VỀ
NGUỒN
Chung
Sơn
Dân
tộc ta có lịch sử mấy ngàn năm. Ông cha ta đã có kinh nghiệm
trong việc tiếp thu các nguồn văn minh nhân loại để xây
dựng hệ thống nhận thức của mình. Hệ thống đó được
đúc kết thành chuẩn mực đạo đức, lối sống, thái độ
cư xử đối với bản thân và môi trường chung quanh cho con
người, tạo nên một thành trì kiên cố giữ vững sự ổn
định của xã hội trong hàng trăm năm.
Chúng
ta bình tâm và khách quan nhìn lại quá khứ, nhìn lại những
con người và những giai đoạn phát triển của đất nước,
thì sẽ không khó khăn gì trong việc thấy được điều đó.
Chúng
ta có một bề dày truyền thống và một kho tàng kinh nghiệm
trong đấu tranh giữ gìn nền độc lập của dân tộc trước
bao sóng gió đến từ bên ngoài cũng như bùng phát từ bên
trong. Chúng ta có những nguyên lý nhận thức căn bản và ổn
định được cha ông chọn lọc và đúc kết trở nên giản
dị, đi vào lời ăn tiếng nói của người dân, phổ biến
đến độ chính nó tạo nên những điều luật bất thành
văn để mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng tự điều chỉnh mà
nhiều khi không cần một áp chế nào. Và chính điều đó
đã làm nên sự ổn định bấy lâu nay.
Tuy
nhiên, với tình hình mới của thế giới, để sống còn,
chúng ta phải tham gia cuộc chơi chung của nền kinh tế thị
trường. Như một anh nhà quê, một thời chúng ta choáng ngợp
trước các thành tựu của thế giới, của các nước phương
Tây, rồi vội vã lao mình vào trong khi chưa chuẩn bị đủ
lực của tự thân. Chúng ta đã bỏ quên mất mình. Nói cách
khác, chúng ta như gã cùng tử không biết mẹ đã giấu một
gia tài vô giátrong chéo áo rách mình đang mang. Nghèo đâm ra
tự ti. Tự ti lại sinh tính kiêu mạn. Và như thế, chúng ta
lại càng thêm quẩn, khó tìm được lối ra, nói chính xác
hơn là khó tìm được lối trở về nhà. Về nhà để nghỉ
ngơi, để nhìn lại ngôi nhà của mình, để nhớ lại rằng
mẹ có dặn về một vật báu cất trong chéo áo… Nhưng cái
khó đó chúng ta đã vượt qua, từ mấy năm trước.
Lịch
sử còn ghi, ngày xưa, đương lúc thái bình, dẫu mới chỉ
vừa 50 tuổi, nhưng Trần Nhân Tông đã nhường ngôi cho lớp
kế tiếp, rời ngai vàng khoác lên mình chiếc áo nâu sồng,
đi khắp xóm làng, nhất là ở các vùng đất mới của tổ
quốc để khuyên dân chúng thực hiện năm giới mười thiện,
những nguyên tắc sống đạo đức chuẩn mực, đầy nhân
văn. Một người có quyền lực cao nhất đã bỏ ngai vàng
khi tuổi vừa năm mươi, bỏ không phải để an dưỡng mà
để làm việc, để chuyên tâm rèn luyện nội thân, để lang
thang hang cùng ngõ hẻm khuyên dân chúng sống đạo đức.
Không
ai ép buộc được vua, trừ khi vua tự nhận thức. Sống trong
cung vàng điện ngọc, rồi từ bỏ khi đang ở đỉnh cao để
sống cuộc đời của một thiền sư với nhu cầu tối thiểu?
Ai khiến vua làm điều đó? Không thể ai ngoài bản thân vua.
Trần Nhân Tông đã nhận thức về cuộc đời, về nền tảng
ổn định của đất nước nên nhà vua lo tu thân. Về vai trò
xã hội, Trần Nhân Tông là một vị vua, nhà lãnh đạo chính
trị tối cao của đất nước, nhưng con người bên trong là
một người tu, luôn quán sự vô thường, sự không chắc chắn
của của thế giới sự vật hiện tượng, của cái thân đang
khoác chiếc long bào, của quyền lực được biểu hiện qua
chiếc ngai vàng… Quán chiếu để tích cực dấn thân, để
mỗi ngày đều là ngày sống xứng đáng, để không chấp
nhắc sự yêu ghét tầm thường, để xả bỏ và để tự
tại với các vai trò xã hội mà mình đảm trách.
Mỗi
khi vai trò xã hội của chúng ta càng lớn, thì suy nghĩ, lời
nói và hành động của chúng ta có sự ảnh hưởng, tác động
đến số đông, kiềm hãm hay thúc đẩy đất nước phát triển,
cho nên chúng ta phải càng học tu thân dưỡng tâm. Làm vua,
làm quan không phải là để hưởng thụ, vì để có đặc
quyền đặc lợi mà để cống hiến. Làm vua làm quan mà để
hưởng thụ, vì quyền và lợi thì xứ sở, đất nước sớm
muộn gì cũng đi vào nơi hoang vu, cái quyền và lợi cũng sẽ
mất, và tiếng xấu sẽ lưu lịch sử.
Xã
hội chúng ta hiện nay còn nhiều điều bất ổn, nhất là
về vấn đề đạo đức lối sống. Các giá trị được áp
dụng lâu nay không đủ khả năng định hướng trong phát triển.
Trước tình hình mới, đất nước chúng ta đang chuyển mình,
dư luận báo chí đang nói nhiều về sự chuyển mình đó.
Chúng ta đang nhìn lại gia tài của dân tộc và đang tìm hiểu
nguyên lý làm nên sự ổn định xã hội được cha ông ta
sàng lọc, thử nghiệm, đúc kết bằng thực tiễn và được
áp dụng hàng trăm năm trong lịch sử, ở những giai đoạn
cực thịnh, thái bình của đất nước.
Trở
về nguồn cội với sự hoài niệm là thái độ ủy mị. Tìm
về nguồn cội để tìm ra những nguyên lý mang tính truyền
thống và tính đặc thù của tâm lý con người, dân tộc để
áp dụng cho hôm nay chính là tạo nên sự ổn định xã hội.
Ổn định mới có thể xây dựng và phát triển. Bởi nếu
phát triển trong sự không ổn định thì đó chỉ là hình
thức, không thực chất và hết sức nguy hiểm, không bền
vững.
ĐỨC
PHẬT LÀ TÌNH YÊU
“Tình
yêu của Đức Phật không phải là loại tình yêu lấy ngã
làm trung tâm. Tình yêu của Đức Phật là một ý lực ham
muốn và hành động trong lĩnh vực vô ngã, nó được sinh
khởi từ tâm phi phân biệt và thể hiện trong thái độ vô
mục đích (vô công dụng hạnh – anàbhogcaryà). Tình yêu ấy
là lòng đại bi, thương xót đến tất cả chúng sinh không
bao giờ ngưng dứt, cho đến khi hết thảy chúng sinh được
dẫn đến trú xứ hạnh phúc Niết bàn tối hậu. Chừng nào
còn có một chúng sinh chưa được cứu độ thì chừng đó
Ngài vẫn từ chối hưởng hạnh phúc thiền định xứng đáng
với sự tu tập tâm linh lâu dài của Ngài. Quả thực, Đức
Phật có một trái tim yêu thương, từ bi bao la, xem chúng sinh
như đứa con độc nhất của mình. Nếu Ngài nhập Niết bàn
thì không còn gì được làm trong cái thế giới mà phân biệt
vẫn tiếp diễn và tính đa phức vẫn nổi bật. Vì thế,
Ngài không chịu rời bỏ cái thế giới tương đối này, tất
cả mọi tư tưởng của Ngài đều hướng đến những chúng
sinh đang ở trong vô minh và đang đau khổ...”.
D.T.
Suzuki
(Lược
theo Lăng già Đại thừa kinh)
ĐỨC
PHẬT
CON
NGƯỜI LỊCH SỬ
“Tôi
đến thị trấn Bodha Gaya buổi tối để sớm hôm sau chiêm
bái nơi chốn thiêng liêng này, chỗ được vẽ trong một bức
tranh thờ Phật, có lẽ là bức tranh đầu tiên tôi thấy trong
thời thơ ấu. Ngày đó đối với tôi, Đức Phật trừu tượng
xa vời như Ngọc Hoàng thượng đế, cây bồ đề hay làn nước
xanh trong tranh chỉ là tưởng tượng. Bởi thế khi bước chân
vào chốn này, tìm xem cây bồ đề mà lòng tôi đầy cảm
xúc (...)
“Hãy
thử làm theo Phật bằng cách thiền định để nhận thức
thế giới. Ý nghĩa đích thực của cuộc đời làm người
là cơ hội quý báu để nhận thức thế giới. Và cách nhận
thức có hiệu quả nhất là chỉ và quán trong thiền định.
Đó là kết luận của Ngài, nhưng tiếc thay đối với tôi
lại là điều khó làm nhất. Từ xưa tâm tôi hay tán loạn
khi ngồi thiền định, đối với tôi không có gì khó hơn
sự định tâm. Dưới gốc bồ đề, tôi ngồi đó với lòng
cảm xúc, có lẽ tâm tôi chẳng định được gì vì tâm ý
sôi nổi. Làm sao tôi tĩnh tâm được khi nhớ rằng ngay tại
nơi này, cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm có một Bậc Thầy
đã ngồi thiền và đạt giác ngộ”...
Tiến
sĩ vật lý Nguyễn Tường Bách
(Theo
Mùi hương trầm)
PHẬT
VÀO ĐỜI
Nửa
khuya Đức Phật vào đời
Trong
đôi cánh hạc tuyệt vời lên trăng
Cành
hoa muộn nở ngoài sân
Thoảng
hương xa, Phật đến gần trong hương
Phật
là hoa, Phật là hương
Là
trăng, là hạc, là hồn phương Đông.
Rạng
ngày chim hót vừng đông
Chở
chuyên trên cách hoa hồng âm thanh
Ba
nghìn vô tự chân kinh
Lắng
nghe thoảng đến tai mình đơn sơ
Lời
chim hót, tiếng quay tơ
Cả
âm thanh, cả lặng tờ đều kinh.
Phật
ngời trong mắt thủy tinh
Phật
thơm trên má cây quỳnh cây cành dao
Phật
phơ phất giữ hàng rào
Thắm
hoa râm bụt xôn xao nắng chiều
Phật
là quê mẹ thương yêu
Kinh
là những tiếng sáo diều của em.
Ôi
từ độ đá thành tên
Ôi
từ độ đất nên hình cỏ hoa
Giọt
cành dương, hạt mưa sa
Pháp
âm dậy giữa phong ba ngọt ngào
Từng
biển thấp, từng non cao
Ýù
chi không Phật, lời nào không kinh.
Trụ
vũ
LỜI
SÁM HỐI...
Nguyễn
Sơn Hà
Có
những lúc ngồi trầm ngâm một mình để nhớ lại những
ngày tháng đi qua trong cuộc đời, tôi mới thấy mình còn
nhiều may mắn. Nhưng vẫn không khỏi tê tái và run môi khi
mỗi lần gọi mẹ, khấn Phật. Ông bà tôi đã kính mộ Phật,
niệm Phật. Lòng sùng kính Phật cũng được mẹ tôi chăm
chút một cách tỉ mỉ. Ấy vậy mà sau khi gia đình ly tán
vì chiến tranh, tôi trở thành đứa con đầu tiên trong gia
đình bài bác Phật. Nhưng Phật chẳng giận tôi, cũng như
chẳng giận những người có thể giận dữ chỉ vào tượng
Phật mà mắng mỏ. Phật không giận vì Phật là hiện thân
cao nhất của lòng từ bi, Phật là từ bi…
Lòng
từ bi là một thứ tình yêu lớn nhất, bao la và nhiệm mầu
nhất mà tôi thường được bà ngoại và mẹ nói về Đức
Phật. Nhưng Đức Phật vắng mặt trong tôi kể từ khi bom
đạn và lòng thù hận dội xuống làng. Có lẽ nào cuộc đời
của tôi lại có thể bị rút gọn vào trong một vài biến
cố chiến tranh như thế. Tuổi niên thiếu của tôi, tình yêu
của bà, của mẹ, của ông Thiện ông Ác, của những pho tượng
Phật thanh thoát dành cho tôi có lẽ nào lại biến mất trong
bộ quân phục mà tôi mang. Tôi phải quên đi lòng nhân từ
ủy mị và phải sống dậy lòng căm thù giai cấp để chống
lại sự lãng quên con người: người nghèo mới là con người…
Cách
thẩm định nhân cách con người trong thời trưởng thành của
tôi nằm gọn vào một cái khuôn và được kiểm soát chặt
chẽ. Không có sự đa dạng của tinh thần, bản thân tôi tồn
tại giống như những cử động của máy móc. Có lúc tôi
tự nghiệm ra, việc tàn nhẫn với quân thù cũng giống như
trò chơi quấn rẻ vào đuôi chuột, tẩm dầu và đốt. Đơn
giản chỉ là như thế, nhưng sự mâu thuẫn giữa tính thương
người và lòng ác độc trong tôi còn lớn hơn cả sự xung
khắc giữa một người có thể quy tội chết cho bất cứ
ai, vào bất cứ lúc nào và một kẻ thù luôn ham sống. Điều
đó làm cho tôi sợ. Sợ nhất vẫn là nhân quả báo ứng...
Mặc
dù lòng thù hận và sự báo ứng thay nhau dày vò tôi, nhưng
từ trong sâu thẳm của vô thức vẫn ùa về một nét cười
từ bi nào đó từ những ngày tôi đang "tuổi chuồn chuồn".
Những giấc mơ thời thơ ấu vào những đêm trăng huyền ảo
cứ thỉnh thoảng lặp lại: bà ngoại ngồi trước, tôi ngồi
sau chắp tay búp hoa lạy Phật và tụng những lời kinh đầm
ấm theo bàn tay run run gõ mõ như người băm xương của bà…
Mỗi khi thức giấc, mồ hôi tôi vã ra như thanh tẩy. Và ký
ức đến từ lời của mẹ: dù bằng cọng cỏ lá rau, của
không cho con chớ lấy… Vậy mà tôi có lúc đã từng đánh
mất Đức Phật của tôi được ư?
Nhớ
lại khi còn nhỏ, chị tôi bế tôi đi xem hội chùa. Mải vui,
chị để tôi ngồi lên đầu ông nghê đá mà ông Ác cưỡi.
Con nít vô tâm mà. Tôi nghe kể lại, lúc đó tôi đã tè một
bãi lên đầu ông nghê đá. Có lẽ ông Ác không vui, nên về
đến nhà là tôi lên cơn sốt li bì, uống thuốc gì cũng không
thấy hạ. Bà ngoại hỏi chị tôi, biết chuyện, mới sắm
hoa quả, trầu cau đến chùa lễ sám. Lễ xong về đến nhà
tôi tự nhiên hết sốt. Ông Ác muốn giáo dục người lớn
về sự tôn nghiêm, chứ trẻ con nào có biết gì. Sau khi lớn
lên, có thể leo trèo thành thạo, tôi thường sang chùa lau
bụi cho tượng Phật. Ông Thiện, tôi bắc thang leo lên vai
để lau mặt đã đành rồi, nhưng ông Ác, tôi cũng làm vậy
mà có bị trách tội gì đâu. Có lần tôi tò mò thử ngoáy
mũi, giật giật mấy sợi râu của ông Ác xem người ta làm
bằng gì, nhưng cũng không sao cả, mà lúc về còn được sư
thầy thưởng lộc Phật. Nhẽ ra phải nói hiền như ông Ác
mới đúng.
Mỗi
lần mẹ tôi đi lễ Phật, cúng chùa, mẹ thường bạch với
sư thầy bằng câu: “Con xin ăn mày lộc Phật, ăn mày lộc
thầy”? Hóa ra người đến cúng mới là kẻ ăn mày, chứ
chốn linh thiêng nào có ai bắt. Bà và mẹ, những người phụ
nữ tần tảo, hiền hậu, ăn mày Phật là để xác quyết
niềm tin nhân quả, nghiệp báo cho anh chị em tôi, cho gia đình
tôi. Có thế, tôi mới không thể quên đi ký ức bình an, tươi
tắn của mình. Còn nhớ, có lần bố mẹ tôi to tiếng với
nhau, bố tôi đã đánh mẹ tôi, anh chị em tôi đều hoảng
sợ. Bà ngoại không nói gì, chỉ lẳng lặng thắp ba nén hương
lên bàn thờ Phật, thờ tổ tiên và ngồi thụp xuống khóc.
Thế là cả nhà im tiếng, bố mẹ tôi đều quỳ cả xuống
xin lỗi bà, bà chỉ bảo “mẹ đã nói bao lần rồi, 'một
câu nhịn bằng chín câu lành' mà sao chúng mày không nghe!”
và lau nước mắt đi vào buồng nghỉ. Lành thật! Phật không
có phóng quang mà cả bố và mẹ tôi đều ý thức được
cơn giận của mình. Phật không có ban phép mà lòng anh chị
em tôi thấy vui và hết sợ. Chẳng có ai phán xét hành vi của
mỗi người trong gia đình tôi, nhưng niềm kính Phật của
mọi người mỗi ngày cứ như nước hòa với sữa. Gia đình
tôi luôn có một Đức Phật, trong tôi cũng luôn hiện diện
một Đức Phật. Nhờ Đức Phật mà gia đình tôi giữ được
hơi ấm tình thương yêu. Nhờ đức Phật mà nay cuộc sống
của tôi lấy được sự thăng bằng.
Cho
con xin kính lạy Đức Đại Từ!
Đối
phó với cơn bão cảm xúc (Thích Nhất Hạnh)
Từ
chùa Ba Làng LÁ VẰNG
đến
nhà Chúa La Vang …
Cao
Sơn
Tại
vùng đất eo hẹp, cằn cỗi nhất miền Trung, Bình-Trị-Thiên
có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng không chỉ trong nước
mà cả ngoài nước. Đặc biệt, tại xã Hải Phú, quận Mai
Lĩnh cách trung tâm tỉnh lỵ Quảng Trị khoảng 6km về phía
Tây Bắc là khu vực "linh địa La Vang", chính thức xuất hiện
và phát triển gần 100 năm nay.
Căn
cứ theo các công trình nghiên cứu của các học giả, sử
gia Thiên Chúa giáo (TCG) phổ biến rộng rãi suốt nửa thế
kỷ nay, chúng tôi xin sao lục giới thiệu phần liên hệ giữa
"linh địa La Vang" với Phật Giáo, nhằm phần nào giải toả
sự thắc mắc của những người quan tâm tìm hiểu.
Trong
sách Linh địa La Vang (LĐLV), Linh mục Xitanilaô Nguyễn Văn
Ngọc cho biết:
“Theo
kế hoạch tăng gia sản xuất, khi đi làm rú đồng bào lương
giáo Cổ vưu đã phá một sở rẫy giữa rú xanh cách xa làng
độ 7 cây số để trồng khoai sắn và cấy lúa. Về sau đã
có mấy người làm trại ở đây để giữ cây ba đẳng vật
để cho khỏi heo rừng, cọp, voi… phá hại. Sau khi đất hoang
đã được canh phá một phần lớn, họ bèn đăng toà nhập
bộ, rồi xin xuất phường. Vì thế trong bản địa bộ của
làng Cổ vưu, được lập đời nhà LÊ và được quản tu
lại đời Gia Long, có ghi tên phường Lá Vằng, là vì xưa
tại đất xứ đó có rất nhiều cây Lá Vằng. Loại cây này
có hột đen, ăn được và lá của nó là một vị thuốc và
người phụ nữ xứ Dinh Cát thường dùng sắc uống khi nằm
nơi…
Vào
khoảng đầu đời Minh Mạng, 3 làng Thạch Hãn, Cổ Thành và
Ba Trừ chung nhau làm một cái miếu hay chùa trên nền thờ
vọng ở gốc cây đa La Vang (tức Lá Vằng), nhưng về sau bị
động họ phải rút lui. Vì thế trong những năm trước đây
mấy người già cả bên lương ở gần linh địa La Vang còn
nhớ tích trên, nên năng nói rằng: “Bà ấy là Bà bên Lương
mà bên Giáo đã giành đi đó”(1).
Qua
tài liệu trên, chúng ta biết ngôi chùa của 3 làng (Thạch
Hãn, Cổ Thành, Ba Trừ) chung nhau làm tương đối lớn, công
trình kéo dài 3 tháng và việc thờ tự tượng pháp rất đầy
đủ và trang nghiêm. Nhưng cuối cùng, theo các nhà viết sử
TCG, nhờ "phép lạ của Đức Mẹ”, ngôi chùa được “3
làng tự nguyện dâng cúng để làm nhà Chúa”, tuy nhiên chẳng
ai biết điều đó xảy ra vào thời điểm nào, hiện nay không
thấy tài liệu nào ghi rõ ràng về điều này.
Ngôi
chùa thành nhà Chúa này tồn tại đến ngày 9 tháng 9 năm 1885
thì bị đốt. Theo Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hội giải thích:
“…Nhưng biết đâu chừng ý Chúa, ý Mẹ: muốn ngôi nhà
thờ thực sự của người Công giáo, cả trong lẫn ngoài,
không có màu sắc bên lương. Khi giáo hữu trở về, họ bắt
đầu dựng lên ngôi nhà thờ lợp tranh. Chính ngôi nhà ấy
mới thực sự hoàn toàn là ngôi nhà thờ Công giáo” (Giuse
Nguyễn Văn Hội, Tìm hiểu về Đức Mẹ La Vang, 1994, tr.27).
Kể
từ năm 1886, Triều Nguyễn hoàn toàn mất chủ quyền, dưới
sự thống trị của thực dân Pháp, La Vang bước vào giai đoạn
phát triển nhanh chóng về mọi mặt:
- Từ
1886-1901: Giám mục Gaspar quyết định xây dựng một nhà thờ
ngói, kéo dài 15 năm mới xong. Khánh thành ngày 6 tháng 8 năm
1901.
-
Từ 1924-1928: Giám mục Allys kiến thiết quy mô linh địa La
Vang. Khánh thành ngày 20 tháng 8 năm 1928.
- Ngày
13 tháng 4 năm 1961, Hội đồng Giám mục Miền Nam đồng ý
chọn Đền Thờ Đức Mẹ La Vang làm “Đền thờ toàn quốc
dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ” và nhận linh địa
La Vang làm “Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc”.
Theo
chỉ đạo tối cao của Tổng giám mục Ngô Đình Thục: “…
La Vang là của chung của toàn thể quốc dân Việt Nam, cả
Lương lẫn Giáo. Quốc dân có quyền đòi hỏi cho biết mỗi
ngày công việc xúc tiến thế nào nên cần ít là một nguyệt
san đăng tin sốt dẻo cho thấu các làng mạc về công trình
đang thực hiện ở đó, để phụ công giúp của vào việc
chung. Ai nấy chỉ có một mục đích duy nhất là làm sao dâng
cho Mẹ một ngôi nhà vừa ý Mẹ” (LĐLV, tr. 106-107)
Thể
theo ý của Bề trên, nhân lực, tài lực, vật lực của Miền
Nam được Ủy ban phụ trách Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc
La Vang gom góp tối đa nhằm khẩn trương xây dựng các công
trình vĩ đại. Ngày 22 tháng 8 năm 1961, Đức Giáo Hoàng Gioan
XXIII ra sắc chỉ nâng đền thờ La Vang lên bậc Tiểu Vương
Cung Thánh Đường.
Sắc
chỉ có đoạn: “…Đền thờ ấy, các Giám mục Miền Nam
Việt Nam trong phiên họp năm 1960 đã muốn gọi là “Đền
thờ toàn quốc khấn tặng”. Vì các ngài đã quyết định
dâng riêng cho Đức Mẹ để nhớ ơn Đức Mẹ bảo trợ, ban
cho Giáo hội chiến thắng được địch quân, Đức tin được
bênh vực, đất nước được thống nhất và hưởng lại
tự do …”. Sau đó, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục tuyên
bố: “Kể từ nay (22-8-1961) Vương Cung Thánh Đường và khu
vực La Vang là Nhà của Mẹ, đất của Mẹ, là trung tâm Thánh
Mẫu toàn quốc” (tr. 114-117).
Năm
mới 2006 được đọc tập Ra Khơi và các bài bài giảng của
Hồng Y Sepe, Bộ trưởng Bộ Truyền giáo của Vatican, trong
dịp viếng thăm Việt Nam, chúng tôi rất cảm phục và tâm
đắc những ý tưởng cao quý: “ Giáo hội Công giáo kính
trọng sâu xa tất cả các tôn giáo bạn, luôn khuyến khích
con cái mình nhìn nhận, bảo tồn và làm phát triển các giá
trị thiêng liêng cũng như luân lý, văn hoá cũng như xã hội
của các tôn giáo bạn, bằng con đường đối thoại và hợp
tác cách thận trọng và bác ái với tín đồ các tôn giáo
bạn, mà vẫn luôn duy trì chứng tá đức tin và đời sống
Kitô hữu" (Tuyên ngôn liên lạc của Giáo hội Công giáo với
các Tôn giáo ngoài Kitô giáo, số 2).
Ngày
4 tháng 12 năm 2005, đến cắt băng khánh thành Nhà Truyền thống
Văn hoá và Đức tin Công giáo thuộc Tổng Giáo phận
Thành phố Hồ Chí Minh Hồng Y đã dạy các tín hữu của mình:
“…
Tôi cũng mời gọi các Giáo sư, sinh viên công giáo và những
người thành tâm thiện chí hãy quyết tâm thực hiện những
cuộc nghiên cứu nghiêm túc, khách quan và khoa học về lịch
sử truyền giảng Tin mừng tại Việt Nam, để hiểu thái độ
của Giáo hội Công giáo đối với việc ngoại xâm, cũng như
để biết việc đóng góp, việc cổ võ văn hoá, luân lý và
tâm linh mà Giáo gội Công giáo đã mang đến cho xã hội Việt
Nam. Đó là chân lý giúp giải thoát mọi mặc cảm tự ti hoặc
tội lỗi có thể làm u ám trái tim và lương tâm. Nếu trong
quá khứ đã có những sai lầm thì đó sẽ là dịp tốt để
chúng ta khiêm tốn xin lỗi dân tộc, mong sát cánh cùng với
mọi người dân và các tôn giáo bạn mà xây dựng một đất
nước công bình hơn và nhân bản hơn …”.
Theo
tinh thần nghiên cứu nghiêm túc, khách quan và khoa học như
Hồng Y Sepe kêu gọi, sự việc xảy ra ở ngôi chùa Ba làng
Lá Vằng, tỉnh Quảng Trị hơn 100 năm trước:
“Bà
vào Bà đánh tứ tung,
Bao
nhiêu Thần Phật đều tung ra ngoài.
Tiếng
Bà thật đã linh oai,
Lư
hương bát nước đền đài đều hư …”,
cũng
như các trường hợp chùa Báo Thiên (Hà Nội), một trong 10
cảnh đẹp của kinh đô Thăng Long xưa bị phá để xây lên
đấy ngôi Nhà thờ Lớn, Linh Hựu quán mất dấu và trên nền
đất cũ là nhà thờ Tây Linh (Huế)..., những sự việc đó
dường như đi vào lãng quên. Phải chăng lời nói và việc
làm chưa đi đôi cùng nhau?
(1)Tác
giả Vãn La Vang kể lại câu chuyện đó như sau:
Dân
ta chớ khá công nài,
Bứt
tranh đốn củi để mai làm chùa.
Làm
rồi khi ấy đi mua,
Hương
đèn lễ vật dọn chùa sửa sang.
Dọn
ra Thần Phật hai hàng,
Lư
hương bát nước nghiêm trang đề huề.
Làm
rồi chức dịch mới về,
Nhơn
dân lao khổ ê hề bấy lâu.
Về
nhà nghỉ giấc canh thâu,
Tự
nhiên mộng mị chiêm bao rập ràng.
Trên
chùa Thần Phật rộn ràng,
Về
bắt chức dịch mấy làng xôn xao.
Rằng
Phật rằng Thần lao đao,
Có
Bà bên đạo phép cao lạ lùng.
Bà
vào Bà đánh tứ tung,
Bao
nhiêu Thần Phật đều tung ra ngoài.
Tiếng
Bà thật đã linh oai,
Lư
hương bát nước đền đài đều hư.
Chức
làng thức dậy lao lư,
Hỏi
nhau coi thử cũng như một điềm.
Sáng
mai chức việc đi liền,
Kêu
nhau coi thử sự thiềng làm sao.
Xét
coi trong việc chiêm bao,
Hoặc
hư hoặc thiệt thể nào cho yên.
Kéo
nhau mới tới ngoài viên,
Thấy
ngôi Thần Phật ngả nghiêng ngoài đường.
Kêu
nhau khi ấy rộn ràng,
Kẻ
khiêng người vác về làng cho mau.
Tưởng
rằng thần thánh linh mầu,
Đem
về cúng tế bấy lâu nay tròn.
Không
hay Phật gỉa yên ngôn,
Tiếc
vàng quang thiếp, tiếc son, tiếc dầu.
Linh
Bà người hoá phép mầu,
Thôi
thôi ta phải chạy mau về làng.
Cùng
nhau bàn bạc rộn ràng,
Chùa
này để cúng về đàng đạo nhơn.
Rỡ
đi thì sợ người hờn,
Phá
không dám phá thiệt hơn thế nào.
Tiếc
công dân sự lao đao,
Ăn
làm 3 tháng lại hao của tiền.
Bây
giờ Phật ở không yên,
Lo
làm nơi khác tiêu miền xứ xa …
Sau
biến cố lạ lùng trên, các chức dịnh sắc hào của cả
3 làng trên đồng thuận nhượng cúng đám đất và ngôi chùa
tranh mới làm cho bên Công giáo” … (LĐLV, Tr. 33 - 42).
Tài
liệu tham khảo:
-
Linh địa La Vang, Linh mục Xitanilaô Nguyễn Văn Ngọc, Kỷ niệm
Đại hội toàn quốc La Vang 1970.
-
Lược sử các giáo xứ , Tổng Giáo phận Huế - 2001.
-
Tập Ra khơi và các Bài giảng của Hồng y Sepe (3, 4-12-2005
tại Thành phố Hồ Chí Minh).
08
Phát hiện và phục chế các bức bích hoạ trên cổng tam quan
chùa Thiên Mụ (Tăng Nguyên)
TÍN
NGƯỠNG QUAN CÔNG
“HỘ
PHÁP GIÀ LAM”
Lý
Lược Tam
Trên
Tạp chí Xưa & Nay số 59B, 60B, ra đầu năm 1999, tác giả
Đào Hùng viết: “Ở Việt Nam miếu thờ Quan đế đã tồn
tại từ lâu và có mặt hầu hết các thành thị trong nước,
những đặc biệt là những nơi tập trung nhiều người Hoa
như Thành phố Hồ Chí Minh, Hội An, Huế…”. Thật vậy,
Quan đế (Quan Công) là một vị thần minh thánh triết được
tôn thờ trải qua 14 thế kỷ. Giữa thế kỷ VI, vào đời
Tùy (189-617) đã có lập miếu thờ ông, gọi là Võ miếu,
để đối lại với Văn miếu thờ Khổng Tử. Miếu được
lập tại quê hương của ông tại Tây Quan, trấn Giải Châu,
tỉnh Sơn Tây, cách Thường Dương 10 dặm nơi ông ra đời.
Tại
Trung Quốc qua các triều đại, từ vua quan đến thứ dân đều
rất mực kính ngưỡng sùng bái Quan Công. Có thể nói, đây
là một vị thần linh có một vị trí rất đặc biệt trong
tín ngưỡng dân gian Trung Quốc. Từ xưa biết bao anh hùng sau
khi chết được phong thần, nhưng không vị thần nào như Quán
Công được tín phụng lưu truyền rộng khắp dân gian như
vậy. Trong Điện đường (Nho), Đạo quán (Lão), Tự am (Thích)
luôn khói hương tế tự. Hiện nay, tín ngưỡng Quan Công vẫn
không ngừng khoáng triển khắp vùng Đông Nam Á, nơi có nhiều
Hoa Kiều cư ngụ (như tại Việt Nam và vùng Sài Gòn, Chợ
Lớn, Gia Định, các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ), Hàn
Quốc, Nam Dương, Tân Gia Ba, Hạ Uy Di, Mỹ...
Sở
dĩ Quan đế được người Trung Hoa sùng kính như vậy vì có
mấy yếu tố sau:
1.
Tác giả Đào Hùng viết: “Từ thời Tống, những thầy đồ
kể chuyện ở các quán trà thường lấy những giai thoại
về Quan Vũ làm nòng cốt cho những chuyện kể về thời Tam
Quốc (...). Sân khấu phát triển mạnh dưới thời Nguyên càng
làm cho nhân vật này thêm nổi tiếng và phần lớn những
vở tuồng hay đều có sự xuất hiện của Quan Vũ. Người
Việt Nam cũng tiếp thu những câu chuyện đó để soạn những
vở tuồng hay cải lương như các tích: (rút ra từ truyện
Tam Quốc chí)…, Tóm lại, sự sùng kính Quan Vũ trở nên phổ
biến vì người ta thấy Quan Vũ hội đủ các đức tính: Trung,
Dũng, Lễ, Nghĩa, Tín, Trực, Liêm, Chánh…
2.
Nho, Thích, Lão, ba tôn giáo lớn của châu Á đều xem Quan đế
là một vị thiện thần đáng được sùng kính. Đạo Nho tôn
Quan Vũ là “Văn Hoành Thánh Đế”. Đạo Lão tôn là “Hiệp
Thiên Đại Đế”. Nhiều tự viện lớn của Phật giáo cũng
có riêng một miếu đường để thờ ông. Tại Cái Tàu
Thượng, Đồng Tháp, một làng quê nhỏ có ngôi chùa cổ Long
Phước, xây dựng riêng một “Hộ Pháp Tạng Đường” bên
phải trước chùa, trên bệ có ba pho tượng cao trên 1m, Quan
Công (Vũ) ngồi trên ghế thái sư xem sách, Châu Xương và Quan
Bình đứng hầu hai bên, hai cột ngoài “Hộ Pháp Tạng Đường”
có đôi liễn đối chữ Hán: “Hộ hựu tuần hành trú dạ
thủ trì Già Lam địa, Pháp khuôn vi nhiễu khắc thời bảo
quản cảnh thánh môn”. Chùa Long Phước thiết lập “Hộ
Pháp Tạng Đường” theo trong “Bách Trượng Thanh Quy” của
Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải đời Đường. Còn như đa
số các chùa hiện nay thì đều thờ Hộ Pháp Già Lam nơi hậu
điện để tiện cho lễ cúng Mộng Sơn thí thực.
3.
Quan Công còn có chức năng là thủ hộ thần của giới doanh
thương. Trong dân gian lưu truyền một số thuyết như sau:
- Có
truyền tích cho rằng, thời trẻ Quan Vũ từng làm nghề buôn
vải vóc tại chính quê hương của ông.
- Quan
Vũ là người khởi sáng cách làm sổ sách “Nguyên, Thu, Xuất,
Tồn” theo truyện kể: Sau khi ông bị bắt và được Tào
Tháo dùng lễ đãi ngộ, Tào Tháo thường tặng ông vàng bạc
tài bảo. Đến khi nhận được tin tức của Lưu Bị, ông
bèn đem số tài bảo Tào Tháo tặng, luôn cả sổ “Nguyên,
Thu, Xuất, Tồn” trao trả lại cho Tào Tháo, với số mục
rõ ràng không sai lạc mảy may.
- Ông
từng làm việc nơi binh trạm, ghi chép sổ sách rất cẩn thận.
Ông bày ra sổ cân đối hàng ngày (nhựt thanh bạ).
- Khi
phò Lưu Bị dựng nghiệp lớn, ông thường sử dụng cây “Thanh
Long yểm nguyệt” đao, thật “sắc bén” (phong lợi).
Mà người làm ăn buôn bán thường mong cầu “lợi” (lời
lãi), cùng nghĩa với chữ “lợi” bén, “cầu chi hoạch
lợi” (cầu được lợi).
- Trong
làm ăn, buôn bán... cần phải có tín nghĩa, trong khi ông là
người rất mực tín nghĩa nên cũng trở thành một biểu tượng
trong giới doanh thương.
Từ
một số truyện tích trên, Quan Vũ được tôn là “Thủ hộ
Thần Thương nghiệp”.
4.
Quan Vũ là một vị thần có sắc phong của vua chúa nhiều
nhất. Qua các triều đại phong kiến Trung Hoa, các vua chúa
đều rất sùng kính Quan Công, gia phong cho ông đủ tước hiệu
như: “Trung Huệ Công”, “Nghĩa Dũng”, “Tráng Mâu Nghĩa
Dũng Võ An Vương”, “Anh Tế Vương”, “Trung Nghĩa Chi Thần”,
“Hiển Linh Anh Dũng Võ An Anh Tề Vương”, “Hán Tiền Tướng
Quân Thọ Đình Hầu”, “Nghĩa Dũng Võ An Vương”, “Tam
Giới Phục Ma Đại Đế, Thần Oai Chấn Viễn Thiên Tôn, Quan
Thánh Đế Quân”, “Trung Nghĩa Thần Võ Quan Thánh Đại Đế”,
“Hiệp Thiên Phục Ma Đại Đế” .v.v...
Tất
cả những hiệu phong nói trên đã vượt ngoài phạm vi sùng
bái các danh tướng công thần từ trước đến nay của vua
chúa phong kiến, càng tăng cường sự sùng kính đối với
vị thần này trong dân gian.
Tóm
lại, bốn yếu tố lược kể trên cho chúng ta thấy, những
đức tính Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín của ông đã in sâu vào
tâm tưởng mọi người, nên sự tôn thờ kính ngưỡng của
cả một đại chúng như vậy không thể nói là mê tín được.
Trong xã hội ngày nay, những đức tính này thực sự rất
cần thiết, do đó chúng tôi kỳ vọng các Ban tế tự quản
lý những nơi có thờ tự Quan Đế, cũng cần giải thích cho
giới hành hương hiểu biếu về nghĩa hạnh của vị thần
mà mình kính ngưỡng.
NGUYÊN
PHI Ỷ LAN
(?
- 1117)
Phước
Cảnh
Cách
đây ngót mười thế kỷ, tại làng Thổ Lỗi xứ Kinh Bắc
(nay là làng Sủi thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội), có một thôn
nữ nết na thùy mỵ, bố mẹ mất sớm nên phải sống với
người dì ghẻ, tháng ngày tần tảo cùng ruộng lúa nương
dâu. Một lần vua Lý Thánh Tông ngự giá qua đây, trai gái
trong làng nô nức đi xem, riêng nàng vẫn phải chăm chỉ ra
đồng, nép mình ở khóm cỏ lan bên vệ đường trông theo
xa giá mà cất tiếng hát. Tiếng ca trong trẻo, mượt mà ấy
đã khiến đức vua phải dừng kiệu lắng nghe, rồi... sắm
xe song mã rước nàng về cung...
Cô
thôn nữ ấy về sau trở thành Nguyên phi Ỷ Lan, người đã
từng thay Lý Thánh Tông nhiếp chính, khi vua bận xuất binh
dẹp loạn Chiêm Thành ở tận phương Nam. Và chính bà đã
sinh ra cho đất nước một vị minh quân lãnh đạo thiên tài,
vua Lý Nhân Tông, mà về sau Đại Việt sử ký toàn thư ca
ngợi là "Lý triều chi thịnh chúa".
Tại
phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh hiện có một con đường
dài khoảng hơn 1km nối liền phố Ngô Gia Tự và Lý Thái Tổ,
được mang tên Ỷ Lan; và con phố này cũng chỉ mới được
thành lập chừng dăm bảy năm nay, kể từ khi Bắc Ninh tách
tỉnh. Ngay trên quê hương của bà, mãi đến cuối năm 2005,
phố Ỷ Lan mới được thành lập theo quyết định của UBND
thành phố Hà Nội.
Hiện
người dân quanh lưu vực sông Hồng còn truyền tụng khá nhiều
giai thoại về Nguyên phi Ỷ Lan. Những giai thoại này, đến
năm Cảnh Hưng thứ 20 (1759) thời nhà Lê, đã được Thị
nội cung tần Trương Thị Ngọc Trong sưu tập và ghi lại thành
truyện "Lý triều đệ tam Hoàng thái hậu cổ lục thần tích
quốc ngữ diễn ca".
Hầu
hết các bộ chính sử nước ta khi nhắc đến Nguyên phi Ỷ
Lan đều dành những lời trân trọng để ca ngợi đức hạnh
và tài kinh bang tế thế của bà. Vào năm Quý mùi (1103), chính
bà đã xuất tiền trong kho nội phủ để chuộc những người
con gái nhà nghèo bị bán làm con ở, đem về gả cho những
người đàn ông góa vợ. Dân gian quen gọi đền thờ của
bà là đền Bà Tấm, vì cuộc đời cô thôn nữ hiền thục
này từ tấm bé cũng gặp lắm gian truân như cô Tấm trong
truyện cổ tích. Và gọi bà là Quan Âm Nữõ, tức con gái
của Bồ tát Quan Âm, vì bà luôn quan tâm chăm sóc cuộc sống
cơ cực của dân nghèo và thường ra tay tế độ những mảnh
đời bất hạnh. Bà cũng hằng chuyên tâm nghiền ngẫm nghĩa
lý kinh sách Thánh hiền và ưu tư về thế cuộc.
Có
lần vua Lý Thánh Tông hỏi về kế sách trị nước, Ỷ Lan
không ngần ngại tâu: "Muốn dân giàu nước mạnh, điều hệ
trọng là biết nghe lời can gián của bậc trung thần. Lời
nói ngay khó nghe nhưng có lợi cho quốc sự; thuốc đắng khó
uống nhưng chữa được bệnh. Phải xem quyền lực là điều
đáng sợ, vì quyền lực và danh vọng thường làm thay đổi
con người. Tự mình tu đức để giáo hóa dân thì sâu hơn
mệnh lệnh; dân bắt chước người trên thì còn nhanh hơn
pháp luật. Nước muốn mạnh, Hoàng đế phải nhân từ với
muôn dân. Phàm muốn xoay cái thế của thiên hạ, chính là
ở tại lòng nhân chứ không phải bạo lực. Hội đủ những
điều ấy, nước Đại Việt sẽ vô địch".
Sau
khi Lý Thánh Tông qua đời, triều đình muôn vàn rối ren, vua
Lý Nhân Tông lại còn quá nhỏ, được sự phò tá đắc lực
của Lý Thường Kiệt, Nguyên phi Ỷ Lan đã buông màn nhiếp
chính để thực hiện bằng được tâm nguyện đó. Đặc biệt,
bà rất quan tâm đến sự phát triển của nền Phật học
nước nhà. Ngoài việc tôn tạo cảnh Già Lam, Ỷ Lan còn nhiều
lần thỉnh Quốc sư Thông Biện vào triều để tham vấn về
giáo lý, về lịch sử truyền thừa cũng như sự phát triển
các tông phái của Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ.
Bà
mất ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu, nhằm niên hiệu Hội Tường
Đại Thánh thứ 8 (1117), hưởng thọ khoảng 70 tuổi. Và bài
kệ ngộ đạo "sắc không" rất nổi tiếng của bà hiện còn
được sách Thiền uyển tập anh ghi lại.
Cùng
với Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyên phi Ỷ Lan được xếp vào
hàng những trang liệt nữ tài danh của dân tộc, là người
đã gắn bó cả cuộc đời và hết lòng un đúc cho sự phồn
vinh của mảnh đất Thăng Long nghìn năm văn hiến.