.
.SỐ 13 -THÁNG 2, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 13-THÁNG 2, 2006

 


KHOẢNG TRỐNG VĂN HÓA
Thảo Vy

Văn Quyến, một cậu bé vừa rời làng quê đã được đưa thẳng vào đấu trường bóng đá, không lâu sau trở thành một ngôi sao sáng của nền bóng đá Việt Nam. Và người ta nghĩ rằng, anh sinh ra là để dành cho những trận đấu lớn, thế nhưng trong trận đấu lớn nhất - trận đấu tìm hạnh phúc cho mình - anh lại đang vấp ngã. Mọi người đều bàng hoàng về vụ án bán độ đang diễn ra. 

Tất cả đều thấy nơi các cầu thủ một sự khiếm khuyết về văn hóa, hay “khoảng trống văn hóa”, như một nhà bình luận bóng đá đã viết. 

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBTDTT Nguyễn Danh Thái, đã có một số ý kiến đánh giá. Ông nêu lên bốn nguyên nhân tạo ra "khoảng trống văn hóa" đó: (1). bệnh thành tích; (2). chưa chú trọng công tác giáo dục các cầu thủ về chính trị, tư tưởng, đạo đức; (3). công tác quản lý yếu kém; (4). nhân sự, huấn luyện viên yếu kém. “Bức tâm thư” này đã được đón nhận một cách không tích cực, bởi chỉ riêng mỗi việc mô tả "khoảng trống văn hóa" ấy thôi cũng đã là một câu chuyện dài nhiều tập.

Phó Chủ tịch LĐBĐ Việt Nam Vũ Quang Vinh khi nghe tin vụ án đã tiếc nuối:"Giá như cầu thủ của mình học cao hơn trình độ hiện tại thì có thể không dẫn đến chuyện tày trời này” (Báo Thanh Niên, ngày 18-12-2005). “Có thể” nghĩa là không chắc chắn. 

HLV. Riedl cũng nói: "Tôi không dám khẳng định là nếu học vấn cao con người ta sẽ có văn hóa hay đạo đức hơn, nhưng tôi tin, những cầu thủ dính vào chuyện tiêu cực này, nếu có trình độ thì rất có thể họ sẽ suy nghĩ khác, hành động khác". "Không dám khẳng định" cũng có nghĩa là không chắc chắn. 

Thực tế, trong vụ án tế bào mầm đang diễn ra ở Hàn Quốc, chúng ta thấy một người có danh hiệu khoa học gia cấp cao như Giáo sư  Hwang Woo-Suk cũng vẫn giả mạo về kết quả nghiên cứu. Vậy thì học vấn cao không phải là lý do chính cho việc có đạo đức. Câu hỏi đặt ra là: yếu tố nào trong việc dạy dỗ ở nhà trường sẽ làm cho các cầu thủ trở thành những người “được giáo dục đến nơi đến chốn”? Phương thức giáo dục các yếu tố đó cho các cầu thủ như thế nào?

 Mọi sự giáo dục đều phải được bắt đầu từ lòng tin (tín) vào cái đúng, cái tốt. Lòng tin vốn được ví như  ngọc châu thanh thủy, có công năng làm nước đục trong trở lại. Viên ngọc lòng tin ở trong nhận thức làm cho người ta chấp nhận các lời dạy bảo và có thể ngăn ngừa nhiều điều sai xấu. 

Đa số lãnh đạo nghành TDTT và Huấn luyện viên, ngay cả những người mong muốn sự trung thực, cũng “tin” rằng, làm “bóng đá sạch” là sẽ chịu thiệt thòi, hy sinh,  chịu sức ép của cả “búa” lẫn “đe”. Hiện trạng đó cũng cho thấy rằng, dường như thành tích chỉ có thể tạo ra từ những điều gian lận, và rằng nếu khéo léo che dấu thì chắc chắn sẽ “hạ cánh an toàn”. Có rất nhiều người hôm trước thì “đau lòng” trước sự sa ngã của cầu thủ, hôm sau đã bị cơ quan điều tra phát hiện ra họ là một trong các nguyên nhân làm cầu thủ sa ngã! Nếu làm điều đúng tốt có thể có kết quả xấu, làm điều sai xấu vẫn có được kết quả tốt, nghĩa là luật nhân quả bị đảo ngược, thì chúng ta không thể tạo lòng tin cho cầu thủ được.

Câu lạc bộ Sông Lam Nghệ An là một ví dụ. Để đạt được vinh quang một cách nhanh chóng, trong bối cảnh bóng đá Việt Nam có nhiều tiêu cực, một số quan chức của Câu lạc bộ này đã nóng vội trong việc ngụy tạo ra các thành tích bằng những phương pháp sai xấu. Nổi cộm hơn cả là việc chi tiền để mua chức vô địch trong mùa bóng ở đầu thiên niên kỷ. Tất cả là vì vinh quang của bóng đá Nghệ An. Thành tích thì đã như ý nguyện của một số nhà lãnh đạo, nhưng hậu quả của nó thật là to lớn. Các cầu thủ trẻ mặc dù được hưởng lợi từ những thành tích ấy nhưng lại không còn coi trọng những người thầy của họ nữa. Tâm hồn họ trở nên hoang vu. Đây thực sự là khoảng trống “chết người” về văn hóa.

Trong thâm tâm, mỗi cầu thủ đều cho rằng, để đạt được kết quả đỉnh cao cần phải có "các yếu tố khác", nên sự tự tin vào năng lực của mình bị đánh mất, và vì thế mà sự phấn đấu cho nghề nghiệp cũng không cao. Các nhược điểm ấy được đem nguyên vẹn lên đội tuyển quốc gia, đến nỗi ông Riedl phàn nàn rằng, không biết cầu thủ Việt Nam được giáo dục cơ bản thế nào mà nhiều lời ông nói chỉ như nước đổ đầu vịt. 

Việc xa lánh điều sai xấu có quá trình tự nhiên của nó: đầu tiên, con người ta phải nhận thức được diễn trình của các cám dỗ, nhận thức được hương vị ngọt ngào của các cám dỗ; kế đến phải nhận thức được những điều nguy hiểm của cám dỗ; và cuối cùng, phải có biện pháp thích hợp để xa lìa những điều cám dỗ. 

Văn Quyến trước khi rời khỏi làng quê của mình, anh chưa bao giờ thấy được hương vị ngọt ngào của danh và lợi. Năm 16 tuổi đã là cầu thủ xuất sắc nhất vòng chung kết U-16 của châu Á. Năm 19 tuổi đoạt danh hiệu Quả bóng vàng 2003. Thu nhập do quảng cáo của anh đạt mức 1 tỉ đồng một năm. Như vậy, danh và lợi đã đến quá nhanh chóng. Anh không kịp nhận thức các nguy hiểm của cám dỗ, không nhận được những cảnh báo cẩn thận, không được giáo dục nghiêm khắc một cách đúng mức thì đã rơi vào những cạm bẫy. 

Văn Quyến, Quốc Vượng đã tham gia vào đường dây bán độ - chuyện này nằm ngoài ý muốn của lãnh đạo TDTT Nghệ An. Những người có trách nhiệm trong việc mua chức vô địch cho SLNA năm 2000-2001 đã “hạ cánh an toàn”. Tuy nhiên, "cái nhân" họ gây ra đã biến dị khôn lường, phát triển tiếp cho tới "cái quả" bán độ tại Sea Games 23. 

Người ta sẽ không dễ sa ngã nếu như nhận thức được sự nguy hại trong các hành vi của mình. Nếu có những ràng buộc nghiêm khắc hơn, có lẽ Văn Quyến đã không bị sa ngã. HLV Riedl có nhắc lại một kinh nghiệm: “Sau khi tập, áo cầu thủ đẫm mồ hôi, tôi nhắc đi nhắc lại là phải thay không thì ốm, nhưng chỉ khi tôi ra lệnh nếu ai không thực hiện sẽ bị phạt 20 USD thì lời đề nghị mới được chấp hành tử tế”. (Báo Thanh Niên, 18-12-2005). Trong cơ chế thị trường, các cầu thủ đã được lĩnh đồng lương rất cao (trên 6  triệu 1 tháng) nhưng lại được yêu cầu thấp. Với mức lương chỉ tròm trèm 1 triệu đồng, nhiều công nhân của ta phải chấp nhận tăng ca tới tối. Làm cho các công ty lớn của nước ngoài lương 600-700 USD cũng phải “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”. Những người cảnh sát hình sự với số lương không nhiều, nhưng đã phải dành gần như toàn bộ thời gian sống và cả tính mạng mình để giữ gìn sự yên ổn cho xã hội. Với mức lương chuyên nghiệp và mức thưởng như hiện nay, hoàn toàn công bằng nếu yêu cầu các cầu thủ phải giao phó toàn bộ thì giờ cho nghề nghiệp. Do đó, các quy định cho cầu thủ không chỉ giới hạn ở trong sân tập, nó còn phải hạn chế cả mặt hưởng thụ quá mức của cầu thủ ở ngoài xã hội. Chẳng hạn, trong thời hạn hợp đồng cấm đánh bạc, cấm dùng chất gây nghiện, cấm những trò chơi làm mụ mẫm đầu óc… không chỉ khi huấn luyện mà cả khi ở ngoài sân tập. Thực tế, tất cả các hành vi vừa đề cập đều làm giảm sút phong độ, ảnh hưởng đến thành tích của tập thể và dẫn đến những hành vi phạm pháp. 

Người ta cũng sẽ khó sa ngã, nếu như họ biết hổ thẹn và có tự trọng khi hành động. Việc đó chỉ có thể làm được nếu các cầu thủ nhận thức được những điều đúng tốt. Trong thời đại internet như hiện nay, lượng thông tin và độ phức tạp ngoài xã hội lớn gấp nhiều lần ở trong trường lớp và sân tập. Do đó vấn đề chú ý tới việc cầu thủ xử lý thời gian rỗi thế nào trở thành yếu tố cực kỳ quan trọng. Tăng cường học tập văn hóa cho cầu thủ là một cách định hướng cho việc hữu ích hóa thời gian trống.  Thực hiện các hoạt động xã hội, hoạt động từ thiện cũng là một giải pháp tích cực giúp các cầu thủ đáp ứng được mục tiêu đó. 

Cuối cùng, cần phải nhắc đến tác dụng giáo dục của các phương tiện truyền thông. Nó phải phát hiện, đề cao được phẩm chất tốt đẹp của các vận động viên để làm gương cho giới trẻ phấn đấu. Đồng thời nó cũng phải đóng vai trò cảnh báo sự xuống cấp về phẩm chất của họ. Sự tập trung khắc họa, ca ngợi sự vinh quang của các nhà vô địch, của những tài năng trẻ mà không chú ý nhiều đến các phẩm chất và quá trình rèn luyện của họ dễ làm tăng tính tự mãn, kiêu ngạo mà không làm tăng hai yếu tố biết hổ thẹn, biết sự nguy hại ở họ. Các biểu tượng này, do tác dụng rộng lớn của truyền thông lại trở thành thần tượng của nhiều bạn trẻ. Họ khâm phục tài năng của những người tạo ra thành tích, nhưng tác dụng giáo dục trong các thần tượng đó không cao. 

Sau khi vụ bán độ của các tuyển thủ bóng đá nam tại Sea Games 23 bị đổ vỡ, Báo Tuổi trẻ đã đăng một loạt bài về "chuyện đằng sau những tấm huy chương vàng" của các bộ môn khác. Những câu chuyện như thế, thực sự có tác dụng giáo dục rất lớn, là những tấm gương phấn đấu cho thế hệ trẻ.
 



ĐỐI THOẠI 
GIỮA NHÀ SƯ VÀ NHÀ TRIẾT HỌC
"Le moine et le philosophe"
Cao Huy Thuần dịch

Lời nói đầu: Hai tác giả của cuốn sách ghi ở trên là Jean-Fraçois Revel va Mathieu Ricard. Tác giả đầu là một triết gia Pháp có tiếng. Sách của ông còn được dịch ở Mỹ .Tác giả sau Mathieu Ricard, Tiến sĩ khoa học, trước đây là nghiên cứu gia ở viện Pasteur, từ bỏ tương lai sự nghiệp khoa học sáng chói, gọt tóc đi tu ở Tây Tạng từ hai mươi năm. Ông nhiều lần tháp tùng Ngài Đạt Lai Lạt Ma trong những dịp Ngài thăm viếng nước Pháp.  Jean-Fraçois Revel là bố. Mathieu Ricard là con. Hai bố con đối thoại với nhau trong cuốn "Le moine et le philosophe" (nhà Sư và nhà triết học) xuất bản đầu năm 1997 ở Pháp và vẫn còn là một trong những cuốn sách đắt khách nhất trong năm. Đối thoại trên 400 trang sách, mỗi người đứng trên lập trường của mình, không nhân nhượng, nhưng với lòng kính trọng của con, với lòng khâm phục của bố. Con đã làm bố khâm phục chân lý cao siêu mà con đã theo.

Mathieu Ricard: Chẳng có một sự vật gì là thường xuyên bất biến; lý vô thường vi tế nằm nơi mọi sự vật, chẳng một khoảnh khắc nào mà sự vật không thay đổi. Và bởi vì ý thức của ta do sự vật trước mắt mà khởi lên, hễ có bao nhiêu hiện trạng thay đổi của đối tượng vô thường trước mắt thì có bấy nhiêu khoảnh khắc thay đổi của ý thức. Tính vô thường xảy ra trong khoảnh khắc của mọi sự vật và của tư tưởng, dẫn ta đi rất xa: nó chứng minh rằng, trong thế giới hiện tượng, ví thử có một thực thể nào đó bất biến, thường còn, tự nó hiện hữu, thì ý thức của ta chắc sẽ "dính cứng" vào đó và cứ thế mà kéo dài ra bất tận. Và cứ thế, tất cả mọi ý thức trên đời này chắc sẽ bị thực thể nó "xí gạt" mà dính chặt hoài vào đó. Chính vì cái lý vô thường đó mà Phật giáo đã ví thế giới hiện tượng như một giấc mơ hay một huyễn tượng, hay như dòng nước chảy lúc nào cũng khác nhau và chẳng bao giờ ai nắm bắt được. Ngay cả những vật có vẻ sờ sờ ra đấy, cái bàn chẳng hạn, cũng thay đổi trong từng khoảnh khắc vô cùng nhỏ khởi lên do từng thay đổi vô cùng nhỏ của thế giới bên ngoài. Chỉ cái tổng hợp của những khoảnh khắc đó cho ta cái cảm giác có một thực thể thô sơ.

Jaen Francois Revel: Quan điểm này đối nghịch với một ý nghĩ chủ yếu của Plato. Nơi tất cả các triết gia Hy Lạp, nhưng đặc biệt là nơi Plato, người ta đều thấy ý nghĩ đó, ám ảnh đó: ý nghĩ rằng ta không thể thấu hiểu những gì đang biến chuyển, thay đổi. Đối với họ, bởi vì hiện tượng - trong ngôn ngữ Hy Lạp có nghĩa là “Cái gì đang hiện ra đấy”, thế giới cảnh tượng. Ở trong tình trạng không ngừng luân chuyển, cho nên ta không thể hiểu thấu đáo, vững chắc, rốt ráo được. Vì  thế, tất cả các triết học Tây phương cho đến Kant - đều cố gắng tìm cho ra đằng sau hiện tượng yếu tố bền vững, vĩnh cửu, có thể làm đối tượng cho một sự hiểu biết vững vàng. Toán học cung cấp mẫu mực vững vàng của mình cho cố gắng đó. Từ điểm khởi đầu của tư tưởng Tây phương, toán là mẫu mực hoàn hảo đầu tiên đáp ứng được nhu cầu của tư tưởng về khái niệm. Và như vậy, người ta muốn khám phá, ở đằng sau các hiện tượng, những nguyên tắc vĩnh cửu: đó là những luật… Bởi vậy, để thoát ra khỏi sự biến động hỗn loạn của thế giới hiện tượng, người ta tìm xem, đằng sau thế giới đó, thế giới những cấu trúc, tìm xem đâu là những liên hệ quả, đâu là những liên hệ nhân quả, đâu là những luật vĩnh cửu. Epicure, hay nói đúng hơn, đồ đệ của ông, nhà thơ La tinh Lucrèce, gọi những luật đó là những hiệp ước, qua đó các vị thần bảo đảm sự tương quan tốt đẹp giữa trí óc con người với thực tại bên ngoài.
M.R: Ấy, hãy chú ý! Có những luật, điều đó không có nghĩa rằng có những thực thể vĩnh cửu đàng sau những hiện tượng. Phật giáo hoàn toàn thừa nhận rằng thế giới hiện tượng do luật nhân quả chi phối một cách không trốn tránh được. Nhưng những luật đó, cũng như những hiện tượng mà những luật đó chi phối, đều không phải là những thực thể vĩnh cửu, độc lập, tự hiện hữu: chẳng có cái gì hiện hữu tự nó và do nó, tất cả có mặt là vì những mối quan hệ hỗ tương giữa những nguyên nhân và điều kiện. Trái đất có sức hút, luật đó không tự nó hiện hữu nếu chẳng có sự vật. Một tảng đá là do các nguyên tử hợp lại. Mỗi nguyên tử lại chỉ là năng lượng. Cái cầu vồng là do tia nắng đùa nghịch trên hơi mù của mưa, nó hiện ra, người ta thấy nó, nhưng nó không có thật. Chỉ cần một yếu tố tan mất là hiện tượng đó biến mất tiêu. Vậy thì “cái cầu vồng” không có bản chất riêng của nó, và người ta không thể nói có sự tiêu tan, biến mất của một cái gì không có. “Cái gì” đó nhờ tập hợp tạm thời của một số yếu tố mà hiện ra như huyễn tượng, nhưng tập hợp đó cũng thế thôi, cũng chẳng phải là những thực thể tự có.

J.F R: tất cả những hiện tượng thiên nhiên đâu có thể đem ví hết với các cầu vồng!

M.R: Nhưng tất cả những hiện tượng đều đích thực là kết quả của một tập hợp những yếu tố thoáng qua trong giây lát. Chẳng bao giờ có những hiện tượng vĩnh cửu và độc lập. Như có người đã nói, “chẳng có cái gì độc lập hiện hữu cả, như bông hoa chẳng thể mọc ra giữa trời”. Để trở lại vấn đề luật, chẳng có gì chứng tỏ rằng có những luật tương tự những nguyên tắc vĩnh cửu chi phối các hiện tượng, Muốn hiểu những luật đó phải vận dụng trí óc, và khoa học đã làm một sự lựa chọn siêu hình khi tuyên bố rằng ta có thể, bằng những khái niệm của ta, khám phá bản chất tận cùng của một thế giới hiện hữu độc lập với những khái niệm của ta. Phật giáo gặp gỡ poincaré khi ông này nói đại khái rằng dù cho bản chất của một thực tại, độc lập với một trí óc đang suy nghĩ về nó, dù cho bản chất đó thế nào đi nữa, thực tại đó chẳng bao giờ đến được với trí óc của ta, chẳng bao giờ ta hiểu được nó. Và người ta có thể nói rằng nếu ví thử không có loài người, thực tại như là loài người quan niệm cũng chấm dứt, hết hiện hữu.

J-F R:  Dù sao đi nữa thì cũng có những luật về vật lý!

M.R:  Không hẳn như thế đâu! Tất nhiên người ta có thể nghĩ rằng thực tại hàm chứa trong thế giới hiện tượng có thể được diễn tả bằng ngôn ngữ toán học, không chịu ảnh hưởng gì của chủ quan. Nhưng, như Alan Wallace đã tóm tắt: “Những nguyên lý hiển nhiên, axioms,  của toán học cho đến gần đây vẫn được xem như những chuyện hiển nhiên chẳng cần phải chứng minh. Thế mà ở thế kỷ trước, có nhiều nhà toán học nói rằng định đề Euclide chẳng hạn không đúng cũng chẳng sai, chỉ là những “luật chơi” (…) Bây giờ thì rõ ràng rằng những nguyên lý hiển nhiên của toán học bắt nguồn trực tiếp hoặc gián tiếp từ kinh nghiệm của chúng ta, và vì vậy người ta không thể nói rằng toán học bao gồm những luật về một thực tại hoàn toàn độc lập với kinh nghiệm”. Cũng vậy, quả quyết rằng người ta không thể khám phá ra những thực thể bền vững đằng sau những hiện tượng, điều đó cũng đối nghịch với tư tưởng trong vài triết lý của Ấn Độ giáo về những “khái niệm tổng quát” chẳng hạn khái niệm “cây” hiện hữu trong mỗi cây, hoặc khái niệm “hiện hữu” làm bản chất cho bất cứ cái gì đang có.

J-F R:  Ấy, đây là tư tưởng của Platon!

M.R: Thế thì giống nhau, Phật giáo bác bỏ khái niệm đó, nói rằng nếu ví thử có một khái niệm “cây” như vậy, thì cây nào cũng có cùng một chất đó, và như vậy tất cả mọi cây đều phải mọc lên cùng một lúc và cùng một lề lối như nhau, bởi vì một thực thể vĩnh cửu không thể là nguyên nhân của một cái gì thay đổi và đa dạng. Mà thật vậy, mỗi một việc tạo ra hoặc lớn lên đã phá huỷ sự vĩnh cửu của một thực thể, bởi vì thực thể này không còn cùng là một thực thể nữa, trước và sau.

J-F R:  Ta không thể lẫn lộn nguyên lý hiển nhiên và định đề, cũng không thể đồng hoá với định đề của toán học - khoa học tự bản chất - những kiến thức về vật lý và sinh học, vốn phải kiểm chứng không ngừng giữa quan sát, lý thuyết và thực nghiệm. Nhưng đây không phải là chỗ để bàn về triết lý các khoa học. Để trở lại vấn đề tương quan giữa Đông và Tây, triết lý Ấn độ giáo gần với triết của platon hơn là Phật giáo, bởi vì, đối với platon, “Cái cây tự nó” hiện hữu trong thế giới siêu cảm giác, và tất cả mọi cây hiện hữu trong thế giới cảm giác - nghĩa là thế giới hiện tượng - đều là những bản sao chép “cảm giác” của cái cây “có thể hiểu được”, và tất nhiên chẳng bản sao chép nào phản chiếu được sự hoàn hảo của cái cây-tự-nó. Chẳng hạn, người họa sĩ toàn bích muốn vẽ cái cây lý tưởng phải theo học triết lý của Platon để có ý tưởng tuyệt đối, để có kiểu mẫu về cái cây-tự-nó, hầu vẽ cái cây lý tưởng, chứ không phải cái hiện tượng-cây, vốn chỉ là một trong vô vàn diễn tả bất toàn về cái cây-tự-nó… Platon khinh miệt hội họa, nói rằng khi ông họa sĩ vẽ cái giường, cái bàn, ông ta chỉ làm bản sao chép về một bản sao chép. Cái bàn thật mà người ta thấy trong một căn nhà nào đó đã là bản sao chép của cái bàn-tự-nó trong thế giới siêu cảm giác. Vậy cái bàn được vẽ trong bức tranh là ở một tầm mức thấp hơn nữa của thực tại. Từ đó mà nảy ra cái ám ảnh về một đối kháng: đối kháng giữa thế giới cảm giác, không thể hiểu được vì luôn luôn biến đổi, và thế giới siêu cảm giác liên quan đến những thực thể có thể hiểu được. Có thể xích lại gần chăng tư tưởng đó với triết lý Ấn độ giáo? Và Phật giáo phản ứng lại như thế nào?

M.R: Có lẽ phải nói rằng, có những quan điểm tương đồng giữa Ý niệm của Platon và những khái niệm “tổng quát” của Ấn độ giáo, trong cái nghĩa rằng cả hai quan niệm có những thực thể cố định đàng sau những hiện tượng. Phật giáo, ngược lại, bàn luận rất sâu và rất phức tạp để bác bỏ sự hiện hữu của bất cứ thực thể vĩnh cửu nào. Cái luận đề của Ấn độ giáo bị Phật giáo bác bỏ triệt để nhất là một luận đề về một tạo hoá toàn năng, như là Ishvara. Tranh luận đã diễn ra vài thế kỷ trước khi đạo Thiên Chúa ra đời. Đây là ý tưởng về một tạo hóa, tự có chứ chẳng do ai sinh ra, tự có chứ chẳng do một nguyên nhân nào trước đó, tự sáng tạo ra vũ trụ vì tự mình muốn như thế. Biện chứng pháp của Phật giáo bác bỏ luận đề đó từng điểm một. Trước hết là toàn năng, bởi vì tạo hóa là phải toàn năng. Ví thử tạo hóa chẳng quyết định sáng tạo; như thế vị đó chẳng còn là toàn năng bởi vì ông ta sáng tạo dưới ảnh hưởng của dục vọng sáng tạo.

J-F R:  Đẹp như các nghịch ngôn của Zénon!

M.R: Tạo hóa có thể là một thực thể vĩnh cửu? Không, bởi vì vị đó khác nhau trước khi và sau khi sáng tạo. Thât vậy, ông ta trở thành “đấng đã sáng tạo”. Hơn nữa, nếu ông ta sáng tạo ra tất cả vũ trụ, điều này phải nhất thiết bao hàm ý nghĩa rằng tất cả mọi nguyên nhân của vũ trụ đều phải hiện hữu trong ông. Thế mà một trong những nền tảng của luật nhận quả - nghiệp - là: một sự kiện không thể xảy ra chừng nào toàn thể những nguyên nhân và điều kiện làm nó xảy ra chưa hội đủ, và sự kiện đó không thể không xảy ra chừng nào nguyên nhân và điều kiện đó hội đủ. Điều này có nghĩa rằng Tạo Hóa, hoặc là chưa bao giờ có thể sáng tạo, hoặc là phải sáng tạo thường xuyên! Những lý luận đó và nhiều lý luận khác nữa có thể áp dụng để chống lại tất cả những tư tưởng nào chủ trương có một tạo hóa vĩnh cửu, toàn năng, tự có…

J-F R: Phục sát đất! Cứ có cảm tưởng như đang nghe một nhà biện chứng của phái hoài nghi thời thượng cổ, hoặc một đồ đệ của Epicure, của Zénon đang bác bỏ tư tưởng về một Thượng đế sáng tạo.

M.R:  Những lý luận biện chứng đó vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay ở Á châu trong những tranh luận triết lý. Người ta cũng phân biệt khía cạnh tương đối của những hiện tượng, và bản chất sâu xa của những hiện tượng đó. Đứng về phương diện tuyệt đối, Phật giáo nói rằng một “thực thể” thật sự hiện hữu không thể sinh ra hoặc mất đi, lại nói rằng hiện hữu không thể do hư vô mà sinh ra, bởi vì dù cho có muôn vàn nguyên nhân đi nữa cũng không thể làm sinh ra một cái gì vốn không hiện hữu, hoặc một cái gì đã hiện hữu rồi, bởi vì cái đó không cần phải sinh ra nữa.

J-F R: Tưởng như nghe đối đáp của Platon trong Parménide!

M.R:  Dù sao chăng nữa, khi mổ xẻ quá trình nhân quả dưới cái nhìn của chân lý tuyệt đối, người ta bắt buộc phải kết luận rằng quá trình đó không thể liên hệ những thực thể đang hiện có: hoặc là nhân biến mất trước quả, và trong trường hợp đó nhân - vì không hiện hữu nữa - nên không thể có liên hệ gì với quả; hoặc là nhân tồn tại vào lúc quả sinh, và như thế thì không có nhân quả gì nữa, bởi vì không thể có liên hệ nhân quả giữa những sự vật xảy ra cùng một lúc.

J-F R: Có chứ! Có chứ!

M.R:  Không! Hai thực thể đang tự nó hiện hữu và đồng thời hiện hữu không thể có một liên hệ nhân quả; ngay cả một liên hệ gì đó cũng không, huống hồ nhân quả.

J-F R: có những liên hệ nhân quả trong quá trình diễn tiến của thời gian, nhưng cũng có những liên hệ nhân quả trong trường hợp nhân hiện hữu đồng thời với quả.

M.R:  Ví dụ?

J-F R:  Ví dụ tôi đang thở dưỡng khí và dưỡng khí đó làm tôi tiếp tục sống. Nhân ở đây là thực thể của dưỡng khí, và tôi ở đây là người đang thở: hai thực thể đó xảy ra đồng thời.

Không! Bởi dưỡng khí ấy và thân hình kia biến chuyển trong từng giây phút; không thể nói về một thực thể “dưỡng khí” và một thực thể “thân hình” trường tồn, tự nó hiện hữu, cái này tác động lên cái kia mà vẫn đồng thời với nhau! Nếu hạt và trái đều là những thực thể tự nó hiện hữu thì không thể có liên hệ nhân quả gì giữa hai bên, liên hệ đồng thời cũng không mà liên hệ sau trước cũng không, bởi vì nhân - ở đây là hạt - phải tiêu tan cho quả - ở đây là trái - mọc ra, và một sự vật không hiện hữu nữa thì cũng không sinh ra được cái gì hết.

J-F R: Đúng thế, nhưng đó là mẫu liên hệ nhân quả trong đó nhân có trước quả, bởi vì có diễn tiến sau trước trong thời gian. Nhưng người ta cũng có thể nói có nhân quả đồng thời: Chẳng hạn ánh sáng mặt trời và cái lá cây kia đang trút hơi thở năng lượng mặt trời. Có hai mẫu liên hệ nhân quả.

M.R:  Không phải cái mặt trời của giây phút hiện tại này tạo ra cái lá cây mà ta đang thấy kia.

J-F R: Không phải, nhưng đó là ánh sáng mặt trời của lúc mà nó đến với nhánh cây, dù cho ánh sáng đó có mất một chút thời gian để đến mặt đất… Hiểu một cách cổ điển, có những liên hệ nhân quả đồng thời cũng như có những liên hệ nhân quả sau trước. Không phải cứ có diễn tiến sau trước là có liên hệ nhân quả, và không phải liên hệ nhân quả nào cũng có diễn tiến sau trước. Đó là tranh luận cổ điển giữa Hume và Kant.

M.R: những tia nắng mặt trời mà hơi ấm đã khiến cho nhánh cây kia mọc mầm không phải là những tia nắng mặt trời sưởi ấm nhánh cây lúc nó mọc mầm. Nhân ở đây không còn nữa, không hiện hữu nữa. Nếu tôi làm rơi cái bình hoa này trước mắt tôi, nhân và quả không thể diễn biến đồng thời được - cái bình chưa chạm đất lúc tôi làm nó rơi.

J-F R: Thế nhưng cái ví dụ dưỡng khí vừa nói ban nãy…

M.R: Dưỡng khí không phải là một thực thể trường tồn; nó thường xuyên biến chuyển. Nhân và quả đồng thời.

J-F R: Vâng, đồng ý, không đồng thời…

M.R: Dưỡng khí có đấy, nhưng có như một hiện tượng thô, nhưng đó không phải là thứ dưỡng khí kia, thứ dưỡng khí vừa làm máu hồi sinh.

J-F R: Cái cột đỡ mái nhà là nguyên nhân cản mái nhà khỏi sập. Đấy, nhân và quả là đồng thời.
M.R: Điều muốn nói là thế này: trên bình diện tương đối, nghĩa là trên bình diện chân lý ước lệ như chúng ta thường hiểu, luật nhân quả là không thể tránh được. Nhưng nếu chúng ta đứng trên bình diện luận lý tuyệt đối, luật nhân quả không thể xảy ra với những thực thể có một hiện hữu thường còn và vững chắc. Vậy thì trong thế giới hiện tượng này, chẳng tìm đâu ra một thực thể - dù chỉ một mà thôi - bất biến, độc lập, tự nó hiện hữu.

J-F R: Đó là nói về một liên hệ nhân quả giữa những sự kiện, nhưng có những liên hệ giữa những cấu trúc. Chẳng hạn giữa những cơ năng trong cái nghĩa toàn thể… một chiếc tàu nổi trên nước. Nước và chiếc tàu đồng hiện hữu. Tỷ trọng của nước là nhân của sự việc chiếc tàu nổi. Nước và chiếc tàu đồng hiện hữu.

M.R: Chính thế, không có liên hệ nhân quả giữa những thực thể; chỉ có những liên hệ gọi là cấu trúc giữa những sự vật thoáng qua mà Phật tử chúng tôi gọi là những liên hệ hỗ tương: “Cái này có bởi cái kia có; cái này sanh ra trên nền tảng cái kia”.  Chẳng có cái gì tự bản thân nó có, độc lập với những sự kiện khác. Mỗi một yếu tố của sợi dây xích nhân quả là một tổng hợp những yếu tố đến rồi đi trong một quá trình biến đổi bất tận; đó chẳng phải là một diễn tiến trong thời gian của những yếu tố tách biệt nhau và độc lập với nhau. Đó là lý lẽ chứng tỏ rành rành rằng sự vật là không có, nghĩa là không hiện hữu một cách độc lập và thường xuyên, dù cho đó là một ông Thượng đế sinh ra vạn vật hoặc một hạt nguyên tử tự nó mà có, chẳng cần nguyên nhân nào hay điều kiện gì, độc lập với mọi sự vật khác.

Cao Huy Thuần dịch


03 Chúng ta cần tình thương (Dalai Lama) 
Đang Đánh Máy


TÌM HIỂU NGUỒN GỐC 
CHÙA CÂY  MAI
Nguyễn Đình Tư

Ngày nay, đi trên đại lộ Hồng Bàng thuộc địa bàn Quận 6 và Quận 11, chúng ta không còn thấy gò Cây Mai với dòng suối lượn quanh, cũng như chùa Cây Mai với mõ sớm chuông chiều, với thi nhân mặc khách bầu rượu túi thơ nữa, mà chỉ thấy mặt bằng thẳng tắp với một chiếc am nhỏ xíu nhang tàn khói lạnh bên đường phố rộng thênh thang. Tại sao lại có cảnh tang thương như vậy?

Sách Gia Định Thành Thông chí có ghi: "Gò Cây Mai cách phía Nam trấn (Phiên An) 30,5 dặm. Ở đây gò đất nổi cao có nhiều Nam mai, nhành cỗi rườm rà, nhưng khi hoa nở không có tuyết, chỉ có lá hộ vệ mùi thơm mà thôi. Thứ hoa này bẩm linh khí sinh ra, không đem trồng ở nơi khác được. Trên có ngôi chùa An Tôn, đêm đọc Bối kinh (kinh Phật chép trên lá bối), chuông mai trống chiều vang rền trong mây khói, mường tượng như thế giới nhà Phật ở Ấn Độ. Lại có suối trong chảy quanh chân gò, các du nữ chiều mát chống thuyền hái sen. Gặp những giai tiết thì văn nhân thi sĩ mang bầu rượu, theo từng bậc cấp leo lên, ngâm vịnh tại nơi đầu gò, dưới gốc mai hoa cùng văn tự nồng nức mùi hương. Thật là một thắng cảnh cho người du lãm.

Gò này xưa là chỗ chùa tháp của người Khmer, nền móng còn nhận rõ. Năm Bính Tý (1816) niên hiệu Gia Long thứ 15 có thầy Tăng trùng tu lại, đào lấy được ngói gạch cỡ lớn của người xưa rất nhiều, và lại đào được hai miếng vàng lá, tư bề đều vuông một tấc, mỗi miếng nặng ba đồng cân, trên mặt chạm hình “Cổ Phật cỡi voi”, có lẽ đấy là cái vật của Hồ tăng dùng để trấn tháp đó chăng?(1)

Còn sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng chép về chùa Cây Mai, ngoài những chi tiết mô tả giống như Trịnh Hoài Đức trên đây, còn cho chúng ta thêm một số thông tin khác như: chùa cây Mai còn gọi là Mai Khâu, toạ lạc tại thôn Tân Long (tổng Tân Phong Thượng), huyện Tân Long (phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định), có 7 cây mai, số lượng cụ thể vào thời Tự Đức. Còn Trịnh Hoài Đức không cho biết có bao nhiêu cây. 

Nhận xét về thắng cảnh Gò Cây Mai và chùa Cây Mai, tác giả sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Chỗ này cũng là thắng địa của phương Nam. Nhưng cảnh chùa có lúc thịnh, lúc suy, cây mai có lúc tươi, lúc tàn. Cái ấy hình như ám hợp với nhau. Mỗi khi hoa mai rụng bay đi vào chỗ nào không biết thì cảnh chùa u trầm, vắng vẻ tăng đồ, trông rất buồn bã. Đến khi linh cơ chuyển phục giữa không tế bay về, thì cảnh chùa với hoa mai đồng thời song song thạnh phát. Trước kia không ai để ý đến. Từ khi cất chùa đến nay sự suy thịnh đã trở đi trở lại 2 lần như thế. Có phải Thiên nữ tán hoa(2) chăng? Hay là cây quỳnh ở Dương Châu (3) chăng? Xưa có một thi nhân đi qua đây có đề bài thơ rằng:

Thiền môn hà xứ phỏng mai hoa
Tạm yết chinh tiên thuyết Phạn gia(4) 
Hương nhập trà bình yên chính nỗn,
Nhất sinh trần lự bán tiêu ma.

Dịch nghĩa:

Cửa thiền ta đến viếng mai hoa?
Tạm gác chinh tiên luận Thích già
Hương quyện bình trà đương ngút khói(5)
Một đời trần lụy nửa tiêu ma(6)".

Theo sự mô tả trên đây, gò Cây Mai tương đối cao, vì muốn lên đến chùa, người ta phải leo qua nhiều bậc tam cấp. Chu vi cũng không phải hẹp, vì quanh dưới chân gò có dòng suối nước trong, tức là một con rạch có trồng sen, sâu và rộng, nên các cô thanh nữ muốn hái sen phải bơi thuyền qua lại. Trên đồi có ngôi chùa Ân Tôn  xây dựng từ trước, không rõ năm nào, nhưng phỏng đoán vào thời các chúa Nguyễn, vì đến năm Gia Long thứ 15 đã có vị sư trụ trì trung tu (trùng tu chứ không phải xây dựng). Trên gò còn có 7 gốc mai cổ thụ, thuộc giống Nam mai, hoa màu trắng, nên về sau các nhà thơ vùng Đồng Nai - Gia Định thành lập Thi xã đặt tên là Bạch Mai Thi xã. 

Trong con mắt các tao nhân mặc khách, đồi Cây Mai và chùa Cây Mai tạo thành cảnh trí rất đẹp, rất nên thơ, thanh nhã. Cho nên vào các mùa Xuân hàng năm, khi hoa mai nở rộ, mùi hương lan toả khắp nơi, cùng với thiện nam tín nữ lũ lượt lên chùa lễ Phật cầu phước đầu năm, các thi nhân lại có dịp bầu rượu túi thơ, rủ nhau lên ngồi dưới gốc mai phía đầu gò, thưởng thức cái không khí trong lành thoang thoảng hương mai, cùng nhau xướng hoạ, ngâm vịnh, nhả ngọc phun châu, tiêu dao thoát tục. Về sau, các thi nhân họp lại thành lập Bạch Mai thi xã để hằng năm đến hẹn lại lên, bao gồm các nhà thơ khắp Nam Kỳ Lục tỉnh. Thành viên của Thi xã là những ông Cử, ông Tú, ông Nhiêu, ông Đồ. 

Hiện nay còn lại 3 bài thơ chữ Hán xưa nhất của Trịnh Hoài Đức vịnh cảnh chùa Cây Mai, chúng tôi xin trích ra một bài thơ để mọi người cùng thưởng lãm:

Mai Khâu vãn thiếu

Mai Khâu vãn thướng lược đông phong,
Nhất vọng tiêu nhiên nhãn bất cùng.
Thôn xá chẩm khê yên thu ngoại,
Mục đồng hoành địch thảo nguyên trung.
Ngưu tương giải ngột quy cao lũng,
Nha dĩ từ giao tập mậu tùng.
Trù tướng minh vân thiên miễu miễu
Trù trì vô ngữ ỷ ngô đồng.

Dịch nghĩa:

Gò Cây Mai buổi chiều nhìn từ xa

Chiều đến gò mai hứng gió đông
Xa trông cảnh vắng, mắt khôn cùng.
Xóm nhà gối suối mờ cây, khói,
Đồng cỏ vang âm sáo mục đồng.
Quạ họp về cây, rời bãi trống,
Trâu chờ cởi ách, lại vùng giồng.
Trời cao mây tối giăng buồn bã,
Đứng tựa ngô đồng lặng ngó trông
                             (Nguyễn Khuê dịch)(7)

Năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, nhưng không dám đóng quân trong thành, bèn triệt phá rồi rút xuống đóng tại đồn Hữu Bình. Thỉnh thoảng quân Pháp ở đồn Hữu Bình bị nghĩa quân ta ban đêm đột kích đánh phá, nên chúng bèn lập phòng tuyến trên bộ từ chùa Khải Tường qua chùa Kim Chương, từ chùa Kiểng Phước xuống đến chùa Cây Mai, và chúng gọi là phòng tuyến các chùa (Ligue des Pagodes), nhằm ngăn cản quân ta đột kích. Pháp đã biến các chùa thành các trại quân, trong đó có chùa Cây Mai. Các tượng Phật và tự khí đều bị phá huỷ. Cây cối xung quanh chùa bị chặt phá, tạo thành vùng đất trống cho chúng dễ tuần phòng. Từ đó không còn cảnh tài tử giai nhân thưởng ngoạn Mai Sơn nữa. Hầu hết thành viên của Bạch Mai Thi xã tị địa tới vùng tự do hoặc tham gia nghĩa quân kháng chiến chống Pháp. Tôn Thọ Tường sau khi làm tay sai cho Pháp có làm bài thơ vịnh chùa Cây Mai để bào chữa cho hành động hợp tác với thực dân Pháp, quay lưng lại với dân tộc:

Bài xướng

Đau đớn cho mai cách dưới đèo
Mười phần trong sạch phận cheo leo
Sương in tuyết đóng nhành thưa thớt
Xuân đến thu về lá quạnh hiu
Lặng lẽ chuông quen cơn bóng xế
Tò te kèn lạ mặt trời chiều
Những tay rượu thánh, thi thần cũ
Trông cảnh bao nhiêu tiếc bấy nhiêu.

Lê Quang Chiểu tức Cai Tổng Chiểu ở thôn Phong Điền, Hậu Giang đã họa lại bài thơ đó với lời lẽ mỉa mai.

Bài họa

Tìm mai mấy độ đã xa đèo
Xót nhẽ thân gầy sắn vẫn leo
Sương tuyết bốn mùa hoa sạch sẽ,
Gió đông đòi trận sắc tiu hiu.
Đẩy đưa cõi Phật hơi kèn sớm,
Quạnh quẽ nhành chim xế bóng chiều.
Thầm tiếc phỏng còn phong cảnh cũ,
Văn nhơn tài tử biết bao nhiêu(8).

Ngày nay, đi trên đại lộ Hồng Bàng thuộc địa bàn Quận 6 và Quận 11, chúng ta không còn thấy gò Cây Mai với dòng suối lượn quanh, cũng như chùa Cây Mai với mõ sớm chuông chiều, với thi nhân mặc khách bầu rượu túi thơ nữa, mà chỉ thấy mặt bằng thẳng tắp với một chiếc am nhỏ xíu nhang tàn khói lạnh bên đường phố rộng thênh thang. Tại sao lại có cảnh tang thương như vậy?

Số là khi người Pháp bắt đầu xây dựng khu đô thị Chợ Lớn thì vùng này còn rất nhiều kinh rạch, ao đầm cần phải san lấp để có mặt bằng thực hiện các công trình công cộng như đường sá, công thự, chợ phố. Chính quyền thực dân Pháp đã cho triệt hạ gò Cây Mai, lấy đất để sang lấp kinh rạch, vì vậy ngày nay không còn dấu tích gì của gò Cây Mai nữa. Chùa Cây Mai (hay chùa Ân Tôn) cũng không còn. Nó được thay thế bằng một cái am nhỏ mà người dân địa phương nói là vị trí của chùa Cây Mai xưa, nhưng lại nằm lọt trong khuôn viên của khu quân sự, nên dân chúng không thể lui tới tham quan được.

Thiết nghĩ, chùa Cây Mai là một di tích, thắng cảnh nổi tiếng của Sài Gòn-Gia Định, vì thế, chính quyền Thành phố và Bộ Quốc phòng nên giao lại cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam, mà đại diện là Thành hội Phật giáo để trùng tu, khôi phục lại cảnh thiền môn, cho thiện nam tín nữ lui tới hành hương và thu hút du khách đến thưởng lãm. Mong thay!

(1) Trịnh Hoài Đức, Gia Định Thành thông chí (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch), Nha Văn hoá phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản 1972, tập thượng, tr. 37-38.
(2) Thiên nữ là thần Thiên Nữ; Tán hoa là rải hoa. Kinh Duy Ma chép: Giữa hội có thần Thiên nữ lấy hoa trời rải lên mình các vị Bồ tát, hoa đều rơi rớt đi cả. Khi rải đến một vị đệ tử lớn thì hoa dính vào mình của đệ tử ấy. Thiên nữ nói: đó là vì kiết tập chưa giải hết, nên hoa dính vào mình (Tu Trai Nguyễn Tạo chú giải).
(3) Từ Nguyên chép: Tại đền thờ Hậu thổ ở Dương Châu có một cây hoa quỳnh, tương truyền do người đời Đường trồng, qua đời Tống có làm quán Phồn Ly và đình Vô Song ở bên cây quỳnh. Vua Nhân Tông đến, cho bứng cây quỳnh ấy về trồng trong vườn cấm, hơn một năm thì cây quỳnh khô héo, bèn đem trả lại Dương Châu thì cây quỳnh sống lại (Tu Trai Nguyễn Tạo chú giải).
(4) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Việt (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch), Nha Văn hóa Phủ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn xuất bản 1959, tập thượng, tr. 81-82; và Đại Nam nhất thống chí, Phạm Trọng Điềm dịch, NXB Thuận Hoá Huế 1992, tập V, tr. 237-238.
(5), (6) Nguyễn Thị Thanh Xuân - Nguyễn Khuê - Trần Khuê, Sài Gòn Gia Định qua thơ văn xưa, NXB Tổng Hợp TP. HCM, 1987, tr. 87-88; 337-338.
 
 


ĐI CHỢ HOA TƯƠI ĐẦU MỐI...
Nguyễn Ngọc Quý

Nói đến chợ hoa tươi đầu mối Sài Gòn là nói đến chợ hoa Hồ Thị Kỷ, quận 10. Theo thói quen, người ta thường lấy tên đường làm tên chợ. Chợ được mọc lên một cách tự phát ở khu dân cư, có lẽ cũng đã nhiều năm rồi. Các quầy hoa ở đây chủ yếu là do tận dụng mặt tiền nhà ở, và được nới rộng thêm bởi những cọc tre, bạt nhựa... Hoa mới đưa về được bó thành từng bó lớn, xếp thành đống, hoặc đóng thùng. Hoa hoa bán lẻ được cắm trong những chiếc chậu nhựa to, nhỏ đủ màu, trông có vẻ manh mún, nhỏ lẻ. Tuy diện tích của chợ không lớn lắm, chỉ rảo 15 phút là hết chợ, nhưng cứ nhìn những chuyến ô tô nối nhau chở hoa về, và hoa nhanh chóng được tủa đi khắp, thì biết đây vẫn là chợ hoa đầu mối quen thuộc của những cửa hàng hoa, những người bán buôn, bán lẻ hoa tại các chợ khác nhau trong thành phố.

Chủng loại hoa ở đây khá đa dạng, tuy nhiên chủ yếu vẫn là hoa cúc, vạn thọ, huệ, lan, dơn, hồng, ly, cẩm chướng, đồng tiền, sen, lan..., và các loại hoa, lá dùng để cắm điểm như hoa bi, thạch thảo, sa-lem, lá đinh lăng, dương sỉ...

Chợ đông vào buổi sáng và vắng dần vào buổi trưa, nhưng đến chiều tối là đông trở lại, vì tùy theo từng giờ trong ngày mà hoa từ miền Tây, Đà Lạt, Hà Nội... đổ về. Theo những người bán buôn ở đây cho biết, hoa Đà Lạt lớn, màu sắc đẹp và phong phú, nhất là các loại cúc (đủ loại, đủ màu), nên được người ta quen mua. Nhưng cũng tùy theo đối tượng, ví dụ hoa dùng để cúng như huệ, thì những người bán lẻ tại các chợ vẫn thích huệ ở các tỉnh miền Tây hơn, đặc biệt là huệ Long An, Bình Chánh, vì nó nở đẹp và rất thơm nên dễ bán. Những người thỉnh thoảng mới đi chợ hoa thì cũng khó phân biệt được hoa nào đến từ Đà Lạt và hoa nào đến từ miền Tây.

Vào các ngày rằm, mùng một, đặc biệt là các dịp lễ lớn của Phật giáo như: Phật Đản, Vu Lan, Rằm tháng Mười, Tết, Rằm tháng Giêng (10-12 giờ khuya ngày 14, 3-5 giờ sáng ngày 15), chợ hoa khá đông, người ta chen chân nhau để mua hoa. Những người bán buôn, bán lẻ chờ hoa về từ rất sớm, có khi họ phải thức trắng đêm mới mua được hoa mới; sau đó lại hối hả chuyển đến các chợ cho kịp. Những dịp này, tiêu thụ chủ yếu vẫn là các loại hoa cúng như huệ, dơn, cúc... Nhiều chùa trong thành phố cũng tìm đến đây để mua hoa với số lượng lớn nhằm tiết kiệm phần nào chi phí. Còn các ngày lễ ngoài tôn giáo như 14/2, 8/3, 20/11... hoa cũng được bán rất nhiều nhưng chủ yếu là hoa hồng. Như vậy mùa vụ của những người kinh doanh hoa cũng được chia ra rất rõ, đó là thời điểm tiêu thụ hoa cúng và hoa tặng. Các chủ trang trại cũng nắm được đặc điểm này mà cung ứng, và hoa vẫn được bán với giá vừa phải, chỉ trừ bị mất mùa do thời tiết, sâu bệnh là người người mua phải chịu giá cao gấp mấy lần, nhiều khi không đủ hoa để cung cấp cho thị trường.

Có điều, người mua hoa không phải cứ đến chợ hoa đầu mối vào bất cứ lúc nào là có thể mua được hoa với giá rẻ. Hoa từ các tỉnh được trở về, bán trực tiếp cho các chủ buôn hoa lớn, sau đó lại được phân phối đến các quầy hoa nhỏ hơn ở đây, rồi hoa lại được những người bán buôn, bán lẻ hoa tại các chợ khác mua lại. Mức giá sau mỗi lần qua tay đương nhiên là khác nhau. Và ở đây, người bán cũng hay quen nói thách, cùng một loại hoa, nhưng quầy trước và quầy sau là hai cái giá khác nhau, có khi cách biệt cả một nửa tiền. Để ý sẽ thấy, hoa được chia làm 3 loại: 1, 2, 3; hoa mới, hoa được 2,3 ngày, hoa cũ. Cả ba loại đều bó 100 bông, hoặc 50 bông. Khách không quen mua có thể mua nhầm bông loại 2,3 với giá của bông loại 1... Về đến nhà, khi giở ra, người mua sẽ thấy ngay: nhiều bông đã bị héo, bông to, bông nhỏ, bông dài, bông ngắn, thậm chí bông không có cuống. Với nhiều cửa hàng cắm hoa, họ lại thích mua bông loại 2, 3, miễn là hoa còn tươi, mới chuyển về, còn dài ngắn, thì đằng nào khi cắm hoa giỏ họ cũng phải cắt ngắn.

Hoa cũng được xem là một mặt hàng khá xa xỉ, nên nhiều lúc được đẩy lên với cái giá cao chót vót. Cùng là huệ, ngày thường, chỉ phải mua với giá 120.000đ đến 150.000đ (có khi chỉ 80.000đ) một trăm bông, nhưng đến ngày tết thì chỉ mua được 10-20 bông. Các hoa như cúc, cẩm chướng dao động từ 30-40 đến 70-80 ngàn một bó 100 bông (có khi 50 bông). Hoa sen từ 120.000đ đến 300.000đ một trăm bông (tùy thuộc vào người mua là ai). Với giá cá như vậy, rất khó để người mua cảm nhận được công vun bón, chăm tỉa của người trồng hoa. Nhưng trong cuộc sống, mỗi nghề nghiệp đều có trăm cách mua, trăm cách bán, trăm cách sống với nghề... Nhìn những người nghèo đi quanh chợ, hỏi giá và mua được vào bó thọ về cúng ông bà tổ tiên trong dịp lễ tết, mới thấy, dù thế nào hoa cũng không thể thiếu trong cuộc sống vui buồn của đời người. Chợt nhớ đến những ngày xa xưa, với những gánh hàng hoa duyên dáng của những mẹ những chị nơi đường làng: họ mang hoa đi là mang cái đẹp ấm áp đến cho mọi người, mọi nhà, và lời lãi chỉ vừa đủ để thưởng cho cái công chăm sóc, vun trồng...


ĐẠI SƯ KHUÔNG VIỆT
(933 - 1011)
Phước Cảnh

Đại sư Khuông Việt, một tôn hiệu cao quý mà vua Đinh Tiên Hoàng xưng tụng Thiền sư Ngô Chân Lưu, truyền pháp đời thứ 4 dòng thiền Vô Ngôn Thông, vị Tăng thống đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, một gương mặt ngoại giao tiêu biểu, có nhiều đóng góp cho buổi đầu của nền độc lập dân tộc: Bậc Đại sư khuông phò nước Việt.

Đường Khuông Việt hiện nằm trên địa bàn quận Tân Phú, TP. HCM, là một con đường khá lớn, kéo dài từ đại lộ Hòa Bình (Q.11) đến đại lộ Âu Cơ (Q. Tân Bình). Và có lẽ đây là con đường duy nhất trên đất nước ta được mang tên Đại sư Khuông Việt, mặc dù cố đô Hoa Lư mới là nơi Đại sư  gắn bó trong suốt mấy mươi năm hành đạo và giúp vua trị nước.

Sách Thiền uyển tập anh cũng như các bộ chính sử nước ta còn ghi lại rằng: Đại sư họ Ngô (hậu duệ của Ngô Quyền), người làng Cát Lợi, huyện Thường Lạc, dung mạo khôi ngô, tính tình phóng khoáng. Tuổi nhỏ theo Nho học, lớn lên quy y Phật, thọ cụ túc giới với Thiền sư Vân Phong ở chùa Khai Quốc, và từ đó, sư đọc khắp trăm luận, tỏ ngộ yếu chỉ Thiền tông. Năm 40 tuổi, uy danh Đại sư đã vang tận triều đình. Vua Đinh Tiên Hoàng nghe tiếng liền thỉnh sư vào triều tham vấn quốc sự, phong làm Tăng thống và tôn xưng là Khuông Việt Đại sư.

Dưới thời Tiền Lê, Hoàng đế Lê Đại Hành lại càng kính mộ sư hơn. Phàm là quốc gia đai sự, từ việc quân cho đến việc nước, vua đều thỉnh sư vào triều để tham vấn.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, vào niên hiệu Thiên Phúc thứ 7 (986), tại cố đô Hoa Lư, Đại sư Khuông Việt chính là người đã thay mặt vua Lê Đại Hành tiếp đoàn phái bộ ngoại giao nhà Tống do Lý Giác dẫn đầu. Và bài Vương Lang quy từ - một từ khúc ngoại giao nổi tiếng, với lời lẽ hết sức mềm mỏng, khéo léo nhưng lại rất cương nghị, đã được Đại sư ứng tác trong dịp này để tiễn đưa Lý Giác trở về:

"Trời trong gió nhẹ cánh buồm giương
Thần tiên về đế hương 
Vượt sóng xanh muôn dặm trùng dương
Về trời xa dặm trường,
Tình thắm thiết
Chén lên đường
Vin xe sứ vấn vương
Mong đem thâm ý vì Nam cương
Tâu vua ông tỏ tường".
(Tường quang phong hảo cẩm phàm trương
Thần tiên phục đế hương
Thiên trùng vạn lý thiệp thương lang
Cửu thiên quy lộ trường
Tình thảm thiết, đối ly trường
Phan luyến sứ tinh lang
Nguyện tương thâm ý vị Nam cương
Phân minh báo ngã hoàng).

Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, khi đọc đến từ khúc này đã không khỏi ngỡ ngàng thốt lên: “Văn từ nõn nà tưởng có thể vốc được”. Và ông đã cảm thán bằng hai câu thơ rằng:

Chân Lưu tài từ
Trứ xưng nhất thời”.

Về sau, trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú không chỉ hết lời ca ngợi từ khúc này như một giai điệu mượt mà, cao nhã mà còn xem nó có giá trị rất lớn về mặt tư tưởng, về lòng tự tôn dân tộc: “Khúc hát hay cũng đủ khoe có nhân tài, mà quốc thể thêm được tôn trọng, làm cho người Bắc phải khuất phục”.

Cho đến hôm nay, Vương lang quy từ của Đại sư Khuông Việt đã tròn 1020 tuổi (986-2006). Đó không chỉ là một văn bản ngoại giao sớm nhất trong lịch sử bang giao giữa nước ta và Trung Quốc hiện còn bảo lưu được, mà còn được xem là một từ khúc mẫu mực, một viên ngọc sáng trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại.

 Vào những năm cuối đời, Đại sư Khuông Việt về lập chùa dạy học trò tại núi Du Hý (Vĩnh Phúc), môn đồ theo học rất đông. Đến ngày Rằm tháng Hai năm Thuận Thiên thứ 2 (1011) thời nhà Lý, nhằm ngày Đức Thích Ca nhập Niết bàn, sư gọi đệ tử Đa Bảo đến dặn dò, đọc bài kệ, xong sư ngồi kiết già an nhiên thị tịch, thọ 82 tuổi.


07 Bức tranh “Vô thường” của Bửu Chỉ (Võ Xuân Hân)
Đang Đánh Máy


NHỮNG LẦN UỐNG TRÀ ĐÁNG NHỚ
TRÊN ĐẤT TRUNG HOA
(tiếp theo VHPG số 12 và hết)
Trần Đức Tuấn

TRÊN MặtT NHĨ HẢI HỒ

Chiếc du thuyền khổng lồ, sang trọng mang tên "Trà Hạm" chứa trong lòng nó gần 500 du khách, lướt nhẹ trên mặt hồ Nhĩ Hải cao hơn mặt biển gần 2.000m, dài 42km, dưới chân núi Thương Sơn cao hơn 4.000m, nơi bắt nguồn của dòng sông Hồng Hà chảy qua Hà Nội. Giữa bờ hồ và dãy núi là Kinh thành Đại Lý xưa của Vương quốc Nam Chiếu, nơi trị vì của anh em Đoàn Chính Thuần được Kim Dung nhắc tới trong tiểu thuyết võ hiệp Thiên Long Bát Bộ. Từ trên tàu nhìn vào phía thành cổ Đại Lý, ba ngọn tháp cổ cao ngất, thon thả, tuyệt mỹ, theo phong cách kiến trúc điển hình đời Đường vàng rực, nổi bật trên nền Thương Sơn hùng vĩ, xanh thẳm. Đó chính là thắng cảnh Tam Tháp Sùng Thánh Tự nổi tiếng của Trung Hoa mà trong bộ phim Thiên Long Bát Bộ, do Trung Quốc sản xuất, ta thấy rất rõ cả chùa và tháp, trong trường đoạn Quốc vương nước Nam Chiếu từ bỏ ngai vàng tới tu ở Thiên Long Tự. Ngoài Thương Sơn ra, Nhĩ Hải Hồ còn được bao bọc bằng các khối núi đồ sộ khác, tạo nên một phong cảnh sơn thuỷ cực kỳ thơ mộng. Thỉnh thoảng con tàu lãng du lại ghé thăm một hòn đảo để viễn khách vãng cảnh chùa,  có cảm giác như đang lạc vào một chốn bồng lai.

Có thể nói, Vân Nam là tỉnh có phong cảnh thiên nhiên đẹp nhất Trung Quốc, còn Thương Sơn Nhĩ Hải chính là đệ nhất cảnh quan của mảnh đất cẩm tú này. Đây là xứ sở của người Bạch, một tộc người sơn cước có nền văn hoá rất đặc sắc, đồng thời là những cư dân sành điệu trong nghệ thuật trà đạo của nước này.

Trên con tàu du lịch tráng lệ, giữa cảnh trời mây non nước bao la, chúng tôi đã có một cuộc trà không thể nào quên. Đó là lần thưởng thức Vân Nam Bạch Tộc Trà trên mặt hồ Nhĩ Hải. Các cô gái Bạch xinh đẹp với trang phục truyền thống dâng trà mời khách trong nhạc phòng đồng thời cũng là trà phòng, bởi tại đây người ta đang trình diễn những điệu dân vũ Bạch tộc của vùng Thương Sơn Nhĩ Hải phục vụ khách dùng trà. Trong khung cảnh bồng bềnh như đi trong cõi mộng đó, du khách lần lượt được thưởng thức từng ly trà nóng thơm phức, chuyển dần từ đắng sang dịu, rồi ngọt, nhâm nhi cùng loại kẹo thơm truyền thống của người Bạch ở Thương Sơn. Chính cái chốn Bồng Lai di động trong cõi Thiên Thai này đã góp phần tôn vinh nghệ thuật trà đạo của người Bạch qua cảm giác hư ảo kỳ thú mà ẩm khách cảm nhận được bên áng hương trà…

TRÊN BỜ HỒ HUYỀN VŨ

Nam Kinh nằm ở hữu ngạn Trường Giang. Đây là một trong những Kinh đô lừng lẫy nhất của các triều đại Trung Hoa. Kinh thành xưa có những địa danh nổi tiếng gắn với nhiều áng thơ Đường bất hủ như bến Tần Hoài, cầu Chu Tước, ngõ Ô Y ..., vân vân.

Nước lồng khói toả cát trăng pha
Đậu bến Tần Hoài cận tửu gia
Con hát biết chi hờn mất nước,
Cách sông còn hát “Hậu Đình Hoa”!
(Bạc Tần Hoài - Đỗ Mục)

Bên cầu Chu Tước cỏ hoa
Ô Y đầu ngõ bóng tà tà dương
Yến xưa đài các Tạ, Vương
Bay về đậu chốn tầm thường dân gia.
(Ô Y Hạng - Lưu Vũ Tích)

Lê thê đôi điều vừa kể chỉ là để nói lên rằng, cố đô xưa vốn là mảnh đất văn nhân, là chốn tao phùng của nhiều bậc tài hoa, cũng là miền đất mà nghệ thuật trà đạo Trung Hoa đạt tới đỉnh cao của cự thăng hoa trong lịch sử.

Thành phố bên bờ sông Dương Tử có một thắng cảnh tuyệt vời. Đó là Hồ Huyền Vũ thơ mộng, mênh mông, diễm lệ, ngàn năm soi bóng Tử Kim Sơn hùng vĩ. Huyền Vũ Hồ nằm rất gần sông Trường Giang, giống như Lục Thuỷ Hồ (tức Hồ Gươm) nằm gần sông Hồng Hà vậy. Nếu như Hàng Châu có Tây Hồ, Tô Châu và Vô Tích có Thái Hồ, Đại Lý có Nhĩ Hải Hồ thì Nam Kinh có Huyền Vũ Hồ. Đó chính là chuỗi ngọc lung linh thần tiên của miền đất Trung Hoa được ví như chốn Thiên Thai nơi hạ giới.

Một chiều mưa phùn gió nhẹ, tôi và một người bạn lang thang trên bờ hồ Huyền Vũ, ngắm nhìn mặt nước mênh mông soi bóng các thành quách lâu đài và những dãy núi hùng vĩ, miên man suy nghĩ rồi lạc bước vào một trà quán thuỷ tạ xây lấn ra mặt nước hồ. Thì ra đây là Bích Loa Xuân Trà quán được nhiều người hâm mộ. Bích Loa Xuân thực ra là tên một loại đại danh trà nổi tiếng của miền Giang Nam Trung Hoa. Càn Long đời nhà Thanh rất mê loại trà này, nên mỗi lần tuần du Giang Nam bao giờ ông cũng thưởng thức trà Bích Loa Xuân ngay tại miền đất sản sinh ra nó. Bích Loa Xuân có nghĩa là trà xuân màu xanh hình con ốc. Loại trà này thu hoạch vào mùa Xuân, những búp lá non được cuốn lại theo hình con ốc, nước uống rất đượm, có màu xanh, hương thơm thoảng mát dễ chịu.

Ngồi dưới mái hiên trên mặt nước hồ, ngắm nhìn cảnh vật mơ màng, qua làn mưa bụi, thưởng thức danh trà Trung Hoa tại chính Kinh thành xưa của Minh Thái Tổ để nghĩ về trà đạo, về nền văn hoá phương Đông, về chuyện đời, về chuyện nhân tình thế thái quả là một dịp hiếm có trong đời. Chúng tôi không thuộc dân sành điệu về trà nhưng đã thường xuyên uống trà gần cả nửa thế kỷ, nên những cuộc trà tình cờ trên đất khách như thế này thường là cơ hội tuyệt vời cho sự đàm đạo. Trong cái lan man vô định đầy hứng thú ở chốn tha hương đó, người ta thường nghĩ tới quê nhà. Và thế rồi, đề tài trà đạo Việt Nam dần dần xâm chiếm toàn bộ câu chuyện.

Về mặt truyền thống, chúng ta là một điểm son trên bản đồn lịch sử văn hoá trà thế giới. Từ hàng chục thế kỷ nay, ấm trà, ly trà Việt Nam đã trở thành một phần hữu cơ trong văn hoá giao tiếp, trong tình cảm con người, trong cách đối nhân xử thế, trong tâm hồn và thói quen tư duy của người Việt. Hiện chúng ta là 1 trong 9 đại cường quốc trà của thế giới, cung cấp cho thị trường trà của 50 quốc gia và được công nhận là một trong những cái nôi của trà trên trái đất. Đối với người Việt, uống trà không chỉ đơn thuần là thưởng thức hương vị, mà cao hơn, còn là sự tận hưởng niềm hứng thú bởi bối cảnh thiên nhiên, bởi tình trạng tâm lý và cả cơ hội tư duy mà cuộc trà đem lại. Cuộc trà không chỉ đem lại thú vui ẩm thực, bởi đằng sau vị đắng ngọt của ly trà còn có cả vị đời, cũng đắng ngọt, êm đềm, cũng chua cay không kém. Nghệ thuật trà đạo Việt Nam ít khoa trương mà thẩm thấu, ít cầu kỳ mà sâu sắc, nó lặng lẽ đi vào chốn sâu thẳm của lòng người. Hãy nghe một nhà Thơ Việt Nam tâm sự:

Hương biếc tràn quanh nắp đậy hờ
Ấm sành nho nhỏ khói lên tơ
Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm
Ai biết mình sen rụng xác xơ?
Hoa sống trong bùn thuở trước đây
Lầu son giam kín nụ vàng hây
Dễ đâu bướm thoả lòng khao khát
Trinh bạch toàn thân kiếp đoạ đày.

Nâng chén mời anh thưởng vị trà
Đừng quên tan tác mấy đời hoa
Cạn từng hớp nhỏ cho sen đượm
Vớt lại trần ai một chút Ta…

Lại xin trở về với trà đạo Trung Hoa. Trong lịch sử xa xưa, nước này đã có cả một cuốn sách nói về trà, đó là cuốn Trà Kinh, tức kinh thư về trà do Lục Vũ viết vào thế kỷ thứ VIII. Trong cuốn sách đó, tác giả đã trình bày chi tiết về trà đạo, như cách pha trà, nước dùng để pha, cách đun nước và nhiệt độ nước tối ưu cần có, cách giữ cho hương vị đậm đà bằng việc điều chỉnh nhiệt độ sau lúc pha...vân vân. Lịch sử trà đạo Trung Hoa trải qua 3 thời kỳ: Từ cổ cho tới thời Tuỳ, Đường, người Trung Hoa quen dùng loại trà khô đóng bánh. Đến đời Tống họ lại thích dùng trà bột. Từ Minh, Thanh tới nay thì trà búp lá được ưa dùng. Hiện các đô thị ở Trung Hoa có rất nhiều quán trà hiện đại, sang trọng với hình thức pha chế phục vụ rất phong phú. Tuy nhiên, khách viễn du tới đây thường có xu hướng tìm tới những quán trà theo phong cách đời Đường, bởi nó rất cầu kỳ và tinh tế. Dù bất cứ phong cách nào thì bí quyết thưởng thức trà trước sau cũng không thể thiếu được phần “bình trà”, tức đàm luận về triết lý trà đạo, về nhân sinh quan, biến chuyện đời thành một phần không thể thiếu của cuộc trà. Và chỉ khi đó ta mới cảm nhận hết được cái thi vị của thú chơi tao nhã này.
 



ĐIỀU PHIỀN NÃO THỨ 84
Nhị Tường dịch

 “Bạn không thể tránh được sự phiền não. Tránh ở đâu bây giờ?”(Uncle Remus)

Bạn sẽ làm gì khi cuộc sống trao cho bạn những phiền toái không thể ngờ? Khi những dự tính không theo ý muốn? Bạn có chấp nhận nó như là thực tế của cuộc sống và hiểu cuộc sống thỉnh thoảng là như vậy? Hay là, bạn sẽ bắt đầu phàn nàn về tất cả những bất công ấy? Có lẽ bạn sẽ giống một bác nông dân nọ trong quá trình gắng sức tìm cách tránh né những điều phiền não đã tìm thấy lời khuyên của Phật.

Câu chuyện ấy nói về một bác nông dân luôn phàn nàn. Bác kể với Phật rằng cuộc sống của bác khó khăn làm sao.Nào là thời tiết dường như chẳng bao giờ thuận theo ý muốn của bác, khi thì hạn hán, khi thì lũ lụt, làm cho mùa màng thường thất bát. Bà vợ của bác cũng thế, dù là một phụ nữ tử tế, nhưng cứ càm ràm bác hoài, và gần đây thì lũ trẻ lại tỏ ra vô ơn với những gì bác đã làm cho chúng. Hơn nữa, những người hàng xóm thì cứ ngồi lê đôi mách và chọc mũi vào công việc của bác.

Bác nông dân kết thúc một loạt những phàn nàn, ngước nhìn Phật mong ngài giúp cho một giải pháp. Và thật ngạc nhiên khi nghe Phật nói không thể giúp gì cho bác. Theo ngài thì chúng sanh có 83 điều phiền não và cuộc sống diễn ra như thế. Trong khi mình đang gắng sức giải quyết những phiền não này, thì những phiền não khác lại nảy sinh. 

Nghe những điều này, bác nông dân càng khó chịu hơn, bác hỏi: “Vậy có điều gì hay ho trong những lời giáo huấn của ngài?”. Phật đáp “Giáo pháp của ta không giúp ông giải quyết được 83 điều phiền não, nhưng có thể giải quyết điều phiền não thứ 84”. “Đó là gì thưa ngài?!”, bác nông dân hỏi. Phật nói: “Điều phiền não thứ 84 là ông không muốn có bất kỳ một phiền não nào”. 

Điều này không lạ lùng gì phải không? Bạn có trải qua điều phiền não thứ 84 này và tự làm mình khốn đốn hơn là thực chất của những phiền não bạn đang có không? Nếu vậy thì một tin vui cho bạn là phiền não này có thể giải quyết được đấy. Tất cả mọi điều bạn có thể làm là học cách chấp nhận cuộc sống như chính nó vốn có, khó khăn và tất thảy.

Chấp nhận cuộc sống có những phiền não không có nghĩa là buông trôi trong tuyệt vọng. Mà đơn giản hãy quán rằng, đã là loài hữu tình thì không thể tránh được những nỗi khổ và đó là chuyện rất thường. Thực sự, ngay cả những người “vinh hoa phú quí” mà chúng ta tưởng tượng cũng gặp đầy những phiền não mà cuộc sống trao cho, chúng ta nhận ra được điều đó khi có một bi kịch giáng xuống họ. Lúc đó chúng ta ngạc nhiên rằng, sao mà họ  giống chúng ta đến thế. Phiền não đó cảm hóa họ, và chúng ta thấy rằng mọi người đều giống nhau trong cuộc chơi này.

Một khi chúng ta chấp nhận tính tất yếu của phiền não, cái thách thức chính là cứ tiếp tục bận tâm đến những phiền não mà ta có. Sự tồn tại tất yếu của những phiền não không có nghĩa là có một số phiền não không thể giải quyết, và chúng không bao giờ buông tha.

Lần sau, nếu bạn đang u buồn với những phiền não của cuộc sống, hãy nhớ đến điều phiền não thứ 84. Chấp nhận rằng cuộc sống luôn có những phiền não, tức bạn đã loại bỏ đi bớt một điều phiền não phải đương đầu rồi

Nhị Tường dịch
(Theo Những bài học cho cuộc sống)
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 13 -THÁNG 2 2006


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)