HUYỀN
ẢO CÀ PHÊ
Chân
Phương
Giữa
cỏ cây lặng lẽ, vọng mơ hồ âm thanh hòa tấu lẫn trong
tiếng nước chảy róc rách, khuấy dậy hương cà phê đầm
ấm. Nhắp một ngụm, vị đắng ngấm đầu lưỡi tê tê,
rồi trôi tan, để lại chút ngọt ngào nơi cổ họng, ánh
chiều Xuân cũng gom tụ về gương mặt tròn trịa soi ngời
đôi mắt nhà sư. Nếu ngày xưa, ngài Bồ Đề Đạt Ma gặp
hạt cà phê, thay vì lá trà dùng cho tỉnh ngủ, thì có lẽ...
Cũng
như trà đọt non, cà phê có họat chất chính là caffein và
nhiều chất kích thích khác như: trigonellin (một thành phần
của chất nicotin, chất chủ yếu ở thuốc lá), những chất
dầu thơm và axit. Caffein tác động trực tiếp đến thần
kinh não tủy, do đó kích thích toàn bộ hệ thần kinh, đồng
thời làm gia tăng nhịp thở, nhịp tim và huyết áp, khiến
gan phóng thích chất đường vào máu, tạo cảm giác hưng phấn
và quên đói. Thận và bàng quang được kích thích, tăng cường
nhu động ruột, nên có tác dụng lợi tiểu và nhuận trường.
Về
mặt tâm lý, cà phê tăng cường sự nhạy bén của cảm giác
về màu sắc, và âm thanh cũng được cảm nhận mạnh mẽ
hơn. Phần não trước, nơi đảm nhận các chức năng của
ý thức và lý trí, được kích thích làm phát triển một
số loại hình hoạt động tinh thần như phân tích và phê
bình, tiếp thu những khái niệm mới, nhận thức các mối
liên hệ phức tạp, đưa ra những nguyên tắc chi phối các
hoạt động khác nhau, và diễn tả rành mạch các ý tưởng.
Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên, mà hầu hết các học giả,
văn sĩ và giới khoa học thường ưa thích cà phê.
Talleyrand,
nhà chính trị và ngoại giao nổi tiếng của nước pháp thế
kỷ XIX có ví von cà phê là "đen như ác quỷ, nóng như địa
ngục, tinh khiết như thiên thần và ngọt ngọt ngào như tình
yêu". Còn nhà triết học trào phúng John Eenest Mcann ở Anh thì
bảo: "Cà phê làm người buồn hóa vui, người lười thành
siêng, người lạnh được ấm, và người ấm trở nên rạng
rỡ". Sử gia người đức Heinrich Jacobs qủa quyết: cà phê
có một sức mạnh quan trọng trong việc hình thành thế giới
hiện đại, giúp những người làm đêm duy trì sự năng động,hiệu
quả, và giúp đẩy nhanh nhịp sống nói chung. Cà phê đã góp
phần làm gia tăng năng suất kinh tế và lao động trí óc.
Tác dụng của cà phê cũng giúp người ta chịu được những
thời gian buồn tẻ nhàn rỗi trong văn phòng hay công xưởng
của một xã hội công nghiệp nặng tính máy móc. Ông cũng
xem cà phê có một vai trò hệ trọng trong lịch sử văn hóa
phương Tây. Để áp dụng triết học của Nietzsch nhằm xây
dựng một siêu nhân, Jacobs xác định, trong khi rượu tác động
đến phong thái của người bình thường thì cà phê tô đậm
mẫu người tuyệt luân.
Theo
truyền thuyết, cà phê bắt nguồn từ Abyssinia (Ethiopia) ở
châu Phi. Truyện kể rằng, một người chăn dê đã khám phá
ra đặc tính kích thích của cà phê khi thấy đàn gia súc ăn
hạt và lá của loại cây này mà trở nên nhanh nhẹn phi thường.
Tuy nhiên, người đầu tiên dùng cà phê làm thức uống có
lẽ là dân Ả Rập (cách nay khoảng 8 thế kỷ), họ đặt
cho cà phê cái tên "kahula", nghĩa là sức mạnh. Do tác dụng
kích thích mạnh mẽ, cà phê lúc ban đầu bị các vị lãnh
đạo tôn giáo cho là thức uống của ma quỷ, giới thầy thuốc
bảo là nguyên nhân của nhiều bệnh tật, và các nhà cầm
quyền xem là tác nhân của gợi sự phản nghịch và tạo loạn.
Những
quán cà phê đầu tiên có lẽ được thiết lập ở La Mecque,
Ả Rập Saoudit vào đầu thế kỷ XV, đó là nơi người ta
tụ họp, múa hát cuồng nhiệt, nhưng do làm phật lòng một
số Pháp quan chuyên chính, khiến họ ban hành những luật lệ
khắt khe, nhằm dẹp bỏ những tụ điểm này. Từ đó, quán
cà phê tràn qua Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và trải rộng khắp lục
địa Cựu thế giới rồi đến tận lãnh thổ Tân thế giới
châu Mỹ. Ở châu Âu, những quán cà phê đầu tiên xuất hiện
tại Venise nước Ý (1640), Marseille nước Pháp (1654), Luân
Đôn nước Anh (1672). Riêng ở nước ta, món cà phê có lẽ
đã xuất hiện trong tầng lớp thượng lưu trí thức từ thời
Trịnh-Nguyễn, và rộ thành phong trào khi Pháp đô hộ.
Nếu
ở vào thập kỷ 1960-1970, bước vào một quán cà phê dành
cho người sành điệu ở Sài Gòn, bạn nhận thấy ngay khung
cảnh đặc biệt: yên tĩnh, ánh đèn mờ ảo, mùi cà phê ngào
ngạt, nhạc nhẹ văng vẳng. Cảnh trí giống như nơi thánh
đường hoặc đạo tràng nho nhỏ mang dáng dấp thẩm mỹ và
thông thái. Khách quen thuộc khẽ hớp một ngụm với phong
cách sùng mộ, rồi cầm đọc một tờ báo, một cuốn sách
văn chương, sách triết; có người mơ màng như nhập thiền.
Và ngày nay, trong cuộc sống rộn ràng, một tách 'đen nóng',
hoặc một ly 'phê đá' vẫn là một 'nghi thức' quan trọng
cho buổi sáng, hay buổi tối của nhiều người từ Nam chí
Bắc, từ thành thị đến nông thôn.
Tuy
nhiên, cà phê cũng được xem là một loại 'thuốc gây nghiện'.
Những người nghiện cà phê nặng nếu không có cà phê cũng
sinh ra những triệu chứng thiếu thuốc như trường hợp ghiền
ma túy nhưng nhẹ hơn như: mệt mỏi, bơ phờ, đau đầu giần
giật, bực bội, dễ phát cáu, mất khả năng tập trung tinh
thần, cảm thấy chán chường, và có thể bị nôn mửa. Những
triệu chứng này thường kéo kéo dài từ 36 đến 72 tiếng
đồng hồ, và đương nhiên sẽ biến mất sớm hơn nếu người
ta dùng lại cà phê hay những món có caffein như trà đọt non
đậm đặc. Ngoài ra, nếu dùng nhiều một cách thường xuyên,
lâu dài, cà phê có thể gây bệnh tim, run tay, rối loạn tiêu
hóa; làm con người trở nên nhút nhát, hay lo âu và dễ nổi
cộc. Các loại cà phê có trên thị trường thường được
pha tẩm những chất tăng hương vị, khó ai biết có độc
hay
không. Hiện nay, do lo ngại đến sức khỏe, những người
có thói quen uống cà phê thay cho nước giải khát có khuynh
hướng dùng cà phê đã khử bỏ chất caffein, hoặc uống cà
phê thực dưỡng, cà phê hạt cốc làm bằng gạo lứt với
các loại đậu, bột rau diếp đắng chicory và tim hạt sen.
Cà phê thực dưỡng có tác dụng trợ tiêu hóa, bổ tim, tốt
não, an thần, điều hòa huyết áp.
Nhưng
dù thế nào, cà phê cũng là một loại thức uống có mùi
vị thơm ngon, hấp dẫn, giúp nhiều người cảm thấy thoải
mái, tươi tỉnh, sống động (dù ngắn ngủi) trong các mối
quan hệ của cuộc sống. Cà phê cũng như trà, không hẳn là
tốt hay xấu cho sức khỏe, tác dụng của nó tùy thuộc vào
nhiều yếu tố: chủng loại, cách trồng, cách pha chế, liều
lượng, thể trạng người uống, khung cảnh nơi uống... Một
số người đã nâng việc uống cà phê lên hàng nghệ thuật,
tương tự như trà đạo, và sau đây là một vài lời khuyên
của họ:
- Tìm
loại cà phê nguyên chất hảo hạng cói nguồn gốc đáng tin
cậy.
- Nếu
có thể nên chọn loại cà phê trồng thiên nhiên, không bón
phân hóa học, không phun thuốc trừ sâu.
- Hạt
cà phê rang rồi, nên cất trong hũ kín, khi dùng mới lấy ra
một ít đem xay để tránh tình trạng hôi dầu, có hại cho
tác dụng của không khí.
- Dùng
dụng cụ bằng inox, bằng sứ hoặc tráng men để pha cà phê
thay vì dùng dụng cụ bằng nhôm, để tránh tác dụng hóa
học của các chất axit, chất dầu, caffein.
- Để
có một tách cà phê thơm ngon nhưng ít tác dụng bất lợi,
có thể ngâm bột cà phê trong nước chín nguội khoảng 24
giờ, lọc lấy 2 hay 3 muỗng cà phê đậm đặc này rồi pha
với nước nóng để dùng.
- Nếu
uống ngọt, nên pha cà phê với đường thô (đường đỏ,
đường nâu, đường vàng) thay vì đường cát trắng, và thêm
một chút muối biển (rang và xay thành bột) để vị cà phê
được đậm đà.
- Chỉ
uống cà phê theo cách thưởng thức một mình hoặc với bạn
bè, không nên dùng cà phê thay nước uống giải khát. -nhấp
từng ngụm nhỏ và nhẹ nhàng nhai cho nước cà phê trộn với
nước miếng để trung hòa các chất axit trước khi nuốt.
Tham
khảo:
-Natural
Health, Natural Medicine của Bs Andrew Weil, Mỹ, 1990.
Báo
East-West Journal của Hội Thực dưỡng Đông Tây, Mỹ.
Báo
Bangkok Post, Thái Lan.
GÃ
CÙNG TỬ
TRONG
MỖI CHÚNG TA
Chí
Sơn
Ta
nuôi dưỡng trong ta một gã cùng tử đã trưởng thành và
đang già dần theo thời gian mà không cho gã một cơ hội để
thấy lại mình là ai, biết rõ ông cha, quê quán ở đâu. Thậm
chí ta còn đùn đẩy gã đi về cái nẻo mà “bao nhiêu năm
rồi còn mãi ra đi”, đến một ngày “nhìn lại mình”
thì…”đời đã xanh rêu”!
Trong
kinh Pháp Hoa, Đức Phật đã rất thiện xảo khi dùng hình
ảnh gã cùng tử đi hoang làm ẩn dụ để cảnh tỉnh và dẫn
dắt chúng sinh trở về nẻo giác, trở về với chính bản
tâm của mình.
Gã
cùng tử vốn là con của một trưởng giả giàu có, bỏ nhà
đi bụi đời đã lâu. Lẽ ra gã là người giàu sang vào bậc
nhất nhì trong vùng, nhưng trái lại, gã ta nghèo rớt mồng
tơi, tư cách thấp hèn, luôn tự ti, e sợ và tránh né những
ai mà gã cho là cao sang phú quý.
Cái
dáng vẻ tồi tàn rách rưới của gã cùng tử là dáng dấp
khổ đau nhuốm màu phiền luỵ của chúng sinh đấy thôi -
của cả tôi và anh. Cái tư tưởng mặc cảm hèn kém của
gã cùng tử, không dám thân gần người phú quý giàu sang,
ngay cả khi gặp lại cha mình (vị trưởng giả) lại bỏ chạy
thục mạng, cũng chính là những ánh nhìn và tư tưởng của
chúng sinh còn vọng động, điên đảo và đầy ảo tưởng
hằng ngày đấy thôi. Ông trưởng giả giàu có đầy lòng
bác ái lân mẫn kia đã cất công tìm kiếm và đưa gã về
nhà, về chỗ mà lẽ ra gã phải đứng đó, phải có trách
nhiệm và có cả hạnh phúc để sống cuộc đời của mình.
Và
như thế, cũng bằng cách đó, Đức Thế Tôn đã dung nhiếp
mọi chúng sinh, mọi loài, đưa về bờ bến an vui bằng mọi
phương tiện mà Ngài có thể làm, có thể hướng dẫn dắt
dìu.
Gã
cùng tử trong tôi vẫn còn len lén đi hoang mà quên mất đường
về. Gã cùng tử trong anh có khi hãy còn say sưa đâu đó trong
cõi trần đầy mê hoặc, không thực, vô thường, dễ hoại
và đầy ắp khổ đau này.
Thảng
hoặc đâu đó, gã cùng tử trong ta không còn nhận ra cha mình
nữa, nhìn cha mình đầy hoài nghi, với mặc cảm mình mãi
mãi chỉ là kẻ ti tiện, chẳng bao giờ có thể thay đổi
được. Đôi khi gã cùng tử trong ta đi qua đống của cải
của cha mình để đó một cách thờ ơ, lãnh đạm, và đánh
mất cả mình trong những phút giây nông nỗi trước cuộc
sống vô thường rình rập.
Ta
nuôi dưỡng trong ta một gã cùng tử đã trưởng thành và
đang già dần theo thời gian mà không cho gã một cơ hội để
thấy lại mình là ai, biết rõ ông cha, quê quán ở đâu. Thậm
chí, ta còn đùn đẩy gã đi về cái nẻo mà “bao nhiêu năm
rồi còn mãi ra đi”, đến một ngày “nhìn lại mình” thì…”đời
đã xanh rêu”! Mặc dù tận trong sâu thẳm tâm thức của
mình, cả gã cùng tử và ta khát khao biết dường nào một
lần được trở về với quê hương đích thực, về với
ngôi nhà thân ái của mình, ở đó có cha mẹ, có niềm hạnh
phúc gia đình, thôi không đi rong, không phải vong thân nữa.
Vậy
mà gã cùng tử trong ta vẫn mãi lang thang nay đây mai đó, vẫn
lưu linh lưu địa trong miền tâm thức bao la, giang hồ trong
cõi thất niệm với biết bao mộng khởi điệp trùng mỗi
ngày. Phải làm sao để kéo gã quay về nhà, trở về sống
cuộc đời của một con người hẳn hoi. Phải tìm lại cho
được con người thật của mình, chớ tự cho mình là đồ
bỏ đi, để rồi từ chối cái bản hoài, cái tánh Phật trong
chính mình.
Trên
con đường trở về, mặc dù có thể vẫn còn nhiều chông
gai hiểm trở, nhưng cũng có nhiều hoa thơm cỏ lạ toả hương
chào đón gã cùng tử quay về. Gã có thể an nhiên ngắm hoa,
bình tĩnh dẹp đám gai sang bên lề đường để bước về
tới nhà cha mình.
Gã
cùng tử cô độc ngày nào giờ đã tìm thấy cha, đã nhận
ra người cha thương kính của mình. Bằng sự khích lệ khéo,
người cha đã giúp gã dần dần nhận ra khả năng của mình,
lấy lại niềm tin vào cuộc sống, học được cách quản
lý tài sản, quản lý đời gã. Và nhờ vậy, gã đã trở
thành người thừa kế cái gia sản quý giá do cha mình để
lại.
Trước
lúc trút hơi thở cuối cùng, người cha nào mà chẳng an tâm
khi đã chọn được đứa con tin yêu để truyền trao lại
cái gia sản quý giá của mình!
Phải
cho gã cùng tử thời gian để làm quen với cuộc sống hiện
tại, để gã trở thành người thừa kế xứng đáng của
vị trưởng giả. Nhưng hãy nhớ rằng, chỉ với một niệm
quay về trong tâm thì bờ giác đã hiển hiện! Người con Phật
sẽ là chính mình ngay bây giờ và ở đây với cái gia tài
đang hiện hữu đó. Phiền não tức là bồ đề. Gã cùng tử
khi còn đi hoang và gã cùng tử đang thừa hưởng gia sản bây
giờ, hai anh chàng đó ở trong ta tuy hai mà một, chỉ khác
là một lần lấm lem bụi đường và một lần được tắm
rửa tinh tươm.
Gã
cùng tử trong mỗi con người là điều có thật. Hãy nhìn
nhận ra gã cùng tử trong tôi, trong anh và trong tất cả chúng
ta.
Xin
tri ân mối thâm tình giữa hai con người trong một tâm thức
ấy…
12
Con đường sáng cuối ngõ vật chất (Nguyễn Tường Bách)
Đang
Đánh Máy
Những giá
trị sống
TINH
THẦN ĐOÀN KẾT
VÌ
LỢI LẠC CỦA CỘNG ĐỒNG
Nguyễn
Thế Đăng
Tinh
thần sống vì sự tốt đẹp của mọi người, qua đó cá
nhân mình cũng trở nên tốt đẹp và hoàn thiện hơn, không
phải là cái gì quá xa lạ đối với người Việt, mà nó
đã có từ rất sớm trong truyền thống văn hoá Việt Nam,
kể từ khi văn hoá và nhân vật văn hoá được ghi lại bằng
chữ viết. Một trong những cuốn kinh xưa nhất ở Việt Nam
là Lục Độ Thập Kinh đã nói rất rõ về tinh thần này qua
hình ảnh nhập thế độ sinh của các vị Bồ tát. Nói một
cách đơn giản, hạnh Bồ tát là sự tự hoàn thiện mình
để sống vì sự tốt đẹp, thắng tiến (về cả thân và
tâm) của người khác. Và trong khi sống vì sự tốt đẹp,
thăng tiến của người khác, chính cá nhân mình cũng trở
nên hoàn thiện.
Trong
Lục Độ Tập Kinh, lần đầu tiên người ta nghe nói
đến huyền thoại “Một bọc trăm trứng” (truyện số 23),
huyền thoại “đồng bào” về sự đoàn kết của dòng giống
Việt. Cũng trong kinh này, khái niệm “đất nước” xuất
hiện nhiều, ngầm ám chỉ đến đất nước ta: “Lấy năm
giới, mười điều thiện làm quốc chính” (truyện 9), “lấy
nhân trị quốc” (truyện 11) “làm điều tà nguỵ thì mất
nước” (truyện 27)…
Thệ
nguyện vì cộng đồng (nguyện), hành động vì cộng đồng
(hạnh), là một một nhân tố hết sức quan trọng khiến dân
tộc ta, một nước tuy nhỏ, nhưng đã vượt qua biết bao khó
khăn gian khổ trong chiến tranh, trong thiên tai, hạn hán...để
đứng vững, tồn tại và phát triển cho đến tận hôm nay.
Chúng
ta hãy xem thử tinh thần “vì người”, “vì cộng đồng”
ấy được thể hiện ở đời Trần, một thời kỳ xán lạn
và có tinh thần lạc quan nhất trong lịch sử Việt Nam, như
thế nào. Trần Thái Tông (Trần Cảnh), vị vua đầu tiên của
đời Trần, là một người đã "lấy ý muốn của thiên hạ
làm ý muốn của mình, lấy lòng thiên hạ làm lòng của mình"
theo đúng như lời Quốc sư Phù Vân đã căn dặn trong chốn
thâm sơn Yên Tử. Và tinh thần ấy đã được các vị vua
nhà Trần tiếp nối như một dòng chảy liên tục, hun đúc
thành một vừng hào khí Đông A rực rỡ cả một thời.
Là
những bậc quân vương, nhưng lại rất thấu tỏ giáo lý Đức
Phật, các vị vua đời Trần không hề muốn chiến tranh và
sự sát hại xảy ra. Hội nghị Diên Hồng, một cuộc trưng
cầu ý kiến các vị bô lão trong nước mang tính dân chủ
đầu tiên ở nước ta, đã nói lêảats rõ thái độ không
chủ chiến ấy của các vua Trần. Trước hành động tàn phá
đất nước, giầy xéo Thăng Long của quân giặ, thái độ
của Trần Nhân Tông cũng tỏ ra rất nhân đạo và từ bi:
“Vua trông thấy thủ cấp của Toa Đô, thương hại nói: “Người
làm tôi phải thế này”. Rồi cởi áo ngự đắp cho trước
khi chôn". Sau mỗi lần chiến thắng, các vua Trần đều thả
cho tù binh trở về lại đất nước họ. Đến khi kết thúc
chiến tranh, Trần Thánh Tông đã ra lệnh đốt hết danh sách
những người phản bội đã đầu hàng giặc mà không hề
xem qua.
Thắng
trận về lại kinh đô, những người đứng đầu nhà Trần
vẫn giữ một thái độ vô ngã, từ hoà, lạc quan, và không
hề thù hận. Không có ai tự phụ, đề cao công lao của mình,
thậm chí là công lao của đời Trần, mà chỉ xem đấy như
một tư thế hiển nhiên của Giang sơn đất nước.
Bài
thơ chiến thắng của Trần NhânTông:
Xã
tắc hai phen chồn ngựa đá
Non
sông nghìn thuở vững âu vàng.
Và
của Thượng tướng Trần Quang Khải:
Chương
Dương cướp giáo giặc
Cửa
Hàm Tử bắt thù
Thái
Bình nên gắng sức
Non
nước ấy nghìn thu.
Sự
mở rộng đất nước về phương Nam với hai châu Ô, Lý cũng
diễn tiến một cách êm đẹp, hoà bình, hoà hiếu và cũng
trong một tinh thần hy sinh vì người như vậy.
Giá
trị sống của đời Trần là sự làm lợi mình lợi người
một cách chân chánh, và cái "mình - người" này là một liên
hệ hữu cơ không thể tách lìa. Và dĩ nhiên, một điều ai
cũng cảm nghiệm được, rằng với một tinh thần mở rộng,
không cục bộ, câu chấp, sống vì những lý tưởng lớn lao
hơn cái tôi hạn hẹp của mình thì tinh thần ấy tràn đầy
sinh khí, lạc quan và làm nên sức sống của một thời đại.
Chúng ta cũng rất dễ thấy ở thời kỳ nào mà tinh thần
ấy yếu đi, thì đất nước ta suy thoái, thua sút, chia rẽ
và bị lệ thuộc.
Vào
những năm đầu của thế kỷ XXI này, tinh thần ấy vẫn rất
quan trọng, có tác động tích cực đến mọi mặt sinh hoạt
của một đất nước. Ở đây chúng ta chỉ nêu lên vài đều
để suy nghĩ. Dân tộc ta là một dân tộc thông minh và chịu
khó, những người có tài, có đức hiện đang sinh sống trên
quê hương và khắp nơi trên thế giới, thế mà họ vẫn chưa
tập hợp và làm việc chung với nhau được, trong khi nước
ta vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu so với các nước trong khu
vực và trên thế giới.
Một
chuyện khác, trong Đại hội các nhà doanh nghiệp trẻ cuối
năm2005, báo Thanh Niên dẫn lời Phó Tiến sĩ Vũ Khoan: “Cái
tâm trước hết là cái tâm với các doanh nghiệp bạn. Chúng
ta không thể ăn lẻ một mình trong một thế giới đầy cạnh
tranh. Hiện nay, cái tâm của Doanh nhân trẻ đối với đồng
bào rất tốt, nhưng tiếc rằng cái tâm giữa các doanh nhân
với nhau còn điểm yếu. Doanh nhân Việt Nam thường hay đi
ăn lẻ. Nếu chúng ta không khắc phục được tình trạng này
thì sẽ yếu vô cùng”. Thiết tưởng, đây là điều chúng
ta vẫn thương nghe nói từ mấy thập niên nay: Văn hoá là
động lực và định hướng cho kinh tế xã hội.
Cũng
trong bối cảnh nói về một tinh thần Phật giáo, chúng ta
cũng cần suy nghĩ về ý kiến của một nhà vật lý vũ trụ
hàng đầu. Trong bài Chất thơ của vũ trụ- trò chuyện với
nhà bác học Trịnh Xuân Thuận (An Ninh Thế Giới cuối tháng
12-2005), khi được hỏi: “Là một người sùng đạo Phật,
nhưng Ngài luôn coi đó là một triết lý sống hơn là một
tôn giáo. Ngài đồng cảm thế nào về minh triết phương Đông
và duy lý phương Tây?” Trong phần trả lời của mình, Giáo
sư Trịnh Xuân Thuận cho rằng: “Những điểm đồng quy nói
trên không làm cho chúng ta ngạc nhiên, bởi vì cả khoa học
lẫn Phật giáo đều sử dụng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt
và chân xác để vươn đến chân lý. Vì mục tiêu của cả
hai là mô tả thực tại, họ phải gặp nhau ở những mẫu
số chung mà không hề loại trừ nhau. Trong khoa học, những
phương pháp cơ bản để khám phá sự thật là thí nghiệm
và sự lý thuyết hoá dựa vào phân tích; trong Phật giáo quán
tưởng là phương pháp chính. Cả hai đều là những cánh cửa
sổ cho phép ta hé nhìn vào thực tại…Khoa học cung cấp cho
ta những dữ kiện, nhưng không mang lại sự tiến bộ tâm
linh và chuyển hoá. Trái lại, sự tiếp cận tâm linh hay quán
tưởng chắc chắn phải đưa ta đến một sự chuyển hoá
bản thân sâu sắc trong cách thế mà chúng ta nhận thức về
thế giới để dẫn đến hành động…"
CẢM HỨNG
THIỀN VÀ TÂM TRẠNG HỒI CỐ
TRONG
MỘT CHÙM THƠ XUÂN
GS.
Nguyễn Huệ Chi
Mùa
xuân đem lại cái mới, đem lại sự hồi sinh cho muôn vật.
Nhưng mùa xuân đối với lứa tuổi từng trải còn là sự
tự vấn, tự chiêm nghiệm, về những gì đắc thất trong
kinh lịch cuộc đời. Các nhà thơ lớn trong nhiều thời đại,
bằng những áng thơ xuân bất hủ, đã nói hộ chúng ta rất
nhiều. Có thể nói họ đã để lại cho chúng ta những viên
ngọc sáng mà nhiều đời sau soi vào, còn đủ sức giúp mỗi
người thanh lọc để tỉnh táo hơn, bớt mù quáng, đam mê
trong con người bản năng hay quyền lực, khiến cho tâm hồn
trở nên trong trẻo.
Có
thể nói, cả một năm qua, trên đất nước ta đã diễn ra
tưng bừng biết bao nhiêu lễ hội. Lễ hội nhiều đến mức
hầu như cứ mở màn ảnh nhỏ lúc nào ta đều có thể bắt
gặp một màn trình diễn ngay lúc ấy. Lễ hội đúng là cần
thiết để cả một nước “vui vẻ trẻ trung” và bớt lo
lắng trước những chuyện dầu lo cũng không xuể: tham nhũng,
lộng quyền, nghiện ngập, trộm cướp, giết người, tai nạn
và nhũng nhiễu giao thông... liên tục hoành hành, trong khi thế
giới thì đại nạn khủng bố và họa hoạn sóng thần làm
rung chuyển trái đất. Nhưng trong truyền thống tư duy phương
Đông, không mấy ai chỉ sống với cái vui náo nhiệt bên ngoài.
Tư duy phương Đông là tư duy trực quan, rất cần những phút
giây tĩnh tại để hướng nhìn vào mình, cho tư tưởng tình
cảm của mình “tự thực hiện”. Vì vậy, vào lúc chuyển
giao thời tiết trong một năm, cái cũ sắp qua và cái mới
đang đến, ta hãy thử dành cho mình một khoảng trống lặng
nhằm giúp mình hướng nội, bằng cách cùng nhau lần đọc
lại một chùm thơ xuân của ông cha ta ít hay nhiều mang cảm
hứng Thiền, hoặc mang cái nhìn hồi cố về thực tại.
Người
đầu tiên cần nhắc đến là Mãn Giác (1052-1096), một Thiền
sư đời Lý. Ông chỉ để cho đời duy nhất một bài thơ
- một bài kệ - làm trước lúc tịch, nhưng đấy lại là
bài thơ cảm hứng đan xen với triết luận về mùa xuân. Dưới
con mắt Mãn Giác, mùa xuân tượng trưng cho sự “trẻ hóa”
- một bước thăng hoa trong chu kỳ đều đặn của vạn vật
tuần hoàn. Con người cũng nằm chung trong quy luật ấy. Con
người là một sắc tướng hữu hạn, bị chi phối bởi sinh,
lão, bệnh, tử, nhưng cũng như muôn vật, nó là một mắt
xích nhỏ trong vòng quay tuần hoàn vô tận kia. Vì thế sự
sống bao giờ cũng là bất diệt. Ngay khi đang mấp mé bên
bến bờ giữa sống và chết, Mãn Giác vẫn hiểu hơn ai hết
rằng cái chết của mình không có nghĩa là chấm hết, mà
chỉ là điểm mút của một đột phá sinh sôi nấy nở lại
sẽ khởi đầu. Cũng như mùa xuân lúc đang tàn, tưởng chừng
các loài hoa đều rụng sạch, thế mà sau một đêm, một cành
mai trước sân bỗng nhiên nở rộ:
Xuân
ruổi trăm hoa rụng,
Xuân
đến trăm hoa cười.
Trước
mắt việc đi mãi,
Trên
đầu già đến rồi.
Đừng
tưởng xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm
qua/ sân trước/ nở cành mai.
(Ngô Tất Tố dịch)
Bốn
câu đầu là thơ năm chữ, tượng trưng cho sự vận hành chậm
rãi, trở đi trở lại của nhịp sinh học trong đời người.
Đến câu thứ năm mở ra bảy chữ, liền một mạch không
ngắt nhịp, như một lời tuyên chiến với sự tuần hoàn
đều đặn ấy, nó đưa con người đến chỗ già lão. Và
câu cuối ngắt làm ba nhịp, là một thông báo trang trọng,
về cái nhân tố mới - sự hồi sinh của sức sống, sức
trẻ ngay trong lòng cái già nua - đã và đang xuất hiện.
Tiếp
sau Mãn Giác phải nói đến Trần Nhân Tông (1258-1308), ông
vua anh hùng trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lẫm
liệt của nước ta ở đời Trần. Ông cũng là một thi sĩ
có tầm vóc, có đến mấy bài thơ nói về mùa xuân, trong
đó, bài để ấn tượng đậm nhất, theo tôi là bài Cảnh
xuân (Xuân cảnh). Một khung cảnh mùa xuân được chấm phá
bằng vài nét, không có hoa đào, không có tiếng pháo, không
có hội hè tấp nập, chỉ có duy nhất mấy tiếng chim kêu
chậm rãi trong bụi liễu đang trổ hoa, có cái hình ảnh động
duy nhất của một bóng mây chậm rãi trôi trên bầu trời
làm rợp cả thềm nhà, và có sự đối diện giữa hai con
người - chủ và khách, cùng để tâm trí vào nơi hư vô -
cõi mờ ảo của mây và núi:
Chim
nhẩn nha kêu liễu trổ dày,
Thềm
hoa chiều rợp bóng mây bay.
Khách
vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,
Cùng
tựa lan can nhìn núi mây.
(Chúng tôi tạm dịch)
Một
cảnh sắc xuân thật đơn sơ, thanh đạm nhưng đã để lại
trong tâm trí người đọc muôn ngàn vương vấn. Chủ thể
sáng tạo ở đây không dùng đến lý tính mà chỉ bằng trực
giác đột ngột gợi thức ta, đưa ta vào cái miên viễn của
thời gian và cái mênh mông vô tận của đất trời, trong những
phút giây mà cả vũ trụ và con người đều như đang chuyển
hóa.
Bài
thơ thứ ba là bài Tức cảnh ngày xuân (Xuân nhật tức sự)
của Huyền Quang (1251-1334), một nhà thơ Thiền chính hiệu,
một thi sĩ lớn khác đời Trần. Bài thơ này tuy có mượn
lại tứ thơ của nhà thơ Ao Đường Trung Nhân đời Tống
nhưng được Huyền Quang thay đổi về câu chữ, và đó cũng
là việc làm thông thường trong phép tắc sáng tạo của người
xưa, ngay chính Ao Đường Trung Nhân cũng mượn lại tứ thơ
của một nhà thơ trước ông. Bài thơ chỉ nói đến một
khoảnh khắc của cái hiện tại diễn ra trước mắt Huyền
Quang: dưới giàn kinh tía có tiếng chim oanh hót líu lo, một
trang giai nhân 16 tuổi vô tư ngồi thêu gấm chậm rãi. Chợt
nghĩ đến mùa xuân đang trôi qua ngay trước mắt mà mình không
nắm giữ lại được, nàng bỗng bồi hồi thương tiếc và
chỉ trong giây lát, đường kim đang thêu dở đã dừng ngay
lại. Chính cái giây lát “đốn ngộ” ấy của người đẹp
cũng đã làm thức dậy một tình thương vô hạn ở nhà thơ:
Lỏng
tay thêu gấm gái yêu kiều,
Hoa
rợp, oanh vàng lảnh lót kêu.
Bao
nỗi thương xuân, thương biết mấy,(*)
Là
khi không nói chợt dừng thêu.
(Chúng tôi tạm dịch)
Trong
một câu thơ có cùng hai chữ thương, chữ thương trước là
thuộc về người thiếu nữ, chữ thương sau là của nhà thơ.
Nhưng nhà thơ thương cái giây phút thương xuân của người
đẹp cũng chính là đang xác nhận một sự liên thông giữa
hai con người - hai cá thể người - bằng mẫn cảm của trực
giác - trực giác của người này đánh thức trực giác của
người kia - đột nhiên cùng bừng ngộ ra dòng trôi chảy vô
tận của thời gian mà trong đấy, cái đẹp chỉ là một thoáng
hiện hữu.
Ở
đầu thế kỷ XV, có một đỉnh thơ cao vọi là Nguyễn Trãi
(1380-1442). Ông cũng là người làm không ít bài thơ xuân. Ông
có cái tâm hồn dạt dào của một người đa tình, ở tuổi
xế chiều vẫn yêu một nữ sĩ trẻ trung là Nguyễn Thị Lộ.
Cho nên trong thơ xuân của ông, có cái cảm hứng lãng mạn
của một Lý Bạch muốn “cầm đuốc chơi đêm” - thắp
đuốc lên mà chơi cho hết những giây phút cuối cùng trong
cái đêm cuối cùng của chín mươi ngày xuân:
Tiếc
xuân cầm đuốc mảng chơi đêm,
Những
lệ (sợ) xuân qua tuổi tác thêm...
Cầm
đuốc chơi đêm này khách nói,
Tiếng
chuông chưa gióng ắt còn xuân.
Nhưng
bài thơ xuân của ông đọng lâu trong tâm tưởng nhiều thế
hệ lại vẫn là bài thơ mang mạch cảm hứng Thiền: bài Bến
đò xuân đầu trại (Trại đầu xuân độ). Bài thơ chỉ có
4 câu, phác họa một không gian mơ hồ, ở đấy cỏ xanh lẫn
lộn với khói biếc, giữa màn mưa nước sông như vỗ vào
nền trời. Và trong cái khung cảnh đều đều, động mà rất
tĩnh ấy, có một con thuyền gác đầu ngủ yên trên bãi cát:
Cỏ
xuân đầu bến xanh như khói,
Thêm
nữa mưa xuân nước vỗ trời.
Đồng
nội vắng teo hành khách ít,
Thuyền
kề bãi cát trọn ngày ngơi.
(Phan Võ dịch)
Con
thuyền ngủ yên chính là tâm thức Nguyễn Trãi, một Nguyễn
Trãi không ngủ nhưng đang tìm thấy sự thảng thích trong việc
hòa nhập vào cái vô tâm của tạo hóa.
Sau
Nguyễn Trãi, một đỉnh cao khác của thi đàn ở thế kỷ
XVIII và đầu thế kỷ XIX là Nguyễn Du (1766-1820). Nguyễn Du
cũng như mọi thi hào nổi tiếng khác, vẫn thường cảm xúc
về mùa xuân. Một trong những bài thơ xuân đặc sắc của
ông là bài Đêm xuân (Xuân dạ). Cảm hứng Thiền ở bài này
không nhiều. Nhưng đây là cảm giác nặng trĩu của một con
người ốm, bệnh và hết sức cô độc. Cả bài thơ như phủ
bóng tối lên cuộc đời người viết. Tuy vậy, ở hai câu
cuối, nhà thơ bỗng nghe tiếng con sông bên nhà mình đang chảy.
Thế là, trong một bừng tỉnh của trí tuệ sâu thẳm, tiếng
sóng sông giúp ông nhìn thấy dòng chảy vô tận của thời
gian đang ở sát ngay bên cạnh mình, bất chấp và cuốn trôi
cả mọi nỗi bất hạnh của mình:
Đêm
đen nào thấy ánh dương trong,
Hàng
liễu âm thầm đứng trước song.
Ốm
liệt giang hồ bao tháng trải,
Xuân
về mưa gió suốt đêm ròng.
Lâu
năm đất khách đèn chong lệ,
Ngàn
dặm quê hương nguyệt dãi lòng.
Ngoài
xóm Nam Đoài Long Thủy chảy,
Trôi
hoài kim cổ một dòng không.
(Nguyễn Xuân Tảo dịch)
Cũng
trong nửa đầu thế kỷ XIX, một tài thơ không kém cạnh Nguyễn
Du là Cao Bá Quát (1808-1855). Cao là một con người suốt đời
đi tìm lẽ sống, một người có ý thức về sự tự do tư
tưởng của mình. Ông có một bài Đêm xuân đọc sách (Xuân
dạ độc thư), tứ thơ thật lạ. Đêm xuân ngồi đọc sách
để tìm lại những mùa xuân xưa nhưng mùa xuân xưa không
tìm đâu thấy, trái lại lại thấy dường như mình đang đối
diện với người xưa, hay đúng hơn, với thời gian, cái hiện
tại của chính mình đang trở thành cũ xưa. Sau bao nhiêu thất
bại ê chề trên trường đời, Cao Bá Quát hiểu cái hữu
hạn của khả năng con người, cái vô nghĩa của đời người
thoáng chốc. Ông lóe sáng một trực nhận về sự vận động
ngược chiều của hai phạm trù không đồng dạng: thời gian
thì luôn luôn đi tới nhưng cuộc sống con người - kiếp người
- hóa ra lại đi giật lùi trở lại mà trong sự giật lùi
đó, mọi thứ lợi lộc công danh phút chốc đều trở thành
hão. Bài thơ cho ta cái dư vị triết lý bàng bạc của một
kẻ từ Nho đang đi tới Lão, tới Thiền:
Khách
nay chẳng thấy xuân xưa nữa,
Thổn
thức xuân nay gặp khách xưa.
Nay
hóa thành xưa nào mấy chốc,
Hư
nhìn ra thực khỏi lầm chưa?
Bao
phường danh lợi cơn mưa sáng,
Mấy
bậc anh hùng đám bụi mờ.
Tục
lụy cười mình chưa dứt được,
Gần
đây sách vở quá say sưa.
(Nguyễn Văn Tú dịch)
Nhà
thơ cuối cùng mà tôi muốn đề cập trong mạch thơ xuân này
là Nguyễn Khuyến (1835-1909), một tài thơ kiệt xuất ở nửa
cuối thế kỷ XIX. Ông cũng có nhiều bài thơ xuân. Bài thơ
được nhớ rất nhiều là bài Chợ Đồng, thật ra đây không
phải là một bài thơ Thiền mà chủ yếu thuộc mạch thơ
hồi cố. Phiên chợ Đồng vẫn còn hiện diện đấy nhưng
tác giả đã không thể chống gậy đi xem chợ được nữa,
cho nên khung cảnh phiên chợ cuối năm được tác giả vẽ
ra là một khung cảnh gợi bằng trí nhớ. Cái không khí ảm
đạm của một phiên chợ vào ngày giáp tết có lẽ bao nhiêu
năm trời vẫn thế, nhưng trong cảm quan nghệ thuật Nguyễn
Khuyến có một cái gì đã thay đổi, thời của những phiên
chợ Đồng xưa đã mất. Nhà thơ viết nên những dòng thơ
tâm trạng, với những câu hỏi buông lửng, những hình ảnh
đẹp não nùng, những cặp từ láy gợi nên âm thanh buồn
bã về sự rã đám của một phiên chợ chiều, nhất là với
cái kết thúc đột ngột bằng một tiếng pháo trúc như khép
lại một thời dĩ vãng, cũng là tiếng thở dài của Nguyễn
Khuyến về những tập tục quen thuộc của làng quê một đi
không trở lại:
Tháng
Chạp, hai mươi bốn, chợ Đồng,
Năm
nay chợ họp có đông không?
Trở
trời mưa bụi còn hơi rét,
Nếm
rượu tường đền được mấy ông?
Hàng
quán người về nghe xáo xác,
Nợ
nần năm hết hỏi lung tung.
Năm
ba ngày nữa tin xuân đến,
Pháo
trúc nhà ai một tiếng đùng.
Mùa
xuân đem lại cái mới, đem lại sự hồi sinh cho muôn vật.
Nhưng mùa xuân đối với lứa tuổi từng trải còn là sự
tự vấn, tự chiêm nghiệm, về những gì đắc thất trong
kinh lịch cuộc đời. Các nhà thơ lớn trong nhiều thời đại,
bằng những áng thơ xuân bất hủ, đã nói hộ chúng ta rất
nhiều. Có thể nói họ đã để lại cho chúng ta những viên
ngọc sáng mà nhiều đời sau soi vào, còn đủ sức giúp mỗi
người thanh lọc để tỉnh táo hơn, bớt mù quáng, đam mê
trong con người bản năng hay quyền lực, khiến cho tâm hồn
trở nên trong trẻo.
(*)
Nguyên văn câu thơ này là "Khả liên vô hạn thương xuân ý"
(BT)
Ra
mắt Thiền Uyển tập anh
bản tiếng
Pháp tại Việt Nam
Hoàng
Độ
Sau
lễ ra mắt bản dịch tiếng Pháp Thiền Uyển tập anh tại
Hà Nội, sáng ngày 20/1/vừa qua, dịch phẩm này được giới
thiệu với độc giả và giới nghiên cứu tại Viện Nghiên
cứu Phật học Việt Nam, TP. HCM.
56
bài thơ (thi kệ) và các đoạn trích từ các thiền thoại
được ghi lại bằng văn bản trong Thiền uyển tập anh, bộ
sử Phật giáo lâu đời nhất của Việt Nam, đồng thời là
tuyển tập văn học ra đời ở thế kỷ XIV lưu giữ một
phần sáng tác văn học từ thế kỷ VI đến thế kỷ XIII
ở nước ta mà nhờ đó, chúng ta có thể hình dung diện mạo
và tư tưởng của cha ông trong giai đoạn lịch sử đđầy
gian nan và cũng lắm hào hùng đó.
Độc
giả trong nước biết đến Thiền Uyển tập anh bằng tiếng
Việt chữ Latin qua công trình Thơ văn Lý Trần do Viện Văn
học thực hiện, đặc biệt qua công trình Nghiên cứu Thiền
Uyển tập anh của học giả Lê Mạnh Thát. Từ lâu, Thiền
uyển tập anh đã được giới thiệu với độc giả tiếng
Pháp qua công trình nghiên cứu của học giả Trần Văn Giáp
(Le Boubbhisme en Annam dès origines au 13è sieclè, với độc giả
tiếng Anh qua bản dịch của Tiến sĩ Nguyễn Tự Cường (Cuong
Tu Nguyên, Zen in Medieval Vietnam. A Study and translation of the Thiền
uyển tập anh, Đại học Hawaii, 1997). Thiền Uyển tập anh
bản tiếng Pháp của Giáo sư Philippe Langlet với sự trình
bày của họa sĩ Dominique de Miscault vừa ra mắt bạn đọc
tại Việt Nam vừa rồi là một sự kết hợp chưa thấy trước
đây.
Sách
có nguyên bản chữ Hán, bản dịch tiếng Pháp và bản tiếng
Việt, tham chiếu bản dịch với nhiều cước chú được tham
chiếu từ nghiên cứu của Lê Mạnh Thát và nhiều tác
giả khác. Sách được in rất đẹp, phảng phất chất thủy
mặc của phương Đông.
Un
livre des moines Buoddhistes dan le Việt Nam d’autrefois là sự kết
hợp giữa một học giả và một nghệ sĩ, Giáo sư Philippe
Langlet và nghệ sĩ tạo hình Dominique de Miscault qua những bức
ảnh được xếp đặt lại. Nói như Tuệ Sỹ, “Từ những
chuyển tải bằng ngôn ngữ Pháp thực hiện bởi, từ những
minh họa bằng kỹ xảo của lý trí tư biện phương Tây bởi
nghệ sĩ tạo hình Dominique de Miscault, chúng ta thử tìm lại
dấu vết tâm tư của tiền nhân, thử nhìn lại chính mình
từ đôi mắt của những người khác, để tự khẳng định
chính mình trong những cơn lốc thời đại.” (Về những minh
họa từ Thiền Uyển tập anh).
Philippe
Langlet:
Tôi
đặc biệt thích
không
khí Thiền tại Việt Nam
Philippe
Langlet là Giáo sư Danh dự Đặc hạng tại Viện Đại học
Paris 7 – Denis Diderot. Từ lâu ông chuyên tâm nghiên cứu Lịch
sử và Văn minh Việt Nam, dành riêng cho VHPG một cuộc phỏng
vấn lúc 12h30 trưa ngày 20 tháng 1 năm 2006 tại Viện Nghiên
cứu Phật học Việt Nam (Thiền viện Vạnh Hạnh), khi ông
đến dự ngày ra mắt bản dịch Thiền Uyển Tập Anh, mà ông
là dịch giả phần tiếng Pháp.
_
Tại sao ông lại chọn Thiền Uyển Tập Anh, mà không là một
tác phẩm nào khác?
+ Lý
do thứ nhất, ngoài lịch sử Phật Pháp đã có, tôi hay bất
cứ ai có nhu cầu nghiên cứu Phật giáo cũng đều muốn có
thêm những văn bản khác để đối sánh, tìm hiểu thêm. Bản
in đầu tiên của tác phẩm này xuất hiện vào thế kỷ 11,
bản thứ hai vào thế kỷ 14 và thứ ba vào thế kỷ 18. Cuốn
sách nói về quãng thời gian từ thế kỷ 8 đến 12, thuộc
thời Lý, chứ không phải thời Lý – Trần như nhiều người
thường nói. Vị chi đây là tuyển tập văn học Thiền, có
liên quan trực tiếp đến tư tưởng và lịch sử Phật giáo
cổ xưa nhất của Việt Nam. Ban đầu viết bằng chữ Hán,
bản chữ Nôm xuất hiện dưới thời Trần… Lý do thứ hai,
là tôi đặc biệt thích không khí Thiền tại Việt Nam thời
Lý – Trần, cũng như bản dịch của GS. Lê Mạnh Thát và
sách về Thiền Uyển Tập Anh của những tác giả khác.
_
Vậy là ông làm việc dựa trên bản dịch của GS. Lê Mạnh
Thát?
+ Không.
Tôi dựa chủ yếu vào chữ Hán, bản tiếng Việt chỉ giúp
tôi trong cách dịch. Hình như người Việt bây giờ có cách
nghĩ khác, nên cách dịch cũng có khác. Tôi không muốn bị
"tam sao thất bổn", dù dịch trung thành cũng không dễ.
_
Khi in ra tiếng Pháp, ngôn ngữ sách được trình bày như thế
nào?
+ Như
anh cũng đã nhìn thấy trong buổi giới thiệu lúc sáng, tôi
lấy chữ Hán làm trung tâm, sau đó mới tới tiếng Việt và
tiếng Pháp. Các thiền sư ngày xưa viết bằng chữ Hán, nghĩa
là có nghĩ tới người đọc ở diện rộng, Trung Quốc, Nhật,
Triều Tiên… đều có thể đọc được. Bây giờ nếu mình
làm khác đi, chỉ có thêm thiệt thòi.
_
Những khó khăn mà ông gặp phải khi làm cuốn sách này?
+ Ngoài
2 năm ròng miệt mài, coi như không tính. Tôi thấy khó nhất
vẫn là hiểu được thâm ý của từng chữ, từng câu. Hiểu
được đã khó, mà tìm được những từ, những thuật ngữ
tương đương trong tiếng Pháp còn khó hơn. Ví dụ chữ Thiền
trong tiếng Việt, tôi không tìm ra được từ tương đương
trong tiếng Pháp, mà vay mượn các thuật ngữ của Trung Quốc,
Nhật, Triều Tiên (vốn quen dùng ở phương Tây)… để dịch
thì tôi không muốn, vì thực tế, 4 truyền thống này có 4
tinh thần khác nhau. Cuối cùng tôi phải chọn giải pháp dịch
Thiền ra cụm từ "phật giáo trực giác", nghĩa là nói
về khả năng lĩnh hội mà không thông qua những luận lý dài
dòng, không thông qua lý tính.
_
Hỏi thật, ông tự đánh giá mình dịch có hay không?
+ Không
hay. Vì dịch thơ khó lắm; nhất là thơ cổ, ngữ cảnh khác,
ý tại ngôn ngoại, một chữ nhiều ý… Nhưng tôi cố gắng
làm một cuốn sách có giá trị tham khảo ở mức phổ thông,
nghĩa là những sinh viên chỉ biết chữ Nho, tiếng Việt hay
tiếng Pháp vẫn có thể đọc được.
_
Còn chuyện tác động của cuốn sách khi phát hành tại Pháp?
+ Sẽ
không nhiều, vì nó đi ngược, thậm chí chống lại xã hội
tiêu thụ phương Tâyï, trọng sự NHANH… trong khi Thiền Uyển
Tập Anh thì khá AN NHÀN. Chưa nói người Pháp đâu biết gì
nhiều về Thiền Việt Nam, họ chỉ biết đến Phật giáo
thông qua chùa chiền, tăng sĩ… và chỉ đơn thuần xem nó
như một tôn giáo.
_
Chắc nó cũng khác với truyền thống thơ và nghệ thuật của
Pháp?
+ Căn
bản là khác. Nhưng nếu so với thơ thời Lãng mạn ở Pháp
thì có khá nhiều điểm tương đồng. Victo Hugo của Pháp,
Goethe của Đức, William Blake của Anh… và cả hội hoạ của
Anh thời Hiện đại nữa, có khá nhiều điểm tương đồng
với thơ Thiền Việt Nam, cứ y như chính họ chịu ảnh hưởng
vậy.
_
Ông có thích Công án Thiền không?
+ Phải
nói rằng rất thú vị. Nhưng do khác truyền thống, tôi đã
phải mất rất nhiều thời gian khi đọc, dù nó luôn rất
ngắn. Tôi thích Công án giữa thiền sư Ngộ Ấn và thiền
sư Quảng Trí, đối đáp về câu hỏi: Đại đạo là gì?
Đại đạo là con đường lớn. Con đường lớn là gì? Thì
là con đường lớn… Công án này đưa người ta vào thế
bế tắc với các lập luận nhì nhằng của mình, vì thế
mà người ta sẽ Ngộ ra Chân lý ¬thường khá giản dị.
_
Điều thú vị nhất mà ông nhận được khi công trình này
hoàn thành?
+ Tôi
không phải là nhà nghiên cứu tôn giáo, lại càng không phải
là Phật tử, tôi thuộc tín đồ Cơ đốc giáo. Khi thấm được
tánh Không của Phật giáo, tôi muốn dùng nó để thay thế
những cảm nhận xưa nay của mình về cõi đời, về thiên
đàng, về huyền nhiệm, về địa ngục… Như vậy là giữa
truyền thống cũ mà tôi đang theo với truyền thống mới mà
tôi mới tiếp nhận có sự va chạm, và thế là tôi tìm ra
mầm tươi mới cho đời mình. Mà cái gì tươi mới hoặc luôn
tươi mới thì cái đó thú vị.
_
Ông nghĩ gì khi trả lời bài phỏng vấn này lúc giữa trưa?
+ Khá
mệt vì trong người tôi đang có bệnh, nhưng cũng rất thích
thú, vì trúng những câu hỏi tôi thấy có khả năng và muốn
trả lời.
Hiền
Hoà thực hiện, với sự trợ giúp của chị Ngọc Sương,
anh Vũ Thành Sơn trong phần phiên dịch Pháp - Việt.
TÍNH
VĂN HÓA TRONG NGHỆ THUẬT
(Nhân
nhận giải thưởng Đào Tấn)
Thái
Kim Lan
Bất
ngờ tôi nhận giải thưởng Đào Tấn! Phải nói là bất ngờ!
Bởi vì thật tình tôi không phải là nghệ nhân hay nghệ sĩ
mà giải thưởng Đào Tấn nhắm đến. Có chăng một chút
dính líu đến Đào Tấn là tính mê tuồng hát mà tôi đã
được thừa hưởng của bà Nội tôi, đã làm cho tôi thường
dành nhiều cảm tình đặc biệt cho môn nghệ thuật sân khấu
mà Đào Tấn đã một thời đam mê xây dựng và phát huy. Nếu
nhìn như thế thì giải thưởng này thật ra không riêng gì
cho tôi mà, trong ý nghĩa nào đó về khả thể nhận giải,
mỗi người mê tuồng đều có thể nhận được giải thưởng
này, vậy thì tôi chỉ xin là đại diện những người mê
tuồng mà nhận lãnh.
Dù
sao đi nữa, giải thưởng tuy bất ngờ cho người nhận giải
nhưng điều chắc chắn không một chút ngờ là giá trị văn
học nghệ thuật mà Đào Tấn đã mang lại cho nghệ thuật
sân khấu tuồng. Thế nên nhận giải thưởng Đào Tấn đã
cho tôi cơ hội cảm nhận thêm tư tưởng của Đào Tấn về
nghệ thuật sân khấu và chính con người của ông. Có
bốn điểm tôi xin được nêu ra trong tương quan với vấn
đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật sân khấu tuồng:
1.
Nghệ thuật sân khấu tuồng liên hệ mật thiết với đạo
lý trong việc chuyển tải, phổ biến chân thiện mỹ cho quảng
đại quần chúng. “Tuồng Đào Tấn” và “thế giới tuồng
Đào Tấn” đầu thế kỷ 20 đã lôi cuốn hàng vạn người
mê say tuồng suốt trăm năm, đã tác động mạnh mẽ vào tâm
lý xã hội đương thời, đã được mọi tầng lớp khán giả
tiền thế cũng như hậu thế yêu thích và ngưỡng mộ. Đào
Tấn cho rằng “Kẻ mới biết chữ, không đọc kinh, nhưng
không thể không xem hát tuồng…” và ông cũng nhận rõ chức
năng khơi dậy cảm tính yêu điều thiện, thúc giục phản
tư về ý nghĩa nhân sinh, cảm thông những giá trị nhân bản
về trung hiếu nghĩa v.v. của tuồng hát trên sân khấu đối
với khán giả: “Sức mạnh của tuồng hát như thủy ngân
chảy xuống đất, không có lỗ nào là không thể vượt qua,
mà công dụng của nó, thì tuy pháp luật nghiêm khắc và dày
đặc, tôn giáo tinh vi, cũng không thể nào thắng được nó…”
2.
Nhưng đối với Đào Tấn, ý thức rõ liên hệ giữa nghệ
thuật tuồng và đạo đức trong chức năng “tải đạo”
không có nghĩa nghệ thuật tuồng chỉ là công cụ phục vụ
đạo lý khô khan cứng nhắc giáo điều, ngược lại theo ông,
tính văn hoá cao trong nghệ thuật cần được chính tác nhân
nghệ thuật tôn trọng và bảo vệ ưu việt, hay nói cách
khác, tương quan nghệ thuật và đạo lý chỉ có ý nghĩa và
hiệu quả trước tiên khi chính nhà thơ, nhà văn, người trước
tác, trung thực với lý tưởng chân thiện mỹ trong sáng tác
của mình. Nghệ thuật do đó không nhằm phục vụ cho một
mục đích đạo lý khuôn sáo giả tạo hay quyền uy chính trị,
đi ngược lại đạo lý văn học, cũng như đạo lý nhân bản
mà chính tuồng hát nêu lên, và người trước tác trước
hết là kẻ bảo vệ tính trung thực của nghệ thuật trong
sự độc lập và tự do sáng tạo ấy. Giai thoại diễn tuồng
“Tiết Cương phá thiết khâu phần” cho vua Thành Thái và
quần thần xem, trong đó Đào Tấn đã cương quyết không bẻ
cong bút sửa một chữ trong vở tuồng để tránh nguy hiểm
bị quyền thần ám hại, đã nói lên tinh thần trung chính
bảo vệ tính văn hóa trong nghệ thuật của Đào Tấn. Bao
lâu tính văn hóa không được nhà văn, nhà thơ mài dũa, sáng
tạo một cách độc lập với mọi ý thức hệ, uy quyền hay
thế lực chính trị, thì tính văn hóa đó khó tồn tại, mà
chỉ là những hiện tượng nhất thời, từ đó sẽ bị mai
một.
3.
Ở Đào Tấn, tính văn hóa nỗi bật trong các tác phẩm cũng
như trong con người có lẽ nằm trọn ở trong sự tổng hợp
hài hòa đầy thiện cảm nhân tình giữa nhà trí thức Đào
Tấn và nghệ sĩ Đào Tấn. Trí thức nghệ sĩ Đào Tấn
đi
về có nhau giữa thức tĩnh và đam mê, giữa minh triết
ngoại vật và dấn thân mê mãi, giữa tri thức ban đêm và
mộng mị ban ngày. Thức tĩnh của ông là trí tuệ nâng cao
nghệ thuật tuồng từ hình thức đến nội dung, đam
mê của ông là sống thực với tích tuồng, sống hết mình
xuyên suốt tác phẩm và nhân vật, đắm chìm trong nghệ thuật
kịch hóa cuộc đời và từ đó thức tĩnh trong đời thực.
Là một nhà trí thức, ông không sợ ngồi chung với con hát,
thân thiết như trong một gia đình, cười với họ và khóc
với họ. Chính gạch nối giữa trí thức và đam mê đã cho
ông khả năng bình dân hoá những tích tuồng ngoại lai,
thổi vào đó sức sống vượt thời gian với Tiết Cương
chống búa, Phi Hổ nằm miễu, Trụ Vương dỡn tượng, Phượng
Cơ qua ải…cho khán giả bản địa thuộc mọi tầng lớp.
Những nhân vật trên sân khấu trở nên những biểu tuợng
đặc trưng trong lòng khán giả, văn chương trong các bài từ
đầy nhạc tính rạng rỡ vẻ đẹp vừa lãng mạn vừa thanh
cao chứng tỏ thêm một lần trí tuệ tĩnh táo và tâm thức
hoài mộng đều có sức năng động vượt thời gian như chính
danh hiệu mà Đào Tấn tự đặt cho mình: Mộng Mai và Mai Tăng.
Cũng cùng một đóa mai ấy nhưng chiều không gian của nó có
thể vượt thời gian nối kết giác ngộ và mộng mơ. Chính
nơi giao thoa ấy, chất sáng tạo nghệ thuật được ươm mầm.
4.
Như thế, kế thừa Đào Tấn trong lĩnh vực văn hóa và nhất
là trên bình diện nghệ thuật sân khấu đòi hỏi sự thấu
triệt nếp truyền thống, gia sản tích tuồng và nghệ thuật
sân khấu trong quá khứ cũng như khả thể nhu cầu văn hóa
hiện đại. Đồng thời với sự ý thức rõ nghệ thuật tuồng
như một nét văn hóa truyền thống không thể thiếu là nỗ
lực hiện đại hóa nghệ thuật này. Trong tiến trình biến
đổi thị hiếu về nghệ thuật sân khấu trong những thập
niên vừa qua, chúng ta có ly do để lạc quan về chu kỳ trở
lại nghệ thuật sân khấu tuồng, (mà hiện nay trên thế giới
nghệ thuật truyền thống nói chung đang được hồi sinh) một
phần vì chính nghệ thuật này đã hàm chứa trong nó
tinh hoa văn hóa của kịch nghệ có thể đáp ứng những đòi
hỏi nghệ thuật cao trong hoàn cảnh văn học nghệ thuật hiện
đại, hay nói cách khác, trào lưu văn học hậu hiện đại
có khuynh hướng tìm về nghệ thuật truyền thống như một
yếu tố thiêt yếu cho định hướng văn hóa tương lai, sau
giai đoạn máy móc hóa (mechanism) hay vô nhân hóa nghệ thuật.
Trong một chừng mực lạc quan, có thể không mâu thuẫn khi
nói, tiên tiến hay hiện đại hóa nghệ thuật tuồng có nghĩa
là trở lại hay khôi phục chính nghệ thuật sân khấu tuồng
nguyên ủy mà Đào Tấn đã khổ công và đam mê xây dựng,
điều đó có nghĩa, trả lại nghệ thuật tuồng tính văn
hóa đích thực (authentique) vượt lên trên mọi định chế
hủ hóa, khuyến khích nghệ nhân trau dồi kiến thức về nghệ
thuật tuồng trên thế giới đồng thời thổi vào nghệ nhân
luồng sinh khí tự tin và quyết chí nâng cao, làm mới
nghệ
thuật tuồng như Đào Tấn đã bày tỏ:
“Muốn
làm mới mẻ dân trong một nước, không thể không làm hưng
thịnh tuồng hát của nước đó. Do đó, muốn làm mới mẻ
đạo đức, thì phải làm mới mẻ tuồng hát, muốn làm mới
mẻ chính trị, thì phải làm mới mẻ tuồng hát…”
Kế
thừa Đào Tấn như thế có nghĩa, trở về nghệ thuật tuồng
trong tinh thần giao thoa mới - cũ đầy thức tĩnh và sáng
tạo không ngừng, để nghệ thuật này luôn mãi là giấc mộng
dài cao quí như mai vàng trời Nam mà nhà thơ Đào Tấn mơ ước
được hóa thân:
Nhàn
hứng mai sơn bốc thọ viên
Thạch
đầu cao cứ tiếu vô ngôn
Mai
sơn tha nhật tàng mai cốt
Ưng
hữu mai hoa tác mộng hồn.
dịch:
Lên
đỉnh núi mai tìm đất thọ
Mỉm
cười lặng ngắm đá chon von
Núi
mai rồi giữ xương mai nhé
Ước
được hoa mai hóa mộng hồn *
*
Xin cám ơn bác Vũ Ngọc Liễn đã gửi tài liệu về Đào Tấn:
Đào Tấn, thơ và từ, Vũ Ngọc Liễn biên khảo, lời đầu
sách của Xuân Diệu, NXB Sân Khấu, Hà Nội, 2003.