.
.SỐ 14 -THÁNG 3, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 14-THÁNG 3, 2006

 

VỀ NGUỒN
Chung Sơn

Dân tộc ta có lịch sử mấy ngàn năm. Ông cha ta đã có kinh nghiệm trong việc tiếp thu các nguồn văn minh nhân loại để xây dựng hệ thống nhận thức của mình. Hệ thống đó được đúc kết thành chuẩn mực đạo đức, lối sống, thái độ cư xử đối với bản thân và môi trường chung quanh cho con người, tạo nên một thành trì kiên cố giữ vững sự ổn định của xã hội trong hàng trăm năm.

Chúng ta bình tâm và khách quan nhìn lại quá khứ, nhìn lại những con người và những giai đoạn phát triển của đất nước, thì sẽ không khó khăn gì trong việc thấy được điều đó.

Chúng ta có một bề dày truyền thống và một kho tàng kinh nghiệm trong đấu tranh giữ gìn nền độc lập của dân tộc trước bao sóng gió đến từ bên ngoài cũng như bùng phát từ bên trong. Chúng ta có những nguyên lý nhận thức căn bản và ổn định được cha ông chọn lọc và đúc kết trở nên giản dị, đi vào lời ăn tiếng nói của người dân, phổ biến đến độ chính nó tạo nên những điều luật bất thành văn để mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng tự điều chỉnh mà nhiều khi không cần một áp chế nào. Và chính điều đó đã làm nên sự ổn định bấy lâu nay.

Tuy nhiên, với tình hình mới của thế giới, để sống còn, chúng ta phải tham gia cuộc chơi chung của nền kinh tế thị trường. Như một anh nhà quê, một thời chúng ta choáng ngợp trước các thành tựu của thế giới, của các nước phương Tây, rồi vội vã lao mình vào trong khi chưa chuẩn bị đủ lực của tự thân. Chúng ta đã bỏ quên mất mình. Nói cách khác, chúng ta như gã cùng tử không biết mẹ đã giấu một gia tài vô giátrong chéo áo rách mình đang mang. Nghèo đâm ra tự ti. Tự ti lại sinh tính kiêu mạn. Và như thế, chúng ta lại càng thêm quẩn, khó tìm được lối ra, nói chính xác hơn là khó tìm được lối trở về nhà. Về nhà để nghỉ ngơi, để nhìn lại ngôi nhà của mình, để nhớ lại rằng mẹ có dặn về một vật báu cất trong chéo áo… Nhưng cái khó đó chúng ta đã vượt qua, từ mấy năm trước.

Lịch sử còn ghi, ngày xưa, đương lúc thái bình, dẫu mới chỉ vừa 50 tuổi, nhưng Trần Nhân Tông đã nhường ngôi cho lớp kế tiếp, rời ngai vàng khoác lên mình chiếc áo nâu sồng, đi khắp xóm làng, nhất là ở các vùng đất mới của tổ quốc để khuyên dân chúng thực hiện năm giới mười thiện, những nguyên tắc sống đạo đức chuẩn mực, đầy nhân văn. Một người có quyền lực cao nhất đã bỏ ngai vàng khi tuổi vừa năm mươi, bỏ không phải để an dưỡng mà để làm việc, để chuyên tâm rèn luyện nội thân, để lang thang hang cùng ngõ hẻm khuyên dân chúng sống đạo đức.

Không ai ép buộc được vua, trừ khi vua tự nhận thức. Sống trong cung vàng điện ngọc, rồi từ bỏ khi đang ở đỉnh cao để sống cuộc đời của một thiền sư với nhu cầu tối thiểu?  Ai khiến vua làm điều đó? Không thể ai ngoài bản thân vua. Trần Nhân Tông đã nhận thức về cuộc đời, về nền tảng ổn định của đất nước nên nhà vua lo tu thân. Về vai trò xã hội, Trần Nhân Tông là một vị vua, nhà lãnh đạo chính trị tối cao của đất nước, nhưng con người bên trong là một người tu, luôn quán sự vô thường, sự không chắc chắn của của thế giới sự vật hiện tượng, của cái thân đang khoác chiếc long bào, của quyền lực được biểu hiện qua chiếc ngai vàng… Quán chiếu để tích cực dấn thân, để mỗi ngày đều là ngày sống xứng đáng, để không chấp nhắc sự yêu ghét tầm thường, để xả bỏ và để tự tại với các vai trò xã hội mà mình đảm trách. 

Mỗi khi vai trò xã hội của chúng ta càng lớn, thì suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta có sự ảnh hưởng, tác động đến số đông, kiềm hãm hay thúc đẩy đất nước phát triển, cho nên chúng ta phải càng học tu thân dưỡng tâm. Làm vua, làm quan không phải là để hưởng thụ, vì để có đặc quyền đặc lợi mà để cống hiến. Làm vua làm quan mà để hưởng thụ, vì quyền và lợi thì xứ sở, đất nước sớm muộn gì cũng đi vào nơi hoang vu, cái quyền và lợi cũng sẽ mất, và tiếng xấu sẽ lưu lịch sử. 

Xã hội chúng ta hiện nay còn nhiều điều bất ổn, nhất là về vấn đề đạo đức lối sống. Các giá trị được áp dụng lâu nay không đủ khả năng định hướng trong phát triển. Trước tình hình mới, đất nước chúng ta đang chuyển mình, dư luận báo chí đang nói nhiều về sự chuyển mình đó. Chúng ta đang nhìn lại gia tài của dân tộc và đang tìm hiểu nguyên lý làm nên sự ổn định xã hội được cha ông ta sàng lọc, thử nghiệm, đúc kết bằng thực tiễn và được áp dụng hàng trăm năm trong lịch sử, ở những giai đoạn cực thịnh, thái bình của đất nước.

Trở về nguồn cội với sự hoài niệm là thái độ ủy mị. Tìm về nguồn cội để tìm ra những nguyên lý mang tính truyền thống và tính đặc thù của tâm lý con người, dân tộc để áp dụng cho hôm nay chính là tạo nên sự ổn định xã hội. Ổn định mới có thể xây dựng và phát triển. Bởi nếu phát triển trong sự không ổn định thì đó chỉ là hình thức, không thực chất và hết sức nguy hiểm, không bền vững.
 
 


ĐỨC PHẬT LÀ TÌNH YÊU 

“Tình yêu của Đức Phật không phải là loại tình yêu lấy ngã làm trung tâm. Tình yêu của Đức Phật là một ý lực ham muốn và hành động trong lĩnh vực vô ngã, nó được sinh khởi từ tâm phi phân biệt và thể hiện trong thái độ vô mục đích (vô công dụng hạnh – anàbhogcaryà). Tình yêu ấy là lòng đại bi, thương xót đến tất cả chúng sinh không bao giờ ngưng dứt, cho đến khi hết thảy chúng sinh được dẫn đến trú xứ hạnh phúc Niết bàn tối hậu. Chừng nào còn có một chúng sinh chưa được cứu độ thì chừng đó Ngài vẫn từ chối hưởng hạnh phúc thiền định xứng đáng với sự tu tập tâm linh lâu dài của Ngài. Quả thực, Đức Phật có một trái tim yêu thương, từ bi bao la, xem chúng sinh như đứa con độc nhất của mình. Nếu Ngài nhập Niết bàn thì không còn gì được làm trong cái thế giới mà phân biệt vẫn tiếp diễn và tính đa phức vẫn nổi bật. Vì thế, Ngài không chịu rời bỏ cái thế giới tương đối này, tất cả mọi tư tưởng của Ngài đều hướng đến những chúng sinh đang ở trong vô minh và đang đau khổ...”.

D.T. Suzuki
(Lược theo Lăng già Đại thừa kinh)


ĐỨC PHẬT 
CON NGƯỜI LỊCH SỬ 

“Tôi đến thị trấn Bodha Gaya buổi tối để sớm hôm sau chiêm bái nơi chốn thiêng liêng này, chỗ được vẽ trong một bức tranh thờ Phật, có lẽ là bức tranh đầu tiên tôi thấy trong thời thơ ấu. Ngày đó đối với tôi, Đức Phật trừu tượng xa vời như Ngọc Hoàng thượng đế, cây bồ đề hay làn nước xanh trong tranh chỉ là tưởng tượng. Bởi thế khi bước chân vào chốn này, tìm xem cây bồ đề mà lòng tôi đầy cảm xúc (...)

“Hãy thử làm theo Phật bằng cách thiền định để nhận thức thế giới. Ý nghĩa đích thực của cuộc đời làm người là cơ hội quý báu để nhận thức thế giới. Và cách nhận thức có hiệu quả nhất là chỉ và quán trong thiền định. Đó là kết luận của Ngài, nhưng tiếc thay đối với tôi lại là điều khó làm nhất. Từ xưa tâm tôi hay tán loạn khi ngồi thiền định, đối với tôi không có gì khó hơn sự định tâm. Dưới gốc bồ đề, tôi ngồi đó với lòng cảm xúc, có lẽ tâm tôi chẳng định được gì vì tâm ý sôi nổi. Làm sao tôi tĩnh tâm được khi nhớ rằng ngay tại nơi này, cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm có một Bậc Thầy đã ngồi thiền và đạt giác ngộ”...

Tiến sĩ vật lý Nguyễn Tường Bách 
(Theo Mùi hương trầm)
 
 


PHẬT VÀO ĐỜI

Nửa khuya Đức Phật vào đời
Trong đôi cánh hạc tuyệt vời lên trăng
Cành hoa muộn nở ngoài sân
Thoảng hương xa, Phật đến gần trong hương
Phật là hoa, Phật là hương
Là trăng, là hạc, là hồn phương Đông.

Rạng ngày chim hót vừng đông
Chở chuyên trên cách hoa hồng âm thanh
Ba nghìn vô tự chân kinh
Lắng nghe thoảng đến tai mình đơn sơ
Lời chim hót, tiếng quay tơ
Cả âm thanh, cả lặng tờ đều kinh.

Phật ngời trong mắt thủy tinh
Phật thơm trên má cây quỳnh cây cành dao
Phật phơ phất giữ hàng rào
Thắm hoa râm bụt xôn xao nắng chiều
Phật là quê mẹ thương yêu
Kinh là những tiếng sáo diều của em.

Ôi từ độ đá thành tên
Ôi từ độ đất nên hình cỏ hoa
Giọt cành dương, hạt mưa sa
Pháp âm dậy giữa phong ba ngọt ngào
Từng biển thấp, từng non cao
Ýù chi không Phật, lời nào không kinh.
Trụ vũ
 
 


LỜI SÁM HỐI...
Nguyễn Sơn Hà

Có những lúc ngồi trầm ngâm một mình để nhớ lại những ngày tháng đi qua trong cuộc đời, tôi mới thấy mình còn nhiều may mắn. Nhưng vẫn không khỏi tê tái và run môi khi mỗi lần gọi mẹ, khấn Phật. Ông bà tôi đã kính mộ Phật, niệm Phật. Lòng sùng kính Phật cũng được mẹ tôi chăm chút một cách tỉ mỉ. Ấy vậy mà sau khi gia đình ly tán vì chiến tranh, tôi trở thành đứa con đầu tiên trong gia đình bài bác Phật. Nhưng Phật chẳng giận tôi, cũng như chẳng giận những người có thể giận dữ chỉ vào tượng Phật mà mắng mỏ. Phật không giận vì Phật là hiện thân cao nhất của lòng từ bi, Phật là từ bi… 

Lòng từ bi là một thứ tình yêu lớn nhất, bao la và nhiệm mầu nhất mà tôi thường được bà ngoại và mẹ nói về Đức Phật. Nhưng Đức Phật vắng mặt trong tôi kể từ khi bom đạn và lòng thù hận dội xuống làng. Có lẽ nào cuộc đời của tôi lại có thể bị rút gọn vào trong một vài biến cố chiến tranh như thế. Tuổi niên thiếu của tôi, tình yêu của bà, của mẹ, của ông Thiện ông Ác, của những pho tượng Phật thanh thoát dành cho tôi có lẽ nào lại biến mất trong bộ quân phục mà tôi mang. Tôi phải quên đi lòng nhân từ ủy mị và phải sống dậy lòng căm thù giai cấp để chống lại sự lãng quên con người: người nghèo mới là con người…

Cách thẩm định nhân cách con người trong thời trưởng thành của tôi nằm gọn vào một cái khuôn và được kiểm soát chặt chẽ. Không có sự đa dạng của tinh thần, bản thân tôi tồn tại giống như những cử động của máy móc. Có lúc tôi tự nghiệm ra, việc tàn nhẫn với quân thù cũng giống như trò chơi quấn rẻ vào đuôi chuột, tẩm dầu và đốt. Đơn giản chỉ là như thế, nhưng sự mâu thuẫn giữa tính thương người và lòng ác độc trong tôi còn lớn hơn cả sự xung khắc giữa một người có thể quy tội chết cho bất cứ ai, vào bất cứ lúc nào và một kẻ thù luôn ham sống. Điều đó làm cho tôi sợ. Sợ nhất vẫn là nhân quả báo ứng...

Mặc dù lòng thù hận và sự báo ứng thay nhau dày vò tôi, nhưng từ trong sâu thẳm của vô thức vẫn ùa về một nét cười từ bi nào đó từ những ngày tôi đang "tuổi chuồn chuồn". Những giấc mơ thời thơ ấu vào những đêm trăng huyền ảo cứ thỉnh thoảng lặp lại: bà ngoại ngồi trước, tôi ngồi sau chắp tay búp hoa lạy Phật và tụng những lời kinh đầm ấm theo bàn tay run run gõ mõ như người băm xương của bà… Mỗi khi thức giấc, mồ hôi tôi vã ra như thanh tẩy. Và ký ức đến từ lời của mẹ: dù bằng cọng cỏ lá rau, của không cho con chớ lấy… Vậy mà tôi có lúc đã từng đánh mất Đức Phật của tôi được ư?

Nhớ lại khi còn nhỏ, chị tôi bế tôi đi xem hội chùa. Mải vui, chị để tôi ngồi lên đầu ông nghê đá mà ông Ác cưỡi. Con nít vô tâm mà. Tôi nghe kể lại, lúc đó tôi đã tè một bãi lên đầu ông nghê đá. Có lẽ ông Ác không vui, nên về đến nhà là tôi lên cơn sốt li bì, uống thuốc gì cũng không thấy hạ. Bà ngoại hỏi chị tôi, biết chuyện, mới sắm hoa quả, trầu cau đến chùa lễ sám. Lễ xong về đến nhà tôi tự nhiên hết sốt. Ông Ác muốn giáo dục người lớn về sự tôn nghiêm, chứ trẻ con nào có biết gì. Sau khi lớn lên, có thể leo trèo thành thạo, tôi thường sang chùa lau bụi cho tượng Phật. Ông Thiện, tôi bắc thang leo lên vai để lau mặt đã đành rồi, nhưng ông Ác, tôi cũng làm vậy mà có bị trách tội gì đâu. Có lần tôi tò mò thử ngoáy mũi, giật giật mấy sợi râu của ông Ác xem người ta làm bằng gì, nhưng cũng không sao cả, mà lúc về còn được sư thầy thưởng lộc Phật. Nhẽ ra phải nói hiền như ông Ác mới đúng.

Mỗi lần mẹ tôi đi lễ Phật, cúng chùa, mẹ thường bạch với sư thầy bằng câu: “Con xin ăn mày lộc Phật, ăn mày lộc thầy”? Hóa ra người đến cúng mới là kẻ ăn mày, chứ chốn linh thiêng nào có ai bắt. Bà và mẹ, những người phụ nữ tần tảo, hiền hậu, ăn mày Phật là để xác quyết niềm tin nhân quả, nghiệp báo cho anh chị em tôi, cho gia đình tôi. Có thế, tôi mới không thể quên đi ký ức bình an, tươi tắn của mình. Còn nhớ, có lần bố mẹ tôi to tiếng với nhau, bố tôi đã đánh mẹ tôi, anh chị em tôi đều hoảng sợ. Bà ngoại không nói gì, chỉ lẳng lặng thắp ba nén hương lên bàn thờ Phật, thờ tổ tiên và ngồi thụp xuống khóc. Thế là cả nhà im tiếng, bố mẹ tôi đều quỳ cả xuống xin lỗi bà, bà chỉ bảo “mẹ đã nói bao lần rồi, 'một câu nhịn bằng chín câu lành' mà sao chúng mày không nghe!” và lau nước mắt đi vào buồng nghỉ. Lành thật! Phật không có phóng quang mà cả bố và mẹ tôi đều ý thức được cơn giận của mình. Phật không có ban phép mà lòng anh chị em tôi thấy vui và hết sợ. Chẳng có ai phán xét hành vi của mỗi người trong gia đình tôi, nhưng niềm kính Phật của mọi người mỗi ngày cứ như nước hòa với sữa. Gia đình tôi luôn có một Đức Phật, trong tôi cũng luôn hiện diện một Đức Phật. Nhờ Đức Phật mà gia đình tôi giữ được hơi ấm tình thương yêu. Nhờ đức Phật mà nay cuộc sống của tôi lấy được sự thăng bằng. 

Cho con xin kính lạy Đức Đại Từ!
 


Đối phó với cơn bão cảm xúc (Thích Nhất Hạnh)
 
 


Từ chùa Ba Làng LÁ VẰNG 
đến nhà Chúa La Vang …
Cao Sơn

Tại vùng đất eo hẹp, cằn cỗi nhất miền Trung, Bình-Trị-Thiên có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng không chỉ trong nước mà cả ngoài nước. Đặc biệt, tại xã Hải Phú, quận Mai Lĩnh cách trung tâm tỉnh lỵ Quảng Trị khoảng 6km về phía Tây Bắc là khu vực "linh địa La Vang", chính thức xuất hiện và phát triển gần 100 năm nay.

Căn cứ theo các công trình nghiên cứu của các học giả, sử gia Thiên Chúa giáo (TCG) phổ biến rộng rãi suốt nửa thế kỷ nay, chúng tôi xin sao lục giới thiệu phần liên hệ giữa "linh địa La Vang" với Phật Giáo, nhằm phần nào giải toả sự thắc mắc của những người quan tâm tìm hiểu.

Trong sách Linh địa La Vang (LĐLV), Linh mục Xitanilaô Nguyễn Văn Ngọc cho biết:

“Theo kế hoạch tăng gia sản xuất, khi đi làm rú đồng bào lương giáo Cổ vưu đã phá một sở rẫy giữa rú xanh cách xa làng độ 7 cây số để trồng khoai sắn và cấy lúa. Về sau đã có mấy người làm trại ở đây để giữ cây ba đẳng vật để cho khỏi heo rừng, cọp, voi… phá hại. Sau khi đất hoang đã được canh phá một phần lớn, họ bèn đăng toà nhập bộ, rồi xin xuất phường. Vì thế trong bản địa bộ của làng Cổ vưu, được lập đời nhà LÊ và được quản tu lại đời Gia Long, có ghi tên phường Lá Vằng, là vì xưa tại đất xứ đó có rất nhiều cây Lá Vằng. Loại cây này có hột đen, ăn được và lá của nó là một vị thuốc và người phụ nữ xứ Dinh Cát thường dùng sắc uống khi nằm nơi…

Vào khoảng đầu đời Minh Mạng, 3 làng Thạch Hãn, Cổ Thành và Ba Trừ chung nhau làm một cái miếu hay chùa trên nền thờ vọng ở gốc cây đa La Vang (tức Lá Vằng), nhưng về sau bị động họ phải rút lui. Vì thế trong những năm trước đây mấy người già cả bên lương ở gần linh địa La Vang còn nhớ tích trên, nên năng nói rằng: “Bà ấy là Bà bên Lương mà bên Giáo đã giành đi đó”(1).

Qua tài liệu trên, chúng ta biết ngôi chùa của 3 làng (Thạch Hãn, Cổ Thành, Ba Trừ) chung nhau làm tương đối lớn, công trình kéo dài 3 tháng và việc thờ tự tượng pháp rất đầy đủ và trang nghiêm. Nhưng cuối cùng, theo các nhà viết sử TCG, nhờ "phép lạ của Đức Mẹ”, ngôi chùa được “3 làng tự nguyện dâng cúng để làm nhà Chúa”, tuy nhiên chẳng ai biết điều đó xảy ra vào thời điểm nào, hiện nay không thấy tài liệu nào ghi rõ ràng về điều này.

Ngôi chùa thành nhà Chúa này tồn tại đến ngày 9 tháng 9 năm 1885 thì bị đốt. Theo Linh mục Giuse Nguyễn Văn Hội giải thích: “…Nhưng biết đâu chừng ý Chúa, ý Mẹ: muốn ngôi nhà thờ thực sự của người Công giáo, cả trong lẫn ngoài, không có màu sắc bên lương. Khi giáo hữu trở về, họ bắt đầu dựng lên ngôi nhà thờ lợp tranh. Chính ngôi nhà ấy mới thực sự hoàn toàn là ngôi nhà thờ Công giáo” (Giuse Nguyễn Văn Hội, Tìm hiểu về Đức Mẹ La Vang, 1994, tr.27).

Kể từ năm 1886, Triều Nguyễn hoàn toàn mất chủ quyền, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, La Vang bước vào giai đoạn phát triển nhanh chóng về mọi mặt:

- Từ 1886-1901: Giám mục Gaspar quyết định xây dựng một nhà thờ ngói, kéo dài 15 năm mới xong. Khánh thành ngày 6 tháng 8 năm 1901.
- Từ 1924-1928: Giám mục Allys kiến thiết quy mô linh địa La Vang. Khánh thành ngày 20 tháng 8 năm 1928.

- Ngày 13 tháng 4 năm 1961, Hội đồng Giám mục Miền Nam đồng ý chọn Đền Thờ Đức Mẹ La Vang làm “Đền thờ toàn quốc dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ” và nhận linh địa La Vang làm “Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc”.

Theo chỉ đạo tối cao của Tổng giám mục Ngô Đình Thục: “… La Vang là của chung của toàn thể quốc dân Việt Nam, cả Lương lẫn Giáo. Quốc dân có quyền đòi hỏi cho biết mỗi ngày công việc xúc tiến thế nào nên cần ít là một nguyệt san đăng tin sốt dẻo cho thấu các làng mạc về công trình đang thực hiện ở đó, để phụ công giúp của vào việc chung. Ai nấy chỉ có một mục đích duy nhất là làm sao dâng cho Mẹ một ngôi nhà vừa ý Mẹ” (LĐLV, tr. 106-107)

Thể theo ý của Bề trên, nhân lực, tài lực, vật lực của Miền Nam được Ủy ban phụ trách Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc La Vang gom góp tối đa nhằm khẩn trương xây dựng các công trình vĩ đại. Ngày 22 tháng 8 năm 1961, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII ra sắc chỉ nâng đền thờ La Vang lên bậc Tiểu Vương Cung Thánh Đường.

Sắc chỉ có đoạn: “…Đền thờ ấy, các Giám mục Miền Nam Việt Nam trong phiên họp năm 1960 đã muốn gọi là “Đền thờ toàn quốc khấn tặng”. Vì các ngài đã quyết định dâng riêng cho Đức Mẹ để nhớ ơn Đức Mẹ bảo trợ, ban cho Giáo hội chiến thắng được địch quân, Đức tin được bênh vực, đất nước được thống nhất và hưởng lại tự do …”. Sau đó, Tổng Giám mục Ngô Đình Thục tuyên bố: “Kể từ nay (22-8-1961) Vương Cung Thánh Đường và khu vực La Vang là Nhà của Mẹ, đất của Mẹ, là trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc” (tr. 114-117).

Năm mới 2006 được đọc tập Ra Khơi và các bài bài giảng của Hồng Y Sepe, Bộ trưởng Bộ Truyền giáo của Vatican, trong dịp viếng thăm Việt Nam, chúng tôi rất cảm phục và tâm đắc những ý tưởng cao quý: “ Giáo hội Công giáo kính trọng sâu xa tất cả các tôn giáo bạn, luôn khuyến khích con cái mình nhìn nhận, bảo tồn và làm phát triển các giá trị thiêng liêng cũng như luân lý, văn hoá cũng như xã hội của các tôn giáo bạn, bằng con đường đối thoại và hợp tác cách thận trọng và bác ái với tín đồ các tôn giáo bạn, mà vẫn luôn duy trì chứng tá đức tin và đời sống Kitô hữu" (Tuyên ngôn liên lạc của Giáo hội Công giáo với các Tôn giáo ngoài Kitô giáo, số 2).

Ngày 4 tháng 12 năm 2005, đến cắt băng khánh thành Nhà Truyền thống Văn hoá  và Đức tin Công giáo thuộc Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh Hồng Y đã dạy các tín hữu của mình:

“… Tôi cũng mời gọi các Giáo sư, sinh viên công giáo và những người thành tâm thiện chí hãy quyết tâm thực hiện những cuộc nghiên cứu nghiêm túc, khách quan và khoa học về lịch sử truyền giảng Tin mừng tại Việt Nam, để hiểu thái độ của Giáo hội Công giáo đối với việc ngoại xâm, cũng như để biết việc đóng góp, việc cổ võ văn hoá, luân lý và tâm linh mà Giáo gội Công giáo đã mang đến cho xã hội Việt Nam. Đó là chân lý giúp giải thoát mọi mặc cảm tự ti hoặc tội lỗi có thể làm u ám trái tim và lương tâm. Nếu trong quá khứ đã có những sai lầm thì đó sẽ là dịp tốt để chúng ta khiêm tốn xin lỗi dân tộc, mong sát cánh cùng với mọi người dân và các tôn giáo bạn mà xây dựng một đất nước công bình hơn và nhân bản hơn …”.

Theo tinh thần nghiên cứu nghiêm túc, khách quan và khoa học như Hồng Y Sepe kêu gọi, sự việc xảy ra ở ngôi chùa Ba làng Lá Vằng, tỉnh Quảng Trị hơn 100 năm trước:

Bà vào Bà đánh tứ tung,
Bao nhiêu Thần Phật đều tung ra ngoài.
Tiếng Bà thật đã linh oai,
Lư hương bát nước đền đài đều hư …”,

cũng như các trường hợp chùa Báo Thiên (Hà Nội), một trong 10 cảnh đẹp của kinh đô Thăng Long xưa bị phá để xây lên đấy ngôi Nhà thờ Lớn, Linh Hựu quán mất dấu và trên nền đất cũ là nhà thờ Tây Linh (Huế)..., những sự việc đó dường như đi vào lãng quên. Phải chăng lời nói và việc làm chưa đi đôi cùng nhau? 

(1)Tác giả Vãn La Vang kể lại câu chuyện đó như sau: 

Dân ta chớ khá công nài,
Bứt tranh đốn củi để mai làm chùa.
Làm rồi khi ấy đi mua,
Hương đèn lễ vật dọn chùa sửa sang. 
Dọn ra Thần Phật hai hàng,
Lư hương bát nước nghiêm trang đề huề.
Làm rồi chức dịch mới về,
Nhơn dân lao khổ ê hề bấy lâu.
Về nhà nghỉ giấc canh thâu,
Tự nhiên mộng mị chiêm bao rập ràng.
Trên chùa Thần Phật rộn ràng,
Về bắt chức dịch mấy làng xôn xao.
Rằng Phật rằng Thần lao đao, 
Có Bà bên đạo phép cao lạ lùng.
Bà vào Bà đánh tứ tung,
Bao nhiêu Thần Phật đều tung ra ngoài.
Tiếng Bà thật đã linh oai,
Lư hương bát nước đền đài đều hư.
Chức làng thức dậy lao lư,
Hỏi nhau coi thử cũng như một điềm.
Sáng mai chức việc đi liền,
Kêu nhau coi thử sự thiềng làm sao.
Xét coi trong việc chiêm bao,
Hoặc hư hoặc thiệt thể nào cho yên.
Kéo nhau mới tới ngoài viên,
Thấy ngôi Thần Phật ngả nghiêng ngoài đường.
Kêu nhau khi ấy rộn ràng,
Kẻ khiêng người vác về làng cho mau.
Tưởng rằng thần thánh linh mầu,
Đem về cúng tế bấy lâu nay tròn.
Không hay Phật gỉa yên ngôn,
Tiếc vàng quang thiếp, tiếc son, tiếc dầu.
Linh Bà người hoá phép mầu,
Thôi thôi ta phải chạy mau về làng.
Cùng nhau bàn bạc rộn ràng,
Chùa này để cúng về đàng đạo nhơn.
Rỡ đi thì sợ người hờn,
Phá không dám phá thiệt hơn thế nào.
Tiếc công dân sự lao đao,
Ăn làm 3 tháng lại hao của tiền.
Bây giờ Phật ở không yên,
Lo làm nơi khác tiêu miền xứ xa …

Sau biến cố lạ lùng trên, các chức dịnh sắc hào của cả 3 làng trên đồng thuận nhượng cúng đám đất và ngôi chùa tranh mới làm cho bên Công giáo” … (LĐLV, Tr. 33 - 42). 

Tài liệu tham khảo:
- Linh địa La Vang, Linh mục Xitanilaô Nguyễn Văn Ngọc, Kỷ niệm Đại hội toàn quốc La Vang 1970.
- Lược sử các giáo xứ , Tổng Giáo phận Huế - 2001.
- Tập Ra khơi và các Bài giảng của Hồng y Sepe (3, 4-12-2005 tại Thành phố Hồ Chí Minh).
 


08 Phát hiện và phục chế các bức bích hoạ trên cổng tam quan chùa Thiên Mụ (Tăng Nguyên)
 
 


TÍN NGƯỠNG QUAN CÔNG 
“HỘ PHÁP GIÀ LAM”
Lý Lược Tam

Trên Tạp chí Xưa & Nay số 59B, 60B, ra đầu năm 1999, tác giả Đào Hùng viết: “Ở Việt Nam miếu thờ Quan đế đã tồn tại từ lâu và có mặt hầu hết các thành thị trong nước, những đặc biệt là những nơi tập trung nhiều người Hoa như Thành phố Hồ Chí Minh, Hội An, Huế…”. Thật vậy, Quan đế (Quan Công) là một vị thần minh thánh triết được tôn thờ trải qua 14 thế kỷ. Giữa thế kỷ VI, vào đời Tùy (189-617) đã có lập miếu thờ ông, gọi là Võ miếu, để đối lại với Văn miếu thờ Khổng Tử. Miếu được lập tại quê hương của ông tại Tây Quan, trấn Giải Châu, tỉnh Sơn Tây, cách Thường Dương 10 dặm nơi ông ra đời. 

Tại Trung Quốc qua các triều đại, từ vua quan đến thứ dân đều rất mực kính ngưỡng sùng bái Quan Công. Có thể nói, đây là một vị thần linh có một vị trí rất đặc biệt trong tín ngưỡng dân gian Trung Quốc. Từ xưa biết bao anh hùng sau khi chết được phong thần, nhưng không vị thần nào như Quán Công được tín phụng lưu truyền rộng khắp dân gian như vậy. Trong Điện đường (Nho), Đạo quán (Lão), Tự am (Thích) luôn khói hương tế tự. Hiện nay, tín ngưỡng Quan Công vẫn không ngừng khoáng triển khắp vùng Đông Nam Á, nơi có nhiều Hoa Kiều cư ngụ (như tại Việt Nam và vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ), Hàn Quốc, Nam Dương, Tân Gia Ba, Hạ Uy Di, Mỹ...

Sở dĩ Quan đế được người Trung Hoa sùng kính như vậy vì có mấy yếu tố sau:

1. Tác giả Đào Hùng viết: “Từ thời Tống, những thầy đồ kể chuyện ở các quán trà thường lấy những giai thoại về Quan Vũ làm nòng cốt cho những chuyện kể về thời Tam Quốc (...). Sân khấu phát triển mạnh dưới thời Nguyên càng làm cho nhân vật này thêm nổi tiếng và phần lớn những vở tuồng hay đều có sự xuất hiện của Quan Vũ. Người Việt Nam cũng tiếp thu những câu chuyện đó để soạn những vở tuồng hay cải lương như các tích: (rút ra từ truyện Tam Quốc chí)…, Tóm lại, sự sùng kính Quan Vũ trở nên phổ biến vì người ta thấy Quan Vũ hội đủ các đức tính: Trung, Dũng, Lễ, Nghĩa, Tín, Trực, Liêm, Chánh…

2. Nho, Thích, Lão, ba tôn giáo lớn của châu Á đều xem Quan đế là một vị thiện thần đáng được sùng kính. Đạo Nho tôn Quan Vũ là “Văn Hoành Thánh Đế”. Đạo Lão tôn là “Hiệp Thiên Đại Đế”. Nhiều tự viện lớn của Phật giáo cũng có riêng một miếu đường để thờ ông.  Tại Cái Tàu Thượng, Đồng Tháp, một làng quê nhỏ có ngôi chùa cổ Long Phước, xây dựng riêng một “Hộ Pháp Tạng Đường” bên phải trước chùa, trên bệ có ba pho tượng cao trên 1m, Quan Công (Vũ) ngồi trên ghế thái sư xem sách, Châu Xương và Quan Bình đứng hầu hai bên, hai cột ngoài “Hộ Pháp Tạng Đường” có đôi liễn đối chữ Hán: “Hộ hựu tuần hành trú dạ thủ trì Già Lam địa, Pháp khuôn vi nhiễu khắc thời bảo quản cảnh thánh môn”. Chùa Long Phước thiết lập “Hộ Pháp Tạng Đường” theo trong “Bách Trượng Thanh Quy” của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải đời Đường. Còn như đa số các chùa hiện nay thì đều thờ Hộ Pháp Già Lam nơi hậu điện để tiện cho lễ cúng Mộng Sơn thí thực. 

3. Quan Công còn có chức năng là thủ hộ thần của giới doanh thương. Trong dân gian lưu truyền một số thuyết như sau:

- Có truyền tích cho rằng, thời trẻ Quan Vũ từng làm nghề buôn vải vóc tại chính quê hương của ông.

- Quan Vũ là người khởi sáng cách làm sổ sách “Nguyên, Thu, Xuất, Tồn” theo truyện kể: Sau khi ông bị bắt và được Tào Tháo dùng lễ đãi ngộ, Tào Tháo thường tặng ông vàng bạc tài bảo. Đến khi nhận được tin tức của Lưu Bị, ông bèn đem số tài bảo Tào Tháo tặng, luôn cả sổ “Nguyên, Thu, Xuất, Tồn” trao trả lại cho Tào Tháo, với số mục rõ ràng không sai lạc mảy may.

- Ông từng làm việc nơi binh trạm, ghi chép sổ sách rất cẩn thận. Ông bày ra sổ cân đối hàng ngày (nhựt thanh bạ).

- Khi phò Lưu Bị dựng nghiệp lớn, ông thường sử dụng cây “Thanh Long yểm nguyệt”  đao, thật “sắc bén” (phong lợi). Mà người làm ăn buôn bán thường mong cầu “lợi” (lời lãi), cùng nghĩa với chữ “lợi” bén, “cầu chi hoạch lợi” (cầu được lợi).

- Trong làm ăn, buôn bán... cần phải có tín nghĩa, trong khi ông là người rất mực tín nghĩa nên cũng trở thành một biểu tượng trong giới doanh thương. 

Từ một số truyện tích trên, Quan Vũ được tôn là “Thủ hộ Thần Thương nghiệp”.

4. Quan Vũ là một vị thần có sắc  phong của vua chúa nhiều nhất. Qua các triều đại phong kiến Trung Hoa, các vua chúa đều rất sùng kính Quan Công, gia phong cho ông đủ tước hiệu như: “Trung Huệ Công”, “Nghĩa Dũng”, “Tráng Mâu Nghĩa Dũng Võ An Vương”, “Anh Tế Vương”, “Trung Nghĩa Chi Thần”, “Hiển Linh Anh Dũng Võ An Anh Tề Vương”, “Hán Tiền Tướng Quân Thọ Đình Hầu”, “Nghĩa Dũng Võ An Vương”, “Tam Giới Phục Ma Đại Đế, Thần Oai Chấn Viễn Thiên Tôn, Quan Thánh Đế Quân”, “Trung Nghĩa Thần Võ Quan Thánh Đại Đế”, “Hiệp Thiên Phục Ma Đại Đế” .v.v...

Tất cả những hiệu phong nói trên đã vượt ngoài phạm vi sùng bái các danh tướng công thần từ trước đến nay của vua chúa phong kiến, càng tăng cường sự sùng kính đối với vị thần này trong dân gian.

Tóm lại, bốn yếu tố lược kể trên cho chúng ta thấy, những đức tính Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín của ông đã in sâu vào tâm tưởng mọi người, nên sự tôn thờ kính ngưỡng của cả một đại chúng như vậy không thể nói là mê tín được. Trong xã hội ngày nay, những đức tính này thực sự rất cần thiết, do đó chúng tôi kỳ vọng các Ban tế tự quản lý những nơi có thờ tự Quan Đế, cũng cần giải thích cho giới hành hương hiểu biếu về nghĩa hạnh của vị thần mà mình kính ngưỡng.
 
 


NGUYÊN PHI Ỷ LAN
(? - 1117)
Phước Cảnh

Cách đây ngót mười thế kỷ, tại làng Thổ Lỗi xứ Kinh Bắc (nay là làng Sủi thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội), có một thôn nữ nết na thùy mỵ, bố mẹ mất sớm nên phải sống với người dì ghẻ, tháng ngày tần tảo cùng ruộng lúa nương dâu. Một lần vua Lý Thánh Tông ngự giá qua đây, trai gái trong làng nô nức đi xem, riêng nàng vẫn phải chăm chỉ ra đồng, nép mình ở khóm cỏ lan bên vệ đường trông theo xa giá mà cất tiếng hát. Tiếng ca trong trẻo, mượt mà ấy đã khiến đức vua phải dừng kiệu lắng nghe, rồi... sắm xe song mã rước nàng về cung...

Cô thôn nữ ấy về sau trở thành Nguyên phi Ỷ Lan, người đã từng thay Lý Thánh Tông nhiếp chính, khi vua bận xuất binh dẹp loạn Chiêm Thành ở tận phương Nam. Và chính bà đã sinh ra cho đất nước một vị minh quân lãnh đạo thiên tài, vua Lý Nhân Tông, mà về sau Đại Việt sử ký toàn thư ca ngợi là "Lý triều chi thịnh chúa". 

Tại phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh hiện có một con đường dài khoảng hơn 1km nối liền phố Ngô Gia Tự và Lý Thái Tổ, được mang tên Ỷ Lan; và con phố này cũng chỉ mới được thành lập chừng dăm bảy năm nay, kể từ khi Bắc Ninh tách tỉnh. Ngay trên quê hương của bà, mãi đến cuối năm 2005, phố Ỷ Lan mới được thành lập theo quyết định của UBND thành phố Hà Nội. 

Hiện người dân quanh lưu vực sông Hồng còn truyền tụng khá nhiều giai thoại về Nguyên phi Ỷ Lan. Những giai thoại này, đến năm Cảnh Hưng thứ 20 (1759) thời nhà Lê, đã được Thị nội cung tần Trương Thị Ngọc Trong sưu tập và ghi lại thành truyện "Lý triều đệ tam Hoàng thái hậu cổ lục thần tích quốc ngữ diễn ca".

Hầu hết các bộ chính sử nước ta khi nhắc đến Nguyên phi Ỷ Lan đều dành những lời trân trọng để ca ngợi đức hạnh và tài kinh bang tế thế của bà. Vào năm Quý mùi (1103), chính bà đã xuất tiền trong kho nội phủ để chuộc những người con gái nhà nghèo bị bán làm con ở, đem về gả cho những người đàn ông góa vợ. Dân gian quen gọi đền thờ của bà là đền Bà Tấm, vì cuộc đời cô thôn nữ hiền thục này từ tấm bé cũng gặp lắm gian truân như cô Tấm trong truyện cổ tích. Và gọi bà là Quan Âm Nữõ, tức con gái của Bồ tát Quan Âm, vì bà luôn quan tâm chăm sóc cuộc sống cơ cực của dân nghèo và thường ra tay tế độ những mảnh đời bất hạnh. Bà cũng hằng chuyên tâm nghiền ngẫm nghĩa lý kinh sách Thánh hiền và ưu tư về thế cuộc. 

Có lần vua Lý Thánh Tông hỏi về kế sách trị nước, Ỷ Lan không ngần ngại tâu: "Muốn dân giàu nước mạnh, điều hệ trọng là biết nghe lời can gián của bậc trung thần. Lời nói ngay khó nghe nhưng có lợi cho quốc sự; thuốc đắng khó uống nhưng chữa được bệnh. Phải xem quyền lực là điều đáng sợ, vì quyền lực và danh vọng thường làm thay đổi con người. Tự mình tu đức để giáo hóa dân thì sâu hơn mệnh lệnh; dân bắt chước người trên thì còn nhanh hơn pháp luật. Nước muốn mạnh, Hoàng đế phải nhân từ với muôn dân. Phàm muốn xoay cái thế của thiên hạ, chính là ở tại lòng nhân chứ không phải bạo lực. Hội đủ những điều ấy, nước Đại Việt sẽ vô địch".

Sau khi Lý Thánh Tông qua đời, triều đình muôn vàn rối ren, vua Lý Nhân Tông lại còn quá nhỏ, được sự phò tá đắc lực của Lý Thường Kiệt, Nguyên phi Ỷ Lan đã buông màn nhiếp chính để thực hiện bằng được tâm nguyện đó. Đặc biệt, bà rất quan tâm đến sự phát triển của nền Phật học nước nhà. Ngoài việc tôn tạo cảnh Già Lam, Ỷ Lan còn nhiều lần thỉnh Quốc sư Thông Biện vào triều để tham vấn về giáo lý, về lịch sử truyền thừa cũng như sự phát triển các tông phái của Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ. 

Bà mất ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu, nhằm niên hiệu Hội Tường Đại Thánh thứ 8 (1117), hưởng thọ khoảng 70 tuổi. Và bài kệ ngộ đạo "sắc không" rất nổi tiếng của bà hiện còn được sách Thiền uyển tập anh ghi lại.

Cùng với Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyên phi Ỷ Lan được xếp vào hàng những trang liệt nữ tài danh của dân tộc, là người đã gắn bó cả cuộc đời và hết lòng un đúc cho sự phồn vinh của mảnh đất Thăng Long nghìn năm văn hiến. 
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 14 -THÁNG 3 2006


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)