.
.SỐ 13 -THÁNG 2, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 13-THÁNG 2, 2006

 


HUYỀN ẢO CÀ PHÊ
Chân Phương

Giữa cỏ cây lặng lẽ, vọng mơ hồ âm thanh hòa tấu lẫn trong tiếng nước chảy róc rách, khuấy dậy hương cà phê đầm ấm. Nhắp một ngụm, vị đắng ngấm đầu lưỡi tê tê, rồi trôi tan, để lại chút ngọt ngào nơi cổ họng, ánh chiều Xuân cũng gom tụ về gương mặt tròn trịa soi ngời đôi mắt nhà sư. Nếu ngày xưa, ngài Bồ Đề Đạt Ma gặp hạt cà phê, thay vì lá trà dùng cho tỉnh ngủ, thì có lẽ...

Cũng như trà đọt non, cà phê có họat chất chính là caffein và nhiều chất kích thích khác như: trigonellin (một thành phần của chất nicotin, chất chủ yếu ở thuốc lá), những chất dầu thơm và axit. Caffein tác động trực tiếp đến thần kinh não tủy, do đó kích thích toàn bộ hệ thần kinh, đồng thời làm gia tăng nhịp thở, nhịp tim và huyết áp, khiến gan phóng thích chất đường vào máu, tạo cảm giác hưng phấn và quên đói. Thận và bàng quang được kích thích, tăng cường nhu động ruột, nên có tác dụng lợi tiểu và nhuận trường.

Về mặt tâm lý, cà phê tăng cường sự nhạy bén của cảm giác về màu sắc, và âm thanh cũng được cảm nhận mạnh mẽ hơn. Phần não trước, nơi đảm nhận các chức năng của ý thức và lý trí, được kích thích làm phát triển một số loại hình hoạt động tinh thần như phân tích và phê bình, tiếp thu những khái niệm mới, nhận thức các mối liên hệ phức tạp, đưa ra những nguyên tắc chi phối các hoạt động khác nhau, và diễn tả rành mạch các ý tưởng. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên, mà hầu hết các học giả, văn sĩ và giới khoa học thường ưa thích cà phê.

Talleyrand, nhà chính trị và ngoại giao nổi tiếng của nước pháp thế kỷ XIX có ví von cà phê là "đen như ác quỷ, nóng như địa ngục, tinh khiết như thiên thần và ngọt ngọt ngào như tình yêu". Còn nhà triết học trào phúng John Eenest Mcann ở Anh thì bảo: "Cà phê làm người buồn hóa vui, người lười thành siêng, người lạnh được ấm, và người ấm trở nên rạng rỡ". Sử gia người đức Heinrich Jacobs qủa quyết: cà phê có một sức mạnh quan trọng trong việc hình thành thế giới hiện đại, giúp những người làm đêm duy trì sự năng động,hiệu quả, và giúp đẩy nhanh nhịp sống nói chung. Cà phê đã góp phần làm gia tăng năng suất kinh tế và lao động trí óc. Tác dụng của cà phê cũng giúp người ta chịu được những thời gian buồn tẻ nhàn rỗi trong văn phòng hay công xưởng của một xã hội công nghiệp nặng tính máy móc. Ông cũng xem cà phê có một vai trò hệ trọng trong lịch sử văn hóa phương Tây. Để áp dụng triết học của Nietzsch nhằm xây dựng một siêu nhân, Jacobs xác định, trong khi rượu tác động đến phong thái của người bình thường thì cà phê tô đậm mẫu người tuyệt luân.

Theo truyền thuyết, cà phê bắt nguồn từ Abyssinia (Ethiopia) ở châu Phi. Truyện kể rằng, một người chăn dê đã khám phá ra đặc tính kích thích của cà phê khi thấy đàn gia súc ăn hạt và lá của loại cây này mà trở nên nhanh nhẹn phi thường. Tuy nhiên, người đầu tiên dùng cà phê làm thức uống có lẽ là dân Ả Rập (cách nay khoảng 8 thế kỷ), họ đặt cho cà phê cái tên "kahula", nghĩa là sức mạnh. Do tác dụng kích thích mạnh mẽ, cà phê lúc ban đầu bị các vị lãnh đạo tôn giáo cho là thức uống của ma quỷ, giới thầy thuốc bảo là nguyên nhân của nhiều bệnh tật, và các nhà cầm quyền xem là tác nhân của gợi sự phản nghịch và tạo loạn.

Những quán cà phê đầu tiên có lẽ được thiết lập ở La Mecque, Ả Rập Saoudit vào đầu thế kỷ XV, đó là nơi người ta tụ họp, múa hát cuồng nhiệt, nhưng do làm phật lòng một số Pháp quan chuyên chính, khiến họ ban hành những luật lệ khắt khe, nhằm dẹp bỏ những tụ điểm này. Từ đó, quán cà phê tràn qua Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và trải rộng khắp lục địa Cựu thế giới rồi đến tận lãnh thổ Tân thế giới châu Mỹ. Ở châu Âu, những quán cà phê đầu tiên xuất hiện tại Venise nước Ý (1640), Marseille nước Pháp  (1654), Luân Đôn nước Anh (1672). Riêng ở nước ta, món cà phê có lẽ đã xuất hiện trong tầng lớp thượng lưu trí thức từ thời Trịnh-Nguyễn, và rộ thành phong trào khi Pháp đô hộ.

Nếu ở vào thập kỷ 1960-1970, bước vào một quán cà phê dành cho người sành điệu ở Sài Gòn, bạn nhận thấy ngay khung cảnh đặc biệt: yên tĩnh, ánh đèn mờ ảo, mùi cà phê ngào ngạt, nhạc nhẹ văng vẳng. Cảnh trí giống như nơi thánh đường hoặc đạo tràng nho nhỏ mang dáng dấp thẩm mỹ và thông thái. Khách quen thuộc khẽ hớp một ngụm với phong cách sùng mộ, rồi cầm đọc một tờ báo, một cuốn sách văn chương, sách triết; có người mơ màng như nhập thiền. Và ngày nay, trong cuộc sống rộn ràng, một tách 'đen nóng', hoặc một ly 'phê đá' vẫn là một 'nghi thức' quan trọng cho buổi sáng, hay buổi tối của nhiều người từ Nam chí Bắc, từ thành thị đến nông thôn.

Tuy nhiên, cà phê cũng được xem là một loại 'thuốc gây nghiện'. Những người nghiện cà phê nặng nếu không có cà phê cũng sinh ra những triệu chứng thiếu thuốc như trường hợp ghiền ma túy nhưng nhẹ hơn như: mệt mỏi, bơ phờ, đau đầu giần giật, bực bội, dễ phát cáu, mất khả năng tập trung tinh thần, cảm thấy chán chường, và có thể bị nôn mửa. Những triệu chứng này thường kéo kéo dài từ 36 đến 72 tiếng đồng hồ, và đương nhiên sẽ biến mất sớm hơn nếu người ta dùng lại cà phê hay những món có caffein như trà đọt non đậm đặc. Ngoài ra, nếu dùng nhiều một cách thường xuyên, lâu dài, cà phê có thể gây bệnh tim, run tay, rối loạn tiêu hóa; làm con người trở nên nhút nhát, hay lo âu và dễ nổi cộc. Các loại cà phê có trên thị trường thường được pha tẩm những chất tăng hương vị, khó ai biết có độc hay không. Hiện nay, do lo ngại đến sức khỏe, những người có thói quen uống cà phê thay cho nước giải khát có khuynh hướng dùng cà phê đã khử bỏ chất caffein, hoặc uống cà phê thực dưỡng, cà phê hạt cốc làm bằng gạo lứt với các loại đậu, bột rau diếp đắng chicory và tim hạt sen. Cà phê thực dưỡng có tác dụng trợ tiêu hóa, bổ tim, tốt não, an thần, điều hòa huyết áp.

Nhưng dù thế nào, cà phê cũng là một loại thức uống có mùi vị thơm ngon, hấp dẫn, giúp nhiều người cảm thấy thoải mái, tươi tỉnh, sống động (dù ngắn ngủi) trong các mối quan hệ của cuộc sống. Cà phê cũng như trà, không hẳn là tốt hay xấu cho sức khỏe, tác dụng của nó tùy thuộc vào nhiều yếu tố: chủng loại, cách trồng, cách pha chế, liều lượng, thể trạng người uống, khung cảnh nơi uống... Một số người đã nâng việc uống cà phê lên hàng nghệ thuật, tương tự như trà đạo, và sau đây là một vài lời khuyên của họ:

- Tìm loại cà phê nguyên chất hảo hạng cói nguồn gốc đáng tin cậy.

- Nếu có thể nên chọn loại cà phê trồng thiên nhiên, không bón phân hóa học, không phun thuốc trừ sâu.

- Hạt cà phê rang rồi, nên cất trong hũ kín, khi dùng mới lấy ra một ít đem xay để tránh tình trạng hôi dầu, có hại cho tác dụng của không khí.

- Dùng dụng cụ bằng inox, bằng sứ hoặc tráng men để pha cà phê thay vì dùng dụng cụ bằng nhôm, để tránh tác dụng hóa học của các chất axit, chất dầu, caffein.

- Để có một tách cà phê thơm ngon nhưng ít tác dụng bất lợi, có thể ngâm bột cà phê trong nước chín nguội khoảng 24 giờ, lọc lấy 2 hay 3 muỗng cà phê đậm đặc này rồi pha với nước nóng để dùng.

- Nếu uống ngọt, nên pha cà phê với đường thô (đường đỏ, đường nâu, đường vàng) thay vì đường cát trắng, và thêm một chút muối biển (rang và xay thành bột) để vị cà phê được đậm đà.

- Chỉ uống cà phê theo cách thưởng thức một mình hoặc với bạn bè, không nên dùng cà phê thay nước uống giải khát. -nhấp từng ngụm nhỏ và nhẹ nhàng nhai cho nước cà phê trộn với nước miếng để trung hòa các chất axit trước khi nuốt.

Tham khảo:
-Natural Health, Natural Medicine của Bs Andrew Weil, Mỹ, 1990.
Báo East-West Journal của Hội Thực dưỡng Đông Tây, Mỹ.
Báo Bangkok Post, Thái Lan. 
 



GÃ CÙNG TỬ 
TRONG MỖI CHÚNG TA
Chí Sơn

Ta nuôi dưỡng trong ta một gã cùng tử đã trưởng thành và đang già dần theo thời gian mà không cho gã một cơ hội để thấy lại mình là ai, biết rõ ông cha, quê quán ở đâu. Thậm chí ta còn đùn đẩy gã đi về cái nẻo mà “bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi”, đến một ngày  “nhìn lại mình” thì…”đời đã xanh rêu”!

Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật đã rất thiện xảo khi dùng hình ảnh gã cùng tử đi hoang làm ẩn dụ để cảnh tỉnh và dẫn dắt chúng sinh trở về nẻo giác, trở về với chính bản tâm của mình. 

Gã cùng tử vốn là con của một trưởng giả giàu có, bỏ nhà đi bụi đời đã lâu. Lẽ ra gã là người giàu sang vào bậc nhất nhì trong vùng, nhưng trái lại, gã ta nghèo rớt mồng tơi, tư cách thấp hèn, luôn tự ti, e sợ và tránh né những ai mà gã cho là cao sang phú quý.

Cái dáng vẻ tồi tàn rách rưới của gã cùng tử là dáng dấp khổ đau nhuốm màu phiền luỵ của chúng sinh đấy thôi - của cả tôi và anh. Cái tư tưởng mặc cảm hèn kém của gã cùng tử, không dám thân gần người phú quý giàu sang, ngay cả khi gặp lại cha mình (vị trưởng giả) lại bỏ chạy thục mạng, cũng chính là những ánh nhìn và tư tưởng của chúng sinh còn vọng động, điên đảo và đầy ảo tưởng hằng ngày đấy thôi. Ông trưởng giả giàu có đầy lòng bác ái lân mẫn kia đã cất công tìm kiếm và đưa gã về nhà, về chỗ mà lẽ ra gã phải đứng đó, phải có trách nhiệm và có cả hạnh phúc để sống cuộc đời của mình.

Và như thế, cũng bằng cách đó, Đức Thế Tôn đã dung nhiếp mọi chúng sinh, mọi loài, đưa về bờ bến an vui bằng mọi  phương tiện mà Ngài có thể làm, có thể hướng dẫn dắt dìu. 

Gã cùng tử trong tôi vẫn còn len lén đi hoang mà quên mất đường về. Gã cùng tử trong anh có khi hãy còn say sưa đâu đó trong cõi trần đầy mê hoặc, không thực, vô thường, dễ hoại và đầy ắp khổ đau này. 

Thảng hoặc đâu đó, gã cùng tử trong ta không còn nhận ra cha mình nữa, nhìn cha mình đầy hoài nghi, với mặc cảm mình mãi mãi chỉ là kẻ ti tiện, chẳng bao giờ có thể thay đổi được. Đôi khi gã cùng tử trong ta đi qua đống của cải của cha mình để đó một cách thờ ơ, lãnh đạm, và đánh mất cả mình trong những phút giây nông nỗi trước cuộc sống vô thường rình rập.

Ta nuôi dưỡng trong ta một gã cùng tử đã trưởng thành và đang già dần theo thời gian mà không cho gã một cơ hội để thấy lại mình là ai, biết rõ ông cha, quê quán ở đâu. Thậm chí, ta còn đùn đẩy gã đi về cái nẻo mà “bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi”, đến một ngày “nhìn lại mình” thì…”đời đã xanh rêu”! Mặc dù tận trong sâu thẳm tâm thức của mình, cả gã cùng tử và ta khát khao biết dường nào một lần được trở về với quê hương đích thực, về với ngôi nhà thân ái của mình, ở đó có cha mẹ, có niềm hạnh phúc gia đình, thôi không đi rong, không phải vong thân nữa.

Vậy mà gã cùng tử trong ta vẫn mãi lang thang nay đây mai đó, vẫn lưu linh lưu địa trong miền tâm thức bao la, giang hồ trong cõi thất niệm với biết bao mộng khởi điệp trùng mỗi ngày. Phải làm sao để kéo gã quay về nhà, trở về sống cuộc đời của một con người hẳn hoi. Phải tìm lại cho được con người thật của mình, chớ tự cho mình là đồ bỏ đi, để rồi từ chối cái bản hoài, cái tánh Phật trong chính mình.

Trên con đường trở về, mặc dù có thể vẫn còn nhiều chông gai hiểm trở, nhưng cũng có nhiều hoa thơm cỏ lạ toả hương chào đón gã cùng tử quay về. Gã có thể an nhiên ngắm hoa, bình tĩnh dẹp đám gai sang bên lề đường để bước về tới nhà cha mình.

Gã cùng tử cô độc ngày nào giờ đã tìm thấy cha, đã nhận ra người cha thương kính của mình. Bằng sự khích lệ khéo, người cha đã giúp gã dần dần nhận ra khả năng của mình, lấy lại niềm tin vào cuộc sống, học được cách quản lý tài sản, quản lý đời gã. Và nhờ vậy, gã đã trở thành người thừa kế cái gia sản quý giá do cha mình để lại. 

Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, người cha nào mà chẳng an tâm khi đã chọn được đứa con tin yêu để truyền trao lại cái gia sản quý giá của mình! 

Phải cho gã cùng tử thời gian để làm quen với cuộc sống hiện tại, để gã trở thành người thừa kế xứng đáng của vị trưởng giả. Nhưng hãy nhớ rằng, chỉ với một niệm quay về trong tâm thì bờ giác đã hiển hiện! Người con Phật sẽ là chính mình ngay bây giờ và ở đây với cái gia tài đang hiện hữu đó. Phiền não tức là bồ đề. Gã cùng tử khi còn đi hoang và gã cùng tử đang thừa hưởng gia sản bây giờ, hai anh chàng đó ở trong ta tuy hai mà một, chỉ khác là một lần lấm lem bụi đường và một lần được tắm rửa tinh tươm. 

Gã cùng tử trong mỗi con người là điều có thật. Hãy nhìn nhận ra gã cùng tử trong tôi, trong anh và trong tất cả chúng ta.

Xin tri ân mối thâm tình giữa hai con người trong một tâm thức ấy…
 


12 Con đường sáng cuối ngõ vật chất (Nguyễn Tường Bách)
Đang Đánh Máy


Những giá trị sống 
TINH THẦN ĐOÀN KẾT 
VÌ LỢI LẠC CỦA CỘNG ĐỒNG
Nguyễn Thế Đăng

Tinh thần sống vì sự tốt đẹp của mọi người, qua đó cá nhân mình cũng trở nên tốt đẹp và hoàn thiện hơn, không phải là cái gì quá xa lạ đối với người Việt, mà nó đã có từ rất sớm trong truyền thống văn hoá Việt Nam, kể từ khi văn hoá và nhân vật văn hoá được ghi lại bằng chữ viết. Một trong những cuốn kinh xưa nhất ở Việt Nam là Lục Độ Thập Kinh đã nói rất rõ về tinh thần này qua hình ảnh nhập thế độ sinh của các vị Bồ tát. Nói một cách đơn giản, hạnh Bồ tát là sự tự hoàn thiện mình để sống vì sự tốt đẹp, thắng tiến (về cả thân và tâm) của người khác. Và trong khi sống vì sự tốt đẹp, thăng tiến của người khác, chính cá nhân mình cũng trở nên hoàn thiện.

Trong Lục Độ Tập Kinh,  lần đầu tiên người ta nghe nói đến huyền thoại “Một bọc trăm trứng” (truyện số 23), huyền thoại “đồng bào” về sự đoàn kết của dòng giống Việt. Cũng trong kinh này, khái niệm “đất nước” xuất hiện nhiều, ngầm ám chỉ đến đất nước ta: “Lấy năm giới, mười điều thiện làm quốc chính” (truyện 9), “lấy nhân trị quốc” (truyện 11) “làm điều tà nguỵ thì mất nước” (truyện 27)…

Thệ nguyện vì cộng đồng (nguyện), hành động vì cộng đồng (hạnh), là một một nhân tố hết sức quan trọng khiến dân tộc ta, một nước tuy nhỏ, nhưng đã vượt qua biết bao khó khăn gian khổ trong chiến tranh, trong thiên tai, hạn hán...để đứng vững, tồn tại và phát triển cho đến tận hôm nay. 
Chúng ta hãy xem thử tinh thần “vì người”, “vì cộng đồng”  ấy được thể hiện ở đời Trần, một thời kỳ xán lạn và có tinh thần lạc quan nhất trong lịch sử Việt Nam, như thế nào. Trần Thái Tông (Trần Cảnh), vị vua đầu tiên của đời Trần, là một người đã "lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy lòng thiên hạ làm lòng của mình" theo đúng như lời Quốc sư Phù Vân đã căn dặn trong chốn thâm sơn Yên Tử. Và tinh thần ấy đã được các vị vua nhà Trần tiếp nối như một dòng chảy liên tục, hun đúc thành một vừng hào khí Đông A rực rỡ cả một thời.

Là những bậc quân vương, nhưng lại rất thấu tỏ giáo lý Đức Phật, các vị vua đời Trần không hề muốn chiến tranh và sự sát hại xảy ra. Hội nghị Diên Hồng, một cuộc trưng cầu ý kiến các vị bô lão trong nước mang tính dân chủ đầu tiên ở nước ta, đã nói lêảats rõ thái độ không chủ chiến ấy của các vua Trần. Trước hành động tàn phá đất nước, giầy xéo Thăng Long của quân giặ, thái độ của Trần Nhân Tông cũng tỏ ra rất nhân đạo và từ bi: “Vua trông thấy thủ cấp của Toa Đô, thương hại nói: “Người làm tôi phải thế này”. Rồi cởi áo ngự đắp cho trước khi chôn". Sau mỗi lần chiến thắng, các vua Trần đều thả cho tù binh trở về lại đất nước họ. Đến khi kết thúc chiến tranh, Trần Thánh Tông đã ra lệnh đốt hết danh sách những người phản bội đã đầu hàng giặc mà không hề xem qua.

Thắng trận về lại kinh đô, những người đứng đầu nhà Trần vẫn giữ một thái độ vô ngã, từ hoà, lạc quan, và không hề thù hận. Không có ai tự phụ, đề cao công lao của mình, thậm chí là công lao của đời Trần, mà chỉ xem đấy như một tư thế hiển nhiên của Giang sơn đất nước.

Bài thơ chiến thắng của Trần NhânTông:

Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.

Và của Thượng tướng Trần Quang Khải:

Chương Dương cướp giáo giặc
Cửa Hàm Tử bắt thù
Thái Bình nên gắng sức
Non nước ấy nghìn thu.

Sự mở rộng đất nước về phương Nam với hai châu Ô, Lý cũng diễn tiến một cách êm đẹp, hoà bình, hoà hiếu và cũng trong một tinh thần hy sinh vì người như vậy.

Giá trị sống của đời Trần là sự làm lợi mình lợi người một cách chân chánh, và cái "mình - người" này là một liên hệ hữu cơ không thể tách lìa. Và dĩ nhiên, một điều ai cũng cảm nghiệm được, rằng với một tinh thần mở rộng, không cục bộ, câu chấp, sống vì những lý tưởng lớn lao hơn cái tôi hạn hẹp của mình thì tinh thần ấy tràn đầy sinh khí, lạc quan và làm nên sức sống của một thời đại. Chúng ta cũng rất dễ thấy ở thời kỳ nào mà tinh thần ấy yếu đi, thì đất nước ta suy thoái, thua sút, chia rẽ và bị lệ thuộc.

Vào những năm đầu của thế kỷ XXI này, tinh thần ấy vẫn rất quan trọng, có tác động tích cực đến mọi mặt sinh hoạt của một đất nước. Ở đây chúng ta chỉ nêu lên vài đều để suy nghĩ. Dân tộc ta là một dân tộc thông minh và chịu khó, những người có tài, có đức hiện đang sinh sống trên quê hương và khắp nơi trên thế giới, thế mà họ vẫn chưa tập hợp và làm việc chung với nhau được, trong khi nước ta vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Một chuyện khác, trong Đại hội các nhà doanh nghiệp trẻ cuối năm2005, báo Thanh Niên dẫn lời Phó Tiến sĩ Vũ Khoan: “Cái tâm trước hết là cái tâm với các doanh nghiệp bạn. Chúng ta không thể ăn lẻ một mình trong một thế giới đầy cạnh tranh. Hiện nay, cái tâm của Doanh nhân trẻ đối với đồng bào rất tốt, nhưng tiếc rằng cái tâm giữa các doanh nhân với nhau còn điểm yếu. Doanh nhân Việt Nam thường hay đi ăn lẻ. Nếu chúng ta không khắc phục được tình trạng này thì sẽ yếu vô cùng”. Thiết tưởng, đây là điều chúng ta vẫn thương nghe nói từ mấy thập niên nay: Văn hoá là động lực và định hướng cho kinh tế xã hội.

Cũng trong bối cảnh nói về một tinh thần Phật giáo, chúng ta cũng cần suy nghĩ về ý kiến của một nhà vật lý vũ trụ hàng đầu. Trong bài Chất thơ của vũ trụ- trò chuyện với nhà bác học Trịnh Xuân Thuận (An Ninh Thế Giới cuối tháng 12-2005), khi được hỏi: “Là một người sùng đạo Phật, nhưng Ngài luôn coi đó là một triết lý sống hơn là một tôn giáo. Ngài đồng cảm thế nào về minh triết phương Đông và duy lý phương Tây?” Trong phần trả lời của mình, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận cho rằng: “Những điểm đồng quy nói trên không làm cho chúng ta ngạc nhiên, bởi vì cả khoa học lẫn Phật giáo đều sử dụng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt và chân xác để vươn đến chân lý. Vì mục tiêu của cả hai là mô tả thực tại, họ phải gặp nhau ở những mẫu số chung mà không hề loại trừ nhau. Trong khoa học, những phương pháp cơ bản để khám phá sự thật là thí nghiệm và sự lý thuyết hoá dựa vào phân tích; trong Phật giáo quán tưởng là phương pháp chính. Cả hai đều là những cánh cửa sổ cho phép ta hé nhìn vào thực tại…Khoa học cung cấp cho ta những dữ kiện, nhưng không mang lại sự tiến bộ tâm linh và chuyển hoá. Trái lại, sự tiếp cận tâm linh hay quán tưởng chắc chắn phải đưa ta đến một sự chuyển hoá bản thân sâu sắc trong cách thế mà chúng ta nhận thức về thế giới để dẫn đến hành động…"
 
 


CẢM HỨNG THIỀN VÀ TÂM TRẠNG HỒI CỐ 
TRONG MỘT CHÙM THƠ XUÂN
GS. Nguyễn Huệ Chi

Mùa xuân đem lại cái mới, đem lại sự hồi sinh cho muôn vật. Nhưng mùa xuân đối với lứa tuổi từng trải còn là sự tự vấn, tự chiêm nghiệm, về những gì đắc thất trong kinh lịch cuộc đời. Các nhà thơ lớn trong nhiều thời đại, bằng những áng thơ xuân bất hủ, đã nói hộ chúng ta rất nhiều. Có thể nói họ đã để lại cho chúng ta những viên ngọc sáng mà nhiều đời sau soi vào, còn đủ sức giúp mỗi người thanh lọc để tỉnh táo hơn, bớt mù quáng, đam mê trong con người bản năng hay quyền lực, khiến cho tâm hồn trở nên trong trẻo.

Có thể nói, cả một năm qua, trên đất nước ta đã diễn ra tưng bừng biết bao nhiêu lễ hội. Lễ hội nhiều đến mức hầu như cứ mở màn ảnh nhỏ lúc nào ta đều có thể bắt gặp một màn trình diễn ngay lúc ấy. Lễ hội đúng là cần thiết để cả một nước “vui vẻ trẻ trung” và bớt lo lắng trước những chuyện dầu lo cũng không xuể: tham nhũng, lộng quyền, nghiện ngập, trộm cướp, giết người, tai nạn và nhũng nhiễu giao thông... liên tục hoành hành, trong khi thế giới thì đại nạn khủng bố và họa hoạn sóng thần làm rung chuyển trái đất. Nhưng trong truyền thống tư duy phương Đông, không mấy ai chỉ sống với cái vui náo nhiệt bên ngoài. Tư duy phương Đông là tư duy trực quan, rất cần những phút giây tĩnh tại để hướng nhìn vào mình, cho tư tưởng tình cảm của mình “tự thực hiện”. Vì vậy, vào lúc chuyển giao thời tiết trong một năm, cái cũ sắp qua và cái mới đang đến, ta hãy thử dành cho mình một khoảng trống lặng nhằm giúp mình hướng nội, bằng cách cùng nhau lần đọc lại một chùm thơ xuân của ông cha ta ít hay nhiều mang cảm hứng Thiền, hoặc mang cái nhìn hồi cố về thực tại.

Người đầu tiên cần nhắc đến là Mãn Giác (1052-1096), một Thiền sư đời Lý. Ông chỉ để cho đời duy nhất một bài thơ - một bài kệ - làm trước lúc tịch, nhưng đấy lại là bài thơ cảm hứng đan xen với triết luận về mùa xuân. Dưới con mắt Mãn Giác, mùa xuân tượng trưng cho sự “trẻ hóa” - một bước thăng hoa trong chu kỳ đều đặn của vạn vật tuần hoàn. Con người cũng nằm chung trong quy luật ấy. Con người là một sắc tướng hữu hạn, bị chi phối bởi sinh, lão, bệnh, tử, nhưng cũng như muôn vật, nó là một mắt xích nhỏ trong vòng quay tuần hoàn vô tận kia. Vì thế sự sống bao giờ cũng là bất diệt. Ngay khi đang mấp mé bên bến bờ giữa sống và chết, Mãn Giác vẫn hiểu hơn ai hết rằng cái chết của mình không có nghĩa là chấm hết, mà chỉ là điểm mút của một đột phá sinh sôi nấy nở lại sẽ khởi đầu. Cũng như mùa xuân lúc đang tàn, tưởng chừng các loài hoa đều rụng sạch, thế mà sau một đêm, một cành mai trước sân bỗng nhiên nở rộ:

Xuân ruổi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa cười.
Trước mắt việc đi mãi,
Trên đầu già đến rồi.
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua/ sân trước/ nở cành mai.
                    (Ngô Tất Tố dịch)

Bốn câu đầu là thơ năm chữ, tượng trưng cho sự vận hành chậm rãi, trở đi trở lại của nhịp sinh học trong đời người. Đến câu thứ năm mở ra bảy chữ, liền một mạch không ngắt nhịp, như một lời tuyên chiến với sự tuần hoàn đều đặn ấy, nó đưa con người đến chỗ già lão. Và câu cuối ngắt làm ba nhịp, là một thông báo trang trọng, về cái nhân tố mới - sự hồi sinh của sức sống, sức trẻ ngay trong lòng cái già nua - đã và đang xuất hiện.

Tiếp sau Mãn Giác phải nói đến Trần Nhân Tông (1258-1308), ông vua anh hùng trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lẫm liệt của nước ta ở đời Trần. Ông cũng là một thi sĩ có tầm vóc, có đến mấy bài thơ nói về mùa xuân, trong đó, bài để ấn tượng đậm nhất, theo tôi là bài Cảnh xuân (Xuân cảnh). Một khung cảnh mùa xuân được chấm phá bằng vài nét, không có hoa đào, không có tiếng pháo, không có hội hè tấp nập, chỉ có duy nhất mấy tiếng chim kêu chậm rãi trong bụi liễu đang trổ hoa, có cái hình ảnh động duy nhất của một bóng mây chậm rãi trôi trên bầu trời làm rợp cả thềm nhà, và có sự đối diện giữa hai con người - chủ và khách, cùng để tâm trí vào nơi hư vô - cõi mờ ảo của mây và núi:

Chim nhẩn nha kêu liễu trổ dày,
Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay.
Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,
Cùng tựa lan can nhìn núi mây.
                          (Chúng tôi tạm dịch)

Một cảnh sắc xuân thật đơn sơ, thanh đạm nhưng đã để lại trong tâm trí người đọc muôn ngàn vương vấn. Chủ thể sáng tạo ở đây không dùng đến lý tính mà chỉ bằng trực giác đột ngột gợi thức ta, đưa ta vào cái miên viễn của thời gian và cái mênh mông vô tận của đất trời, trong những phút giây mà cả vũ trụ và con người đều như đang chuyển hóa.

Bài thơ thứ ba là bài Tức cảnh ngày xuân (Xuân nhật tức sự) của Huyền Quang (1251-1334), một nhà thơ Thiền chính hiệu, một thi sĩ lớn khác đời Trần. Bài thơ này tuy có mượn lại tứ thơ của nhà thơ Ao Đường Trung Nhân đời Tống nhưng được Huyền Quang thay đổi về câu chữ, và đó cũng là việc làm thông thường trong phép tắc sáng tạo của người xưa, ngay chính Ao Đường Trung Nhân cũng mượn lại tứ thơ của một nhà thơ trước ông. Bài thơ chỉ nói đến một khoảnh khắc của cái hiện tại diễn ra trước mắt Huyền Quang: dưới giàn kinh tía có tiếng chim oanh hót líu lo, một trang giai nhân 16 tuổi vô tư ngồi thêu gấm chậm rãi. Chợt nghĩ đến mùa xuân đang trôi qua ngay trước mắt mà mình không nắm giữ lại được, nàng bỗng bồi hồi thương tiếc và chỉ trong giây lát, đường kim đang thêu dở đã dừng ngay lại. Chính cái giây lát “đốn ngộ” ấy của người đẹp cũng đã làm thức dậy một tình thương vô hạn ở nhà thơ:

Lỏng tay thêu gấm gái yêu kiều,
Hoa rợp, oanh vàng lảnh lót kêu.
Bao nỗi thương xuân, thương biết mấy,(*)
Là khi không nói chợt dừng thêu.
                             (Chúng tôi tạm dịch)

Trong một câu thơ có cùng hai chữ thương, chữ thương trước là thuộc về người thiếu nữ, chữ thương sau là của nhà thơ. Nhưng nhà thơ thương cái giây phút thương xuân của người đẹp cũng chính là đang xác nhận một sự liên thông giữa hai con người - hai cá thể người - bằng mẫn cảm của trực giác - trực giác của người này đánh thức trực giác của người kia - đột nhiên cùng bừng ngộ ra dòng trôi chảy vô tận của thời gian mà trong đấy, cái đẹp chỉ là một thoáng hiện hữu.

Ở đầu thế kỷ XV, có một đỉnh thơ cao vọi là Nguyễn Trãi (1380-1442). Ông cũng là người làm không ít bài thơ xuân. Ông có cái tâm hồn dạt dào của một người đa tình, ở tuổi xế chiều vẫn yêu một nữ sĩ trẻ trung là Nguyễn Thị Lộ. Cho nên trong thơ xuân của ông, có cái cảm hứng lãng mạn của một Lý Bạch muốn “cầm đuốc chơi đêm” - thắp đuốc lên mà chơi cho hết những giây phút cuối cùng trong cái đêm cuối cùng của chín mươi ngày xuân:

Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm,
Những lệ (sợ) xuân qua tuổi tác thêm...
Cầm đuốc chơi đêm này khách nói,
Tiếng chuông chưa gióng ắt còn xuân.

Nhưng bài thơ xuân của ông đọng lâu trong tâm tưởng nhiều thế hệ lại vẫn là bài thơ mang mạch cảm hứng Thiền: bài Bến đò xuân đầu trại (Trại đầu xuân độ). Bài thơ chỉ có 4 câu, phác họa một không gian mơ hồ, ở đấy cỏ xanh lẫn lộn với khói biếc, giữa màn mưa nước sông như vỗ vào nền trời. Và trong cái khung cảnh đều đều, động mà rất tĩnh ấy, có một con thuyền gác đầu ngủ yên trên bãi cát:

Cỏ xuân đầu bến xanh như khói,
Thêm nữa mưa xuân nước vỗ trời.
Đồng nội vắng teo hành khách ít,
Thuyền kề bãi cát trọn ngày ngơi.
                             (Phan Võ dịch)

Con thuyền ngủ yên chính là tâm thức Nguyễn Trãi, một Nguyễn Trãi không ngủ nhưng đang tìm thấy sự thảng thích trong việc hòa nhập vào cái vô tâm của tạo hóa.

Sau Nguyễn Trãi, một đỉnh cao khác của thi đàn ở thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX là Nguyễn Du (1766-1820). Nguyễn Du cũng như mọi thi hào nổi tiếng khác, vẫn thường cảm xúc về mùa xuân. Một trong những bài thơ xuân đặc sắc của ông là bài Đêm xuân (Xuân dạ). Cảm hứng Thiền ở bài này không nhiều. Nhưng đây là cảm giác nặng trĩu của một con người ốm, bệnh và hết sức cô độc. Cả bài thơ như phủ bóng tối lên cuộc đời người viết. Tuy vậy, ở hai câu cuối, nhà thơ bỗng nghe tiếng con sông bên nhà mình đang chảy. Thế là, trong một bừng tỉnh của trí tuệ sâu thẳm, tiếng sóng sông giúp ông nhìn thấy dòng chảy vô tận của thời gian đang ở sát ngay bên cạnh mình, bất chấp và cuốn trôi cả mọi nỗi bất hạnh của mình:

Đêm đen nào thấy ánh dương trong,
Hàng liễu âm thầm đứng trước song.
Ốm liệt giang hồ bao tháng trải,
Xuân về mưa gió suốt đêm ròng.
Lâu năm đất khách đèn chong lệ,
Ngàn dặm quê hương nguyệt dãi lòng.
Ngoài xóm Nam Đoài Long Thủy chảy,
Trôi hoài kim cổ một dòng không.
                         (Nguyễn Xuân Tảo dịch)

Cũng trong nửa đầu thế kỷ XIX, một tài thơ không kém cạnh Nguyễn Du là Cao Bá Quát (1808-1855). Cao là một con người suốt đời đi tìm lẽ sống, một người có ý thức về sự tự do tư tưởng của mình. Ông có một bài Đêm xuân đọc sách (Xuân dạ độc thư), tứ thơ thật lạ. Đêm xuân ngồi đọc sách để tìm lại những mùa xuân xưa nhưng mùa xuân xưa không tìm đâu thấy, trái lại lại thấy dường như mình đang đối diện với người xưa, hay đúng hơn, với thời gian, cái hiện tại của chính mình đang trở thành cũ xưa. Sau bao nhiêu thất bại ê chề trên trường đời, Cao Bá Quát hiểu cái hữu hạn của khả năng con người, cái vô nghĩa của đời người thoáng chốc. Ông lóe sáng một trực nhận về sự vận động ngược chiều của hai phạm trù không đồng dạng: thời gian thì luôn luôn đi tới nhưng cuộc sống con người - kiếp người - hóa ra lại đi giật lùi trở lại mà trong sự giật lùi đó, mọi thứ lợi lộc công danh phút chốc đều trở thành hão. Bài thơ cho ta cái dư vị triết lý bàng bạc của một kẻ từ Nho đang đi tới Lão, tới Thiền:

Khách nay chẳng thấy xuân xưa nữa,
Thổn thức xuân nay gặp khách xưa.
Nay hóa thành xưa nào mấy chốc,
Hư nhìn ra thực khỏi lầm chưa?
Bao phường danh lợi cơn mưa sáng,
Mấy bậc anh hùng đám bụi mờ.
Tục lụy cười mình chưa dứt được,
Gần đây sách vở quá say sưa.
                               (Nguyễn Văn Tú dịch)

Nhà thơ cuối cùng mà tôi muốn đề cập trong mạch thơ xuân này là Nguyễn Khuyến (1835-1909), một tài thơ kiệt xuất ở nửa cuối thế kỷ XIX. Ông cũng có nhiều bài thơ xuân. Bài thơ được nhớ rất nhiều là bài Chợ Đồng, thật ra đây không phải là một bài thơ Thiền mà chủ yếu thuộc mạch thơ hồi cố. Phiên chợ Đồng vẫn còn hiện diện đấy nhưng tác giả đã không thể chống gậy đi xem chợ được nữa, cho nên khung cảnh phiên chợ cuối năm được tác giả vẽ ra là một khung cảnh gợi bằng trí nhớ. Cái không khí ảm đạm của một phiên chợ vào ngày giáp tết có lẽ bao nhiêu năm trời vẫn thế, nhưng trong cảm quan nghệ thuật Nguyễn Khuyến có một cái gì đã thay đổi, thời của những phiên chợ Đồng xưa đã mất. Nhà thơ viết nên những dòng thơ tâm trạng, với những câu hỏi buông lửng, những hình ảnh đẹp não nùng, những cặp từ láy gợi nên âm thanh buồn bã về sự rã đám của một phiên chợ chiều, nhất là với cái kết thúc đột ngột bằng một tiếng pháo trúc như khép lại một thời dĩ vãng, cũng là tiếng thở dài của Nguyễn Khuyến về những tập tục quen thuộc của làng quê một đi không trở lại:

Tháng Chạp, hai mươi bốn, chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?
Trở trời mưa bụi còn hơi rét,
Nếm rượu tường đền được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
Năm ba ngày nữa tin xuân đến,
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.

Mùa xuân đem lại cái mới, đem lại sự hồi sinh cho muôn vật. Nhưng mùa xuân đối với lứa tuổi từng trải còn là sự tự vấn, tự chiêm nghiệm, về những gì đắc thất trong kinh lịch cuộc đời. Các nhà thơ lớn trong nhiều thời đại, bằng những áng thơ xuân bất hủ, đã nói hộ chúng ta rất nhiều. Có thể nói họ đã để lại cho chúng ta những viên ngọc sáng mà nhiều đời sau soi vào, còn đủ sức giúp mỗi người thanh lọc để tỉnh táo hơn, bớt mù quáng, đam mê trong con người bản năng hay quyền lực, khiến cho tâm hồn trở nên trong trẻo.

(*) Nguyên văn câu thơ này là "Khả liên vô hạn thương xuân ý" (BT)
 



Ra mắt Thiền Uyển tập anh 
bản tiếng Pháp tại Việt Nam
Hoàng Độ

Sau lễ ra mắt bản dịch tiếng Pháp Thiền Uyển tập anh tại Hà Nội, sáng ngày 20/1/vừa qua, dịch phẩm này được giới thiệu với độc giả và giới nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP. HCM.

56 bài thơ (thi kệ) và các đoạn trích từ các thiền thoại được ghi lại bằng văn bản trong Thiền uyển tập anh, bộ sử Phật giáo lâu đời nhất của Việt Nam, đồng thời là tuyển tập văn học ra đời ở thế kỷ XIV lưu giữ một phần sáng tác văn học từ thế kỷ VI đến thế kỷ XIII ở nước ta mà nhờ đó, chúng ta có thể hình dung diện mạo và tư tưởng của cha ông trong giai đoạn lịch sử đđầy gian nan và cũng lắm hào hùng đó. 

Độc giả trong nước biết đến Thiền Uyển tập anh bằng tiếng Việt chữ Latin qua công trình Thơ văn Lý Trần do Viện Văn học thực hiện, đặc biệt qua công trình Nghiên cứu Thiền Uyển tập anh của học giả Lê Mạnh Thát. Từ lâu, Thiền uyển tập anh đã được giới thiệu với độc giả tiếng Pháp qua công trình nghiên cứu của học giả Trần Văn Giáp (Le Boubbhisme en Annam dès origines au 13è sieclè, với độc giả tiếng Anh qua bản dịch của Tiến sĩ Nguyễn Tự Cường (Cuong Tu Nguyên, Zen in Medieval Vietnam. A Study and translation of the Thiền uyển tập anh, Đại học Hawaii, 1997). Thiền Uyển tập anh bản tiếng Pháp của Giáo sư Philippe Langlet với sự trình bày của họa sĩ Dominique de Miscault vừa ra mắt bạn đọc tại Việt Nam vừa rồi là một sự kết hợp chưa thấy trước đây.
Sách có nguyên bản chữ Hán, bản dịch tiếng Pháp và bản tiếng Việt, tham chiếu bản dịch với nhiều cước chú được tham chiếu từ  nghiên cứu của Lê Mạnh Thát và nhiều tác giả khác. Sách được in rất đẹp, phảng phất chất thủy mặc của phương Đông.

Un livre des moines Buoddhistes dan le Việt Nam d’autrefois là sự kết hợp giữa một học giả và một nghệ sĩ, Giáo sư Philippe Langlet và nghệ sĩ tạo hình Dominique de Miscault qua những bức ảnh được xếp đặt lại. Nói như Tuệ Sỹ, “Từ những chuyển tải bằng ngôn ngữ Pháp thực hiện bởi, từ những minh họa bằng kỹ xảo của lý trí tư biện phương Tây bởi nghệ sĩ tạo hình Dominique de Miscault, chúng ta thử tìm lại dấu vết tâm tư của tiền nhân, thử nhìn lại chính mình từ đôi mắt của những người khác, để tự khẳng định chính mình trong những cơn lốc thời đại.” (Về những minh họa từ Thiền Uyển tập anh).
 
 


Philippe Langlet: 
Tôi đặc biệt thích 
không khí Thiền tại Việt Nam

Philippe Langlet là Giáo sư Danh dự Đặc hạng tại Viện Đại học Paris 7 – Denis Diderot. Từ lâu ông chuyên tâm nghiên cứu Lịch sử và Văn minh Việt Nam, dành riêng cho VHPG một cuộc phỏng vấn lúc 12h30 trưa ngày 20 tháng 1 năm 2006 tại Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (Thiền viện Vạnh Hạnh), khi ông đến dự ngày ra mắt bản dịch Thiền Uyển Tập Anh, mà ông là dịch giả phần tiếng Pháp.

_ Tại sao ông lại chọn Thiền Uyển Tập Anh, mà không là một tác phẩm nào khác?

+ Lý do thứ nhất, ngoài lịch sử Phật Pháp đã có, tôi hay bất cứ ai có nhu cầu nghiên cứu Phật giáo cũng đều muốn có thêm những văn bản khác để đối sánh, tìm hiểu thêm. Bản in đầu tiên của tác phẩm này xuất hiện vào thế kỷ 11, bản thứ hai vào thế kỷ 14 và thứ ba vào thế kỷ 18. Cuốn sách nói về quãng thời gian từ thế kỷ 8 đến 12, thuộc thời Lý, chứ không phải thời Lý – Trần như nhiều người thường nói. Vị chi đây là tuyển tập văn học Thiền, có liên quan trực tiếp đến tư tưởng và lịch sử Phật giáo cổ xưa nhất của Việt Nam. Ban đầu viết bằng chữ Hán, bản chữ Nôm xuất hiện dưới thời Trần… Lý do thứ hai, là tôi đặc biệt thích không khí Thiền tại Việt Nam thời Lý – Trần, cũng như bản dịch của GS. Lê Mạnh Thát và sách về Thiền Uyển Tập Anh của những tác giả khác.

_ Vậy là ông làm việc dựa trên bản dịch của GS. Lê Mạnh Thát? 

+ Không. Tôi dựa chủ yếu vào chữ Hán, bản tiếng Việt chỉ giúp tôi trong cách dịch. Hình như người Việt bây giờ có cách nghĩ khác, nên cách dịch cũng có khác. Tôi không muốn bị "tam sao thất bổn", dù dịch trung thành cũng không dễ.

_ Khi in ra tiếng Pháp, ngôn ngữ sách được trình bày như thế nào?

+ Như anh cũng đã nhìn thấy trong buổi giới thiệu lúc sáng, tôi lấy chữ Hán làm trung tâm, sau đó mới tới tiếng Việt và tiếng Pháp. Các thiền sư ngày xưa viết bằng chữ Hán, nghĩa là có nghĩ tới người đọc ở diện rộng, Trung Quốc, Nhật, Triều Tiên… đều có thể đọc được. Bây giờ nếu mình làm khác đi, chỉ có thêm thiệt thòi.

_ Những khó khăn mà ông gặp phải khi làm cuốn sách này?

+ Ngoài 2 năm ròng miệt mài, coi như không tính. Tôi thấy khó nhất vẫn là hiểu được thâm ý của từng chữ, từng câu. Hiểu được đã khó, mà tìm được những từ, những thuật ngữ tương đương trong tiếng Pháp còn khó hơn. Ví dụ chữ Thiền trong tiếng Việt, tôi không tìm ra được từ tương đương trong tiếng Pháp, mà vay mượn các thuật ngữ của Trung Quốc, Nhật, Triều Tiên (vốn quen dùng ở phương Tây)… để dịch thì tôi không muốn, vì thực tế, 4 truyền thống này có 4 tinh thần khác nhau. Cuối cùng tôi phải chọn giải pháp dịch Thiền ra cụm từ "phật giáo trực giác",  nghĩa là nói về khả năng lĩnh hội mà không thông qua những luận lý dài dòng, không thông qua lý tính.

_ Hỏi thật, ông tự đánh giá mình dịch có hay không?

+ Không hay. Vì dịch thơ khó lắm; nhất là thơ cổ, ngữ cảnh khác, ý tại ngôn ngoại, một chữ nhiều ý… Nhưng tôi cố gắng làm một cuốn sách có giá trị tham khảo ở mức phổ thông, nghĩa là những sinh viên chỉ biết chữ Nho, tiếng Việt hay tiếng Pháp vẫn có thể đọc được.

_ Còn chuyện tác động của cuốn sách khi phát hành tại Pháp?

+ Sẽ không nhiều, vì nó đi ngược, thậm chí chống lại xã hội tiêu thụ phương Tâyï, trọng sự NHANH… trong khi Thiền Uyển Tập Anh thì khá AN NHÀN. Chưa nói người Pháp đâu biết gì nhiều về Thiền Việt Nam, họ chỉ biết đến Phật giáo thông qua chùa chiền, tăng sĩ… và chỉ đơn thuần xem nó như một tôn giáo.

_ Chắc nó cũng khác với truyền thống thơ và nghệ thuật của Pháp?

+ Căn bản là khác. Nhưng nếu so với thơ thời Lãng mạn ở Pháp thì có khá nhiều điểm tương đồng. Victo Hugo của Pháp, Goethe của Đức, William Blake của Anh… và cả hội hoạ của Anh thời Hiện đại nữa, có khá nhiều điểm tương đồng với thơ Thiền Việt Nam, cứ y như chính họ chịu ảnh hưởng vậy.

_ Ông có thích Công án Thiền không?

+ Phải nói rằng rất thú vị. Nhưng do khác truyền thống, tôi đã phải mất rất nhiều thời gian khi đọc, dù nó luôn rất ngắn. Tôi thích Công án giữa thiền sư Ngộ Ấn và thiền sư Quảng Trí, đối đáp về câu hỏi: Đại đạo là gì? Đại đạo là con đường lớn. Con đường lớn là gì? Thì là con đường lớn… Công án này đưa người ta vào thế bế tắc với các lập luận nhì nhằng của mình, vì thế mà người ta sẽ Ngộ ra Chân lý ¬thường khá giản dị.

_ Điều thú vị nhất mà ông nhận được khi công trình này hoàn thành?

+ Tôi không phải là nhà nghiên cứu tôn giáo, lại càng không phải là Phật tử, tôi thuộc tín đồ Cơ đốc giáo. Khi thấm được tánh Không của Phật giáo, tôi muốn dùng nó để thay thế những cảm nhận xưa nay của mình về cõi đời, về thiên đàng, về huyền nhiệm, về địa ngục… Như vậy là giữa truyền thống cũ mà tôi đang theo với truyền thống mới mà tôi mới tiếp nhận có sự va chạm, và thế là tôi tìm ra mầm tươi mới cho đời mình. Mà cái gì tươi mới hoặc luôn tươi mới thì cái đó thú vị.

_ Ông nghĩ gì khi trả lời bài phỏng vấn này lúc giữa trưa?

+ Khá mệt vì trong người tôi đang có bệnh, nhưng cũng rất thích thú, vì trúng những câu hỏi tôi thấy có khả năng và muốn trả lời.

Hiền Hoà thực hiện, với sự trợ giúp của chị Ngọc Sương, anh Vũ Thành Sơn trong phần phiên dịch Pháp - Việt.
 



TÍNH VĂN HÓA TRONG NGHỆ THUẬT
(Nhân nhận giải thưởng Đào Tấn)
Thái Kim Lan

Bất ngờ tôi nhận giải thưởng Đào Tấn! Phải nói là bất ngờ! Bởi vì thật tình tôi không phải là nghệ nhân hay nghệ sĩ mà giải thưởng Đào Tấn nhắm đến. Có chăng một chút dính líu đến Đào Tấn là tính mê tuồng hát mà tôi đã được thừa hưởng của bà Nội tôi, đã làm cho tôi thường dành nhiều cảm tình đặc biệt cho môn nghệ thuật sân khấu mà Đào Tấn đã một thời đam mê xây dựng và phát huy. Nếu nhìn như thế thì giải thưởng này thật ra không riêng gì cho tôi mà, trong ý nghĩa nào đó về khả thể nhận giải, mỗi người mê tuồng đều có thể nhận được giải thưởng này, vậy thì tôi chỉ xin là đại diện những người mê tuồng mà nhận lãnh. 

Dù sao đi nữa, giải thưởng tuy bất ngờ cho người nhận giải nhưng điều chắc chắn không một chút ngờ là giá trị văn học nghệ thuật mà Đào Tấn đã mang lại cho nghệ thuật sân khấu tuồng. Thế nên nhận giải thưởng Đào Tấn đã cho tôi cơ hội cảm nhận thêm tư tưởng của Đào Tấn về nghệ thuật sân khấu  và chính con người của ông. Có bốn điểm tôi xin được nêu ra trong tương quan với vấn đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật sân khấu tuồng:

1. Nghệ thuật sân khấu tuồng liên hệ mật thiết với đạo lý trong việc chuyển tải, phổ biến chân thiện mỹ cho quảng đại quần chúng. “Tuồng Đào Tấn” và “thế giới tuồng Đào Tấn” đầu thế kỷ 20 đã lôi cuốn hàng vạn người mê say tuồng suốt trăm năm, đã tác động mạnh mẽ vào tâm lý xã hội đương thời, đã được mọi tầng lớp khán giả  tiền thế cũng như hậu thế yêu thích và ngưỡng mộ. Đào Tấn cho rằng “Kẻ mới biết chữ, không đọc kinh, nhưng không thể không xem hát tuồng…” và ông cũng nhận rõ chức năng khơi dậy cảm tính yêu điều thiện, thúc giục phản tư về ý nghĩa nhân sinh, cảm thông những giá trị nhân bản  về trung hiếu nghĩa v.v. của tuồng hát trên sân khấu đối với khán giả: “Sức mạnh của tuồng hát như thủy ngân chảy xuống đất, không có lỗ nào là không thể vượt qua, mà công dụng của nó, thì tuy pháp luật nghiêm khắc và dày đặc, tôn giáo tinh vi, cũng không thể nào thắng được nó…”

2. Nhưng đối với Đào Tấn, ý thức rõ liên hệ giữa nghệ thuật tuồng và đạo đức trong chức năng “tải đạo” không có nghĩa nghệ thuật tuồng chỉ là công cụ phục vụ đạo lý khô khan cứng nhắc giáo điều, ngược lại theo ông, tính văn hoá cao trong nghệ thuật cần được chính tác nhân nghệ thuật  tôn trọng và bảo vệ ưu việt, hay nói cách khác, tương quan nghệ thuật và đạo lý chỉ có ý nghĩa và hiệu quả trước tiên khi chính nhà thơ, nhà văn, người trước tác, trung thực với lý tưởng chân thiện mỹ trong sáng tác của mình. Nghệ thuật do đó không nhằm phục vụ cho một mục đích đạo lý khuôn sáo giả tạo hay quyền uy chính trị, đi ngược lại đạo lý văn học, cũng như đạo lý nhân bản  mà chính tuồng hát nêu lên, và người trước tác trước hết là kẻ bảo vệ tính trung thực của nghệ thuật trong sự độc lập và tự do sáng tạo ấy. Giai thoại diễn tuồng “Tiết Cương phá thiết khâu phần” cho vua Thành Thái và quần thần xem, trong đó Đào Tấn đã cương quyết không bẻ cong bút sửa một chữ trong vở tuồng để tránh nguy hiểm bị quyền thần ám hại, đã nói lên tinh thần trung chính bảo vệ tính văn hóa trong nghệ thuật của Đào Tấn. Bao lâu tính văn hóa không được nhà văn, nhà thơ mài dũa, sáng tạo một cách độc lập với mọi ý thức hệ, uy quyền hay thế lực chính trị, thì tính văn hóa đó khó tồn tại, mà chỉ là những hiện tượng nhất thời, từ đó sẽ bị mai một.

3. Ở Đào Tấn, tính văn hóa nỗi bật trong các tác phẩm cũng như trong con người có lẽ nằm trọn ở trong sự tổng hợp hài hòa đầy thiện cảm nhân tình giữa nhà trí thức Đào Tấn và  nghệ sĩ Đào Tấn. Trí thức nghệ sĩ Đào Tấn đi về có nhau giữa thức tĩnh và đam  mê, giữa minh triết ngoại vật và dấn thân mê mãi, giữa tri thức ban đêm và mộng mị ban ngày. Thức tĩnh của ông là trí tuệ nâng cao nghệ thuật tuồng từ hình thức đến nội  dung, đam mê của ông là sống thực với tích tuồng, sống hết mình xuyên suốt tác phẩm và nhân vật, đắm chìm trong nghệ thuật kịch hóa cuộc đời và từ đó thức tĩnh trong đời thực. Là một nhà trí thức, ông không sợ ngồi chung với con hát, thân thiết như trong một gia đình, cười với họ và khóc với họ. Chính gạch nối giữa trí thức và đam mê đã cho ông khả năng  bình dân hoá những tích tuồng ngoại lai, thổi vào đó sức sống vượt thời gian với Tiết Cương chống búa, Phi Hổ nằm miễu, Trụ Vương dỡn tượng, Phượng Cơ qua ải…cho khán giả bản địa thuộc mọi tầng lớp. Những nhân vật trên sân khấu trở nên những biểu tuợng đặc trưng trong lòng khán giả, văn chương trong các bài từ đầy nhạc tính rạng rỡ vẻ đẹp vừa lãng mạn vừa thanh cao chứng tỏ thêm một lần trí tuệ tĩnh táo và tâm thức hoài mộng đều có sức năng động vượt thời gian như chính danh hiệu mà Đào Tấn tự đặt cho mình: Mộng Mai và Mai Tăng. Cũng cùng một đóa mai ấy nhưng chiều không gian của nó có thể vượt thời gian nối kết giác ngộ và mộng mơ. Chính nơi giao thoa ấy, chất sáng tạo nghệ thuật được ươm mầm.

4. Như thế, kế thừa Đào Tấn trong lĩnh vực văn hóa và nhất là trên bình diện nghệ thuật sân khấu đòi hỏi sự thấu triệt nếp truyền thống, gia sản tích tuồng và nghệ thuật sân khấu trong quá khứ cũng như khả thể nhu cầu văn hóa hiện đại. Đồng thời với sự ý thức rõ nghệ thuật tuồng như một nét văn hóa truyền thống không thể thiếu là nỗ lực hiện đại hóa nghệ thuật này. Trong tiến trình biến đổi thị hiếu về nghệ thuật sân khấu trong những thập niên vừa qua, chúng ta có ly do để lạc quan về chu kỳ trở lại nghệ thuật sân khấu tuồng, (mà hiện nay trên thế giới nghệ thuật truyền thống nói chung đang được hồi sinh) một phần vì chính nghệ thuật này đã hàm chứa trong nó  tinh hoa văn hóa của kịch nghệ có thể đáp ứng những đòi hỏi nghệ thuật cao trong hoàn cảnh văn học nghệ thuật hiện đại, hay nói cách khác, trào lưu văn học hậu hiện đại có khuynh hướng tìm về nghệ thuật truyền thống như một yếu tố thiêt yếu cho định hướng văn hóa tương lai, sau giai đoạn máy móc hóa (mechanism) hay vô nhân hóa nghệ thuật. Trong một chừng mực lạc quan, có thể không mâu thuẫn khi nói, tiên tiến hay hiện đại hóa nghệ thuật tuồng có nghĩa là trở lại hay khôi phục chính nghệ thuật sân khấu tuồng nguyên ủy mà Đào Tấn đã khổ công và đam mê xây dựng, điều đó có nghĩa, trả lại nghệ thuật tuồng tính văn hóa đích thực (authentique) vượt lên trên mọi định chế hủ hóa, khuyến khích nghệ nhân trau dồi kiến thức về nghệ thuật tuồng trên thế giới đồng thời thổi vào nghệ nhân luồng sinh khí tự tin và quyết chí nâng cao, làm mới
nghệ thuật tuồng như Đào Tấn đã bày tỏ:

“Muốn làm mới mẻ dân trong một nước, không thể không làm hưng thịnh tuồng hát của nước đó. Do đó, muốn làm mới mẻ đạo đức, thì phải làm mới mẻ tuồng hát, muốn làm mới mẻ chính trị, thì phải làm mới mẻ tuồng hát…”

Kế thừa Đào Tấn như thế có nghĩa, trở về nghệ thuật tuồng trong tinh thần giao thoa mới - cũ  đầy thức tĩnh và sáng tạo không ngừng, để nghệ thuật này luôn mãi là giấc mộng dài cao quí như mai vàng trời Nam mà nhà thơ Đào Tấn mơ ước được hóa thân:

Nhàn hứng mai sơn bốc thọ viên
Thạch đầu cao cứ tiếu vô ngôn
Mai sơn tha nhật tàng mai cốt
Ưng hữu mai hoa tác mộng hồn.

dịch:

Lên đỉnh núi mai tìm đất thọ
Mỉm cười lặng ngắm đá chon von
Núi mai rồi giữ xương mai nhé
Ước được hoa mai hóa mộng hồn *

* Xin cám ơn bác Vũ Ngọc Liễn đã gửi tài liệu về Đào Tấn: Đào Tấn, thơ và từ, Vũ Ngọc Liễn biên khảo, lời đầu sách của Xuân Diệu, NXB Sân Khấu, Hà Nội, 2003.
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 13 -THÁNG 2 2006


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)