.
.SỐ 13 -THÁNG 2, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 13-THÁNG 2, 2006

 


Trong cảm hứng tâm linh
Lê bảo Âu long

Trong tâm trạng "trầm hương" và suy tư trước cuộc sống, ông đã lắng những giọt nhạc trong tâm tưởng đầy trách nhiệm của mình thành ca khúc "Trước tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay", một ca khúc hàm chứa cái triết lý ngây thơ trong hơi thở của... nhạc rock. Và khi nghe bản nhạc đó ta có được cảm giác vơi bớt hoang mang trên con đường đời mà đi về nẻo thiện...

Khi biết bài hát Trước tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay của nhạc sĩ An Thuyên đạt giải thưởng của Hội nhạc sĩ Việt Nam 2004, tôi cứ ngỡ ông đã phổ nhạc thành công bài thơ Trước tượng Phật nghìn mắt nghìn tay của nhà thơ Nguyễn Phan Hách mà tôi đã đọc và đã rất yêu.

Trước tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay, nhà thơ Nguyễn Phan Hách thấy hiện lên hình bóng nhân từ của người mẹ lam lũ, vất vả với bao công việc để chăm lo cho đàn con: 

Mái tam quan dội tiếng chuông chiều
Mẹ lên chùa dâng hương ngày hội
Nhành mẫu đơn ai vừa đánh gãy
Tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay
áo dài nâu thắt vạt, đổi vai
Tay mẹ chắp như đài hoa ngọc bút
Nghìn tay Phật ngọc ngà óng chuốt
Toả như vầng ánh nắng mặt trời.

Trên đài sen ngàn mắt sáng ngời
Đều tụ lại trong ánh nhìn của mẹ
  Mẹ và Phật bên nhau lặng lẽ
Những bàn tay nói với bàn tay.

Phải, nghìn tay này là của mẹ đây
Tay cấy lúa nên những mùa xanh biếc 
Tay bồng con ru hời tha thiết
Con lớn lên trong êm ấm vòng tay.

Nghìn tay này là của mẹ đây 
Công việc một đời, mẹ làm xong tất cả 
Những ngón đẹp như búp cây thon nhỏ 
Một đời dầm trong đất, một đời.

Phép nhiệm màu từ đấy mẹ ơi!
Tay Phật tạc theo hình tay mẹ
Mẹ và Phật bên nhau lặng lẽ
Những bàn tay nói với bàn tay...

  Có phải với nhà thơ Nguyễn Phan Hách, mẹ cũng là Phật và Phật cũng chính là mẹ hiền. Còn với nhạc sĩ An Thuyên, ông cũng đã từng có bài hát viết về mẹ rất nổi tiếng. Sau này, khi gặp gỡ tôi mới rõ Trước tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay không phải là sáng tác về mẹ, đó là bài hát mới nhất của ông viết trong một “tâm trạng trầm hương”. Tôi hỏi vì sao ông chưa cho công bố những tác phẩm đạt giải thưởng của Hội nhạc sĩ Việt Nam 2004 mà ông vừa làm cú “hattric” với hợp xướng Chào Việt Nam thênh thang mùa xuân (giải nhất), Đi tìm bóng núi (phổ thơ Dương Thuấn - giải nhất), và ca khúc Trước tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay (giải nhì)? Ông chỉ cười, một nụ cười đôn hậu. Bài hát Việt bây giờ lộn xộn quá. Bài hát dở thì khủng hoảng thừa mà bài hát hay thì khủng hoảng thiếu...

 Trước tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay, theo nhạc sĩ Nguyễn Cường là một trong những bài hát hay nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Nghe bài hát đó (được nhạc sĩ trẻ Đỗ Bảo phối khí) có cảm giác như ta đang đi trong cảm hứng tâm linh. Nó là một sự quyện hòa của chất liệu ca trù và nhạc... rock, vì thế nó vừa có bản sắc truyền thống vừa mang hơi thở thời đại. Thực sự, đó là một tìm tòi sáng tạo thật táo bạo. Và cũng thật bất ngờ khi ông đưa rock vào bài hát có chủ đề tâm linh như thế. Rock vốn ồn ào quậy phá, còn Phật giáo thanh thản nhạc thiền. Âm nhạc hay An Thuyên đã xoáy hút hai thái cực âm dương đó trong một khúc nguyện cầu cho một phần nhân loại khổ đau: “Một lời cầu tự thành (ư...) tâm gõ một gõ một tiếng chuông nguyện cầu cho trần gian. A...! Không còn khổ đau, không còn đắng cay, đời là nghìn sướng nghìn vui hỡi người. Nghìn lần hạnh phúc, nghìn lần ấm no, đời là một cõi đi về yên vui. A... ư... a... Nam mô A Di Đà Phật” như lời đề tựa ở bài hát.

  Trước tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay, nhạc sĩ suy tư về những vấn đề nhân loại ở cuộc đời còn nhiều bất an và khổ đau này. Trong thế kỷ tới, và có thể lâu hơn nữa, có lẽ loài người vẫn chưa giải quyết được sự ô nhiễm môi trường, bệnh tật, thiên tai, trong khi đó lòng tham, sự thù hận vẫn nhen lên ở đâu đó với những cuộc xung đột, chiến tranh. Âm nhạc không đặt ra câu hỏi "tại sao" cho những vấn đề đó, mà bằng rung cảm của những nốt nhạc, âm nhạc hướng con người đến cái đẹp, đến những điều chân, lẽ thiện. Khi biết cảm nhận cái đẹp, con người sẽ biết cách sống tốt hơn, và như thế con người sẽ vượt qua được những nỗi khổ đau trên cuộc đời còn nhiều dâu bể trầm luân này...

 


Nhàn  đàm 
PHIẾM LUẬN
 VỀ CHUYỆN DỊCH VĂN CHƯƠNG
Nguyên Cẩn

“Từ trong tinh thể của nó, dịch là làm điều cưỡng bức. Dịch văn xuôi là làm điều cưỡng bức. Dịch thơ lại càng là cưỡng bức triệt để hơn nữa… Chỉ thử hỏi: Có thể nào đem thơ Việt, dịch ra trở lại làm thơ Việt được không?… Không. Lời thơ kia chỉ hiện ra một lần trong phong thái riêng biệt của anh hoa phát tiết một lần. Buộc nó phải hiện ra trở lại trong phong thái khác, thì anh hoa tài tử có thể phát tiết một lần nữa, nhưng lần sau không còn là lần trước” (Bùi Giáng).
 

Gần đây, báo chí đang nói nhiều đến bản dịch tiếng Việt “Mật Mã Da Vinci” và la hoảng lên rằng đó là một “thảm hoạ dịch thuật”. Trên báo Người Lao Động liên tiếp nhiều kỳ đăng tải phóng sự về sự dịch thiếu cẩn trọng của không ít người làm công tác dịch thuật hiện nay. Nhưng ngày đầu xuân chúng ta hãy tạm gác lại những trăn trở muộn phiền ấy để đi vào cõi văn chương, cùng nhàn đàm về chuyện dịch thuật văn chương.

Dịch thơ chữ Hán ra thơ Việt đã là khó, dịch thơ Việt ra thơ Tây thì lại càng khó, bởi lẽ từ thi pháp cho đến văn hóa cũng có nhiều nét dị biệt. Sức hấp dẫn của nguồn thơ Á Đông vẫn tràn trề mãnh liệt, thu hút nhiều học giả, dịch giả phương Tây, và đã có những bài dịch chuyển tải được cái thần trong thi ca phương Đông. 

Theo Bùi Giáng: “Từ trong tinh thể của nó, dịch là làm điều cưỡng bức. Dịch văn xuôi là làm điều cưỡng bức. Dịch thơ lại càng là cưỡng bức triệt để hơn nữa… Chỉ thử hỏi: Có thể nào đem thơ Việt, dịch ra trở lại làm thơ Việt được không?… Không. Lời thơ kia chỉ hiện ra một lần trong phong thái riêng biệt của anh hoa phát tiết một lần. Buộc nó phải hiện ra trở lại trong phong thái khác, thì anh hoa tài tử có thể phát tiết một lần nữa, nhưng lần sau không còn là lần trước”.

Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
                (Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Ở hai câu thơ này, Bùi Giáng cho rằng: “Nếu người dịch là kẻ tài hoa, ắt nhận thấy rằng điều cốt thiết trong mấy câu thơ kia, chẳng phải cái ý tưởng nó hàm ngụ… Trái lại, cái chỗ bất tử, cái chỗ huyền diệu của câu thơ kia lại là ở những điệp thanh, điệp âm, đối ngữ: trăm năm, một cuộc, những điều... trong cõi, trải qua… chữ tài chữ mệnh… khéo là ghét nhau…

Ông Trương Cam Vũ, Ông René Crayssac, vô tình hay hữu ý đã tái tạo được trong hai bản Pháp ngữ và Hoa ngữ cái chất thơ âm thầm, triền miên theo cốt cách lục bát. Cam Vũ dịch:

Nghịch lữ nhân sinh bách tuế trung,
Mệnh tài lưỡng tự xảo tương xung.

Có thể nghĩ rằng do ngẫu nhiên mà Việt ngữ và Hán ngữ đã hôn phối chặt chẽ, tương giao hằng bao nhiêu thế kỷ mà nảy ra kết quả đẹp đẽ kia. Dù sao thì lời thơ dịch đã không bỏ lạc cái cốt yếu trong thơ Nguyễn Du.

Để chứng minh nhận định của mình, Bùi Giáng đã ghi nhận những đối ngữ: bách tuế-lưỡng tự-nhất kinh và những điệp thanh: tuế-tài tự. Bốn câu dịch bốn câu, lại còn dịch được tiếng “khéo là ghét nhau” ra làm “xảo tương xung”. Thế là người dịch đã thể hội huy hoàng cứu cánh của công việc vậy. 

René Crayssac do sử dụng Pháp ngữ, không thụ hưởngï những thuận lợi từ những tương giao lâu ngày giữa Hán ngữ và Việt ngữ đem lại, nên đã phải "cưỡng bức bằng cách dịch dôi ra và đưa vào những điệp thanh: Cent ans-s’écoulent-sans que-comme si-le sort-sur les-s’abatte-subissant-si vite-suffit-surviennent-…, và phải dịch ra làm sáu câu cả thảy mới tạm lột được phần nào tinh hoa nguyên tác:

Cent ans-le maximum d’une humaine existence!
S’écoulent rarement sans qu’avec persistance
Et comme si le Sort jalousait leur bonheur,
Sur les gens de talent s’abatte le malheur.
Subissant l’âpre loi de la métamorphose,
On voit naitre et mourir si vite tant de choses!

Như vậy, những tiếng "trăm năm", "chữ tài", "chữ mệnh" của Nguyễn Du không còn có thể đi sát nhau để tạo ra những âm ba ma sát mà lại lỗng tan trong những câu minh hoạ lê thê. Cái mà người ta hay gọi là dẫn giải (interpreting). 

Phạm Công Thiện cho rằng, tiếng Việt, đặc biệt là tiếng Việt trong Truyện Kiều, mang đầy những ẩn ý hàm súc mênh mông. Thế nên, khi Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ đặt dấu phẩy ngay sau hai chữ “trăm năm”, Lê Xuân Thuỷ đã theo sát sự phân đoạn theo dấu phẩy ấy để dịch là: “Within the span of a hundred years of human existence…”. Nếu dịch lại ra tiếng Việt, thì câu trên sẽ được hiểu là: “Trong vòng khoảng hay quãng một trăm năm của sự tồn sinh…”. Phạm Công Thiện khen ngợi Trương Cam Vũ đã bỏ dấu phẩy khi dịch Truyện Kiều: “Nghịch lữ nhân sinh bách tuế trung”, nhưng dịch thừa ra hai chữ nghịch lữ (quán trọ), có lẽ do ảnh hưởng Lý Bạch và thể thơ thất ngôn. Cââu thơ của Nguyễn Du quá súc tích đến nỗi cái tính súc tích của Hoa ngữ cũng khó diễn lại đầy đủ: quán trọ đời người hay đời người quán trọ trong trăm năm?

Gần đây, Lê Cao Phan đã đưa ra bản dịch Kiều bằng văn vần, vì ông chủ trương theo quan điểm của Voltaire: “Bất cứ áng thơ nào khi dịch cũng phải có vần ”. 

Kế thừa quan điểm René Crayssac, dịch giả đã ứng dụng vần như trong thể alexandrine, nhằm chuyển đạt cái thần của thơ Nguyễn Du ,hay nói theo Lê Cao Phan là phổ quát hoá cái giá trị nghệ thuật của Truyện Kiều. 

Chúng ta hãy xem thử 2 câu đầu: 

A hundred years - Within this alloted time span,
What sheer hatred’tween  the gift and fate of man!

Cõi trăm năm lại vẫn không thoát khỏi cách dịch ‘a hundred years’, dù câu thơ đã có vần điệu (rhyming). 

Gần đây, Lefevere đưa ra luận điểm 7 cách phiên dịch, trong đó cách cuối cùng là diễn giải (interpretation). Dưới tiêu đề này, Lefevere thảo luận về cái mà ông ta gọi là version (bản dịch), mà ở đấy cốt tuỷ của văn bản gốc được giữ nguyên nhưng chỉ có hình thức là thay đổi, và sự đồng dạng (imitation) là khi dịch giả sáng tạo một bài thơ mới mà chỉ có cái ‘tựa và điểm khởi đầu’ là giống như trong văn bản gốc .

Người ta vẫn e rằng cách dùng từ “phiên bản" (version) của Lefevere có thể dẫn đến những ngộ nhận, vì nó có thể ngầm hiểu là có sự khác nhau giữa bản dịch và phiên bản, hay có người ngầm hiểu là phỏng dịch hay phóng tác với một giả định căn bản là có sự phân cách giữa hình thức và nội dung. Tuy vậy, như Popovic chỉ ra rằng, dịch giả có quyền tạo nên sự khác biệt hữu cơ, hay tỏ ra độc lập với nguyên tác, miễn là tính cách độc lập ấy chỉ nhằm mục đích tái tạo lại tính độc đáo, hay nói một cách văn chương hơn là ‘hồn’ của nguyên tác .

 Dịch, theo ông là sự phục sinh trong văn chương (literary resurrection).

Ở Việt Nam, sau Nguyễn Du, thơ của Hồ Xuân Hương được dịch ra tiếng nước ngoài nhiều nhất. Năm 2000, khi sang thăm Việt nam, Tổng thống Bill Clinton đã trích thơ nữ sĩ họ Hồ khi nói chuyện với sinh viên ở Hà Nội. Bài thơ dịch sang tiếng Anh ấy là do John Balaban, giáo sư  văn học của trường Đại học North Carolina State, đồng thời là một nhà thơ có tên tuổi ở Hoa Kỳ. Cuốn sách dịch 48 bài thơ Hồ Xuân Hương của ông: Spring Essence: The Poetry of Ho Xuan Huong, NXB Copper Canyon Press, Port Townsend, tiểu bang Washington phát hành, đã ghi một kỷ lục: bán 16.000 bản trong hai năm.

Đây được xem là một công trình nghiêm túc, in song ngữ, với phần chữ Nôm do tiến sĩ Ngô Thanh Nhàn vẽ kiểu trên vi tính và với sự hỗ trợ rất lớn từ các học giả, giáo sư  người Việt ở Hà Nội và New York. Tuy nhiên, đọc kỹ bản dịch vẫn còn những chỗ lấn cấn, cần phải chỉnh sửa. Ở đây, ta không nói đến cái khó trong khi dịch thơ Hồ Xuân Hương, vì ai chẳng biết cách chơi chữ cực kỳ tài tình của nữ thi sĩ này khi vận dụng thủ pháp nói lái, hay dùng từ tượng thanh, tượng hình: 'hỏm hòm hom', 'phập phòm', 'lõm bõm', 'om om'… Ví dụ như bài Tự Tình, câu thơ đầu: “Tiếng gà xao xác gáy trên bom”, dịch thành “Gray sky. A rooster crows”, từ “trên bom” không thấy dịch, còn "tiếng gà xao xác" thì không thể chỉ dịch thành “một con gà trống gáy vang được” (A rooster crows). Câu “Sau giận vì duyên để mõm mòm” được chuyển dịch thành “Angry/with a fate that says I’m much too bold”, thì lại trở nên khó hiểu vì “mõm mòm” sao có thể là much too bold được? Còn câu kết “Thân này đâu đã chịu già tom” lại dịch là “Am I supposed to walk as if stooped and old?, thì đã khá xa cách với nguyên bản. 

Trong bài Chiếc bách, hai câu cuối “Ấy ai thăm ván cam lòng vậy/ Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh”, được dịch thành “Whoever comes on board is pleased/ As she plucks her guitar, sad and drifting”. Ở đây, hai điển tích “thăm ván bán thuyền” và “ôm đàn sang thuyền khác” đã không được dịch giả nhận ra và chuyển tải, nên câu dịch trở nên vô nghiõa so với văn cảnh toàn bài.

Trong bài Chùa xưa, “Phúc đức như ông được mấy bồ?”, chữ "bồ" cuả miền Bắc lại bị hiểu lầm thành chữ "bồ" của miền Nam (bồ bịch), nên câu thơ trên lại được dịch thành: “Blessed, they gather many friends. Tuy vậy, chúng ta nên ghi nhận tình cảm của một người nước ngoài yêu thơ Việt, đã dành nhiều thời gian công sức sưu tầm, biên dịch với tất cả sự trân trọng và sự ‘nghiêm mật’ cần thiết...

Ngày Xuân nhấp chén trà đầu năm lai rai hàn huyên chuyện văn chương. Chút lời quê có gì không phải, mong các bậc thức giả lượng thứ.
 
 

20 Theo gót nàng Kiều đến ngôi chùa thứ tư… (tiếp theo và hết).
Đang Đánh Máy


PHƯƠNG DU
Vô Tích Sự

Thuận tay hái đóa mây trời
Chân qua những núi
Suối đồi qua chân
Phương du bước thả sương ngần
Vịn vai tứ đại
Tay choàng 
Hư không.

HỘI CHÙA
Phạm Kim Nhung

Chênh chao
Dăm hạt nắng Xuân
Hành hương
Lớp lớp chen chân
Cửa thiền
Chùa nhà mở Hội tháng Giêng
Nửa hong sợi rét
Nửa nghiêng gió mùa
Ngân nga
Chuông vọng hiên chùa
Câu kinh khoan nhặt
Giữa bờ thanh âm
Ngọc lan
Thơm lựng từ tâm
Người xưa đây
Chốn Quan Âm
Phật Bà
Tam quan
Lữ khách đường xa
Vai gầy tràng hạt
Chùa nhà cậy trông
Cửa thiền
Sắc sắc không không
Ăn mày cửa Phật
Cầu mong phước lành...


SÁCH MỚI
Thanh Nguyên

An Bình Tĩnh Lặng, Bình Anson biên soạn, NXB Tôn Giáo, ấn hành tháng 11-2005, 146 trang, khổ 14x20 cm, không ghi giá bán.

Người biên soạn dựa theo quyển Tam Quy Ngũ Giới của Phan Gia Khánh, trình bày ý nghĩa của Tam quy, Ngũ giới, kế đến phỏng theo một bài báo để nêu ra một số lời khuyên thực tế cho người Phật tử, kế nữa là từ bài giảng của bà Sarah Lim (người Singapore, sống tại Úc) về việc thực hành thiền định và sau cùng là bài giảng của thiền sư Ajahn Chah (người Thái) về sự an bình kiên cố do Thiện Nhựt dịch, Bình Anson hiệu đính.

Đoạn Trừ Lậu Hoặc, Acharya Buddhakkhita, Pháp Thông dịch từ nguyên tác Anh ngữ, NXB Tôn giáo, ấn hành tháng 11-2005, 400 trang, khổ 14x20cm, không ghi giá bán.

Đây là một luận giải về kinh “Tất cả lậu hoặc” (Sabbhà Sava Suttam) trong Trung Bộ kinh là kinh về bảy cách đoạn trừ các lậu hoặc (tức những thứ gây phiền não, khổ đau). Sách giải thích, phân tích lời dạy của kinh qua giáo lý căn bản của 5 bộ Nikàya, và đặc biệt qua tâm lý học A Tỳ Đàm và đạo đức học Phật giáo.

Bốn Bài Giáo Huấn của Người Xưa, Liễu Phàm, Trần Tuấn Mẫn dịch, nguyên bản chữ Hán, NXB Văn Nghệ, ấn hành quý IV, 2005, 152 trang, khổ 13x19cm, giá 14.000đồng.

Tác giả là nhà Nho, thành đạt, làm quan đời Minh (thế kỷ XVI), tin theo Phật giáo, kết hợp Nho giáo, Phật giáo và tín ngưỡng dân gian để viết tập sách này, gồm 4 chương để dạy con: Cách học lập mạng, Phương pháp hối cải lỗi lầm, Tích tập việc thiện, Hiệu quả của đức khiêm tốn. Ngoài ra còn có phần tranh minh họa cho một số nội dung trên.

Hiệu Lực Của Sự Cầu Nguyện và kinh Người Áo Trắng, Thích Nhất Hạnh, NXB Tôn Giáo, ấn hành quý III, 2005, 224 trang, khổ 14.5x20.5, giá 25000đ.

Sách gồm hai phần chính : 1/Giảng giải về ý nghĩa, đối tượng, mục đích, phương thức cầu nguyện. Liên hệ đến vai trò của cầu nguyện trong y khoa, thiền định và trị liệu; 2/ Dịch và chú giải kinh Người Áo Trắng (tức kinh Ưu Bà Tắc của kinh Trung A Hàm) là kinh dành cho người Phật tử tại gia, giảng về năm giới, Bốn phép quán niệm, sự vun trồng phước đức.

Phật Giáo Trong Mạch Sống Dân Tộc, Thích Thanh Từ, NXB Tôn Giáo, ấn hành quý III, 2005, 154 trang, khổ 10x19 cm, không ghi giá bán. 

Sách gồm 4 chương: 1/ sơ lược lịch sử Phật Giáo Việt Nam từ khi du nhập đến năm 1963; 2/ về mặt tư tưởng, tác giả phân tích tinh thần dân tộc, nhận định Phật giáo thích hợp với tinh thần dân tộc; 3/ Ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học, nghệ thuật Việt Nam; và 4/ phân tích thái độ sai lầm về Phật giáo của Phật tử Việt Nam hiện đại.

Thực Tại Hiện Tiền, Viên Minh, NXB Tôn giáo, ấn hành quý III, 2005, 274 trang, khổ 14x20cm, không ghi giá bán.

Sách ghi lại 4 bài thuyết pháp của Tỳ kheo Viên Minh, trình bày giáo lý cơ bản của Phật giáo như Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Ngũ uẩn, đặc biệt nhấn mạnh cái chơn, vọng, nêu bật cái thực tại chân thật, hiện hữu trước mắt, cái đương xứ tức chơn, tức đối tượng của giải thoát, cốt lõi chung nhất của Phật giáo, vượt ngoài những dị biệt hình thức và phương tiện của các tông môn, hệ phái Phật giáo.
 
 


CỰC LẠC LÀ ĐÂY
Nhật Chiêu

Nhà thơ là người nhìn ngắm sự vật. Cái nhìn tươi tắn, mới nguyên. Cái nhìn đó trao linh hồn cho sự vật. Và trao một làn hương. Sự vật trở thành sự sống dưới cái nhìn mê hoặc ấy. Cái nhìn Hồ Xuân Hương.

Hồ Xuân Hương, người mà dịch giả John Balaban xưng tụng là “nhà thơ của thế giới” (a world - class poet), là “nữ Bồ tát” (Bodhisattva).
Khi Xuân Hương nhìn ngắm mùa Xuân, nàng sẽ thấy gì?
Khi nàng lên đài cao nhìn Mùa Xuân Tây Hồ thì thời gian chiêu mộ và trời nước như đảo chuyển và trở về nguyên thuỷ. Cái nhìn của một nữ thần, phải chăng?
Hãy nhìn với nàng đi.
Hãy đến Đài Khán Xuân. Và nhìn ngắm như một nhà thơ.
Chính là bạn đang ngắm nhìn nhà thơ, ngắm nhìn bản thân thơ ca.

Chơi Đài Khán Xuân
Êm ái chiều xuân tới khán đài,
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai.
Ba hồi chiêu mộ chuông gầm sóng,
Một vũng tang thương nước lộn trời.
Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Nào nào Cực lạc là đâu tá,
Cực lạc là đây chín rõ mười.

Thơ Hồ Xuân Hương có cung Ma và cõi Phật. Đó là sự sống. Và mùa Xuân cũng thế. Nếu gạt bỏ bóng tối thì ánh sáng cũng biến mất. Nếu không có một vũng tang thương thì cũng không có Mùa Xuân Cực lạc.

Chính vì thế mà đang êm ái và lâng lâng lại có thể vang động những gầm sóng, lộn trời.

Vì Xuân không chỉ có “êm ái” và “lâng lâng”. Cái nhìn của Xuân Hương không bao giờ đứng yên. Chỉ trong đôi mắt chết, sự vật mới đứng yên.

Êm ái chiều xuân. Xuân có một dáng vẻ (chiều) dường như êm ái. Tâm hồn nhà thơ đang giao cảm với Xuân nên cũng là êm ái. Êm ái như những bước thiền hành.

Nhà thơ và Mùa Xuân đồng hành, đang êm ái bước tới khán đài bên Hồ Tây.

Đài đang chờ đợi khách đến ngắm Xuân, nhưng xưa kia đài được xây vì một lẽ khác, để xem binh lính thao diễn kiếm cung, tập trận.

Cùng một cái đài thôi mà có thể duyệt quân hoặc khán Xuân. Hơn thế, đôi mắt là một cái đài thiêng. Nhà thơ nhìn ngắm và thế giới được tạo dựng. Cả hai dường như trong trẻo, lâng lâng, không bụi.

Bụi là những tạp niệm. Nó có đó nhưng phải lắng đi. Vì khi ta êm ái thì bụi cũng êm ái. Khi ta êm ái thì ba ngàn thế giới cũng lắng đọng, êm ái. Khi ta cuồng nộ thì một hạt bụi cũng cuồng nộ.

Và mùa Xuân thì êm ái đến thế trong lòng Xuân Hương.

Nhưng cái êm ái, lâng lâng ấy không kéo dài lâu. Bởi vì Xuân Hương rất tinh nghịch. Nàng bước khỏi Tịnh Độ một bước và vào cung Ma. Nàng qua lại giữa hai cõi bằng những bước thơ lạ kỳ.

Tại sao vậy? Bởi vì nàng nghe những hồi chuông chiêu mộ. Nghe như những tiếng sóng gầm. Những tiếng sóng của thời gian.

Đau khổ dường như là một tên gọi khác của thời gian. Nhà thơ nghe những con sóng của nó rền rĩ. Chiêu chiêu, mộ mộ.

Để sóng cuốn mình đi, nhà thơ muốn sống và đau khổ như một con người. Không có cuộc trải nghiệm này cũng sẽ không có Tịnh Độ.

Và trong cái vũng tang thương gọi là đời sống ấy có nước có trời, có bóng tối lẫn lộn ánh sáng. Điều quan trọng là: ở đâu có nước mà không có bóng của thiên đàng?

Một vũng tang thương nước lộn trời.

Ở đây có lẽ bản Anh dịch của Balaban cố bắt kịp cái hồn của Xuân Hương:

We see heaven upside - down in sad puddles.

Ta thấy thiên đàng "lộn ngược" trong vũng nước buồn. Cho dù thiên đàng lộn ngược, lẫn lộn với nước đời thì vẫn là bóng của thiên đàng. Ta Bà có thể chỉ là cái bóng của Tịnh Độ? Nhưng ý tứ Xuân Hương đúng ra là lẫn lộn, pha lẫn: bầu trời kia pha lẫn trong vũng tang thương trần thế.

Emily Dickinson, nàng thơ Mỹ đồng điệu với Xuân Hương từng viết rằng:

Tôi đi đến thiên đàng
Cái làng con là đấy

Tôi có thể vào Làng
Xem như người cùng Hội
Vinh quang.
(I went to heaven 
 ,Twas a small town

I could be
,Mong such unique
Society).

Bầu trời trong vũng nước, hay thiên đàng là một cái làng con, hai nàng thơ đã phóng tỏa một cái nhìn xanh, xanh thăm thẳm.

Tang thương là bể dâu, và chỉ là một vũng nước nhỏ. Hoặc là trong biển rộng cũng như vũng nước đều có bầu trời.

Vũ trụ thì như thế, thời gain thì như thế. Còn con người thì sao?

Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.

Con người rất nhỏ nhưng những gì mà hình hài mong manh ấy mang chứa lại rất mênh mông và sâu thẳm, nghìn trùng và muôn trượng, vô tận, không cạn, không vơi.

Quẻ “Tỉnh” trong Kinh Dịch cũng gợi lên một nguồn nước vô tận nơi con người. Thôn ấp thì thay đổi chứ nguồn nước thì không. Nước mạch chảy hoài, ai cũng lấy nước đó mà dùng, mà giúp người qua lại. Nước giúp đỡ mọi người mà dường như vô tâm.

Nguồn nước đó đối với Xuân Hương là nguồn ân bể ái. Không cạn không vơi mà cũng không đủ. Cũng như Emily Dickinson:

Tôi ái ân vô tận, 
Bằng chứng là đây:
Tôi chưa hề sống đủ
Cho đến khi yêu đầy.
(That I did aways love
I bring thee proof
That till I loved
I never lived enough).

Tình có thể là đau khổ nhưng e rằng chưa từng đau khổ, khó có thể vào thiên đàng. Những người yêu đầy sống đủ như Emily, như Xuân Hương đã là hình bóng của thiên đàng.

Hơn nữa, tình yêu như bể như nguồn của họ trải rộng ra khắp cõi đời, thiên nhiên, càn khôn và không bỏ sót những giống loài nhỏ bé (con ốc, lá cỏ, bánh trôi, con ong…). Họ hồn nhiên, chân thành và xa lạ với mọi thứ giả trá, lừa mị.
Chính vì thế họ biết thế nào là Cực lạc. Cũng như nữ sĩ Sei Shônagon của Nhật thời Heian. Trong tập tuỳ bút lừng danh của mình, Sei viết:

Những điều tuy xa mà gần:
Cực lạc.
Thuyền.
Nam nữ.”

Trong cảm thức của Sei thì Cực lạc (Gokuraku, phiên âm đúng là Cực lạc) là cái gì gần gũi, thân quen, cái cảm thức mà chắc chắn Xuân Hương và Emily đều đã ngộ.

Nào nào Cực lạc là đâu tá
Cực lạc là đây, chín rõ mười.
Cực lạc chính là cái hiện tiền. Là ở đây. Là bây giờ đây. Là chính ta đây.

Cực lạc là sự sống cụ thể, rõ ràng (chín rõ mười), không phải là thời điểm, hay địa điểm xa xôi nào. Đừng đi tìm đâu đâu.

Như vần thơ của Thiền Lão đời Lý:

Đãn tri kim nhật nguyệt
Thuỳ thức cựu xuân thu.
(Tháng ngày chỉ biết hôm nay
Còn xuân thu cũ ai hoài làm chi!).

Ta nghe rất rõ tự thoại vô cùng sống động mà tinh tế của Xuân Hương:

- Cực lạc là đâu?
- Cực lạc là đây.

Ta đau khổ vì tâm trí ta là một kẻ lang thang điên rồ. Tâm trí ta. Hắn lang thang lúc thì tìm về quá khứ, lúc thì tìm đến tương lai. Hoặc là một nơi chốn khác. Hoặc là đi tìm một kẻ khác.

Cực lạc là đây - Xuân Hương đã nói như thế.

Là bây giờ đây. Vì chỉ có cái bây giờ đang tiếp xúc với ta và mở rộng quanh ta. Nếu hỏi bây giờ là lúc nào thì câu trả lời xứng đáng nhất phải là: “Bây giờ!”

Là ở đây. Nếu không ở đây thì cũng chẳng ở đâu. Vì bằng cách nào ta đồng thời ở đây mà lại còn ở một nơi nào khác? 

Là chính ta đây. Ta phải sáng tạo bầu trời và mặt đất cho mình. Vì không ai làm điều đó cho ta được. Nếu ta khát nước thì ai có thể uống thay ta? 

Cực lạc là đây. Không thể tin vào một lời hứa hẹn nào khác. Về hôm qua hoặc ngày mai Lewis Carroll đã chế giễu cái ảo tưởng thời gian ấy trong câu chuyện về bé Alice. Hoàng hậu Trắng (The White Queen) nói với Alice: 

“Luật lệ là, chỉ có mứt ngày mai và mứt hôm qua - nhưng không bao giờ có mứt hôm nay”.
(The rule is, jam tomorrow and jam yesterday – but never jam today).

Điều đó có thể diễn dịch như sau: Ta hứa với ngươi Cực lạc ngày mai và Cực lạc hôm qua - nhưng không bao giờ có Cực lạc hôm nay.

Nhưng Xuân Hương nói: Cực lạc là hôm nay, là Đây!

Xuân Hương đã cứu độ những tâm hồn ngây thơ như Alice. Mứt hay là bánh trôi của cô không phải là bánh vẽ.

Bánh trôi ấy là Đây.
Cực lạc của Xuân Hương là Đây.
 


24 Tương đương (truyện ngắn, Vũ Thành Sơn dịch).
Đang Đánh Máy


VỪA  ĐI  VỪA  NGHĨ
Nguyễn Lan Anh

Không cứ gì phải là mùa xuân, không cứ gì phải là mùa lễ hội, bất cứ lúc nào, bạn muốn tìm đến một nơi nào đó khác lạ với môi trường bạn đang sống, bạn hãy thử một lần đi chùa Hương và tìm hiểu như một lữ khách muốn sống lại thuở xa xưa. 

Cảm giác ngồi một mình trong một con đò, đi ngược lại với những con đò khác, thật khó tả. Nó cũng giống như cảm giác đêm giao thừa, tất cả cùng hướng lên bầu trời, phía những chùm pháo hoa nổ đì đùng, phía màn đêm đen bất chợt rực rỡ. Bạn hãy thử quay ngược lại, ngược lại với đám đông ồn ào kia, ngược lại tiếng reo hò sung sướng kia, tìm một nơi vắng trong thành phố, và nhìn lên bầu trời, phía đối lập với những chùm pháo hoa và cảm nhận hơi thở sự sống.

Buổi tối, trên dòng suối Yến, tôi đã có cảm giác như thế. Tất cả đã lùi xa, những ngày tháng của bụi bặm và tiếng còi xe. Chỉ còn tiếng khoả nước của mái chèo. Cô lái đò cũng lặng im không nói. Đằng xa kia, chỉ còn bóng của những ngọn núi chìm lặng trong đêm. 

Trong động Hương Tích, có khối nhũ đá, nhỏ giọt từng hạt nước do thiên nhiên ban tặng. Người ta gọi đó là sữa mẹ, và theo tín ngưỡng dân gian, sữa mẹ mang lộc mát lành đến cho mọi người. Những ngày lễ hội, trong động rất đông khách thập phương, nhiều người trèo lên cả khối đá, chen lấn xô đẩy, mong hứng được từng giọt sữa mẹ. Họ la hét, vui sướng khi hứng được giọt sữa, v à buồn bã khi giọt sữa đó chưa đến tay mình. Họ uống từng giọt, xoa lên mặt, với niềm tin tuyệt đối: an lành sẽ đến. Những lúc đó, không biết có ai nhớ đến người sinh thành ra mình - người mẹ của mình. Đức Phật nói: “Cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ các người đã uống, trong khi các người lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, chứ không phải là nước trong bốn biển” (Tương Ưng II, 208). Công lao của cha mẹ ta, vô cùng to lớn. Dòng sữa mang nhiều công ơn nhất không phải tìm ở đâu xa, chính dòng sữa ấy đã tồn tại trong cơ thể ta, truyền cho ta sự sống, là dòng sữa của mẹ. Đức Phật giảng rằng: “Có hai hạng người, này các Tỳ kheo, Ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỳ kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt 100 năm cho đến 100 tuổi. Như vậy, này các Tỳ Kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ cho mẹ và cha. Nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dù tại đấy, mẹ cha có vãi đại tiện, tiểu tiện, dù như vậy, này các Tỳ kheo, cũng chưa thể làm đủ hay trả ơn đủ mẹ, và cha.” (Tăng Chi I, 75). Đức Phật Bà trong động Hương Tích khi còn là công chúa Ba, đã xuất gia cứu độ cho vua cha vốn là người độc ác, nên trong sự tích mới có câu: “Chân như Đạo Phật rất mầu/Tâm trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhân/Hiếu là độ được song thân/Nhân là cứu vớt trầm luân muôn loài” .

Khi bạn đi chùa Hương sau mùa lễ hội, bạn sẽ có cơ hội được thong thả chiêm ngưỡng pho tượng Phật Bà trong động Hương Tích, thoả thê hứng từng giọt "sữa mẹ". Tôi nghĩ rằng, trong tâm bạn, sẽ tức khắc có sự liên tưởng giữa ba hình ảnh: lời dạy của Đức Phật, pho tượng Phật Bà, khối nhũ đá Sữa Mẹ. Ba biểu tượng đó, sẽ là một bài học về đạo làm người đạo cho mỗi chúng ta, nhất là trong tầng lớp thanh niên. 

Trong thời buổi kinh tế thị trường, xã hội càng ngày càng hiện đại, nhưng con người lại càng cảm thấy cô đơn hơn. Gia đình, công việc, các nhu cầu bản thân… luôn tạo ra những áp lực làm cho con người cảm thấy mệt mỏi. Nhưng nếu bạn cứ luôn để ý đến những điều khó chịu, bạn sẽ lại trở thành chính những gì bạn không thích, thậm chí những gì bạn ghét. Nếu bạn hài hoà bản thân, tự kiểm nghiệm lại và biết sửa đổi mình, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, hẳn bạn sẽ cảm thấy cuộc sống nhẹ nhõm hơn. 

  Nếu đã tìm đến Chùa Hương, bạn hãy bằng lòng thành của mình, ngắm giếng thiên nhiên không bao giờ cạn ở Chùa Giải Oan. Tương truyền, đó là nước ở suối Giải Oan. Bà Chúa Ba khi xưa từ chối không lập gia đình theo ý của vua cha, đã bị đưa ra pháp trường, nhưng chưa kịp bị hành hình thì được cứu thoát. Giếng đó vẫn rất nhiều nước, và người ta đã chắn lại bằng những song sắt. Không sao, đã có một cô bé răng khểnh tên Hương, ngồi múc từng chút nước để bạn thưởng thức. Cái gầu múc nước bé như chiếc ống bơ, và đòn gánh chỉ to hơn một que đũa. Bạn đã cảm nhận được sự thú vị chưa? Và xin bạn đừng nôn nóng. Nước suối đựng trong một chiếc chén siêu hạt mít. Bé đến nỗi, bạn đã uống hết nước rồi, mà vẫn cảm thấy như chưa được uống. Đó là chút linh diệu, chỉ thế thôi, nhưng phải nhạy cảm bạn mới thấy xúc động khi nghĩ rằng mình đang đứng ở một nơi mà  trước kia, các vị sơn tăng đã và đang từng sinh sống. 

  Khi bạn đọc sự tích Bà Chúa Ba, đến đoạn Bà suýt bị hành hình, hoặc bà định tự vẫn để bảo toàn ý nguyện của mình, bạn hãy nghĩ kỹ một chút nhé. Mọi chán chường, mọi suy nghĩ lẩn quẩn của bạn, đừng bao giờ lên đến mức muốn từ bỏ cõi đời một cách nông cạn, bởi bạn chưa phải là Bà Chúa Ba. Trong chuyện tu luyện của Tổ sư Milarepa có đoạn: 

“Sau khi phải chịu muôn vàn thống khổ đủ loại cả về thể xác và tinh thần trong quá trình cầu Pháp, ông cho rằng bản thân tội nghiệp của mình có lẽ quá to quá lớn, đời này không đắc chính pháp được, và trong những cái khổ nhất, ông đã nghĩ tới tự sát. Ông tự nhủ: “Tội chướng của ta nặng quá, Thượng sư và mẫu đều vì ta mà chịu bao nỗi thống khổ đến thế, đời này không thể tu pháp đến đích được, chỉ còn nước tự sát thôi!”, rồi rút một con dao ra để tự sát (người Tây Tạng thường mang dao bên mình). Lúc ấy, một vị Lạt Ma tên là Ngokpa, giữ chặt ông lại, mắt tuôn lệ nói rằng: “… Không được thế! Không được thế!... các uẩn, các giới, các xứ cuả tự thân đều là Phật- đà; trước khi mệnh chung dẫu có hành chuyển thức pháp (‘chuyển thức pháp’ là một trong 6 chủng thành tựu pháp, một phương tiện Mật tông tu Tịnh độ, pháp này nếu thành tựu thì sẽ tự tại trong sinh tử), thì vẫn có tội sát Phật. Thế gian này không tội nào lớn hơn tội tự sát. Vậy trong Hiển giáo có giảng: không tội nào nặng hơn tội tự đoạn đứt sinh mệnh của mình. Ông phải suy xét cho kỹ. Vứt bỏ cái niệm đầu về tự sát ấy đi!...” .

Đức Phật từng nói: “được làm người khó như một con rùa chột mắt, cứ mỗi trăm năm mới ngóc đầu lên khỏi mặt biển một lần, và tìm cách chui đầu vào lỗ nhỏ của một khúc gỗ trôi lềnh bềnh trên mặt nước, bị gió Đông, gió Tây, gió Nam, gió Bắc thổi trôi dạt hết phương này đến phương khác”. Hình ảnh con rùa chột mắt với cơ hội làm người đủ thấy con người là đã là một chuyện cực kỳ khó. Bạn hãy bình tâm trước tất cả và hãy tự nhủ với chính mình rằng, để được nếm trải qua những thăng trầm đó, chắc chỉ có con người có thể thực hiện. Mỗi lần trải qua, là một lần trưởng thành hơn. 

Mọi điều lại quay trở về với quan niệm làm người của Đức Phật. Hình ảnh con rùa chột mắt ngàn năm mới ngoi lên mặt biển, và cơ hội của nó là chui qua một lỗ nhỏ của khúc gỗ dập dềnh kia. Cái cơ hội ấy, là một tỉ lệ cực kỳ mong manh, không biết bằng bao nhiêu phần triệu triệu, nhưng đó vẫn là quy luật của luân hồi, mà con rùa chột mắt ấy vẫn hy vọng một ngày kia sẽ chiu qua được khúc gỗ mục. Hãy tĩnh tâm, và hãy mỉm cười trước những vất vả của cuộc sống. Tập trung làm thật tốt những gì mình đang làm và chăm chỉ gieo mầm, chắc chắn bạn sẽ thấy, trong số những hạt mầm bạn gieo, sẽ có những hạt mẩm nảy chồi khỏe khoắn, vững mạnh. 

1:Toàn cảnh chùa Hương, 2:Suối Yến, 3:Phật Bà chùa Hương, 4:Hoa Sen chùa Hương, Ảnh: Quang Bảo


Lời Cảm ơn cuộc sống

Tôi là người con trai trưởng trong gia đình, nhưng ngay từ nhỏ, tôi đã không hợp với ba tôi. Tính cộc cằn của ông đã làm vợ con xa lánh. Nhiều lúc đi làm ăn xa về, tôi chỉ hỏi chuyện má, còn nhìn thấy ba là tôi tránh mặt đi chỗ khác. Tôi biết nhiều lúc ba muốn nói chuyện với tôi, má cũng muốn hai cha con tôi làm lành với nhau, nhưng tôi không sao làm được…

Hôm nay, tình cờ đi xe ôm, tôi nhờ anh xe ôm khoảng 50 tuổi ghé vô hàng bưởi ven đường mua về làm quà cho vợ con. Khi mua xong tôi tiện tay trả luôn tiền cho anh xe ôm, anh lấy tôi 15.000đ nhưng tôi trả cả 23.000đ. Anh móc túi lấy ra hai ngàn đưa cho tôi và nói, nhờ chú lấy cho tôi cặp bưởi 25.000đ, chạy xe chẳng được bao tiền nhưng ông cụ ở nhà chỉ thích ăn bưởi, lần nào chạy xe cho khách qua đây tôi cũng mua về, lâu không mua là ông cụ lại nhắc… 

Nghe đến đây, tôi cảm thấy trong lòng tôi mất mát một điều gì lớn lao lắm. Nhớ đến ba tôi, chưa bao giờ ba được nghe tôi nói một câu "ba thích ăn gì để con mua!". Tôi bèn rút thêm tiền, mua thêm cho anh một cặp bưởi nữa để anh về biếu ông cụ. Anh xe ôm ngạc nhiên và luôn miệng cảm ơn tôi. Nhưng tôi tự cảm thấy xấu hổ, tôi phải là người cảm ơn anh mới đúng, vì nhờ có anh mà tôi sớm nhận ra rằng tình người mới là điều đáng quý, và tình cha con còn đáng quý hơn nhiều. Trong tuần này, tôi sẽ về quê chúc Tết gia đình, nhất định tôi sẽ làm lành với ba, và tôi nghĩ một câu xin lỗi của tôi chắc sẽ làm má tôi vui rất nhiều. Cảm ơn anh! 
 

Năm nào cũng vậy, cứ vào đêm giao thừa là tôi đi lễ chùa để được tham dự khóa lễ cầu nguyện quốc thái dân an đầu tiên của năm. Và hình ảnh làm tôi xúc động suốt năm năm qua, mà lúc nào gặp ai tôi cũng kể cho họ nghe, đó là chuyện người con trai 75 tuổi dắt mẹ 94 tuổi đi lễ Phật. Nhìn mẹ (tôi vẫn quen gọi cụ như thế) run run chắp tay cung kính xá các thầy rồi bước vào chánh điện lễ Phật, sau đó ngồi xuống lấy chuỗi tràng hạt đeo nơi cổ ra niệm Phật, trong lòng tôi vừa xúc động, vừa sung sướng thay cho ông lão, vì đã ông diễm phúc có một người mẹ hiền như vậy…

Năm nay giao thừa, tôi chỉ thấy ông lão lủi thủi đi một mình, trong lòng chợt thấy bất an… Hỏi ra thì biết mẹ đã theo Phật, mới qua 100 ngày. Tôi quỳ xuống cầu nguyện cho mẹ mà nước mắt chảy ra. Cha mẹ tôi đều không còn, nên mỗi khi gặp cụ, tôi gọi cụ bằng mẹ cho nguôi niềm nhớ thương, và cảm thấy hạnh phúc khi được mẹ nắm tay khuyên tôi gắng niệm Phật… 

Thương nhớ mẹ, tôi cảm ơn cuộc sống đã cho tôi ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy” còn được gặp mẹ, gặp một người con hiếu thảo. 

Mẹ ơi, sau này con bước đi chậm chạp, ai sẽ là người dắt con đi lễ Phật vào đêm giao thừa…?

Nguyễn Thị Mai, pháp danh Diệu Hương
(TP. HCM)


CƠM NGŨ CỐC 
DÙNG VỚI ĐẬU HŨ VÀ NẤM KHO TIÊU

Vật Liệu:

Gạo thơm: 1 lon
Hạt Kê: ¼ lon
Đậu Đỏ: ¼ lon
Đậu Xanh: ¼ lon
Nấm Rơm tươi: loại búp, 200 gr
Đậu Hũ: 1 bìa
Boarô: 1 cây
Dầu Mè: 1 muỗng soup
Dầu ăn, xì dầu, tiêu, muối, đường.

Cách Làm:

Đậu Đỏ, Dậu Xanh khô đem phơi nắng cho khô giòn, lấy cán gỗ cà cho đậu vỡ nhỏ ra.

Hạt Kê: vút sạch cát. Cho Hạt Kê, Đậu Đỏ và Đậu Xanh vào nồi nấu với nhiều nước - đến khi đậu và kê hơi mềm thì cho gạo đã vút sạch vào. Rồi nấu như cơm bình thường.

Nấm rơm búp: gọt chân và rửa nước muối cho sạch.

Đậu hũ: lựa mua loại mới - cắt từng miếng vuông vức, đem chiên lên cho vàng.

Bắt chảo nóng, cho vào 1 muỗng suop dầu ăn, khử boarô cho thơm rồi cho nấm và đậu hũ vào xào. Nêm chút xì dầu, muối đường vừa ăn. Đậy nắp lại cho lửa liu riu một lúc. Nhắc xuống, cho vào 1 muỗng soup dầu mè và rắc vào vài hạt tiêu.
Món cơm ngũ cốc gồm kê, đậu đỏ và đậu xanh nấu cả vỏ dùng với nấm kho tiêu không những là 1 món ăn ngon mà còn rất bổ dưỡng. Đặc biệt giúp tránh phù thuỷ, giúp mắt khỏi mờ và còn giải độc, giải nhiệt.
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 13 -THÁNG 2 2006


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)