Nhàn
đàm
PHIẾM
LUẬN
VỀ
CHUYỆN DỊCH VĂN CHƯƠNG
Nguyên
Cẩn
“Từ
trong tinh thể của nó, dịch là làm điều cưỡng bức. Dịch
văn xuôi là làm điều cưỡng bức. Dịch thơ lại càng là
cưỡng bức triệt để hơn nữa… Chỉ thử hỏi: Có thể
nào đem thơ Việt, dịch ra trở lại làm thơ Việt được
không?… Không. Lời thơ kia chỉ hiện ra một lần trong phong
thái riêng biệt của anh hoa phát tiết một lần. Buộc nó
phải hiện ra trở lại trong phong thái khác, thì anh hoa tài
tử có thể phát tiết một lần nữa, nhưng lần sau không
còn là lần trước” (Bùi Giáng).
Gần
đây, báo chí đang nói nhiều đến bản dịch tiếng Việt
“Mật Mã Da Vinci” và la hoảng lên rằng đó là một “thảm
hoạ dịch thuật”. Trên báo Người Lao Động liên tiếp nhiều
kỳ đăng tải phóng sự về sự dịch thiếu cẩn trọng của
không ít người làm công tác dịch thuật hiện nay. Nhưng ngày
đầu xuân chúng ta hãy tạm gác lại những trăn trở muộn
phiền ấy để đi vào cõi văn chương, cùng nhàn đàm về
chuyện dịch thuật văn chương.
Dịch
thơ chữ Hán ra thơ Việt đã là khó, dịch thơ Việt ra thơ
Tây thì lại càng khó, bởi lẽ từ thi pháp cho đến văn hóa
cũng có nhiều nét dị biệt. Sức hấp dẫn của nguồn thơ
Á Đông vẫn tràn trề mãnh liệt, thu hút nhiều học giả,
dịch giả phương Tây, và đã có những bài dịch chuyển tải
được cái thần trong thi ca phương Đông.
Theo
Bùi Giáng: “Từ trong tinh thể của nó, dịch là làm điều
cưỡng bức. Dịch văn xuôi là làm điều cưỡng bức. Dịch
thơ lại càng là cưỡng bức triệt để hơn nữa… Chỉ thử
hỏi: Có thể nào đem thơ Việt, dịch ra trở lại làm thơ
Việt được không?… Không. Lời thơ kia chỉ hiện ra một
lần trong phong thái riêng biệt của anh hoa phát tiết một
lần. Buộc nó phải hiện ra trở lại trong phong thái khác,
thì anh hoa tài tử có thể phát tiết một lần nữa, nhưng
lần sau không còn là lần trước”.
Trăm
năm trong cõi người ta,
Chữ
tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Ở
hai câu thơ này, Bùi Giáng cho rằng: “Nếu người dịch là
kẻ tài hoa, ắt nhận thấy rằng điều cốt thiết trong mấy
câu thơ kia, chẳng phải cái ý tưởng nó hàm ngụ… Trái
lại, cái chỗ bất tử, cái chỗ huyền diệu của câu thơ
kia lại là ở những điệp thanh, điệp âm, đối ngữ: trăm
năm, một cuộc, những điều... trong cõi, trải qua… chữ
tài chữ mệnh… khéo là ghét nhau…
Ông
Trương Cam Vũ, Ông René Crayssac, vô tình hay hữu ý đã tái
tạo được trong hai bản Pháp ngữ và Hoa ngữ cái chất thơ
âm thầm, triền miên theo cốt cách lục bát. Cam Vũ dịch:
Nghịch
lữ nhân sinh bách tuế trung,
Mệnh
tài lưỡng tự xảo tương xung.
Có
thể nghĩ rằng do ngẫu nhiên mà Việt ngữ và Hán ngữ đã
hôn phối chặt chẽ, tương giao hằng bao nhiêu thế kỷ mà
nảy ra kết quả đẹp đẽ kia. Dù sao thì lời thơ dịch đã
không bỏ lạc cái cốt yếu trong thơ Nguyễn Du.
Để
chứng minh nhận định của mình, Bùi Giáng đã ghi nhận những
đối ngữ: bách tuế-lưỡng tự-nhất kinh và những điệp
thanh: tuế-tài tự. Bốn câu dịch bốn câu, lại còn dịch
được tiếng “khéo là ghét nhau” ra làm “xảo tương xung”.
Thế là người dịch đã thể hội huy hoàng cứu cánh của
công việc vậy.
René
Crayssac do sử dụng Pháp ngữ, không thụ hưởngï những thuận
lợi từ những tương giao lâu ngày giữa Hán ngữ và Việt
ngữ đem lại, nên đã phải "cưỡng bức bằng cách dịch
dôi ra và đưa vào những điệp thanh: Cent ans-s’écoulent-sans
que-comme si-le sort-sur les-s’abatte-subissant-si vite-suffit-surviennent-…,
và phải dịch ra làm sáu câu cả thảy mới tạm lột được
phần nào tinh hoa nguyên tác:
Cent
ans-le maximum d’une humaine existence!
S’écoulent
rarement sans qu’avec persistance
Et
comme si le Sort jalousait leur bonheur,
Sur
les gens de talent s’abatte le malheur.
Subissant
l’âpre loi de la métamorphose,
On
voit naitre et mourir si vite tant de choses!
Như
vậy, những tiếng "trăm năm", "chữ tài", "chữ mệnh" của
Nguyễn Du không còn có thể đi sát nhau để tạo ra những
âm ba ma sát mà lại lỗng tan trong những câu minh hoạ lê thê.
Cái mà người ta hay gọi là dẫn giải (interpreting).
Phạm
Công Thiện cho rằng, tiếng Việt, đặc biệt là tiếng Việt
trong Truyện Kiều, mang đầy những ẩn ý hàm súc mênh mông.
Thế nên, khi Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ đặt dấu phẩy ngay
sau hai chữ “trăm năm”, Lê Xuân Thuỷ đã theo sát sự phân
đoạn theo dấu phẩy ấy để dịch là: “Within the span of
a hundred years of human existence…”. Nếu dịch lại ra tiếng
Việt, thì câu trên sẽ được hiểu là: “Trong vòng khoảng
hay quãng một trăm năm của sự tồn sinh…”. Phạm Công Thiện
khen ngợi Trương Cam Vũ đã bỏ dấu phẩy khi dịch Truyện
Kiều: “Nghịch lữ nhân sinh bách tuế trung”, nhưng dịch
thừa ra hai chữ nghịch lữ (quán trọ), có lẽ do ảnh hưởng
Lý Bạch và thể thơ thất ngôn. Cââu thơ của Nguyễn Du quá
súc tích đến nỗi cái tính súc tích của Hoa ngữ cũng khó
diễn lại đầy đủ: quán trọ đời người hay đời người
quán trọ trong trăm năm?
Gần
đây, Lê Cao Phan đã đưa ra bản dịch Kiều bằng văn vần,
vì ông chủ trương theo quan điểm của Voltaire: “Bất cứ
áng thơ nào khi dịch cũng phải có vần ”.
Kế
thừa quan điểm René Crayssac, dịch giả đã ứng dụng vần
như trong thể alexandrine, nhằm chuyển đạt cái thần của
thơ Nguyễn Du ,hay nói theo Lê Cao Phan là phổ quát hoá cái
giá trị nghệ thuật của Truyện Kiều.
Chúng
ta hãy xem thử 2 câu đầu:
A
hundred years - Within this alloted time span,
What
sheer hatred’tween the gift and fate of man!
Cõi
trăm năm lại vẫn không thoát khỏi cách dịch ‘a hundred years’,
dù câu thơ đã có vần điệu (rhyming).
Gần
đây, Lefevere đưa ra luận điểm 7 cách phiên dịch, trong đó
cách cuối cùng là diễn giải (interpretation). Dưới tiêu đề
này, Lefevere thảo luận về cái mà ông ta gọi là version (bản
dịch), mà ở đấy cốt tuỷ của văn bản gốc được giữ
nguyên nhưng chỉ có hình thức là thay đổi, và sự đồng
dạng (imitation) là khi dịch giả sáng tạo một bài thơ mới
mà chỉ có cái ‘tựa và điểm khởi đầu’ là giống như
trong văn bản gốc .
Người
ta vẫn e rằng cách dùng từ “phiên bản" (version) của Lefevere
có thể dẫn đến những ngộ nhận, vì nó có thể ngầm hiểu
là có sự khác nhau giữa bản dịch và phiên bản, hay có người
ngầm hiểu là phỏng dịch hay phóng tác với một giả định
căn bản là có sự phân cách giữa hình thức và nội dung.
Tuy vậy, như Popovic chỉ ra rằng, dịch giả có quyền tạo
nên sự khác biệt hữu cơ, hay tỏ ra độc lập với nguyên
tác, miễn là tính cách độc lập ấy chỉ nhằm mục đích
tái tạo lại tính độc đáo, hay nói một cách văn chương
hơn là ‘hồn’ của nguyên tác .
Dịch,
theo ông là sự phục sinh trong văn chương (literary resurrection).
Ở
Việt Nam, sau Nguyễn Du, thơ của Hồ Xuân Hương được dịch
ra tiếng nước ngoài nhiều nhất. Năm 2000, khi sang thăm Việt
nam, Tổng thống Bill Clinton đã trích thơ nữ sĩ họ Hồ khi
nói chuyện với sinh viên ở Hà Nội. Bài thơ dịch sang tiếng
Anh ấy là do John Balaban, giáo sư văn học của trường
Đại học North Carolina State, đồng thời là một nhà thơ có
tên tuổi ở Hoa Kỳ. Cuốn sách dịch 48 bài thơ Hồ Xuân Hương
của ông: Spring Essence: The Poetry of Ho Xuan Huong, NXB Copper Canyon
Press, Port Townsend, tiểu bang Washington phát hành, đã ghi một
kỷ lục: bán 16.000 bản trong hai năm.
Đây
được xem là một công trình nghiêm túc, in song ngữ, với
phần chữ Nôm do tiến sĩ Ngô Thanh Nhàn vẽ kiểu trên vi tính
và với sự hỗ trợ rất lớn từ các học giả, giáo sư
người Việt ở Hà Nội và New York. Tuy nhiên, đọc kỹ bản
dịch vẫn còn những chỗ lấn cấn, cần phải chỉnh sửa.
Ở đây, ta không nói đến cái khó trong khi dịch thơ Hồ Xuân
Hương, vì ai chẳng biết cách chơi chữ cực kỳ tài tình
của nữ thi sĩ này khi vận dụng thủ pháp nói lái, hay dùng
từ tượng thanh, tượng hình: 'hỏm hòm hom', 'phập phòm',
'lõm bõm', 'om om'… Ví dụ như bài Tự Tình, câu thơ đầu:
“Tiếng gà xao xác gáy trên bom”, dịch thành “Gray sky. A
rooster crows”, từ “trên bom” không thấy dịch, còn "tiếng
gà xao xác" thì không thể chỉ dịch thành “một con gà trống
gáy vang được” (A rooster crows). Câu “Sau giận vì duyên
để mõm mòm” được chuyển dịch thành “Angry/with a fate
that says I’m much too bold”, thì lại trở nên khó hiểu vì
“mõm mòm” sao có thể là much too bold được? Còn câu kết
“Thân này đâu đã chịu già tom” lại dịch là “Am I supposed
to walk as if stooped and old?, thì đã khá xa cách với nguyên bản.
Trong
bài Chiếc bách, hai câu cuối “Ấy ai thăm ván cam lòng vậy/
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh”, được dịch thành “Whoever
comes on board is pleased/ As she plucks her guitar, sad and drifting”.
Ở đây, hai điển tích “thăm ván bán thuyền” và “ôm
đàn sang thuyền khác” đã không được dịch giả nhận ra
và chuyển tải, nên câu dịch trở nên vô nghiõa so với văn
cảnh toàn bài.
Trong
bài Chùa xưa, “Phúc đức như ông được mấy bồ?”, chữ
"bồ" cuả miền Bắc lại bị hiểu lầm thành chữ "bồ" của
miền Nam (bồ bịch), nên câu thơ trên lại được dịch thành:
“Blessed, they gather many friends. Tuy vậy, chúng ta nên ghi nhận
tình cảm của một người nước ngoài yêu thơ Việt, đã
dành nhiều thời gian công sức sưu tầm, biên dịch với tất
cả sự trân trọng và sự ‘nghiêm mật’ cần thiết...
Ngày
Xuân nhấp chén trà đầu năm lai rai hàn huyên chuyện văn chương.
Chút lời quê có gì không phải, mong các bậc thức giả lượng
thứ.
20
Theo gót nàng Kiều đến ngôi chùa thứ tư… (tiếp theo và
hết).
Đang
Đánh Máy
PHƯƠNG
DU
Vô
Tích Sự
Thuận
tay hái đóa mây trời
Chân
qua những núi
Suối
đồi qua chân
Phương
du bước thả sương ngần
Vịn
vai tứ đại
Tay
choàng
Hư
không.
HỘI
CHÙA
Phạm
Kim Nhung
Chênh
chao
Dăm
hạt nắng Xuân
Hành
hương
Lớp
lớp chen chân
Cửa
thiền
Chùa
nhà mở Hội tháng Giêng
Nửa
hong sợi rét
Nửa
nghiêng gió mùa
Ngân
nga
Chuông
vọng hiên chùa
Câu
kinh khoan nhặt
Giữa
bờ thanh âm
Ngọc
lan
Thơm
lựng từ tâm
Người
xưa đây
Chốn
Quan Âm
Phật
Bà
Tam
quan
Lữ
khách đường xa
Vai
gầy tràng hạt
Chùa
nhà cậy trông
Cửa
thiền
Sắc
sắc không không
Ăn
mày cửa Phật
Cầu
mong phước lành...
SÁCH
MỚI
Thanh
Nguyên
An
Bình Tĩnh Lặng, Bình Anson biên soạn, NXB Tôn Giáo, ấn hành
tháng 11-2005, 146 trang, khổ 14x20 cm, không ghi giá bán.
Người
biên soạn dựa theo quyển Tam Quy Ngũ Giới của Phan Gia Khánh,
trình bày ý nghĩa của Tam quy, Ngũ giới, kế đến phỏng theo
một bài báo để nêu ra một số lời khuyên thực tế cho
người Phật tử, kế nữa là từ bài giảng của bà Sarah
Lim (người Singapore, sống tại Úc) về việc thực hành thiền
định và sau cùng là bài giảng của thiền sư Ajahn Chah (người
Thái) về sự an bình kiên cố do Thiện Nhựt dịch, Bình Anson
hiệu đính.
Đoạn
Trừ Lậu Hoặc, Acharya Buddhakkhita, Pháp Thông dịch từ nguyên
tác Anh ngữ, NXB Tôn giáo, ấn hành tháng 11-2005, 400 trang, khổ
14x20cm, không ghi giá bán.
Đây
là một luận giải về kinh “Tất cả lậu hoặc” (Sabbhà
Sava Suttam) trong Trung Bộ kinh là kinh về bảy cách đoạn trừ
các lậu hoặc (tức những thứ gây phiền não, khổ đau).
Sách giải thích, phân tích lời dạy của kinh qua giáo lý căn
bản của 5 bộ Nikàya, và đặc biệt qua tâm lý học A Tỳ
Đàm và đạo đức học Phật giáo.
Bốn
Bài Giáo Huấn của Người Xưa, Liễu Phàm, Trần Tuấn Mẫn
dịch, nguyên bản chữ Hán, NXB Văn Nghệ, ấn hành quý IV,
2005, 152 trang, khổ 13x19cm, giá 14.000đồng.
Tác
giả là nhà Nho, thành đạt, làm quan đời Minh (thế kỷ XVI),
tin theo Phật giáo, kết hợp Nho giáo, Phật giáo và tín ngưỡng
dân gian để viết tập sách này, gồm 4 chương để dạy con:
Cách học lập mạng, Phương pháp hối cải lỗi lầm, Tích
tập việc thiện, Hiệu quả của đức khiêm tốn. Ngoài ra
còn có phần tranh minh họa cho một số nội dung trên.
Hiệu
Lực Của Sự Cầu Nguyện và kinh Người Áo Trắng, Thích Nhất
Hạnh, NXB Tôn Giáo, ấn hành quý III, 2005, 224 trang, khổ 14.5x20.5,
giá 25000đ.
Sách
gồm hai phần chính : 1/Giảng giải về ý nghĩa, đối tượng,
mục đích, phương thức cầu nguyện. Liên hệ đến vai trò
của cầu nguyện trong y khoa, thiền định và trị liệu; 2/
Dịch và chú giải kinh Người Áo Trắng (tức kinh Ưu Bà Tắc
của kinh Trung A Hàm) là kinh dành cho người Phật tử tại
gia, giảng về năm giới, Bốn phép quán niệm, sự vun trồng
phước đức.
Phật
Giáo Trong Mạch Sống Dân Tộc, Thích Thanh Từ, NXB Tôn Giáo,
ấn hành quý III, 2005, 154 trang, khổ 10x19 cm, không ghi giá bán.
Sách
gồm 4 chương: 1/ sơ lược lịch sử Phật Giáo Việt Nam từ
khi du nhập đến năm 1963; 2/ về mặt tư tưởng, tác giả
phân tích tinh thần dân tộc, nhận định Phật giáo thích
hợp với tinh thần dân tộc; 3/ Ảnh hưởng của Phật giáo
trong văn học, nghệ thuật Việt Nam; và 4/ phân tích thái độ
sai lầm về Phật giáo của Phật tử Việt Nam hiện đại.
Thực
Tại Hiện Tiền, Viên Minh, NXB Tôn giáo, ấn hành quý III, 2005,
274 trang, khổ 14x20cm, không ghi giá bán.
Sách
ghi lại 4 bài thuyết pháp của Tỳ kheo Viên Minh, trình bày
giáo lý cơ bản của Phật giáo như Tứ đế, Thập nhị nhân
duyên, Ngũ uẩn, đặc biệt nhấn mạnh cái chơn, vọng, nêu
bật cái thực tại chân thật, hiện hữu trước mắt, cái
đương xứ tức chơn, tức đối tượng của giải thoát, cốt
lõi chung nhất của Phật giáo, vượt ngoài những dị biệt
hình thức và phương tiện của các tông môn, hệ phái Phật
giáo.
CỰC
LẠC LÀ ĐÂY
Nhật
Chiêu
Nhà
thơ là người nhìn ngắm sự vật. Cái nhìn tươi tắn, mới
nguyên. Cái nhìn đó trao linh hồn cho sự vật. Và trao một
làn hương. Sự vật trở thành sự sống dưới cái nhìn mê
hoặc ấy. Cái nhìn Hồ Xuân Hương.
Hồ
Xuân Hương, người mà dịch giả John Balaban xưng tụng là
“nhà thơ của thế giới” (a world - class poet), là “nữ
Bồ tát” (Bodhisattva).
Khi
Xuân Hương nhìn ngắm mùa Xuân, nàng sẽ thấy gì?
Khi
nàng lên đài cao nhìn Mùa Xuân Tây Hồ thì thời gian chiêu
mộ và trời nước như đảo chuyển và trở về nguyên thuỷ.
Cái nhìn của một nữ thần, phải chăng?
Hãy
nhìn với nàng đi.
Hãy
đến Đài Khán Xuân. Và nhìn ngắm như một nhà thơ.
Chính
là bạn đang ngắm nhìn nhà thơ, ngắm nhìn bản thân thơ ca.
Chơi
Đài Khán Xuân
Êm
ái chiều xuân tới khán đài,
Lâng
lâng chẳng bợn chút trần ai.
Ba
hồi chiêu mộ chuông gầm sóng,
Một
vũng tang thương nước lộn trời.
Bể
ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn
ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Nào
nào Cực lạc là đâu tá,
Cực
lạc là đây chín rõ mười.
Thơ
Hồ Xuân Hương có cung Ma và cõi Phật. Đó là sự sống. Và
mùa Xuân cũng thế. Nếu gạt bỏ bóng tối thì ánh sáng cũng
biến mất. Nếu không có một vũng tang thương thì cũng không
có Mùa Xuân Cực lạc.
Chính
vì thế mà đang êm ái và lâng lâng lại có thể vang động
những gầm sóng, lộn trời.
Vì
Xuân không chỉ có “êm ái” và “lâng lâng”. Cái nhìn
của Xuân Hương không bao giờ đứng yên. Chỉ trong đôi mắt
chết, sự vật mới đứng yên.
Êm
ái chiều xuân. Xuân có một dáng vẻ (chiều) dường như êm
ái. Tâm hồn nhà thơ đang giao cảm với Xuân nên cũng là êm
ái. Êm ái như những bước thiền hành.
Nhà
thơ và Mùa Xuân đồng hành, đang êm ái bước tới khán đài
bên Hồ Tây.
Đài
đang chờ đợi khách đến ngắm Xuân, nhưng xưa kia đài được
xây vì một lẽ khác, để xem binh lính thao diễn kiếm cung,
tập trận.
Cùng
một cái đài thôi mà có thể duyệt quân hoặc khán Xuân.
Hơn thế, đôi mắt là một cái đài thiêng. Nhà thơ nhìn ngắm
và thế giới được tạo dựng. Cả hai dường như trong trẻo,
lâng lâng, không bụi.
Bụi
là những tạp niệm. Nó có đó nhưng phải lắng đi. Vì khi
ta êm ái thì bụi cũng êm ái. Khi ta êm ái thì ba ngàn thế
giới cũng lắng đọng, êm ái. Khi ta cuồng nộ thì một hạt
bụi cũng cuồng nộ.
Và
mùa Xuân thì êm ái đến thế trong lòng Xuân Hương.
Nhưng
cái êm ái, lâng lâng ấy không kéo dài lâu. Bởi vì Xuân Hương
rất tinh nghịch. Nàng bước khỏi Tịnh Độ một bước và
vào cung Ma. Nàng qua lại giữa hai cõi bằng những bước thơ
lạ kỳ.
Tại
sao vậy? Bởi vì nàng nghe những hồi chuông chiêu mộ. Nghe
như những tiếng sóng gầm. Những tiếng sóng của thời gian.
Đau
khổ dường như là một tên gọi khác của thời gian. Nhà
thơ nghe những con sóng của nó rền rĩ. Chiêu chiêu, mộ mộ.
Để
sóng cuốn mình đi, nhà thơ muốn sống và đau khổ như một
con người. Không có cuộc trải nghiệm này cũng sẽ không
có Tịnh Độ.
Và
trong cái vũng tang thương gọi là đời sống ấy có nước
có trời, có bóng tối lẫn lộn ánh sáng. Điều quan trọng
là: ở đâu có nước mà không có bóng của thiên đàng?
Một
vũng tang thương nước lộn trời.
Ở
đây có lẽ bản Anh dịch của Balaban cố bắt kịp cái hồn
của Xuân Hương:
We
see heaven upside - down in sad puddles.
Ta
thấy thiên đàng "lộn ngược" trong vũng nước buồn. Cho dù
thiên đàng lộn ngược, lẫn lộn với nước đời thì vẫn
là bóng của thiên đàng. Ta Bà có thể chỉ là cái bóng của
Tịnh Độ? Nhưng ý tứ Xuân Hương đúng ra là lẫn lộn, pha
lẫn: bầu trời kia pha lẫn trong vũng tang thương trần thế.
Emily
Dickinson, nàng thơ Mỹ đồng điệu với Xuân Hương từng viết
rằng:
Tôi
đi đến thiên đàng
Cái
làng con là đấy
…
Tôi
có thể vào Làng
Xem
như người cùng Hội
Vinh
quang.
(I
went to heaven
,Twas
a small town
…
I
could be
,Mong
such unique
Society).
Bầu
trời trong vũng nước, hay thiên đàng là một cái làng con,
hai nàng thơ đã phóng tỏa một cái nhìn xanh, xanh thăm thẳm.
Tang
thương là bể dâu, và chỉ là một vũng nước nhỏ. Hoặc
là trong biển rộng cũng như vũng nước đều có bầu trời.
Vũ
trụ thì như thế, thời gain thì như thế. Còn con người thì
sao?
Bể
ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn
ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Con
người rất nhỏ nhưng những gì mà hình hài mong manh ấy mang
chứa lại rất mênh mông và sâu thẳm, nghìn trùng và muôn
trượng, vô tận, không cạn, không vơi.
Quẻ
“Tỉnh” trong Kinh Dịch cũng gợi lên một nguồn nước vô
tận nơi con người. Thôn ấp thì thay đổi chứ nguồn nước
thì không. Nước mạch chảy hoài, ai cũng lấy nước đó mà
dùng, mà giúp người qua lại. Nước giúp đỡ mọi người
mà dường như vô tâm.
Nguồn
nước đó đối với Xuân Hương là nguồn ân bể ái. Không
cạn không vơi mà cũng không đủ. Cũng như Emily Dickinson:
Tôi
ái ân vô tận,
Bằng
chứng là đây:
Tôi
chưa hề sống đủ
Cho
đến khi yêu đầy.
(That
I did aways love
I
bring thee proof
That
till I loved
I
never lived enough).
Tình
có thể là đau khổ nhưng e rằng chưa từng đau khổ, khó
có thể vào thiên đàng. Những người yêu đầy sống đủ
như Emily, như Xuân Hương đã là hình bóng của thiên đàng.
Hơn
nữa, tình yêu như bể như nguồn của họ trải rộng ra khắp
cõi đời, thiên nhiên, càn khôn và không bỏ sót những giống
loài nhỏ bé (con ốc, lá cỏ, bánh trôi, con ong…). Họ hồn
nhiên, chân thành và xa lạ với mọi thứ giả trá, lừa mị.
Chính
vì thế họ biết thế nào là Cực lạc. Cũng như nữ sĩ Sei
Shônagon của Nhật thời Heian. Trong tập tuỳ bút lừng danh
của mình, Sei viết:
“Những
điều tuy xa mà gần:
Cực
lạc.
Thuyền.
Nam
nữ.”
Trong
cảm thức của Sei thì Cực lạc (Gokuraku, phiên âm đúng là
Cực lạc) là cái gì gần gũi, thân quen, cái cảm thức mà
chắc chắn Xuân Hương và Emily đều đã ngộ.
Nào
nào Cực lạc là đâu tá
Cực
lạc là đây, chín rõ mười.
Cực
lạc chính là cái hiện tiền. Là ở đây. Là bây giờ đây.
Là chính ta đây.
Cực
lạc là sự sống cụ thể, rõ ràng (chín rõ mười), không
phải là thời điểm, hay địa điểm xa xôi nào. Đừng đi
tìm đâu đâu.
Như
vần thơ của Thiền Lão đời Lý:
Đãn
tri kim nhật nguyệt
Thuỳ
thức cựu xuân thu.
(Tháng
ngày chỉ biết hôm nay
Còn
xuân thu cũ ai hoài làm chi!).
Ta
nghe rất rõ tự thoại vô cùng sống động mà tinh tế của
Xuân Hương:
- Cực
lạc là đâu?
-
Cực lạc là đây.
Ta
đau khổ vì tâm trí ta là một kẻ lang thang điên rồ. Tâm
trí ta. Hắn lang thang lúc thì tìm về quá khứ, lúc thì tìm
đến tương lai. Hoặc là một nơi chốn khác. Hoặc là đi
tìm một kẻ khác.
Cực
lạc là đây - Xuân Hương đã nói như thế.
Là
bây giờ đây. Vì chỉ có cái bây giờ đang tiếp xúc với
ta và mở rộng quanh ta. Nếu hỏi bây giờ là lúc nào thì
câu trả lời xứng đáng nhất phải là: “Bây giờ!”
Là
ở đây. Nếu không ở đây thì cũng chẳng ở đâu. Vì bằng
cách nào ta đồng thời ở đây mà lại còn ở một nơi nào
khác?
Là
chính ta đây. Ta phải sáng tạo bầu trời và mặt đất cho
mình. Vì không ai làm điều đó cho ta được. Nếu ta khát
nước thì ai có thể uống thay ta?
Cực
lạc là đây. Không thể tin vào một lời hứa hẹn nào khác.
Về hôm qua hoặc ngày mai Lewis Carroll đã chế giễu cái ảo
tưởng thời gian ấy trong câu chuyện về bé Alice. Hoàng hậu
Trắng (The White Queen) nói với Alice:
“Luật
lệ là, chỉ có mứt ngày mai và mứt hôm qua - nhưng không
bao giờ có mứt hôm nay”.
(The
rule is, jam tomorrow and jam yesterday – but never jam today).
Điều
đó có thể diễn dịch như sau: Ta hứa với ngươi Cực lạc
ngày mai và Cực lạc hôm qua - nhưng không bao giờ có Cực
lạc hôm nay.
Nhưng
Xuân Hương nói: Cực lạc là hôm nay, là Đây!
Xuân
Hương đã cứu độ những tâm hồn ngây thơ như Alice. Mứt
hay là bánh trôi của cô không phải là bánh vẽ.
Bánh
trôi ấy là Đây.
Cực
lạc của Xuân Hương là Đây.
24
Tương đương (truyện ngắn, Vũ Thành Sơn dịch).
Đang
Đánh Máy
VỪA
ĐI VỪA NGHĨ
Nguyễn
Lan Anh
Không
cứ gì phải là mùa xuân, không cứ gì phải là mùa lễ hội,
bất cứ lúc nào, bạn muốn tìm đến một nơi nào đó khác
lạ với môi trường bạn đang sống, bạn hãy thử một lần
đi chùa Hương và tìm hiểu như một lữ khách muốn sống
lại thuở xa xưa.
Cảm
giác ngồi một mình trong một con đò, đi ngược lại với
những con đò khác, thật khó tả. Nó cũng giống như cảm
giác đêm giao thừa, tất cả cùng hướng lên bầu trời, phía
những chùm pháo hoa nổ đì đùng, phía màn đêm đen bất chợt
rực rỡ. Bạn hãy thử quay ngược lại, ngược lại với
đám đông ồn ào kia, ngược lại tiếng reo hò sung sướng
kia, tìm một nơi vắng trong thành phố, và nhìn lên bầu trời,
phía đối lập với những chùm pháo hoa và cảm nhận hơi
thở sự sống.
Buổi
tối, trên dòng suối Yến, tôi đã có cảm giác như thế.
Tất cả đã lùi xa, những ngày tháng của bụi bặm và tiếng
còi xe. Chỉ còn tiếng khoả nước của mái chèo. Cô lái đò
cũng lặng im không nói. Đằng xa kia, chỉ còn bóng của những
ngọn núi chìm lặng trong đêm.
Trong
động Hương Tích, có khối nhũ đá, nhỏ giọt từng hạt
nước do thiên nhiên ban tặng. Người ta gọi đó là sữa mẹ,
và theo tín ngưỡng dân gian, sữa mẹ mang lộc mát lành đến
cho mọi người. Những ngày lễ hội, trong động rất đông
khách thập phương, nhiều người trèo lên cả khối đá, chen
lấn xô đẩy, mong hứng được từng giọt sữa mẹ. Họ la
hét, vui sướng khi hứng được giọt sữa, v à buồn bã khi
giọt sữa đó chưa đến tay mình. Họ uống từng giọt, xoa
lên mặt, với niềm tin tuyệt đối: an lành sẽ đến. Những
lúc đó, không biết có ai nhớ đến người sinh thành ra mình
- người mẹ của mình. Đức Phật nói: “Cái này là nhiều
hơn, tức là sữa mẹ các người đã uống, trong khi các người
lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, chứ không phải
là nước trong bốn biển” (Tương Ưng II, 208). Công lao của
cha mẹ ta, vô cùng to lớn. Dòng sữa mang nhiều công ơn nhất
không phải tìm ở đâu xa, chính dòng sữa ấy đã tồn tại
trong cơ thể ta, truyền cho ta sự sống, là dòng sữa của
mẹ. Đức Phật giảng rằng: “Có hai hạng người, này các
Tỳ kheo, Ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai?
Mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỳ kheo, nếu
một bên vai cõng cha, làm vậy suốt 100 năm cho đến 100 tuổi.
Như vậy, này các Tỳ Kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ
cho mẹ và cha. Nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội,
và dù tại đấy, mẹ cha có vãi đại tiện, tiểu tiện, dù
như vậy, này các Tỳ kheo, cũng chưa thể làm đủ hay trả
ơn đủ mẹ, và cha.” (Tăng Chi I, 75). Đức Phật Bà trong
động Hương Tích khi còn là công chúa Ba, đã xuất gia cứu
độ cho vua cha vốn là người độc ác, nên trong sự tích
mới có câu: “Chân như Đạo Phật rất mầu/Tâm trung chữ
hiếu, niệm đầu chữ nhân/Hiếu là độ được song thân/Nhân
là cứu vớt trầm luân muôn loài” .
Khi
bạn đi chùa Hương sau mùa lễ hội, bạn sẽ có cơ hội được
thong thả chiêm ngưỡng pho tượng Phật Bà trong động Hương
Tích, thoả thê hứng từng giọt "sữa mẹ". Tôi nghĩ rằng,
trong tâm bạn, sẽ tức khắc có sự liên tưởng giữa ba hình
ảnh: lời dạy của Đức Phật, pho tượng Phật Bà, khối
nhũ đá Sữa Mẹ. Ba biểu tượng đó, sẽ là một bài học
về đạo làm người đạo cho mỗi chúng ta, nhất là trong
tầng lớp thanh niên.
Trong
thời buổi kinh tế thị trường, xã hội càng ngày càng hiện
đại, nhưng con người lại càng cảm thấy cô đơn hơn. Gia
đình, công việc, các nhu cầu bản thân… luôn tạo ra những
áp lực làm cho con người cảm thấy mệt mỏi. Nhưng nếu
bạn cứ luôn để ý đến những điều khó chịu, bạn sẽ
lại trở thành chính những gì bạn không thích, thậm chí
những gì bạn ghét. Nếu bạn hài hoà bản thân, tự kiểm
nghiệm lại và biết sửa đổi mình, “dĩ bất biến, ứng
vạn biến”, hẳn bạn sẽ cảm thấy cuộc sống nhẹ nhõm
hơn.
Nếu đã tìm đến Chùa Hương, bạn hãy bằng lòng thành của
mình, ngắm giếng thiên nhiên không bao giờ cạn ở Chùa Giải
Oan. Tương truyền, đó là nước ở suối Giải Oan. Bà Chúa
Ba khi xưa từ chối không lập gia đình theo ý của vua cha,
đã bị đưa ra pháp trường, nhưng chưa kịp bị hành hình
thì được cứu thoát. Giếng đó vẫn rất nhiều nước, và
người ta đã chắn lại bằng những song sắt. Không sao, đã
có một cô bé răng khểnh tên Hương, ngồi múc từng chút
nước để bạn thưởng thức. Cái gầu múc nước bé như
chiếc ống bơ, và đòn gánh chỉ to hơn một que đũa. Bạn
đã cảm nhận được sự thú vị chưa? Và xin bạn đừng
nôn nóng. Nước suối đựng trong một chiếc chén siêu hạt
mít. Bé đến nỗi, bạn đã uống hết nước rồi, mà vẫn
cảm thấy như chưa được uống. Đó là chút linh diệu, chỉ
thế thôi, nhưng phải nhạy cảm bạn mới thấy xúc động
khi nghĩ rằng mình đang đứng ở một nơi mà trước
kia, các vị sơn tăng đã và đang từng sinh sống.
Khi bạn đọc sự tích Bà Chúa Ba, đến đoạn Bà suýt bị
hành hình, hoặc bà định tự vẫn để bảo toàn ý nguyện
của mình, bạn hãy nghĩ kỹ một chút nhé. Mọi chán chường,
mọi suy nghĩ lẩn quẩn của bạn, đừng bao giờ lên đến
mức muốn từ bỏ cõi đời một cách nông cạn, bởi bạn
chưa phải là Bà Chúa Ba. Trong chuyện tu luyện của Tổ sư
Milarepa có đoạn:
“Sau
khi phải chịu muôn vàn thống khổ đủ loại cả về thể
xác và tinh thần trong quá trình cầu Pháp, ông cho rằng bản
thân tội nghiệp của mình có lẽ quá to quá lớn, đời này
không đắc chính pháp được, và trong những cái khổ nhất,
ông đã nghĩ tới tự sát. Ông tự nhủ: “Tội chướng của
ta nặng quá, Thượng sư và mẫu đều vì ta mà chịu bao nỗi
thống khổ đến thế, đời này không thể tu pháp đến đích
được, chỉ còn nước tự sát thôi!”, rồi rút một con
dao ra để tự sát (người Tây Tạng thường mang dao bên mình).
Lúc ấy, một vị Lạt Ma tên là Ngokpa, giữ chặt ông lại,
mắt tuôn lệ nói rằng: “… Không được thế! Không được
thế!... các uẩn, các giới, các xứ cuả tự thân đều là
Phật- đà; trước khi mệnh chung dẫu có hành chuyển thức
pháp (‘chuyển thức pháp’ là một trong 6 chủng thành tựu
pháp, một phương tiện Mật tông tu Tịnh độ, pháp này nếu
thành tựu thì sẽ tự tại trong sinh tử), thì vẫn có tội
sát Phật. Thế gian này không tội nào lớn hơn tội tự sát.
Vậy trong Hiển giáo có giảng: không tội nào nặng hơn tội
tự đoạn đứt sinh mệnh của mình. Ông phải suy xét cho kỹ.
Vứt bỏ cái niệm đầu về tự sát ấy đi!...” .
Đức
Phật từng nói: “được làm người khó như một con rùa
chột mắt, cứ mỗi trăm năm mới ngóc đầu lên khỏi mặt
biển một lần, và tìm cách chui đầu vào lỗ nhỏ của một
khúc gỗ trôi lềnh bềnh trên mặt nước, bị gió Đông, gió
Tây, gió Nam, gió Bắc thổi trôi dạt hết phương này đến
phương khác”. Hình ảnh con rùa chột mắt với cơ hội làm
người đủ thấy con người là đã là một chuyện cực kỳ
khó. Bạn hãy bình tâm trước tất cả và hãy tự nhủ với
chính mình rằng, để được nếm trải qua những thăng trầm
đó, chắc chỉ có con người có thể thực hiện. Mỗi lần
trải qua, là một lần trưởng thành hơn.
Mọi
điều lại quay trở về với quan niệm làm người của Đức
Phật. Hình ảnh con rùa chột mắt ngàn năm mới ngoi lên mặt
biển, và cơ hội của nó là chui qua một lỗ nhỏ của khúc
gỗ dập dềnh kia. Cái cơ hội ấy, là một tỉ lệ cực kỳ
mong manh, không biết bằng bao nhiêu phần triệu triệu, nhưng
đó vẫn là quy luật của luân hồi, mà con rùa chột mắt
ấy vẫn hy vọng một ngày kia sẽ chiu qua được khúc gỗ
mục. Hãy tĩnh tâm, và hãy mỉm cười trước những vất vả
của cuộc sống. Tập trung làm thật tốt những gì mình đang
làm và chăm chỉ gieo mầm, chắc chắn bạn sẽ thấy, trong
số những hạt mầm bạn gieo, sẽ có những hạt mẩm nảy
chồi khỏe khoắn, vững mạnh.
1:Toàn
cảnh chùa Hương, 2:Suối Yến, 3:Phật Bà chùa Hương, 4:Hoa
Sen chùa Hương, Ảnh: Quang Bảo
Lời
Cảm ơn cuộc sống
Tôi
là người con trai trưởng trong gia đình, nhưng ngay từ nhỏ,
tôi đã không hợp với ba tôi. Tính cộc cằn của ông đã
làm vợ con xa lánh. Nhiều lúc đi làm ăn xa về, tôi chỉ hỏi
chuyện má, còn nhìn thấy ba là tôi tránh mặt đi chỗ khác.
Tôi biết nhiều lúc ba muốn nói chuyện với tôi, má cũng
muốn hai cha con tôi làm lành với nhau, nhưng tôi không sao làm
được…
Hôm
nay, tình cờ đi xe ôm, tôi nhờ anh xe ôm khoảng 50 tuổi ghé
vô hàng bưởi ven đường mua về làm quà cho vợ con. Khi mua
xong tôi tiện tay trả luôn tiền cho anh xe ôm, anh lấy tôi
15.000đ nhưng tôi trả cả 23.000đ. Anh móc túi lấy ra hai ngàn
đưa cho tôi và nói, nhờ chú lấy cho tôi cặp bưởi 25.000đ,
chạy xe chẳng được bao tiền nhưng ông cụ ở nhà chỉ thích
ăn bưởi, lần nào chạy xe cho khách qua đây tôi cũng mua về,
lâu không mua là ông cụ lại nhắc…
Nghe
đến đây, tôi cảm thấy trong lòng tôi mất mát một điều
gì lớn lao lắm. Nhớ đến ba tôi, chưa bao giờ ba được
nghe tôi nói một câu "ba thích ăn gì để con mua!". Tôi bèn
rút thêm tiền, mua thêm cho anh một cặp bưởi nữa để anh
về biếu ông cụ. Anh xe ôm ngạc nhiên và luôn miệng cảm
ơn tôi. Nhưng tôi tự cảm thấy xấu hổ, tôi phải là người
cảm ơn anh mới đúng, vì nhờ có anh mà tôi sớm nhận ra
rằng tình người mới là điều đáng quý, và tình cha con
còn đáng quý hơn nhiều. Trong tuần này, tôi sẽ về quê chúc
Tết gia đình, nhất định tôi sẽ làm lành với ba, và tôi
nghĩ một câu xin lỗi của tôi chắc sẽ làm má tôi vui rất
nhiều. Cảm ơn anh!
Năm
nào cũng vậy, cứ vào đêm giao thừa là tôi đi lễ chùa để
được tham dự khóa lễ cầu nguyện quốc thái dân an đầu
tiên của năm. Và hình ảnh làm tôi xúc động suốt năm năm
qua, mà lúc nào gặp ai tôi cũng kể cho họ nghe, đó là chuyện
người con trai 75 tuổi dắt mẹ 94 tuổi đi lễ Phật. Nhìn
mẹ (tôi vẫn quen gọi cụ như thế) run run chắp tay cung kính
xá các thầy rồi bước vào chánh điện lễ Phật, sau đó
ngồi xuống lấy chuỗi tràng hạt đeo nơi cổ ra niệm Phật,
trong lòng tôi vừa xúc động, vừa sung sướng thay cho ông
lão, vì đã ông diễm phúc có một người mẹ hiền như vậy…
Năm
nay giao thừa, tôi chỉ thấy ông lão lủi thủi đi một mình,
trong lòng chợt thấy bất an… Hỏi ra thì biết mẹ đã theo
Phật, mới qua 100 ngày. Tôi quỳ xuống cầu nguyện cho mẹ
mà nước mắt chảy ra. Cha mẹ tôi đều không còn, nên mỗi
khi gặp cụ, tôi gọi cụ bằng mẹ cho nguôi niềm nhớ thương,
và cảm thấy hạnh phúc khi được mẹ nắm tay khuyên tôi
gắng niệm Phật…
Thương
nhớ mẹ, tôi cảm ơn cuộc sống đã cho tôi ở cái tuổi
“thất thập cổ lai hy” còn được gặp mẹ, gặp một người
con hiếu thảo.
Mẹ
ơi, sau này con bước đi chậm chạp, ai sẽ là người dắt
con đi lễ Phật vào đêm giao thừa…?
Nguyễn
Thị Mai, pháp danh Diệu Hương
(TP.
HCM)
CƠM
NGŨ CỐC
DÙNG
VỚI ĐẬU HŨ VÀ NẤM KHO TIÊU
Vật
Liệu:
Gạo
thơm: 1 lon
Hạt
Kê: ¼ lon
Đậu
Đỏ: ¼ lon
Đậu
Xanh: ¼ lon
Nấm
Rơm tươi: loại búp, 200 gr
Đậu
Hũ: 1 bìa
Boarô:
1 cây
Dầu
Mè: 1 muỗng soup
Dầu
ăn, xì dầu, tiêu, muối, đường.
Cách
Làm:
Đậu
Đỏ, Dậu Xanh khô đem phơi nắng cho khô giòn, lấy cán gỗ
cà cho đậu vỡ nhỏ ra.
Hạt
Kê: vút sạch cát. Cho Hạt Kê, Đậu Đỏ và Đậu Xanh vào
nồi nấu với nhiều nước - đến khi đậu và kê hơi mềm
thì cho gạo đã vút sạch vào. Rồi nấu như cơm bình thường.
Nấm
rơm búp: gọt chân và rửa nước muối cho sạch.
Đậu
hũ: lựa mua loại mới - cắt từng miếng vuông vức, đem chiên
lên cho vàng.
Bắt
chảo nóng, cho vào 1 muỗng suop dầu ăn, khử boarô cho thơm
rồi cho nấm và đậu hũ vào xào. Nêm chút xì dầu, muối
đường vừa ăn. Đậy nắp lại cho lửa liu riu một lúc. Nhắc
xuống, cho vào 1 muỗng soup dầu mè và rắc vào vài hạt tiêu.
Món
cơm ngũ cốc gồm kê, đậu đỏ và đậu xanh nấu cả vỏ
dùng với nấm kho tiêu không những là 1 món ăn ngon mà còn
rất bổ dưỡng. Đặc biệt giúp tránh phù thuỷ, giúp mắt
khỏi mờ và còn giải độc, giải nhiệt.