình. Vua Đinh Tiên Hoàng nghe tiếng liền thỉnh
sư vào triều tham vấn quốc sự, phong làm Tăng thống và tôn
xưng là Khuông Việt Đại sư.
Dưới
thời Tiền Lê, Hoàng đế Lê Đại Hành lại càng kính mộ
sư hơn. Phàm là quốc gia đai sự, từ việc quân cho đến
việc nước, vua đều thỉnh sư vào triều để tham vấn.
Theo
Đại Việt sử ký toàn thư, vào niên hiệu Thiên Phúc thứ
7 (986), tại cố đô Hoa Lư, Đại sư Khuông Việt chính là
người đã thay mặt vua Lê Đại Hành tiếp đoàn phái bộ
ngoại giao nhà Tống do Lý Giác dẫn đầu. Và bài Vương Lang
quy từ - một từ khúc ngoại giao nổi tiếng, với lời lẽ
hết sức mềm mỏng, khéo léo nhưng lại rất cương nghị,
đã được Đại sư ứng tác trong dịp này để tiễn đưa
Lý Giác trở về:
"Trời
trong gió nhẹ cánh buồm giương
Thần
tiên về đế hương
Vượt
sóng xanh muôn dặm trùng dương
Về
trời xa dặm trường,
Tình
thắm thiết
Chén
lên đường
Vin
xe sứ vấn vương
Mong
đem thâm ý vì Nam cương
Tâu
vua ông tỏ tường".
(Tường
quang phong hảo cẩm phàm trương
Thần
tiên phục đế hương
Thiên
trùng vạn lý thiệp thương lang
Cửu
thiên quy lộ trường
Tình
thảm thiết, đối ly trường
Phan
luyến sứ tinh lang
Nguyện
tương thâm ý vị Nam cương
Phân
minh báo ngã hoàng).
Lê
Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, khi đọc đến từ khúc
này đã không khỏi ngỡ ngàng thốt lên: “Văn từ nõn nà
tưởng có thể vốc được”. Và ông đã cảm thán bằng
hai câu thơ rằng:
“Chân
Lưu tài từ
Trứ
xưng nhất thời”.
Về
sau, trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú không
chỉ hết lời ca ngợi từ khúc này như một giai điệu mượt
mà, cao nhã mà còn xem nó có giá trị rất lớn về mặt tư
tưởng, về lòng tự tôn dân tộc: “Khúc hát hay cũng đủ
khoe có nhân tài, mà quốc thể thêm được tôn trọng, làm
cho người Bắc phải khuất phục”.
Cho
đến hôm nay, Vương lang quy từ của Đại sư Khuông Việt
đã tròn 1020 tuổi (986-2006). Đó không chỉ là một văn bản
ngoại giao sớm nhất trong lịch sử bang giao giữa nước ta
và Trung Quốc hiện còn bảo lưu được, mà còn được xem
là một từ khúc mẫu mực, một viên ngọc sáng trong lịch
sử văn học Việt Nam trung đại.
Vào
những năm cuối đời, Đại sư Khuông Việt về lập chùa
dạy học trò tại núi Du Hý (Vĩnh Phúc), môn đồ theo học
rất đông. Đến ngày Rằm tháng Hai năm Thuận Thiên thứ 2
(1011) thời nhà Lý, nhằm ngày Đức Thích Ca nhập Niết bàn,
sư gọi đệ tử Đa Bảo đến dặn dò, đọc bài kệ, xong
sư ngồi kiết già an nhiên thị tịch, thọ 82 tuổi.
07
Bức tranh “Vô thường” của Bửu Chỉ (Võ Xuân Hân)
Đang
Đánh Máy
NHỮNG LẦN
UỐNG TRÀ ĐÁNG NHỚ
TRÊN
ĐẤT TRUNG HOA
(tiếp
theo VHPG số 12 và hết)
Trần
Đức Tuấn
TRÊN
MặtT NHĨ HẢI HỒ
Chiếc
du thuyền khổng lồ, sang trọng mang tên "Trà Hạm" chứa trong
lòng nó gần 500 du khách, lướt nhẹ trên mặt hồ Nhĩ Hải
cao hơn mặt biển gần 2.000m, dài 42km, dưới chân núi Thương
Sơn cao hơn 4.000m, nơi bắt nguồn của dòng sông Hồng Hà chảy
qua Hà Nội. Giữa bờ hồ và dãy núi là Kinh thành Đại Lý
xưa của Vương quốc Nam Chiếu, nơi trị vì của anh em Đoàn
Chính Thuần được Kim Dung nhắc tới trong tiểu thuyết võ
hiệp Thiên Long Bát Bộ. Từ trên tàu nhìn vào phía thành cổ
Đại Lý, ba ngọn tháp cổ cao ngất, thon thả, tuyệt mỹ,
theo phong cách kiến trúc điển hình đời Đường vàng rực,
nổi bật trên nền Thương Sơn hùng vĩ, xanh thẳm. Đó chính
là thắng cảnh Tam Tháp Sùng Thánh Tự nổi tiếng của Trung
Hoa mà trong bộ phim Thiên Long Bát Bộ, do Trung Quốc sản xuất,
ta thấy rất rõ cả chùa và tháp, trong trường đoạn Quốc
vương nước Nam Chiếu từ bỏ ngai vàng tới tu ở Thiên Long
Tự. Ngoài Thương Sơn ra, Nhĩ Hải Hồ còn được bao bọc
bằng các khối núi đồ sộ khác, tạo nên một phong cảnh
sơn thuỷ cực kỳ thơ mộng. Thỉnh thoảng con tàu lãng du
lại ghé thăm một hòn đảo để viễn khách vãng cảnh chùa,
có cảm giác như đang lạc vào một chốn bồng lai.
Có
thể nói, Vân Nam là tỉnh có phong cảnh thiên nhiên đẹp nhất
Trung Quốc, còn Thương Sơn Nhĩ Hải chính là đệ nhất cảnh
quan của mảnh đất cẩm tú này. Đây là xứ sở của người
Bạch, một tộc người sơn cước có nền văn hoá rất đặc
sắc, đồng thời là những cư dân sành điệu trong nghệ thuật
trà đạo của nước này.
Trên
con tàu du lịch tráng lệ, giữa cảnh trời mây non nước bao
la, chúng tôi đã có một cuộc trà không thể nào quên. Đó
là lần thưởng thức Vân Nam Bạch Tộc Trà trên mặt hồ
Nhĩ Hải. Các cô gái Bạch xinh đẹp với trang phục truyền
thống dâng trà mời khách trong nhạc phòng đồng thời cũng
là trà phòng, bởi tại đây người ta đang trình diễn những
điệu dân vũ Bạch tộc của vùng Thương Sơn Nhĩ Hải phục
vụ khách dùng trà. Trong khung cảnh bồng bềnh như đi trong
cõi mộng đó, du khách lần lượt được thưởng thức từng
ly trà nóng thơm phức, chuyển dần từ đắng sang dịu, rồi
ngọt, nhâm nhi cùng loại kẹo thơm truyền thống của người
Bạch ở Thương Sơn. Chính cái chốn Bồng Lai di động trong
cõi Thiên Thai này đã góp phần tôn vinh nghệ thuật trà đạo
của người Bạch qua cảm giác hư ảo kỳ thú mà ẩm khách
cảm nhận được bên áng hương trà…
TRÊN
BỜ HỒ HUYỀN VŨ
Nam
Kinh nằm ở hữu ngạn Trường Giang. Đây là một trong những
Kinh đô lừng lẫy nhất của các triều đại Trung Hoa. Kinh
thành xưa có những địa danh nổi tiếng gắn với nhiều áng
thơ Đường bất hủ như bến Tần Hoài, cầu Chu Tước, ngõ
Ô Y ..., vân vân.
Nước
lồng khói toả cát trăng pha
Đậu
bến Tần Hoài cận tửu gia
Con
hát biết chi hờn mất nước,
Cách
sông còn hát “Hậu Đình Hoa”!
(Bạc
Tần Hoài - Đỗ Mục)
Bên
cầu Chu Tước cỏ hoa
Ô
Y đầu ngõ bóng tà tà dương
Yến
xưa đài các Tạ, Vương
Bay
về đậu chốn tầm thường dân gia.
(Ô
Y Hạng - Lưu Vũ Tích)
Lê
thê đôi điều vừa kể chỉ là để nói lên rằng, cố đô
xưa vốn là mảnh đất văn nhân, là chốn tao phùng của nhiều
bậc tài hoa, cũng là miền đất mà nghệ thuật trà đạo
Trung Hoa đạt tới đỉnh cao của cự thăng hoa trong lịch sử.
Thành
phố bên bờ sông Dương Tử có một thắng cảnh tuyệt vời.
Đó là Hồ Huyền Vũ thơ mộng, mênh mông, diễm lệ, ngàn
năm soi bóng Tử Kim Sơn hùng vĩ. Huyền Vũ Hồ nằm rất gần
sông Trường Giang, giống như Lục Thuỷ Hồ (tức Hồ Gươm)
nằm gần sông Hồng Hà vậy. Nếu như Hàng Châu có Tây Hồ,
Tô Châu và Vô Tích có Thái Hồ, Đại Lý có Nhĩ Hải Hồ
thì Nam Kinh có Huyền Vũ Hồ. Đó chính là chuỗi ngọc lung
linh thần tiên của miền đất Trung Hoa được ví như chốn
Thiên Thai nơi hạ giới.
Một
chiều mưa phùn gió nhẹ, tôi và một người bạn lang thang
trên bờ hồ Huyền Vũ, ngắm nhìn mặt nước mênh mông soi
bóng các thành quách lâu đài và những dãy núi hùng vĩ, miên
man suy nghĩ rồi lạc bước vào một trà quán thuỷ tạ xây
lấn ra mặt nước hồ. Thì ra đây là Bích Loa Xuân Trà quán
được nhiều người hâm mộ. Bích Loa Xuân thực ra là tên
một loại đại danh trà nổi tiếng của miền Giang Nam Trung
Hoa. Càn Long đời nhà Thanh rất mê loại trà này, nên mỗi
lần tuần du Giang Nam bao giờ ông cũng thưởng thức trà Bích
Loa Xuân ngay tại miền đất sản sinh ra nó. Bích Loa Xuân có
nghĩa là trà xuân màu xanh hình con ốc. Loại trà này thu hoạch
vào mùa Xuân, những búp lá non được cuốn lại theo hình
con ốc, nước uống rất đượm, có màu xanh, hương thơm thoảng
mát dễ chịu.
Ngồi
dưới mái hiên trên mặt nước hồ, ngắm nhìn cảnh vật
mơ màng, qua làn mưa bụi, thưởng thức danh trà Trung Hoa tại
chính Kinh thành xưa của Minh Thái Tổ để nghĩ về trà đạo,
về nền văn hoá phương Đông, về chuyện đời, về chuyện
nhân tình thế thái quả là một dịp hiếm có trong đời.
Chúng tôi không thuộc dân sành điệu về trà nhưng đã thường
xuyên uống trà gần cả nửa thế kỷ, nên những cuộc trà
tình cờ trên đất khách như thế này thường là cơ hội
tuyệt vời cho sự đàm đạo. Trong cái lan man vô định đầy
hứng thú ở chốn tha hương đó, người ta thường nghĩ tới
quê nhà. Và thế rồi, đề tài trà đạo Việt Nam dần dần
xâm chiếm toàn bộ câu chuyện.
Về
mặt truyền thống, chúng ta là một điểm son trên bản đồn
lịch sử văn hoá trà thế giới. Từ hàng chục thế kỷ nay,
ấm trà, ly trà Việt Nam đã trở thành một phần hữu cơ
trong văn hoá giao tiếp, trong tình cảm con người, trong cách
đối nhân xử thế, trong tâm hồn và thói quen tư duy của
người Việt. Hiện chúng ta là 1 trong 9 đại cường quốc
trà của thế giới, cung cấp cho thị trường trà của 50 quốc
gia và được công nhận là một trong những cái nôi của trà
trên trái đất. Đối với người Việt, uống trà không chỉ
đơn thuần là thưởng thức hương vị, mà cao hơn, còn là
sự tận hưởng niềm hứng thú bởi bối cảnh thiên nhiên,
bởi tình trạng tâm lý và cả cơ hội tư duy mà cuộc trà
đem lại. Cuộc trà không chỉ đem lại thú vui ẩm thực, bởi
đằng sau vị đắng ngọt của ly trà còn có cả vị đời,
cũng đắng ngọt, êm đềm, cũng chua cay không kém. Nghệ thuật
trà đạo Việt Nam ít khoa trương mà thẩm thấu, ít cầu kỳ
mà sâu sắc, nó lặng lẽ đi vào chốn sâu thẳm của lòng
người. Hãy nghe một nhà Thơ Việt Nam tâm sự:
Hương
biếc tràn quanh nắp đậy hờ
Ấm
sành nho nhỏ khói lên tơ
Hồn
sen thoảng ngát trà dâng đượm
Ai
biết mình sen rụng xác xơ?
Hoa
sống trong bùn thuở trước đây
Lầu
son giam kín nụ vàng hây
Dễ
đâu bướm thoả lòng khao khát
Trinh
bạch toàn thân kiếp đoạ đày.
…
Nâng
chén mời anh thưởng vị trà
Đừng
quên tan tác mấy đời hoa
Cạn
từng hớp nhỏ cho sen đượm
Vớt
lại trần ai một chút Ta…
Lại
xin trở về với trà đạo Trung Hoa. Trong lịch sử xa xưa,
nước này đã có cả một cuốn sách nói về trà, đó là
cuốn Trà Kinh, tức kinh thư về trà do Lục Vũ viết vào thế
kỷ thứ VIII. Trong cuốn sách đó, tác giả đã trình bày chi
tiết về trà đạo, như cách pha trà, nước dùng để pha,
cách đun nước và nhiệt độ nước tối ưu cần có, cách
giữ cho hương vị đậm đà bằng việc điều chỉnh nhiệt
độ sau lúc pha...vân vân. Lịch sử trà đạo Trung Hoa trải
qua 3 thời kỳ: Từ cổ cho tới thời Tuỳ, Đường, người
Trung Hoa quen dùng loại trà khô đóng bánh. Đến đời Tống
họ lại thích dùng trà bột. Từ Minh, Thanh tới nay thì trà
búp lá được ưa dùng. Hiện các đô thị ở Trung Hoa có rất
nhiều quán trà hiện đại, sang trọng với hình thức pha chế
phục vụ rất phong phú. Tuy nhiên, khách viễn du tới đây
thường có xu hướng tìm tới những quán trà theo phong cách
đời Đường, bởi nó rất cầu kỳ và tinh tế. Dù bất cứ
phong cách nào thì bí quyết thưởng thức trà trước sau cũng
không thể thiếu được phần “bình trà”, tức đàm luận
về triết lý trà đạo, về nhân sinh quan, biến chuyện đời
thành một phần không thể thiếu của cuộc trà. Và chỉ khi
đó ta mới cảm nhận hết được cái thi vị của thú chơi
tao nhã này.
ĐIỀU
PHIỀN NÃO THỨ 84
Nhị
Tường dịch
“Bạn
không thể tránh được sự phiền não. Tránh ở đâu bây giờ?”(Uncle
Remus)
Bạn
sẽ làm gì khi cuộc sống trao cho bạn những phiền toái không
thể ngờ? Khi những dự tính không theo ý muốn? Bạn có chấp
nhận nó như là thực tế của cuộc sống và hiểu cuộc sống
thỉnh thoảng là như vậy? Hay là, bạn sẽ bắt đầu phàn
nàn về tất cả những bất công ấy? Có lẽ bạn sẽ giống
một bác nông dân nọ trong quá trình gắng sức tìm cách tránh
né những điều phiền não đã tìm thấy lời khuyên của Phật.
Câu
chuyện ấy nói về một bác nông dân luôn phàn nàn. Bác kể
với Phật rằng cuộc sống của bác khó khăn làm sao.Nào là
thời tiết dường như chẳng bao giờ thuận theo ý muốn của
bác, khi thì hạn hán, khi thì lũ lụt, làm cho mùa màng thường
thất bát. Bà vợ của bác cũng thế, dù là một phụ nữ
tử tế, nhưng cứ càm ràm bác hoài, và gần đây thì lũ trẻ
lại tỏ ra vô ơn với những gì bác đã làm cho chúng. Hơn
nữa, những người hàng xóm thì cứ ngồi lê đôi mách và
chọc mũi vào công việc của bác.
Bác
nông dân kết thúc một loạt những phàn nàn, ngước nhìn
Phật mong ngài giúp cho một giải pháp. Và thật ngạc nhiên
khi nghe Phật nói không thể giúp gì cho bác. Theo ngài thì chúng
sanh có 83 điều phiền não và cuộc sống diễn ra như thế.
Trong khi mình đang gắng sức giải quyết những phiền não
này, thì những phiền não khác lại nảy sinh.
Nghe
những điều này, bác nông dân càng khó chịu hơn, bác hỏi:
“Vậy có điều gì hay ho trong những lời giáo huấn của
ngài?”. Phật đáp “Giáo pháp của ta không giúp ông giải
quyết được 83 điều phiền não, nhưng có thể giải quyết
điều phiền não thứ 84”. “Đó là gì thưa ngài?!”, bác
nông dân hỏi. Phật nói: “Điều phiền não thứ 84 là ông
không muốn có bất kỳ một phiền não nào”.
Điều
này không lạ lùng gì phải không? Bạn có trải qua điều
phiền não thứ 84 này và tự làm mình khốn đốn hơn là thực
chất của những phiền não bạn đang có không? Nếu vậy thì
một tin vui cho bạn là phiền não này có thể giải quyết
được đấy. Tất cả mọi điều bạn có thể làm là học
cách chấp nhận cuộc sống như chính nó vốn có, khó khăn
và tất thảy.
Chấp
nhận cuộc sống có những phiền não không có nghĩa là buông
trôi trong tuyệt vọng. Mà đơn giản hãy quán rằng, đã là
loài hữu tình thì không thể tránh được những nỗi khổ
và đó là chuyện rất thường. Thực sự, ngay cả những người
“vinh hoa phú quí” mà chúng ta tưởng tượng cũng gặp đầy
những phiền não mà cuộc sống trao cho, chúng ta nhận ra được
điều đó khi có một bi kịch giáng xuống họ. Lúc đó chúng
ta ngạc nhiên rằng, sao mà họ giống chúng ta đến thế.
Phiền não đó cảm hóa họ, và chúng ta thấy rằng mọi người
đều giống nhau trong cuộc chơi này.
Một
khi chúng ta chấp nhận tính tất yếu của phiền não, cái
thách thức chính là cứ tiếp tục bận tâm đến những phiền
não mà ta có. Sự tồn tại tất yếu của những phiền não
không có nghĩa là có một số phiền não không thể giải quyết,
và chúng không bao giờ buông tha.
Lần
sau, nếu bạn đang u buồn với những phiền não của cuộc
sống, hãy nhớ đến điều phiền não thứ 84. Chấp nhận
rằng cuộc sống luôn có những phiền não, tức bạn đã loại
bỏ đi bớt một điều phiền não phải đương đầu rồi
Nhị
Tường dịch
(Theo
Những bài học cho cuộc sống)