.
.SỐ 14 -THÁNG 3, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 14-THÁNG 3, 2006

 

Tâm Sự Với Một Người Thân Đã Chia Tay
Kỳ 2: 
Yêu cái Đẹp cũng như yêu Chân lý
Võ Xuân Hân

Một số quan điểm về nghệ thuật, về vai trò của nó, cùng một số khía cạnh trong cái nhìn về thân phận mà Chỉ đã thể hiện quá đỗi tài tình trên khung vải bố hay khung giấy. Tôi cảm động khi nhận thức được con người nhân bản trong con người nghệ sĩ hăng say của Chỉ, thể hiện bằng tư tưởng và hành động bên trong lẫn bên ngoài nghệ thuật...

Nếu đất Phú Xuân là chiếc nôi của nhiều anh hùng hào kiệt, ngược lại, nó có ít kẻ sĩ-lồng-nghệ sĩ. Qua các hành động dũng cảm để chống đối các sự kỳ thị áp bức trong kỳ pháp nạn của Phật Giáo Việt Nam, Chỉ là một trong những người đã xóa mờ biên giới giữa kẻ sĩ và nghệ sĩ. Từ trong tù, Chỉ đã giám dùng ngòi bút làm khí cụ đấu tranh cho công bằng, cho tự do. Do đó có thể nói nghệ thuật của Chỉ là nghệ thuật sống, nghệ thuật dấn thân. Trong một cuốn sách đẹp về lịch sử hội hoạ và điêu khắc Việt Nam của Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội (100 Vietnamese Painters and Sculptors of the 20th Century, 1996), ở trang 323 nói về tiểu sử của họa sĩ Bửu Chỉ, Chỉ đã ghi mấy chữ giản dị nhưng đầy ý nghĩa như sau: “Để nhớ một người học trò khởi đầu bằng Luật, kết thúc bằng hội họa.  Âu cũng là một định mệnh - Yêu cái đẹp cũng như yêu sự công bằng”. Đấy, mấy chữ cuối trong lời đề tặng mà Chỉ đã dành cho tôi cứ nhảy múa trong đầu óc tôi mỗi khi nghĩ đến Chỉ. Nhưng nếu bầu máu nóng sôi sục trong huyết quản Chỉ, lý tưởng, lòng yêu công bằng đã đưa Chỉ vào con đường hành động trong thời loạn, thì trong thời bình, khi bom đạn đã ngưng xé nát quê hương, khi anh em bắc nam một nhà đã ngồi lại với nhau, lòng yêu công bằng tha thiết đó đã đưa Chỉ đến vài sự hoài nghi lớn về thời thế. Chỉ, cũng như Sơn, hai bạn thân thiết, là một trong những nghệ sĩ miền Trung đầu tiên hăng hái tham gia vào niềm vui chung khi quê hương tưng bừng mở tiệc liên hoan “...từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay...” sau cơn ác mộng hãi hùng. Chúng ta là những kẽ đã sung sướng và tự hào với một đất nước đã thanh bình, đã dành lại được độc lập và thống nhất cho giang sơn gấm vóc, cho một gia tài vô giá mà tiền nhân ta đã dày công gầy dựng và để lại. Nhưng bên cạnh niềm hân hoan lớn đó, Chỉ đã có lần hé cho tôi thấy một dư vị nửa chua chát nửa đắng cay qua kinh nghiệm đời mình. 

Trong các dịp gặp gỡ với các anh chị em cựu sinh viên trường Luật tại Huế cũng vào hồi 1997, Chỉ đã chung vui hết mình với nhiều bản đơn ca và đồng ca, tay luôn luôn gảy cây đàn guitare cũ kỹ đã rè tiếng, giọng ca có khi pha lẫn cả hơi men. Trong các kỷ niệm khó quên đó, tôi còn nhớ đôi lần Chỉ hát lời ca Từ Công Phụng gây nỗi buồn man mác “...con dế mèn tự tử giữa đêm khuya...”. Và như thế, tôi đã có dịp chứng kiến cái Chỉ hân hoan lẫn cái Chỉ bực bội và hoài nghi - một sự hoài nghi không phải không có lý do của nó. Ở Chỉ, đôi khi sự hoài nghi tăng lên đến độ thất vọng chăng, song nói đến chán chường hay tuyệt vọng thì tuyệt nhiên tôi chưa thấy ở Chỉ bao giờ. Bửu Chỉ trước hết là một nghệ sĩ yêu đời ra rít, nói theo giọng quê mùa miền Trung. 

Nói về bầu máu nóng của Chỉ, tôi lại nhớ đến những kỷ niệm êm đềm với những buổi lễ tất niên quá đẹp của sinh viên trường luật Huế vào các năm xưa. Cao điểm là lễ ông Táo chầu trời, là cơ hội để sinh viên bày tỏ các cảm nghĩ tốt đẹp hay than phiền của mình đối với giáo sư trong năm qua. Đó cũng là thời gian để anh em trong ban giảng huấn chúng tôi có dịp phập phồng lên ruột, vì chưa biết táo quân sẽ nói gì về mình. Thực tình, tôi không nhớ rõ Chỉ có bao giờ đóng vai táo quân hay không. Nhớ rõ hay không nhớ rõ, điều đó không quan trọng, nhưng biết Chỉ là một người trực tính và rất hăng say trong các hoạt động của sinh viên, nên đến nay, hơn ba thập niên sau, tôi vẫn có thể mường tượng hình dung Chỉ sau bộ râu và mũ cánh chuồn của táo quân đang dâng sớ lên Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Trong chuyến trở về 1997, tôi còn nhớ rõ những buổi tâm sự với Chỉ bên ly cà phê, hoặc trong quán bánh bèo bên đường cố đô, hoặc tản bộ bên bờ sông Hương, hay hóng gió ở bờ bể Thuận An. Đáng nhớ nhất là một buổi chuyện trò khá lâu qua mấy chiếc bánh bột lọc và nước chè Huế trong một quán xẹp hình như ở hàng me hay hàng đoát cũ gì đó. Chỉ đã thao thức và không giấu được nỗi bức xúc về những khía cạnh tiêu cực của xã hội ta sau ngày đổi mới, về sự trì hoãn hay thiếu hụt trong vấn đề cởi mở và trong sáng trong bộ máy chính quyền. Đấy cũng là niềm khắc khoải chung của nhiều người ở trong và ngoài nước quan tâm đến hạnh phúc và vận mệnh của xứ sở. Nói chung, trong thời gian mấy tháng ở Huế, chúng ta đã trao đổi rất nhiều, từ nghệ thuật đến thời cuộc, nhưng điều đó không có nghĩa là luôn luôn có đồng quan điểm. Nhận định về xã hội ta sau khi tiếng súng đã ngưng tất nhiên nhuốm màu sắc kinh nghiệm và hoàn cảnh bản thân, về tuổi tác, về lòng tin tưởng và kiên nhẫn, mà chúng ta không luôn luôn giống nhau. Nhưng điều tôi tin chắc là chúng ta chia sẻ một lý tưởng phụng sự, một lý tưởng đóng góp cho gia tài kiến thức và văn hoá của con người, cùng mơ một giấc mơ thanh bình, độc lập, tiến bộ, và hạnh phúc cho đất mẹ, giấc mơ công bằng cho xã hội, cho nhân bản và tình người trên quả đất.  Và một điểm hội tụ lớn nữa giữa chúng ta là một số cảm quan về cái đẹp, một số quan điểm về nghệ thuật, về vai trò của nó, cùng một số khía cạnh trong cái nhìn về thân phận mà Chỉ đã thể hiện quá đỗi tài tình trên khung vải bố hay khung giấy. Tôi cảm động khi nhận thức được con người phản kháng (có lý do), con người nhân bản trong con người nghệ sĩ hăng say của Chỉ, thể hiện bằng tư tưởng và hành động bên trong lẫn bên ngoài nghệ thuật. Từ những bức tranh bằng bút và mực xạ (một số tặng cho con trai tôi), cho đến các bức sơn dầu mà tôi có hoặc được xem, Chỉ đã không chút ngại ngùng thét lên tiếng nói phẩn nộ trước áp bức và bất công, rồi tiếp đến tiếng nói của phận làm người, đôi khi pha vị cay chua lẫn vị hài hước. Con người phản kháng trong Bửu Chỉ đã có lần nói với tôi trong dịp đi thăm Hoàng Đăng Nhuận, qua tiếng mệ của xứ Huế nghe mới “dễ ghét” làm sao: “Em là thằng học trò mất dạy của thầy đây...thầy!”.

Làm sao quên được một vinh dự lớn mà Chỉ đã dành cho tôi và gia đình tôi trong chuyến về 97. Đó là dịp vẽ chân dung bằng sơn dầu cho đứa con gái sáu tuổi của chúng tôi, mà theo chỗ tôi biết, Chỉ đã không bao giờ làm như vậy.  Hôm đó là một buổi sáng đẹp trời cuối Xuân, tại xưởng vẽ xinh xắn của Hoàng Đăng Nhuận. Chỉ và gia đình tôi hẹn gặp nhau tại đó khoảng tám giờ sáng, và khi đến, ba chúng tôi là em bé, mẹ em bé, và tôi đã thấy hai bạn Chỉ và Nhuận đã đợi ở đó, sẵn sàng bắt tay vào việc. Sau một vài phút tìm chỗ, hai hoạ sĩ nỗi tiếng của Việt Nam và thế giới, đều tự học, đều xuất thân từ cố đô Huế, đã bắt đầu hạ bút. Con chúng tôi chưa bao giờ quen ngồi yên để được vẽ như thế, nhưng có lẽ vì cảm thấy đây là một cái gì to tát, một vinh dự hiếm có, nên nó vẫn vui lòng “cộng tác”, và sau bốn giờ hầu như liên tục ngồi yên, hai bức chân dung truyền thần đã được vẽ xong. Trưa hôm đó, chúng tôi “thưởng nhau” bằng cách đi ăn bánh khoái tại gần Bãi Dâu, bên bờ sông Gia Hội. Khi trở lại quê người, chúng tôi đã lồng khung và trân trọng treo chúng bên cạnh bức “Vô Thường”. 
 
 


Đi dọc dòng sông Phật giáo
THĂM CHÙA CHIỀN 
TRÊN ĐẤT NƯỚC TRIỆU VOI 
Trần Đức Tuấn

Cuộc hành hương tìm về cội nguồn của dòng sông Phật giáo đã buộc chúng tôi phải vượt qua hàng chục, hàng chục ngàn cây số, băng qua những thảo nguyên mênh mông giá lạnh của miền nóc nhà thế giới rộng trên 2 triệu cây số vuông, luồn sâu vào những khe núi tuyết hoang vu ở tận lưng trời, vượt qua những đỉnh đèo cao trên 5.000m chênh vênh bên mép vực, để cố lần theo dòng chảy của Mê Kông như lần theo những dấu vết mơ hồ... 

Chuyến đi hãi hùng 500 cây số bằng đường thuỷ mới đây nhất, vượt qua thác ghềnh đầy phiêu lưu mạo hiểm trên đất Thượng Lào băng qua Tam Giác Vàng quả là một hành trình lãng mạn hiếm có trong đời. Cõi thiên thai sơn thuỷ gần nửa ngàn cây số đó kết thúc ở hang Phật Động Tham Tinh hùng vĩ đã để lại dấu ấn không phai mờ về một miền đất Phật nên thơ lung linh bên dòng sông hoang vắng. Cho tới bây giờ, mỗi khi nhớ lại, vẫn còn thấy bên tai tiếng gầm rú kinh hồn của đôi xuồng máy điên cuồng lao đi trong gió núi, tiếng sấm vang rền của những trận mưa nguồn tầm tã, và tiếng chuông chùa ấm cúng lan tỏa trên khắp mặt nước bao la giữa núi rừng cô tịch.

Rời Phật Động bên cửa sông Nậm U tĩnh lặng, đoàn thám hiểm Mê Kông tiếp tục xuôi dòng. Đoạn cuối lộ trình này về tới Luang Pra Bang còn khoảng 25 cây số. Bắt đầu từ đây, nét đẹp huyền bí của thác ghềnh kỳ lạ, như một đoàn thiên binh trùng điệp, được thay thế bằng phong cảnh khoáng đạt thơ mộng của mặt nước Mê Kông bắt đầu mở dòng, không còn cái vẻ hối hả, cuồn cuộn, vật lộn với đá ghềnh nữa. Giờ đây nó thực sự thư thả, an nhàn, với dáng vẻ cực kỳ lơ đãng. Những khối núi ven bờ đoạn này cũng lớn hơn nhiều, phần lớn dựng đứng. Núi non ở Luang Pra Bang quả là hùng vĩ. Chúng án ngữ khắp mọi góc trời, cao ngất, ôm gọn lấy dòng sông và miền đất cố đô, giống như những bức tường thành thiên nhiên vĩ đại.

Chúng tôi giã từ Mê Kông tại một bến nước thanh bình ở ngoại ô kinh thành. Đã từng nghe nói khá nhiều nét đẹp kỳ bí của cố đô Lào, song khi đặt chân tới đây tất cả đều hết sức ngỡ ngàng: Núi sông kỳ vĩ và nên thơ quá, các công trình tôn giáo bề thế và tráng lệ quá. Một thành phố trầm mặc, khoan thai, duyên dáng đến nao lòng.

Luang Pra Bang

So với các thành phố lớn trên thế giới thì cố đô Lào chỉ như một thị trấn. Nhưng đó là một sơn trấn rất nên thơ và một thuỷ trấn hết sức mơ màng, mênh mông cách trở, nối với thủ đô Viêng Chăn bằng quốc lộ 13, bằng đường hàng không và bằng sông Mê Kông dài gần 500 cây số chảy hoàn toàn trong nội địa quốc gia. Luang Pra Bang nằm ở chính tâm điểm đoạn sông đó, thanh bình, cô đơn và biệt lập. Nhìn dáng vẻ thờ ơ với sự đời của nó, ta có cảm giác như thành phố đã hoàn toàn bị lãng quên, không còn tham gia gì vào thời cuộc. Có vẻ như nó hoàn toàn bằng lòng với mặt nước Mê Kông, Nậm Khan phẳng lặng, êm đềm, với những khối sơn thạch khổng lồ, kỳ vĩ, im lìm bao quanh, với một hoàng cung lộng lẫy, với những ngôi chùa tráng lệ trầm mặc đầy hãnh diện và với những đoàn Tăng lữ khất thực lặng lẽ, âm thầm vào mỗi buổi sáng mát dịu khi mặt trời vừa mới mọc. Cư dân ở đây thưa thớt, làm nghề trồng vườn buôn bán, mở quán, mở xưởng thủ công, an tâm với một cuộc sống nhàn nhã và đạm bạc. Hình như họ chỉ cần làm cho đủ ăn, thì giờ còn lại thì dành cho việc đến chùa, cúng dường cho các tu sĩ đi khất thực và chuẩn bị cho những lễ hội tôn giáo diễn ra quanh năm.

Thành phố này xa xưa là kinh đô của một trong những tiểu quốc hùng mạnh trên bờ Mê Kông - tiểu quốc Mường Xoa - và sau đó trở thành kinh đô của nhà nước quân chủ Lạng Xạn thống nhất. Lịch sử cố đô gắn liền với sự nghiệp của vị quân vương vĩ đại nhất của nước Lào là Phạ Ngừm. Mường Xoa (hay còn có tên là Xiềng Đông, Xiềng Thoong) là địa bàn lâu đời nhất giữ vai trò trung tâm của sự phát triển và tụ cư của người Lào ở thượng lưu Mê Kông mà dòng họ Phạ Ngừm kế nhau cai trị. Do bị tranh cướp ngôi vua nên cha con Phạ Ngừm đã rời tiểu quốc Mường Xoa sang lánh nạn tại Camphuchia. Ông sống với vua cha lưu vong tại Angkor tới năm 16 tuổi (1332) thì được Quốc vương Campuchia gả công chúa cho, đồng thời giúp đỡ thành lập quân đội để ông trở về khôi phục ngai vàng bấy giờ đang nằm trong tay cha con người chú ruột. Năm 1351, ông ca khúc khải hoàn, lên ngôi vua ở Mường Xoa trên bờ Nậm Khan và Mê Kông rồi tiếp tục đi chinh phục các tiểu quốc khác. Năm 1353, Phạ Ngừm đăng quang ở Viêng Chăn, sau đó làm lễ đăng quang lại, chính thức ở Luang Pra Bang, với danh nghĩa kinh đô của nhà nước Lạng Xạn thống nhất. Luang Pra Bang trở thành kinh đô Lào suốt 2 thế kỷ. Mãi cho tới năm 1545, thủ đô mới được dời về Viêng Chăn để tránh xa quân xâm lược Myanmar và để triều đình tiện việc lãnh đạo 3 cuộc kháng chiến chống lại quân xâm lăng Myanmar vào các năm 1563, 1568 và 1574.

Nếu gọi Lào là một quốc gia Phật giáo thì Luang Pra Bang là đô thị điển hình của đạo Phật. Chùa chiền ở đây có rất nhiều. Chỉ tính riêng chùa lớn, có tuổi đời hàng trăm năm trở lên, toàn thành phố đã có khoảng 40 toà kiến trúc Phật giáo tầm cỡ. Thậm chí hoàng cung cũng là một trung tâm Phật giáo. Có tới 4 ngôi chùa Hoàng gia là Wat Visun, Wat Mai, Wat Thông và Wat Xẻn Xu Kha Ram.

Đạo Phật thâm nhập vào Lào khá sớm. Có nhiều tư liệu và phỏng đoán khác nhau về thời gian Phật giáo được truyền bá vào nước này, phần lớn là từ Campuchia, do sự mở rộng của đế chế Angkor tới lưu vực sông Nậm U, trong đó có Luang Pra Bang. Người ta cho rằng đạo Phật đã vào Lào nhiều lần. Vào thế kỷ thứ I, tức năm 600 theo Phật lịch, là giai đoạn Phật giáo Đại thừa du nhập, tiếp theo là các thế kỷ thứ VIII, thứ XI, thứ XII và thứ XIV. Riêng tại Luang Pra Bang, Phật giáo được truyền tới lần đầu vào thế kỷ thứ XII; đến thế kỷ thứ XIV, Phạ Ngừm lại cho truyền bá đạo Phật một lần nữa, và đó là Phật giáo Tiểu thừa có nguồn gốc từ Angkor. Từ đó Phật giáo ở đất nước này thực sự phát triển mạnh mẽ, các Hoàng tử đều đến học ở chùa do sư dạy. Cũng từ đó, nhà chùa trở thành trường học của Hoàng gia và của toàn xã hội.

Tên gọi “Luang Pra Bang” bắt nguồn từ lý do sau đây: Vua Phạ Ngừm có mang từ Angkor về một bức tượng Phật quý bằng vàng nặng 50kg do Quốc vương Campuchia tặng, có tên là Luang Pra Bang (Luang là lớn, Pra là Phật, Bang là tên bức tượng). Vì tượng được đặt ở kinh đô Mường Xoa nên ông đặt cho thành phố này cái tên của bức tượng. Đây được coi là báu vật quan trọng nhất của quốc gia. Năm 1545, tượng được chuyển về Viêng Chăn vì lý do dời đô. Năm 1779 nó bị quân Xiêm xâm lược cướp mất, mãi tới năm 1867 mới trả lại cho Lào, được thờ ở chùa Wat Mai của Luang Pra Bang. Sau đó nó được cất giữ tại bảo tàng Quốc gia (tức Hoàng cung). Chúng tôi đã được xem bức tượng quý đó nhưng không được quay phim chụp ảnh.

Hoàng cung là một kiến trúc không cổ nhưng lớn nhất của kinh thành, được công nhân Việt Nam và Lào thi công theo phong cách kiến trúc Pháp từ năm 1904 đến 1909 thì hoàn thành. Riêng phần nóc được sửa lại theo kiến trúc Lào vào năm 1930. Trong Hoàng cung, người ta khai quật được nhiều tượng Phật của các thế kỷ XVI và XVII, có mô hình cỗ xe ngựa đế vương, có bộ Hoàng phục của vị vua cuối cùng là Xixavang Vatthana và của Hoàng hậu cùng ngai vàng chưa kịp ngồi của vị vua này (ông thoái vị năm 1975). Lịch sử nước Lào có tất cả 63 ông vua. Trong tủ kính có trưng bày đôi kiếm vàng 3kg và 2,8kg, 16 thanh kiếm bạc và hàng loạt tượng Phật bằng vàng, bằng ngọc quý. Đặc biệt Hoàng cung còn lưu lại khá nhiều tác phẩm hội họa của các họa sĩ Lào, Việt Nam và Nga.

Trong khuôn viên rộng lớn của Hoàng cung, khi chúng tôi tới thăm, người ta đang xây một ngôi chùa cực kỳ lộng lẫy, có nền cao, mục đích là để thờ bức tượng Phật quý “Luang Pra Bang” hiện đang trưng bày ở Hoàng cung.

Cung vua vừa là chốn tôn nghiêm của thế quyền nhưng đồng thời cũng là chốn tôn nghiêm của Phật giáo, bởi tại đây hàng năm đều diễn ra những lễ hội lớn của đạo Phật, được dân chúng đến tham dự rất đông.

Những ngôi chùa Hoàng gia

Toàn kinh thành có tất cả 4 ngôi chùa của Hoàng gia trong tổng số 40 tòa kiến trúc Phật giáo đáng chú ý nhất. Đó là các chùa Wat Mai, Wat Thông, Wat Visun và Wat Xen Xu Kha Ram. Vì không đủ thời gian nên chúng tôi chỉ tới thăm được 3 ngôi chùa Hoàng gia và 2 ngôi chùa thường khác là Chomxi trên đỉnh núi và Phật Tích trên bờ Mê Kông.

Wat Mai (Wat là chùa, Mai là mới): tòa kiến trúc này ra đời vào năm 1796 và được coi như Viện bảo tàng độc đáo về nghệ thuật kiến trúc tôn giáo Lào với lớp mái 5 tầng được xây dựng ròng rã suốt 70 năm trời mới hoàn thành. Tác phẩm siêu đẳng nhất của Wat Mai là bức tranh khắc gỗ mạ vàng lộng lẫy kể về một trong những hoá thân cuối cùng của Đức Phật gọi là Pravét. Chùa có một gác trống như thường thấy ở nhiều ngôi chùa làng ở Lào. Nhìn bề ngoài Wat Mai là một kiến trúc tôn giáo bình dị, trầm mặc, tạo cho du khách một cảm giác gần gũi và thân thiện.

Wat Xiêng Thông: với lớp mái  7 tầng, cong, sà thấp xuống gần mặt đất trông rất ấn tượng, là kiến trúc quan trọng nhất trong số 4 ngôi chùa Hoàng gia ở Luang Pra Bang. Chùa nằm ngay bờ Mê Kông, có dãy bậc thềm cao, dài gần xuống mặt nước trông rất bề thế và thơ mộng. Chùa có từ rất lâu, đến năm 1561 thì được vua Set Tha Thi Rat cho tái thiết, là tinh hoa của nền nghệ thuật kiến trúc Lào, có rất nhiều tượng Phật quý bằng đồng và gỗ. Vách tường có tranh ghép bằng thuỷ tinh. Xà và cột mang những họa tiết dát vàng rất sinh động và lộng lẫy. Tại đây còn lưu giữ một cỗ xe tang Hoàng gia cao 6m dùng cho tang lễ của bậc đế vương. Trên xe đặt 3 ngôi mộ tháp và một cây tháp cao 4,5m. Riêng cỗ xe tang đã là cả một công trình nghệ thuật.

Wat Visun: đây là ngôi chùa trang nhã nhất trong 4 ngôi chùa Hoàng gia của kinh thành, và cũng là tòa kiến trúc duy nhất được UNESCO công nhận là di sản văn hóa nhân loại tại cố đô. Wat Visun thường được gọi bằng cái tên nôm na là “Chùa Dưa Hấu”, vì ngôi tháp chính ở đây có hình một trái dưa. Chùa không hề có trang trí loè loẹt xanh vàng đỏ, hầu như không có chạm trổ, tháp sơn đã ngả màu xám, ngói đã cũ. Mái chùa không có 3 hoặc 5 tầng lớp so le chồng lên nhau như các chùa khác mà chỉ có 2 lớp như kiểu lồng chợ, cách nhau một mét tường. Visun được xây dựng năm 1527, bị cháy năm 1887, sau phải tu sửa lại.

Chỉ riêng một đô thị nhỏ 20 ngàn dân mà có tới 4 ngôi chùa Hoàng gia và gần 40 ngôi chùa khác đã là một điều thật đáng chú ý, một tỷ lệ công trình tôn giáo rất cao, một mật độ chùa chiền đậm đặc, nhất là khu vực đế vương. Điều đó chứng tỏ nhu cầu tín ngưỡng của quốc gia này lớn tới chừng nào.

Lên đỉnh Phu Si và thăm chùa Phật Tích

Luang Pra Bang có đệ nhất thắng cảnh  là ngọn đồi Phu Si, ngay cạnh Hoàng cung, cao 150m. Dòng  Mê Kông êm ả dưới chân đồi cùng với dòng Nậm Khan xinh đẹp uốn lượn, ẩn dưới tán cây rừng được nhìn từ đỉnh Phu Si như một bức tranh thơ tuyệt mỹ. Cũng từ trên đỉnh núi này bạn có thể nhìn bao quát kinh thành và những dãy núi hùng vĩ vây quanh, đặc biệt là sông Nậm Khan và những cây cầu giữa 2 bờ vách núi. Sông Nậm Khan là biểu tượng của Luang Pra Bang, một nhánh quan trọng của Mê Kông. Cố đô Lào còn được mệnh danh là “Thành phố bên bờ Nậm Khan” là vì thế. Trên bờ con sông này hiện còn  ngôi mộ của nhà thám hiểm người Pháp vĩ đại, một nhà khoa học lừng danh, tên là Henry Mouhot. Ông là người phát hiện ra Angkor ở Campuchia. Trong cuộc thám hiểm Mê Kông trên đất Lào, ông đã bị sốt rét rừng quật ngã rồi lìa đời ở tuổi 35. Lịch sử khoa học và khám phá đã suy tôn ông là “Kẻ lữ hành cô đơn vĩ đại”. Mê Kông ký sự  đã dành một phút để nói về kẻ tài hoa bạc mệnh này.

Trên đỉnh Phu Si có một ngôi chùa và một ngôi tháp rất đẹp, từ rất xa đã nhìn thấy rõ. Tuy không phải là một công trình tôn giáo lớn nhưng Phật tháp Phu Si được coi là biểu tượng của Phật giáo và đệ nhất thắng cảnh của Kinh thành. Trong suốt chiều dài lộ trình thám hiểm Mê Kông, chúng tôi thấy hầu hết các đô thị đều dành những vị trí cao nhất trong địa phận của mình để tôn tạo một công trình kiến trúc Phật giáo. Rõ ràng tháp Phu Si lung linh trên đỉnh núi đã làm cho cả kinh thành Luang Pra Bang vốn đã thơ mộng càng trở nên huyền ảo.

Ngay bên dòng chảy êm đềm của Mê Kông có một cõi Phật dành riêng cho người Việt xa xứ. Đó là ngôi chùa “Phật Tích” nên thơ rợp bóng bồ đề với khuôn viên rộng lớn, có bậc từ sân sau dẫn xuống mặt nước. Đây là ngôi chùa Việt duy nhất ở Lào theo cả 2 phái Đại thừa và Nguyên thủy. Chùa do nhà sư Thích Thái Phùng trụ trì, có 8 chú tiểu mặc áo hở vai theo kiểu Nguyên thủy đón tiếp Phật tử Lào tới lễ bái. Chùa này xưa kia vốn của người Lào, sau người Việt xin nhượng lại, nâng cấp, mở rộng rồi đem tượng Phật Bà Quan Âm từ Việt Nam sang thờ nên chùa trở thành lưỡng phái (vì Nam tông chỉ thờ Đức Phật Thích Ca). Luang Pra Bang có khoảng 100 gia đình Việt kiều sang từ thời Pháp, nay cộng cả con cháu đông tới 400 người.

Người Việt định cư ở nước ngoài có tới gần 3 triệu nhưng phần lớn ra đi từ năm 1975. Số xa quê hương từ trên nửa thế kỷ trở lên không nhiều. Số người lớn tuổi sinh ra từ trên đất khách, nhất là tại các vùng hẻo lánh, chưa được một lần về đất mẹ tương đối hiếm. Cuộc gặp gỡ với những đối tượng như vậy thường mang lại cho chúng tôi những cảm xúc dạt đào. Đó là một vài gia đình mà đoàn làm phim có dịp tiếp xúc tại Myanmar, Lào và Thái Lan. Tại vùng rừng núi Keng Tông của Bang Shan (Miến Điện), chúng tôi có gặp một người Việt rất nghèo, đã 60 tuổi mà chưa hề biết quê hương là gì và chắc chắn cho tới lúc chết cũng không thể có đủ tiền để về thăm đất nước. Cả vùng cao nguyên mênh mông hẻo lánh này chỉ có một mình ông là người Việt. So với trường hợp trên thì cộng đồng người Việt ở Luang Pra Bang còn may mắn hơn nhiều. Họ có cả một ngôi chùa lớn khang trang để đoàn tụ với đồng bào mình. Chùa Phật Tích chính là biểu tượng của quê hương, của tổ tiên, là nơi mà những thân phận tha hương có thể đến để sưởi ấm tấm lòng và để gửi hồn về quê hương xứ sở.
 

Dòng sông vĩ đại ra đi từ miền đất Phật lơ lửng trong mây, uốn lượn dưới chân các đỉnh núi tuyết vĩnh cửu cao sáu bảy ngàn mét. Như một tráng sĩ oai hùng bôn ba trên vó ngựa phong trần, Mê Kông hòa vào dòng đời lam lũ, vào cuộc sống gian truân với sứ mệnh cao cả đem lại nguồn sống cho hàng triệu cư dân ven bờ, góp phần vỗ về an ủi họ, làm bớt đi nỗi đau nhân thế. Trên suốt cuộc hành trình gió bụi, cùng với đạo Phật, nó góp phần kiến tạo nên những giá trị tinh thần bất tử, xây dựng nên một hệ thống triết lý bền vững, đủ sức đương đầu với biết bao thế kỷ giông tố bằng một bản lĩnh phi thường.


CHUYẾN ĐI LẦN CUỐI
Du Li

Từ Illinois- Mỹ, bạn tôi, Hồ Đắc Đằng gửi cho tôi một bài viết ngắn của chị Du Li, tên thật là  Nguyễn Thị Phương Dung. Ở tuổi trung niên, chị bị ung thư tử cung, được cắt bỏ, hóa trị, nhưng hai năm sau, lại xuất hiện di căn ở ruột. Nằm trong bệnh viện, chị biết mình đã đến hồi chung cuộc, bèn viết những dòng này. Chị viết tự nhiên, thẳng thắn những điều đang diễn ra trong cuộc sống ngắn hạn của mình. Từ đó, chị trình bày vài kinh nghiệm bên bờ tử sinh. Tôi nghĩ rằng chị đã nói những lời ái ngữ, lành và thật, nên đã giúp cho tôi có cảm giác an lành và được an ủi...

Chị qua đời vài tháng sau khi viết những dòng này. Qua báo Văn Hóa Phật Giáo, tôi chia sẻ món quà tâm linh mà chị để lại.

Thân Trọng Minh

Trong  cái yên lặng vô cùng của khu vườn sau, tôi nghe thấy tiếng lá chạm nhau xào xạc khi có gió. Tôi nghe cả tiếng thức ăn chuyển từ khúc ruột nọ tới khúc ruột kia kêu ùng ục. Tôi bỗng nhớ tới ba tuần lễ nằm bệnh viện và cuộc giải phẫu vừa qua. Cuộc đời ít khi đau ốm. Lần đầu tiên vào nhà thương cách đây hai năm là để giải phẫu cắt tử cung vì ung thư. Và bây giờ ung thư tái phát. Theo thống kê thì 93% bệnh nhân bị ung thư tử cung sau khi giải phẫu thường khỏi bệnh. Tôi rơi vào số 7% người bệnh bị tái phát. Theo bác sĩ, ung thư này khi tái phát thường được coi là hiểm nghèo. Tin đồn đi, bạn bè nhiều người ở xa phải nhờ chồng lái xe lặn lội tới thăm. Chỉ để cầm tay tôi vuốt ve an ủi. Để vuốt xuôi những sợi tóc lòa xòa trên trán hâm hấp nóng. Thật ân cần. Thật nhẹ nhàng. Tôi nhận được những tấm thiệp chúc bình phục thật chân thành tình nghĩa. Mấy cậu em trai tôi, ngày trước khi tôi còn khỏe, xuân thu nhị kỳ có tới thăm thì cũng chân trước chân sau, nói gì rồi cũng xoay sang chuyện làm ăn, thuế má hay computer, có thế thì mới ngồi lâu. Vậy mà nay các cậu ngồi với tôi hàng giờ. Xỏ cho tôi đôi dép vào chân và đỡ tôi vào buồng tắm. Tâm sự vụn vặt với nhau như chuyện chị em gái thường làm. Nói cho nhau nghe những ý tưởng cảm xúc mình chưa hề động hay nói đến trong suốt khoảng bốn mươi năm trời tình nghĩa chị em. Rồi đêm khuya, những lúc thức giấc, tôi nghĩ tới con người. Thấy hay và lạ thật. Hay ở chỗ thật ra ai cũng có tính nhẹ nhàng, kiên nhẫn, độ lượng và đầy thương yêu. Lạ là không hiểu sao người ta thường chỉ biểu lộ những quý tính này đối với trẻ con và người ốm. Một đôi khi với người già. Nhưng thường phải là những người già dễ tính! Tôi tự hỏi, phải chăng vì trẻ con và người bệnh biết mình bất lực nên đón nhận sự giúp đỡ dễ dàng, không áy náy, không tự ái; khiến người cho dễ trở về với chân tính của mình là tử tế và thương yêu. Thực ra ai cũng muốn là người tử tế nghĩa tình, vì con người khi sống tử tế thương yêu, sẽ thấy chính mình cũng có hạnh phúc. Kinh sách nào cũng nói vậy. Và chính tôi cũng chiêm nghiệm như thế trong cơn bệnh.

Những ý nghĩ ở bệnh viện đêm trước hiện về, lồng vào đoạn thư vừa đọc, rồi thấy lòng lóe lên một mong cầu. “Nếu mọi người đều biết là mình ốm - ốm bệnh khổ, cái khổ nằm trong Đệ bát khổ mà Đức Phật đã dạy - mà cư xử với nhau như cư xử với người ố thì cuộc đời này sẽ lành mạnh biết bao!”. Nghĩ thế và rồi thấy ngay là mình đang vọng tưởng. Những từ "giá", "nếu" là dấu hiệu của vọng tưởng. Tôi thường dựa vào những dấu hiệu này để biết mình đang ở đâu mà tìm đường quay về. Thường cứ thoắt một cái là cái đầu lại ở đâu đâu. 

“Làm sao hàng phục vọng tâm. Làm sao an trụ chân tâm?”, câu hỏi của một đệ tử Phật lúc đương thời, và cũng là thắc mắc của biết bao người, kể cả tôi: Làm sao. How to? Rồi đổ xô nhau đi tìm phương cách. Thiền là một cách. Thân có yên thì tâm mới tịnh. Tâm tịnh rồi thì mình sẽ “nhìn đời bằng một con mắt lạnh như tro tàn và một trái tim nóng hổi”, như lời một vị thiền sư chăng? Nhìn đời và mọi sự việc mà không thành kiến, không phê phán, không phân chia, không sắp loại. Sự việc thế nào là thế ấy. Để rồi bỗng thấy dấy lên từ trái tim nóng hổi niềm thương yêu, thông cảm và tha thứ vô cùng.

Tôi đang nằm đây im lặng. Thiền. Tập nhìn cơn bệnh hoạn của thân xác. Những ngày nằm bệnh viện, cơn đau quằn quại của thịt da bị mổ xẻ, của khúc ruột hư bị cắt đi và nối ngắn lại, của các thứ thuốc trụ sinh, thuốc ngủ và thuốc morphine; tất cả khiến đầu óc mịt mùng. Và từ sự mịt mùng đó thấy mình là thân xác bệnh hoạn nằm trên giường bệnh. Thấy mình là những cuống quít sợ hãi, những níu kéo, cầu mong. Chân tâm biến mất. Tâm trí biến loạn, vọng tưởng, bị thôi thúc, lôi kéo, vật vờ như chiếc lá trên mặt hồ một chiều lộng gió. Bao nhiêu công phu thiền tập như tan biến. Cho đến một đêm, thức giấc, qua cửa kính nhìn ra ngoài trời không trăng sao, tôi bắt gặp một cảm giác an lành vô cùng. Rồi bỗng nhớ tới hai câu thơ của thi sĩ Huyền Không:

"Ta từ sinh tử về chơi
Ngồi trên chóp đỉnh mỉm cười với trăng".

Ta nào vậy nhỉ? Mà sao an nhiên tự tại thế. Bỗng thấy mình như với được một đầu dây để tìm về. Về đâu nhỉ? Về chân tâm. Về nơi chốn ở đó có cái nhìn lạnh như tro tàn chăng?

Từ đêm đo,ù lúc ẩn lúc hiện, tôi thấy hình thành một đường hướng tâm nguyện. Hướng tìm gặp cái "Ta" của thi sĩ Huyền Không. Cái "Ta" tự tại, đồng thời cũng sẵn sàng tan biến, hội nhập vào càn khôn vũ trụ. Như một giọt nước trở về đại dương. Thanh thoát. Vô cầu.

Rồi cũng từ hôm đó, tôi dám nhìn thẳng vào sự thật, cái chết sẽ xảy đến cho mình, có thể trong một ngày rất gần. Tôi bắt đầu bằng cách nhờ cậu em lo làm hộ chúc thư và gửi giấy cho nhà băng đóng những trương mục hiện hữu, và bắt đầu nghuệch ngoạc trên cuốn tập học trò lời căn dặn về một vài chuyện tụng niệm ma chay. Mấy năm gần đây, tôi tự nhiên xé bỏ tất ả những thẻ tín dụng, đi vào một đời sống vật chất thật giản dị. Cho đi bớt quần áo. Chỉ giữ lại ít cái đủ mặc và một “bộ cánh” của thời phù hoa thuở trước, phòng khi phải đi ăn cưới. Tự nhiên bắt chước được cái thói quen của chị bạn là mỗi khi có ai cho mình một cái quần mới, áo mới thì lập tức phải cho bớt đi một cái quần, cái áo trong số áo quần đương mặc. Nhiều lúc cũng tần ngần, vì số đồ giữ lại thường là những cái mình vừa ý nhất. Nhưng rồi cũng cố gắng làm. Và quen đi. Để rồi thấy một hôm mình ngồi trước kệ sách, chọn được một mớ đem cho. Sau đó, hễ thấy bạn bè ngỏ ý thích cuốn sách nào mà mình có, là mừng rỡ gửi biếu. Ngày xửa ngày xưa, vật dụng tôi đưa người khác mượn một cách dễ dàng. Nhưng mượn sách là tôi kỹ lắm.

Nhiều lúc mặc cảm là mình ích kỷ chăng? Sau này nhìn ra thấy mình quá bám víu vào sách vở, vào kiến thức. Coi đó là mình. Coi mình là quan trọng! Tủ sách tôi càng quang thì đầu óc tôi càng nhẹ nhõm. Căn phòng ngủ ngày càng thưa trống đồ đạc, trông rộng rãi hẳn ra. Lâu lâu tâm sự với chị bạn: “Một ngày nào đó em có Đi, chắc cũng dễ vì va li nhẹ lắm rồi!”. Hôm nằm bệnh viện mới thấy mình lầm to. Vì tất cả những sự “dọn mình” lúc trước mới chỉ là như lá sân chùa. Hành trang vật chất tuy ít thật, nhưng hành trang tình cảm còn bề bộn, nặng nề. Từ hôm đó tôi lo tập trung tâm sức vào việc dọn dẹp bên trong. Nhưng không phải dễ. Nhìn vào nội tâm đòi hỏi một sự tỉnh thức tuyệt đối. Trong khi đó thì con người cả đời chỉ biết phóng ra bên ngoài. Rồi quen thói đi. Sợ  sự im lặng. Sợ bóng tối. Thức giấc dậy là mắt mở lơ láo. Và mở miệng. Có một lần tôi nghe một cậu em ít nói bảo tôi là: “ Nếu tạo hóa muốn con người nói nhiều hơn nghe, thì con người phải có hai cái miệng và một cái tai chứ. Đằng này con người có hai lỗ tai và một cái miệng vừa dùng vào việc ăn và việc nói, thì mình phải hiểu ý trời là muốn mình nói ít nghe nhiều mà”. Tôi nghe thấy hợp lý nên sau đó mỗi khi nhớ, cái miệng của tôi cũng ít phải làm việc hơn. Tôi tập nghe nhiều hơn. Nghe âm thanh. Và nghe cả sự im lặng nữa. Rồi khám phá ra rằng sự im lặng rất ngọt ngào, bao dung. Một tiếng lá rơi, một tiếng chim vỗ cánh, một thinh không tĩnh lặng dẫn đưa tâm hồn vào một niềm hoan lạc vô cùng. Từ đấy thấy nhạc hòa tấu, nhạc thính phòng, tiếng hát Khánh Hà, Don Hồ, chỉ là một thoáng gió quạt nan trong cái nóng hầm hập của đêm hè trần gian. Từ đấy thấy trìu mến cái âm thanh của im lặng. Của một mình. Không thấy cô đơn. Không buồn chán.

Tôi nằm im. Nhắm mắt. Nghe. Thấy những ý tưởng hỗn tạp tiếp nối chạy trong đầu như những cụm mây bay ngang bầu trời. Không ngừng nghỉ. Thích cái này, không thích cái kia. Muốn cái này, không muốn chuyện kia. Thương người này, không ưa người kia. Hợp ý, hợp khẩu, hợp nhãn v.v… Phân chia mọi chuyện ra thành trắng đen, chấp vào ý mình mà phán đoán. Rồi mắc kẹt ở trong đó, từ đó mua cho mình và gây cho người nhiều phiền não, khổ đau. Nghiệp chướng cứ thế mà tích tụ. Những ý tưởng và tình cảm vô trách nhiệm, rối rắm, không rõ ràng đẻ ra những nợ nần oan trái. Quán chiếu trong im lặng tôi nhận diện được một số nghiệp chướng và oan trái đời này. “Tội từ tâm khởi. Cũng từ tâm diệt. Tâm không tội diệt. Cả hai đều hết”. Nhưng còn những nghiệp chướng từ vô thỉ tàng tích lại? Làm sao mà quán chiếu cho hết trong lúc khẩn cấp này? Phải sám hối. Chỉ có cách sám hối! Tôi nghe vọng lên trong tôi lời nhủ thầm này.

Tôi nhờ Vân cho mượn mấy cuốn kinh. Sáng sáng, chiều chiều tôi mở kinh ra đọc. Đọc lần đầu tiên trong đời. Đọc như đọc sách. Nhưng đọc thành tiếng. Tôi được biết giáo sư V.K. Khoan cũng quay về đọc kinh trong hai năm bệnh nặng trước khi ông qua đời. Qua kinh kệ ông thấy: “Tôi lặng lẽ dìu tôi đi vào một cõi mới dấy lên. Cõi đó, lạ lạ quen quen. Cõi đó hằng đêm. Cõi đó riêng tôi. Một mình”.

Bây giờ thế giới của tôi chỉ còn lại chuyện đọc kinh học kệ. Những lúc trí óc linh hoạt, tôi đem quán chiếu câu nói của Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn từng được ấp ủ trong tâm: “Hạnh phúc đích thực là niềm an lạc nội tâm và tự tại mà ra. Mà niềm an lạc tự tại phải đạt lấy qua sự nuôi dưỡng óc vị tha, lòng từ bi và diệt trừ sân hận, vị kỷ, tham lam…”. Rồi quy nguyện sẽ sống trong ánh sáng đó những ngày còn lại. Những lúc khác tôi chuyên cần đọc kinh dọn mình cho cuộc ra đi cuối cùng. 

Cảm thấy vừa run vừa sợ, vừa mong mỏi. Trong một niềm kính cẩn chân thành. Một mình. Mà không thấy chơi vơi trong chuyến đi. Một chuyến Ra Đi, Trở Về, không Đi cũng không Về, hay chỉ là vật chất chuyển dạng và thần thức thăng hoa?
 
 


ANDREW BOND 
VÀ CON ĐƯỜNG TU TẬP CỦA MÌNH

Cũng giống như các tôn giáo khác, người ta có nhiều lý do khác nhau khi tìm đến với Phật giáo. Riêng tôi, đến với Phật giáo không phải vì lễ nghi tôn giáo hay vì để thiết lập một niềm tin mà là để học cách sống tốt và cách suy nghĩ chân chính...

Tôi tu tập Phật pháp đã được hai năm nay. Sau mấy năm đi đây đó, trong tôi đã hình thành một ý thức tâm linh rõ rệt, và ý thức này ngày càng được vun bồi thêm bởi sách của Đức Dalai Lama, của Jack Kerouac và một số tác giả khác. Sau khi dự một khoá tu ở Ireland với Hội Ái hữu Phật giáo Tây phương (FWBO), tôi bắt đầu tu tập nghiêm túc hơn.

Cũng giống như các tôn giáo khác, người ta có nhiều lý do khác nhau khi tìm đến với Phật giáo. Riêng tôi, đến với Phật giáo không phải vì lễ nghi tôn giáo hay vì để thiết lập một niềm tin mà là để học cách sống tốt và cách suy nghĩ chân chính. Và tôi nghĩ đây cũng chính là lý do hiện nay Phật giáo phát triển rất mạnh ở phương Tây. Sự khác biệt cơ bản giữa Phật giáo so với Hồi giáo và đạo Thiên chúa ở chỗ, Phật giáo không đề cập đến vai trò của đấng sáng thế mà chỉ nhấn mạnh đến sự phát triển tâm linh của mỗi cá nhân.

Đôi khi tôi cũng có đi chùa để cầu nguyện và tham dự các buổi lễ, nhưng phần lớn thời gian tôi dành để hành thiền và cố giữ những trọng giới mà Đức Phật đã dạy. Trong lời Phật dạy đã bao gồm cả tình thương, sự cảm thông, chia sẻ và quan trọng hơn là phải biết chấp nhận trong cuộc sống luôn tồn tại những khổ đau. Chúng ta chỉ có thể làm vơi đi những khổ đau ấy bằng cách biết suy nghĩ đúng, hiểu đúng, hành động đúng và nói đúng…

Vẫn biết vậy, nhưng tôi lại được nuôi dưỡng bởi một nền văn hoá phương Tây, vốn rất xa lạ với đời sống luôn biết vừa đủ rất được đề cao trong Phật giáo. Đây quả là một trở ngại lớn đối với tôi. Vì vậy tôi chọn cho mình cách tiếp cận Phật giáo bằng con đường thực nghiệm. Do sự lựa chọn này phù hợp với tính cách của tôi nên đã giúp tôi có thể hiểu và chấp nhận thuyết nhân quả trong Phật giáo. Giờ đây, nhờ sự thực tập “trải lòng thương đến mọi người” mà tôi thấy mình ngày càng trở nên bao dung hơn, ít sân hận hơn, đồng thời những dục vọng và nỗi sợ hãi cái chết cũng giảm dần trong tôi.

Cuối cùng, tôi và những người bạn quanh tôi đã hiểu ra được một quy luật của cuộc sống: nếu ta làm một điều xấu thì một lúc nào đó trong tương lai, nghiệp lực xấu ấy sẽ trở lại đeo bám lấy ta!
Hằng Minh dịch
 
 


ÁO TÍM LÊN NON
CÁT T ƯỜNG

Hàng năm, cứ đến ngày 9 tháng Giêng âm lịch là ngôi chùa của thầy tôi lại rộn rã những bước chân của các đệ tử gần xa trở về mừng ngày xuất gia của thầy. Chuyện xuất gia của thầy cũng là một bài “pháp” cuốn hút các đệ tử chúng tôi. Ngày xưa, thầy là một nữ sinh Gia Long được học bổng nội trú toàn phần. Màu áo tím rất đỗi lãng mạng ấy, một ngày bỗng bị “hớp hồn” bởi một thiền sư thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 41. Và cơ duyên đã đến. Sau cái tết năm Tuất của thập niên 1950, thầy từ giã màu áo tím của cô nữ sinh Gia Long để khoác lên người chiếc áo nâu sòng. Ngôi chùa nhỏ thầy đến thế phát quy y nằm cheo leo trên dốc núi Dinh (thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Đó cũng là điểm nóng của chiến tranh vì phía sau chùa là chiến khu Minh Đạm, một căn cứ của lực lượng Thành Đoàn lúc bấy giờ. Chiến tranh lan rộng xuống những xóm làng phía dưới chân núi. Cửa nát nhà tan, hàng trăm trẻ em sống lang thang vì mất cha mất mẹ. Được  sự đồng ý của sư phụ, thầy vận động thành lập cô nhi viện Phước Lộc Thọ, nuôi dạy trẻ em mồ côi trong chiến tranh. Hơn 200 trẻ đã được đùm bọc trong vòng tay thương yêu của thầy dưới mái chùa Linh Sơn. Các em được ăn no, mặc ấm và được học hành như bao đứa trẻ khác. Cảm nhận trước ân đức của thầy, số Phật tử theo thầy xuất gia ngày càng đông. Để đào tạo Tăng Ni, thầy thành lập Phật học đường Tây Phương, trường Phật học đầu tiên nằm trong lòng chiến khu. Ngày ngày, tăng ni tu học giữa hai lằn đạn giao tranh và dưới tiếng gầm rú inh tai của những chiếc F-115 sẵn sàng ném bom vào bất cứ nơi đâu. Rồi những đêm chiến dịch, bộ đội dừng chân bên hiên chùa. Thầy tất bật lo toan những nắm cơm nóng hổi, những món lương khô chay chất vào ba lô trước khi các anh bộ đội tiếp tục lên đường hành quân. Ngôi chùa có sức sống mãnh liệt theo tinh thần dân tộc - đạo pháp còn lưu giữ trong chúng tôi bao nhiêu kỷ niệm đẹp.

 Đã thành truyền thống, hàng năm đến kỷ niệm ngày thầy xuất gia là chúng tôi dù đang tu học ở  Bắc, Trung hay Nam đều tề tựu về. Lên vài trăm bậc đá mới được gặp hình bóng ân sư trên vách núi cheo leo, chúng tôi ai nấy đều mừng mừng tủi tủi. Nhưng rồi những nụ cười lại nở rộ trên môi vì  mọi người có dịp nhắc nhớ những kỷ niệm đẹp thời tu học tại một ngôi chùa trong lòng chiến khu cách nay gần nửa thế kỷ. Chúng tôi gọi đây là một tổ đình - tổ đình Linh Sơn - vì từ nơi này đã ươm mầm cho hơn 100 ngôi chùa khác hình thành và phát triển khắp ba miền đất nước. Trụ trì những ngôi chùa đó không ai khác hơn là các đệ tử, tăng ni đã từng tu học và làm Phật sự, công tác xã hội  cùng thầy nơi đây. Trên những quà tặng kính dâng thầy, thường chúng tôi đề tặng bằng một cái tên rất thân thương thuở trước là “Ni cô Lệ Cưng” thay vì “Ni Trưởng Thích Nữ Huệ Giác” rất trang trọng mà mọi người thường gọi cung kính khi tuổi thầy đã xế chiều. 
 
 


CHUYỆN LÀM PHƯỚC…
Thảo Vy

Chuyến phà Rạch Miễu trong sương sớm đưa tôi đến với xứ dừa. Dọc đường khi gặp dòng quảng cáo:”tết làm điều phúc, sung túc cả năm”,  tôi thầm cảm phục người nào đã đưa ra được một ý tưởng quảng cáo xuất sắc như vậy... 

Omo không chỉ  quảng cáo mà còn nêu lên một khẩu hiệu hành động. Mọi người đều được  “sung túc cả năm” chính nhờ việc “làm điều phúc” của bản thân mang lại.  Ông bà ta xưa đã kết luận: "của cho là của còn, của ăn là của mất".  “Làm điều phúc” chính là vì mình và cho mình. Để  “của”  chẳng những “còn” mà sinh sôi nẩy nở thì “điều phúc” là việc phải làm ngay.  Đây đích thị là một quảng cáo đem lại lợi ích cho nhà sản xuất và cả cho cộng đồng.

Anh S. giới thiệu với tôi về địa phương mình. Anh nói:"Huyện này được xem là vùng đất thép, theo cả nghĩa đen của nó”. Bến tre có mười mấy vị tướng thì huyện đã có tám người. Huyện có một ngàn cây cầu khỉ. Ba mươi năm bê tông hóa được tám trăm cầu. Đấy là một cố gắng rất lớn của người Bến tre để làm cho hết “sắc mùa chinh chiến cũ”. 

Kinh phí của nhà nước không đủ để bê-tông hóa mấy ngàn cầu khỉ và vô số các con đường rẽ nhánh, bề ngang hai mét trong các ấp, phải cần có sự hỗ trợ từ các nguồn khác. Tuy vậy, người Bến tre vẫn khắc khoải. Họ vẫn cảm thấy không yên lòng nếu chỉ nhận sự giúp đỡ bên ngoài. Bà má Bến Tre hỏi một câu khó trả lời: "Lần trước từ thiện làm đường, lần này cũng từ thiện làm đường, vậy là có phước  hay vô phước...?”. 

Trước hết,  có phước hay vô phước là do nhận thức  ý nghĩa của hai chữ  “vì mình”. Có nhiều người nghĩ tới việc lợi ích của mình với quan niệm "chết là hết".  Nhiều “xót xa ân hận” đã xảy ra. Họ không nghĩ đến những người xung quanh mà chỉ chuyên tâm lo thực tế cơm gạo vì mình. Nhiều đỗ vỡ cho chính bản thân và gia đình của họ đã xảy ra. Nhận thức đó mang lại nhiều điều vô phước. Việc lợi ích cho mình phải không hại cho người và cho môi trường. Tốt  nhất, có phước nhất là lợi ích cho mình và cho mọi người. Hiểu những điều ấy là “hiểu sâu” lợi ích của mình.  Đã hiểu sâu, để có phước còn phải  “chuyên tâm” làm lợi ích cho mình. Muốn có được kho “phước đức” cần phải xây dựng từng viên gạch một. Điều ấy cần phải có một quyết tâm và một phương cách hành động đúng đắn. 

Một cái cầu bê-tông nhỏ thay thế cầu khỉ giá khoảng chừng 25 triệu đồng. Một ngàn mét đường bê-tông trong ấp giá khoảng 60 triệu đồng, vị chi 1 mét giá 60 ngàn đồng. Sẽ có phước nếu càng lúc càng nhiều người Bến Tre chịu "đổi một bữa nhậu lấy một mét đường bê tông". Sẽ có phước nếu thanh niên Bến Tre đồng lòng nghĩ tới việc đổi thì giờ rỗi chơi bi-da để treo vài cái bảng lên tường, sơn phết mái trường, giọi lại những mái nhà dột  trong ấp.  Sẽ có phước nếu những người con Bến Tre ở khắp các phương trời cũng nghĩ đến những điều cụ thể cho quê hương. Sẽ có phước nếu bạn đổi một  tô phở ở Ca-li lấy một mét đường. Sẽ có phước nếu bạn đổi một chút thời gian “bàn về nền hòa bình thế giới”,  để tạo nhân duyên thuận lợi cho những người có lòng có thể bê tông hóa một cái cầu. 

Tỉnh Bến Tre đang mong chờ sự phát triển bằng du lịch sinh thái. Sự phát triển sẽ mạnh mẽ hơn, ít tốn tiền hơn và bền vững hơn nếu nó theo định hướng “hiểu sâu” và “chuyên tâm” làm lợi ích cho mình.

Vậy nên, chúng ta phải “sống làm sao” để có thể vừa lợi ích cho mình, vừa lợi ích cho người khác. Khẩu hiệu của Omo thực sự hòa nhập với tinh thần “lá lành đùm lá rách” của dân tộc , và cũng phù hợp với tinh thần vị tha của Phật giáo. Phải “Sống làm sao”, đó  là việc mà mỗi người phải học hỏi, chiêm nghiệm và hành động để “gieo điều phúc” vào cộng đồng  và được “sung túc” cùng cộng đồng.
 
 


THIỀN VÀ Y HỌC HIỆN ĐẠI
Thierry Janssen
Nguyễn văn Nhật dịch

Từ ngày 8 đến ngày 10-11-2005, nhiều nhà khoa học nổi tiếng quốc tế đã gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhiều nhân vật quan trọng khác của giới tâm linh học để thảo luận về những nền tảng khoa học và các ứng dụng lâm sàng của phương pháp thiền định. Được tổ chức bởi Viện Tâm linh và Đời Sống (Mind and Life Institute), cuộc gặp gỡ kéo dài ba ngày này đã diễn ra tại Washington, ngay trước lúc khai mạc Đại hội thường niên của Hiệp hội Thần kinh, nơi đức Đạt Lai Lạt Ma được mời phát biểu.

Khởi đầu từ hai người: Adam Engle, luật sư và là nhà kinh doanh người Mỹ; và Francisco Varela, nhà sinh học thần kinh người Chi Lê tốt nghiệp Havard và là Giám đốc nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp (CNRS - Centre National de la Recherche Scientifique) ở Paris. Duyên cớ để họ gặp nhau chỉ là mỗi người từ lĩnh vực riêng của mình đã cùng quy y Phật pháp và cùng biết đến sự quan tâm của Đức Đạt Lai Lạt Ma đối với khoa học phương Tây. Và vào năm 1985, Joan Halifax, nhà giáo dục về Thiền Phật giáo, đã nảy ra một ý tưởng tuyệt vời là kết hợp họ lại để rồi Viện Tâm linh và Đời sống ra đời, với mục tiêu thiết lập sự đối thoại giữa khoa học và Phật giáo. Hai nền văn hóa, mỗi bên theo cách riêng của mình, đều mưu tìm việc giải thích bản chất của thực tại nhằm cải thiện hoàn cảnh của loài người. Đây thật là một dự án đầy tham vọng, vì chẳng có gì khó hơn việc đạt được một cuộc đối thoại xây dựng giữa hai nền văn hóa. Hai năm sau, cuộc gặp gỡ đầu tiên đã được tổ chức giữa đức Đạt Lai Lạt Ma và các nhà nghiên cứu trong những mật thất của vị lãnh đạo tinh thần người Tây tạng ở Dharamsala. Khoảng một chục cuộc hội thoại khác đã diễn ra ở các tiểu ban. Cho đến năm 2003, Viện Công Nghệ Massachusetts (MIT - Massachusetts Institute of Technology) lừng danh mời Adam Engle tổ chức một cuộc hội thoại tại Boston với sự có mặt của một công chúng rộng lớn. Francisco Varela qua đời vào tháng 5 năm 2001, nhưng trước đó, ông đã cảm nhận được, những cuộc đối thoại của Viện Tâm linh và Đời sống sẽ gợi nên sự quan tâm của cả cộng đồng khoa học như đã diễn ra ngày nay. 

 Cách đây hai mươi năm, vào lần họp thứ 13 của mình, các cuộc gặp gỡ khoa học-tâm linh ấy đã nhận được sự đỡ đầu của cả hai định chế hết sức nghiêm túc như Viện Đại học John Hopkins của Baltimore và Viện Đại học Georgetown của Washingto. Edward Miller, Trưởng khoa Y, Trường Đại học John Hopkins, đã phát biểu: “Nhiệm vụ của chúng tôi là tiến vào những lĩnh vực chưa khai phá và tìm hiểu những gì có vẻ như chúng ta còn chưa biết đến. Chúng tôi vẫn phải còn nhạy cảm với những vấn đề mới để có thể mang lại những giải đáp mới”. Lần này, vấn đề là việc đánh giá những cơ sở khoa học và hiệu quả lâm sàng của phương pháp thiền định, vốn là những câu hỏi mà các nhà khảo cứu Tây phương đã tự đặt ra cho mình từ lâu. Nhưng chỉ từ khi có những tiến bộ mới đây của khoa thần kinh, họ mới bắt đầu có giải đáp.

 Từ đầu thập niên 1970, nhà sinh học Jon Kabat-Zinn đã quan tâm đến sự tương tác giữa cơ thể và tinh thần. Rất nhanh, ông đã hiểu được lợi ích của việc sử dụng những kỹ thuật thiền định dựa trên khái niệm của Niệm (mindfulness: sự chú tâm hoàn toàn).  Làm dịu tâm thần để buông lỏng cơ thể. Gạt bỏ mọi ý niệm về tôn giáo ngoại lai hay phương Đông, phương pháp mà ông đề nghị được gọi theo tên khoa học là Việc giảm trầm uất dựa trên sự chú tâm hoàn toàn (MBSR - Mindfulness based stress reduction). Kabat-Zin bình luận rằng “[Đó là]  một cách để trấn an những người đa nghi. Một phương tiện để đưa thiền định vào việc thực hành lâm sàng”. Chương trình học thiền định của ông thật đơn giản: một buổi [ngồi thiền] hai tiếng rưỡi, mỗi tuần một lần, kéo dài trong tám tuần; thêm vào đó là mỗi ngày một giờ thực hành tại nhà bệnh nhân. Từ hai mươi năm qua, hơn mười lăm ngàn người đã hưởng lợi từ phương pháp thiền định  để giúp  vào việc điều trị những bệnh về tim mạch, bệnh AIDS, chứng đau mạn tính, chứng rối loạn chức năng dạ dày và ruột, chứng đau nửa đầu, chứng cao huyết áp tĩnh mạch, chứng mất ngủ, sự lo âu, sự hoảng loạn… Dựa vào những thành công ấy, phương pháp giảm trầm uất dựa trên sự chú tâm hoàn toàn (MBRS) ngày nay được giảng dạy cho sinh viên ở hai mươi chín phân khoa Y học trên toàn nước Mỹ. "Điều này làm thay đổi mối quan hệ giữa thầy thuốc với bệnh nhân”, Jon Kabat-Zinn đã giải thích với Đức Đạt Lai Lạt Ma như vậy. Càng lúc những nghiên cứu lâm sàng càng chứng tỏ lợi ích của phương pháp này. 

 Richard Davidson, Giáo sư tâm lý học và tâm thần học thuộc đại học Wisconsin, người đứng đầu một phòng thí nghiệm siêu hiện đại, nơi những máy ghi nhận cảm biến bằng điện và những máy ghi hình bằng sự cộng hưởng từ về phương diện chức năng cho phép ông ghi nhận những hoạt động của não bộ trong thời gian thực tế. Nhờ vậy, ông có khả năng chỉ ra rằng việc thiền định đều đặn làm tăng hoạt động của phần phía trước bán cầu não trái,  vùng có liên hệ với việc kiểm soát các cảm xúc tích cực, và do đó liên kết với khả năng phòng thủ miễn dịch. Sau hai tháng, một cuộc thử nghiệm về chủng ngừa cho thấy kháng thể được tạo ra ở những người thực tập thiền định đều đặn cao hơn hẳn so với ở những người chưa bao giờ ngồi thiền. 

 Trong một cuộc khảo cứu khác có sự tham gia của tu sĩ Phật giáo người Pháp Mathieu Ricard, Richard Davidson, và Antoine Lutz, các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng, so với hoạt động não bộ của những người ít có thói quen ngồi thiền, hoạt động não bộ của những tu sĩ có hơn mười ngàn giờ thiền định sản sinh ra rất nhiều tia gamma. Theo Wolf Singer, Giám đốc Viện Max Planck ở Frankfort cũng có mặt tại Washington vào lúc đó cho rằng, tia gamma làm tăng tính mạch lạc trong các hoạt động của não bộ, làm tăng diện tích não bộ để tạo sự đồng bộ trong các chức năng của chúng và làm tăng trình độ nhận thức của những người có thói quen thiền định. Hiển nhiên, người ta có thể cho rằng điều đó có nguồn gốc từ thiên hướng của các tu sĩ chứ không hẳn đã là hậu quả của sự chuyên cần ngồi thiền. Để trả lời cho giả thiết này, Lutz và Davidson đã so sánh sự “biểu diễn” giữa các tu sĩ có thời gian ngồi thiền trên bốn mươi ngàn giờ với những tu sĩ chỉ thực hành khoảng mười ngàn giờ. Kết quả, vị tu sĩ nào có thời gian ngồi thiền càng lâu, lượng tia gamma phát hiện được trong não bộ của vị đó càng nhiều, và điều đó độc lập với tuổi tác của họ. Wolf Singer kết luận rằng: “Có vẻ như sự luyện tập về tâm thần tạo ra một trạng thái tâm thức bén nhạy hơn và một tinh thần trong sáng hơn”. Mathieu Ricard nhận định: “Trải qua một thời gian thiền định tách biệt với cuộc đời rõ ràng chuẩn bị cho một hành động công bình hơn và vị tha hơn trong cuộc đời”.

Như vậy, nhận thức trung tâm trong cuộc gặp gỡ ấy của Viện Tâm linh và Đời sống là nhận thức về tính linh động của não bộ. Sự phát hiện cũng là tương đối mới: những nối kết thần kinh, tùy trường hợp, hoặc biến mất, hoặc ngược lại tự tạo ra hay tự tăng cường. Và Richard Davidson đã nhấn mạnh, những kết quả có được với việc thiền định chứng tỏ rằng những tín hiệu thuần túy tâm linh đủ để phát động hiện tượng. Một số những biến đổi xuất hiện trong vài phút hay vài giờ. Những biến đổi khác, sâu sắc hơn, chiếm nhiều thời gian hơn. Vậy là, tính kỷ luật và sự thực hành - những yếu tố căn bản của mọi cuộc vận động tâm linh - không chỉ ảnh hưởng đến tư tưởng, chúng còn thực sự gợi ra những sự điều chỉnh trong việc sắp xếp lại các tế bào của não bộ, và một điều không tránh khỏi là hiện tượng này kết thúc bằng việc lan tỏa khắp sự vận hành của cơ thể. Esther Stenberg lưu ý: “Trong ngôn ngữ Tây Tạng không có từ nào để nói về sự trầm uất (stress)” . Thế nhưng, chính trầm uất lại là nguồn gốc của vô số những nỗi thống khổ của chúng ta cả về mặt tâm lý lẫn vật lý: sợ hãi, lo âu, căng thẳng, đau đớùn, hung hăng và bạo lực. John Teasdale, nhà nghiên cứu tâm lý học ở Cambridge nhận thấy rằng: “Con người thực sự được lợi khi học để điều hòa sự chú tâm, làm dịu cơn sợ hãi, và phát triển một thái độ thản nhiên của họ đối với những biến cố của cuộc đời”. Vì vậy, Đức Đạt Lai Lạt Ma nhắc nhở: “Mục đích chính của những cuộc đối thoại tại Viện Tâm linh và Đời sống là giúp cho nhân loại không còn là con mồi của bạo lực”. Tuy nhiên, Jan Chosen Bays lo âu cho rằng: "Bạo lực được nuôi dưỡng bởi phương tiện truyền thông”, khi ông liên hệ đến một thực tế là bộ não của chúng ta không thể ngốn ngấu quá nhiều nỗi đau khổ như thế. Ngày xưa, con người cần phải đối diện với những khó khăn của cái bộ lạc nhỏ bé của họ. Ngày nay, vô tuyến truyền hình đã buộc chúng ta phải đối mặt với những nỗi bất hạnh của toàn thể thế giới. 

 Theo ý kiến của nhiều chuyên gia có mặt tại Washington, sự hiểu biết về cơ chế thần kinh của phương pháp thiền định cho phép đặt những nguyên tắc của phương pháp này vào thái độ ngừa bệnh và chiến lược chữa bệnh của chúng ta. Ralph Snyderman, giáo sư Y khoa và cựu viện trưởng viện đại học Duke phát biểu: “Tất cả chúng ta đều đã vay mượn những con đường mòn khác nhau để đến được đây. Nhưng chúng ta hy vọng sẽ tìm thấy những phương tiện làm giảm những nỗi thống khổ của mình. Và chúng ta đều biết rằng chỉ công nghệ không thôi thì chưa đủ”. Dù không phủ định những thành tựu của y khoa khoa học, hình như đã đến lúc phải góp thêm vào cho nền y học hiện đại những phương pháp dẫn xuất từ những kinh nghiệm cổ truyền của loài người. Jan Chosen Bays, thông thạo cả hai nền văn hóa khoa học và tâm linh, đã nói rõ: “Nếu đã chứng minh được rằng việc rút lui vào trong trạng thái thiền định có thể giúp chữa lành chứng trầm cảm, thì cũng cần thấy rằng một loại thuốc chống trầm cảm đôi khi cần thiết để giúp một bệnh nhân thoát khỏi vực thẳm trước khi thực hành thiền định”. Một viên chức của Bộ Giáo dục Hoa kỳ ngồi bên cạnh tôi trong suốt cuộc thảo luận đã nói riêng với tôi: “Đối diện với những vấn đề về sự chú tâm và tính khí hung hăng mà chúng tôi vẫn gặp phải trong hệ thống trường học của Hoa kỳ, có thể chúng tôi phải đưa việc giáo dục thiền định vào chương trình học ngay từ những lớp tiểu học”. Rõ ràng đây chính là điều mà Richard Davidson đã mong mỏi khi ông tuyên bố rằng: “Một ngày nào đó, bên cạnh việc giáo dục thể chất, con em của chúng ta có thể được hưởng lợi nhờ học thêm về giáo dục tinh thần và tâm linh". Thật vậy, điều quan trọng là minh định rằng vấn đề tâm linh ở đây chỉ thuần túy là khái niệm, không liên quan gì với những thiên kiến tôn giáo. Đức Lạt Lai Lạt Ma xác định: “Vấn đề ở đây không phải là chuyện niềm tin và tín ngưỡng, mà là sự quan tâm về đạo đức và tinh thần. Trách nhiệm của chúng ta ở chỗ đã là người thì ta phải sử dụng sự thông minh của mình để hiểu được bản chất và sự vận hành của tâm trí”. Việc minh định này có thể trấn an được những khoa học gia hay ngờ vực luôn đòi hỏi khoa học phải giữ được sự độc lập trước mọi ảnh hưởng tôn giáo. Cuộc tranh luận hết sức sôi nổi. Một số thầy thuốc và nhà nghiên cứu đã đệ trình một bản kiến nghị chống lại việc Hiệp hội Thần kinh mời Đức Đạt Lai Lạt Ma đọc diễn văn khai mạc Đại hội khai diễn tại Washington chỉ vài ngày sau các cuộc gặp gỡ của Viện Tâm linh và Đời sống. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã khẳng định trước đại hội của các nhà thông thái: “Nếu khoa học chứng minh được những niềm tin nào đó của Phật giáo là sai lạc thì Phật giáo sẽ điều chỉnh những niềm tin ấy”. Nhưng phải nhìn nhận rằng những kết luận dẫn xuất từ kinh nghiệm ngàn đời của Phật giáo hoàn toàn ứng hợp với những kinh nghiệm đã sản sinh ra phương pháp khoa học. Và vì cả hai khảo hướng nuôi dưỡng cùng một khát vọng giúp cho sự tiến hóa của nhân loại, cho nên hoàn toàn hợp lý để thấy hai khảo hướng ấy thống nhất các cố gắng của mình. 

Vậy là, thiền định, một phương pháp thực hành tâm linh ngàn đời, đang trên đường trở thành một phương thức chữa trị cho những chứng bệnh của xã hội hiện đại, và được xem là đã đi trước thời đại. 

Tác giả bài tường thuật này, Thierry Janssen là bác sĩ giải phẫu, chuyên gia thần kinh trị liệu, tác giả các sách Le Travail d’une vie (Công trình một đời, NXB Robert Laffont, 2001), Vivre en paix (Sống trong hòa bình, NXB Robert Laffont, 2003), La Solution Intérieure. Vers une nouvelle médecine du corps et de l’esprit (Giải pháp từ bên trong, hướng đến một nền y học mới về thể chất và tinh thần, NXB Fayard, 2006). 
 
 


HOÀNG ĐẾ VÀ NGƯỜI THI SĨ
Cao Huy Thuần

Khi nghe tin người thi sĩ ấy mất, cả thủ đô rúng động. Trong một thoáng, mọi người ai cũng nghĩ như ai: chưa có nhà thơ nào lớn hơn thế. Như một cây đại thụ mênh mông, người ấy tỏa bóng mát trong hơn nửa thế kỷ trên vườn hoa tư tưởng đơm bông mới. Thơ của người ấy vang dội trên mỗi bước dựng xây của nền Cộng Hòa, trên mỗi chiến thắng, mỗi thất bại của dân chủ. Với ông, lịch sử biến thành thơ. Với thơ, ông phất cờ cho tự do, công lý. Bàn tay của ông nóng trong bàn tay của người cùng khổ. Tiếng nói của ông đập trong ngực của bất cứ ai yêu mến tự do. Ngày 22 tháng 5 năm 1885, khi ông ngừng thở, dường như người ấy đang thở trong tim của mọi người. Người ấy là Victor Hugo. 

Sáng sớm chủ nhật 31 tháng 5, quan tài của ông được chở đến Khải Hoàn Môn truớc đám đông dân chúng đã đứng chờ suốt đêm tại đó. Như lúc ông còn sống, họ hoan hô: "Victor Hugo muôn năm!". Một tấm màn đen mênh mông phủ trên Khải Hoàn Môn, nhấp nhánh tên những tác phẩm của người thi sĩ. Trên các nẻo đường đổ vào Khải Hoàn Môn, hàng trăm ngàn người kéo đến diễn hành không ngớt  trước quan tài. 

Suốt cả ngày hôm đó cho đến nửa khuya, đại lộ Champs-Elysées tràn ngập người, Khải Hoàn Môn được thắp sáng với hai hàng kỵ binh cầm đuốc. Tờ mờ năm giờ sáng hôm sau, mồng một tháng sáu, dân chúng lại nườm nượp kéo đến, kèn lại thổi vang, vòng hoa lại phủ một núi hoa chung quanh quan tài. Đúng 11 giờ, 21 phát súng đại bác nổ vang, báo hiệu lễ chính thức. Quân nhạc trỗi bản tang hành của Chopin. "Đây không phải là đám tang; đây là lễ đăng quang của vua chúa": ai đó, từ một bài diễn văn, đã nói lên đúng ý nghĩ của mọi người. 

Lễ "đăng quang", người thi sĩ ấy đã nhận từ lúc còn sống. Ngày 25-12-1881, Thủ tướng Jules Ferry đích thân đến viếng ông tại nhà riêng, mang quà tặng sinh nhật 80 tuổi của Chính phủ. Ngày 27, đúng ngày sinh nhật, dân chúng lũ lượt diễn hành trước gian nhà được trang hoàng đèn hoa, hoan hô vang dậy tên tuổi của ông. Vòng hoa thi nhau móc vào tường: "Tặng người thi sĩ, tặng nhà triết gia, tặng người chiến sĩ tranh đấu cho công lý của các dân tộc". Hết đoàn đại biểu này đến đoàn đại biểu khác của các thành phố, của các tỉnh, lần lượt bước vào nhà, giữa tiếng hoan hô vang dậy. Diễn hành, dàn nhạc, dàn ca, và hoa, và hoa, và hoa phủ lên nhau chật nhà, chật ngõ, từ sáng đến đêm, giữa trời tuyết, và người, và người, và người chen nhau, đủ mọi thành phần, mũ dạ của trưởng giả chen với cát-két của thợ thuyền, học sinh chen với binh lính, tay chen tay vẫy lên cửa sổ. Quà tặng, huân chương, sách, báo, chen nhau đưa đến tận tay người nhận. Trên tóc bạc của người thi sĩ ấy, dường như mở ra rạng đông của thời đại mới mà vầng trán kia đã không ngớt mơ tưởng bằng thơ văn, bằng hành động.

Bằng thơ văn và hành động: Victor Hugo ngự trị trên thế kỷ của ông là vì thế. Văn thơ của ông là khí giới sắc bén trong cuộc đấu tranh chính trị sắt máu, triền miên từ cách mạng tư tưởng 1789 đến sau cách mạng xã hội 1848, với quần chúng thấp hèn vươn lên nắm lấy vận mệnh của mình. Đưa thơ vào chính trị, ông thổi khí thế cho quần chúng. Làm chính trị với uy lực của thơ, ông tạo chấn động trong nghị trường. Thơ của ông kích thích như bài hịch. Dấn thân của ông ngay thật, bất khuất. Ông là lương tâm của thế hệ cộng hòa, chiến sĩ của tự do, nhà tiên tri của nhân loại, kẻ tiên phong của Âu châu hợp nhất, người bênh vực giới khốn cùng. Tất nhiên ông có địch thủ. Trong giới nhà thờ. Nơi phe bảo hoàng, quân chủ. Nhưng ông càng cao, địch thủ của ông càng thấp.

Đâu phải người thi sĩ này sinh ra và lớn lên giữa lòng của khuynh hướng cấp tiến! Ngược lại, gia đình ông mang truyền thống Thiên Chúa giáo và bảo hoàng. Ông bắt đầu sự nghiệp văn thơ và chính trị dưới bóng lá cờ trắng của phe quân chủ. Cuộc sống trước mắt và kinh nghiệm chính trị máu xương xoay tầm nhìn của ông về chân trời khác, rất sớm. Vở kịch Cromwell, viết xong năm 25 tuổi, mở đầu cách mạng lãng mạn trong kịch nghệ, cởi trói cho bi kịch thoát khỏi những quy tắc cổ điển. Ông tuyên bố tự do trong nghệ thuật, đưa nhân vật trong kịch trở về với đời sống thực, với con người thực, con người toàn diện, gồm cả cao thượng lẫn thấp hèn. Cùng với kịch và thơ, ông viết xong một truyện ngắn xứng đáng được xem như phát súng đầu nổ vào thành trì bảo thủ kiên cố nhất, không phải của ngày hôm qua mà cả ngày nay: "Ngày cuối cùng của người tử tù". Rất sớm, Victor Hugo đi trước thời đại; từ đó cho đến cuối đời ông không để lỡ một dịp nào để đòi hỏi chấm dứt tội tử hình. Cái gì đã đưa ông đến thái độ quyết liệt như vậy? Một kỷ niệm mà ông kể lại 40 năm sau, năm 1862:

"Tại Paris, năm 1818 hay 19, một ngày hè, vào khoảng trưa, tôi đi ngang qua trước tòa án. Một đám đông vây quanh một cột trụ. Tôi đến gần. Một thân hình người, không biết đàn bà hay con gái, bị trói vào cột trụ, gông quàng trên cổ, bảng đội trên đầu. Dưới chân của thân hình người ấy, một lò lửa cháy rực than hồng, một miếng sắt cán gỗ vùi trong than, đỏ ửng, đám đông có vẻ hài lòng. Người phụ nữ ấy phạm cái tội mà luât lệ gọi là ăn cắp của chủ và ngôn ngữ thông thường gọi là tính thêm tiền chợ. Đồng hồ điểm 12 tiếng. Thoắt nhiên, từ phía sau tội nhân, một người đàn ông vọt ra, leo lên thang chém. Trước đó, tôi để ý thấy chiếc áo ngắn của người phụ nữ bị tách ra hai vạt, buộc lại sau lưng bằng sợi dây. Người đàn ông nhanh nhẹn mở dây, vén áo lên, lột trần lưng của người đàn bà đến eo, vớ lấy miếng sắt trong lò lửa dí sâu vào chiếc vai trần. Một màn khói trắng bốc lên, phủ mờ miếng thép và bàn tay của tên đao phủ. Hơn 40 năm sau, tai tôi vẫn còn nghe và lòng tôi còn chấn động tiếng thét hãi hùng của người bị hình phạt. Từ kẻ ăn cắp, người phụ nữ trong tôi đã trở thành người tử đạo. Tôi ra khỏi đám đông, lòng quyết tâm chống lại đến cùng những hành động tai hại của luật lệ. Lúc đó, tôi 16 tuổi".

Tháng 6 năm 1848, quần chúng nổi loạn. Cuộc vùng dậy bị dập tắt trong máu. Victor Hugo xông trận trên khắp chiến tuyến: đòi tự do chống lại thiết quân luật ; đòi tương trợ xã hội chống lại nghèo khốn; đòi chủ quyền cho nước Ý chống lại quyền hành chuyên chế của giáo hoàng; đòi giáo dục tiểu học trung lập chống lại trường học lệ thuộc giáo quyền; đòi phổ thông đầu phiếu chống lại đầu phiếu hạn chế. Người thi sĩ trở thành chiến sĩ của phe xã hội. Đảo chánh quân chủ tháng Chạp năm 1851 đẩy ông ra khỏi nước Pháp, mở đầu cuộc đời lưu đày kéo dài gần hai chục năm. Đây là giai đoạn phong phú nhất trong sáng tác của ông. Hầu hết các tác phẩm danh tiếng nhất ra đời trong khoảng thời gian này, đáng kể nhất, đối với độc giả Việt Nam, là tập tiểu thuyết "Những người cùng khổ". Trong một lời tựa gởi đến nhà xuất bản năm 1862, ông viết:

“Cho đến khi nào, bằng luật lệ và phong tục, xã hội bày đặt ra một cách giả tạo, giữa nền văn minh đang nẩy nở, những địa ngục để đày đọa con người, làm con người lầm tưởng rằng vận mạng của mình, vốn linh thiêng, đã được an bài từ trước; cho đến khi nào ba vấn đề của thế kỷ - con người bị rơi tụt xuống hàng vô sản, phụ nữ bị mất phẩm cách vì đói, trẻ em teo tóp vì đêm khuya - chưa được giải quyết; cho đến khi nào, trong nhiều nơi, con người vẫn còn có thể bị bóp ngạt trong xã hội; nghĩa là, nói rộng hơn, cho đến khi nào trên mặt đất còn ngu dốt và khốn cùng, những quyển sách như quyển truyện này vẫn còn ích lợi". 

Ông viết thêm trong một thư gởi Lamartine cùng năm : 

“Vâng, thế đấy, tôi muốn hủy diệt số phận an bài; tôi kết án chế độ nô lệ, tôi xua đuổi nghèo khổ, tôi dạy cho sự dốt nát, tôi chữa cho bệnh tật, tôi thắp đèn cho đêm khuya, tôi căm thù sự căm thù. Tôi là như vậy, và đó là lý do tôi viết “Những người cùng khổ". Trong suy nghĩ của tôi, đây là quyển truyện lấy tình huynh đệ làm gốc, lấy tiến bộ làm ngọn".

Đó chưa phải là xã hội chủ nghĩa. Chỉ xã hội thôi đã quá đủ để phe hữu mạt sát, la ó, tố cáo người thi sĩ ấy phun nọc độc cách mạng. “Đả đảo Jean Valjean!”, “Giết chết Jean Valjean!”, giới bảo thủ ở Bruxelles, nơi ông lưu vong, còn ném hằn học vào cửa sổ nhà ông mười năm sau khi quyển truyện ra đời. Họ đồng hóa ông với Jean Valjean, nhân vật trong truyện, người tù bị đày khỏi xứ. Nhưng Jean Valjean là hiện thân của công lý dưới ngòi bút của Victor Hugo. Vượt ngục, trở về nước, đổi tên, sống cuộc đời thánh thiện, giúp người nghèo, nâng đỡ thợ thuyền, được yêu mến, được kính trọng, bỗng một hôm Jean Valjean nghe tin cảnh sát bắt được một tội nhân vượt ngục tên là ... Jean Valjean. Làm gì bây giờ? Tiếp tục sống đời thánh thiện, cứu giúp đồng loại, mặc người kia hàm oan, hay nhận lãnh trách nhiệm, tránh bất công? Jean Valjean lựa chọn công lý. Ông tự nộp mình cho cảnh sát. Nhưng hành động đạo đức cao thượng ấy cũng là hiện thân cao nhất của tự do, bởi vì tự do cụ thể nhất, cơ bản nhất, là tự do lựa chọn. Sống vì tự do, chết vì tự do, con người phải có tự do lựa chọn: đó là thông điệp hùng vĩ nhất của Victor Hugo, trong "Những người cùng khổ" cũng như trong tất cả tác phẩm và hành động chính trị của ông.

*

Chính tư tưởng đó đã khiến Victor Hugo lựa chọn đời sống lưu vong thay vì chấp nhận ân xá của một chế độ độc tài. Cũng chính tư tưởng đó đã khiến ông thay đổi thái độ đối với Napoléon, thần tượng của ông lúc trẻ. Napoléon! Có ai lớn hơn vị thần ấy? Núi, sông, đồng bằng, lâu đài, kinh đô, trận mạc, Đức, Ý, Áo, Phổ, Nga, giáo hoàng, tất cà Âu châu, cho đến tận Ai Cập xa xăm, huyền bí, tất cả đều nằm rạp dưới vó ngựa của hoàng đế. Napoléon! Như hình vẽ từ ngón tay đứa bé trên cát / Từng đế quốc ngổn ngang xóa sạch dưới chân người. Napoléon! “Không có môt cái đầu nào, dù cao lớn, ngạo nghễ đến đâu đi nữa, mà không cúi chào vầng trán kia, trên đó rõ ràng bàn tay của Trời đã đặt hai vương miện, một làm bằng vàng mà người ta gọi là vương hiệu, một làm bằng ánh sáng mà người ta gọi là thiên tài". Napoléon! Người ngự trị trên thời đại chúng tôi, thiên thần hay quỷ dữ không cần biết / Cánh ó của Người mang chúng tôi phiêu du khắp chốn, ngất ngây".

Đó là Napoléon thần thánh của Victor Hugo lúc trẻ, ngôi sao dẫn đường trong đêm tối trước khi trở thành mặt trời chiếu sáng cho thế kỷ mở đầu. Vầng ánh sáng đó rạng rỡ quá, che khuất hẳn mặt tối của ông thần nhưng không xóa được. Mặt tối ấy là tham vọng, độc tài. Tham vọng làm tanh máu trên bàn tay của ông. Máu của hơn 800.000 xác chết vất trên khắp chiến trường. Máu của 3000 lính Thổ đầu hàng ở Jaffa năm 1799 mà ông hạ lệnh bắn chết sạch. Sạch! Giữa sa mạc, chỗ đâu mà chứa? Quang cảnh hàng ngày trước mắt ông là hàng ngàn, hàng chục ngàn thi hài hấp hối, thối rữa. Bài học vỡ lòng của ông là phải có trái tim sắt, không biết cảm động: bản chất của sự vật, theo ông, là như vậy. Suốt đời, ông đi trên máu và thịt ; ông lấy máu làm mực để viết lịch sử. Lịch sử của tham vọng, của ước mơ trong đầu ông. Ông hô to: "Ta đưa các ngươi đến những cánh đồng phì nhiêu nhất thế giới". Cánh đồng này rồi cánh đồng khác, lính của ông tha hồ cướp bóc, và giết, và chết. 

Ông áp dụng "bản chất của sự vật" đó vào chính trị: sẵn sàng giết không động lòng. "Chính người lính dựng xây Cộng Hòa; thanh gươm là trục quay của thế giới", ông tuyên bố. Cho nên, tướng biên cương, ông cưỡi gươm về kinh đô đảo chánh ngày 18 Mãn Thu. Ông đoạt quyền. Ông ngồi trên gươm để cai trị. Ông dạy: "chính trị không có tim, chỉ có đầu". Chống đối, ông dẹp. Hiến pháp, ông sửa. Địch thủ - quận công d’Enghien - ông bắt cóc, ông bắn. Ông thổ lộ: "Từ toàn thắng đến sụp đổ, chỉ một bước thôi. Bao giờ cũng vậy, một chuyện cỏn con, vô nghĩa lý, chợt đến, quyết định những sự việc trọng đại". Tay độc tài nào cũng sợ những “chuyện cỏn con” như vậy. Cho nên đã nắm trọn vẫn cứ muốn nắm trọn hơn nữa quyền hành: ông dẹp luôn chế độ cộng hòa. Từ Bonaparte, ông trở thành Napoléon hoàng đế. Ôi, cay đắng cho bao nhiêu hy vọng đặt vào ông để bảo vệ gia tài của cách mạng lúc đầu! "Bonaparte đập nát tự do bây giờ, nhưng ông sửa soạn tự do cho ngày mai bằng cách kiềm chế cách mạng và tiếp tục tận diệt những gì còn sót lại của nền quân chủ hôm qua. Ông cày bừa cánh đồng ngổn ngang xác chết và phế tích : chiếc cày lực lưỡng của ông được Vinh Quang kéo đi, đào sâu trong đất những luống cày từ đó những hạt giống tự do sẽ mọc". Ôi, ngây thơ! Ngây thơ ngủ ngon với nhung y của Bonaparte và thức dậy với cái vương miện trên đầu hoàng đế. 

(Xem tiếp VHPG số 15)
 



QUAN ÂM THỊ KÍNH
HÌNH ẢNH ĐẸP CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
Trần Phước Thuận

Truyện Quan Âm Thị Kính không rõ xuất hiện từ thời nào, do ai sáng tác, chỉ biết lúc đầu nó vốn là khúc hát chèo gồm nhiều đoạn, được hát theo các điệu kể hạnh, hát kệ, hát cách..., về sau mới có truyện thơ Quan Âm Thị Kính ra đời... 

Nếu đem so sánh ta thấy, ngôn từ trong khúc hát chèo rất bình dị và tự nhiên, rõ ràng là khúc hát của dân quê; còn truyện thơ thì được viết bằng thể thơ lục bát, mang nhiều ý nghĩa thâm thúy của Nho và Phật, chắc chắn phải do một người có học thức sáng tác. 

Đa số các bản chèo Quan Âm Thị Kính còn lưu lại đến hôm nay đều là những bản viết tay, ngoại trừ một bản chữ Nôm được khắc in vào cuối thế kỷ XIX và một bản in bằng chữ quốc ngữ do Vũ Khắc Khoan giới thiệu, Nhà Xuất bản Đào Tấn (Sài Gòn) ấn hành năm 1966. Bản truyện thơ Nôm được in bằng chữ quốc ngữ lần đầu tiên vào năm 1911, do bà Phan Thị An phiên âm và hiệu đính, tất cả gồm 788 câu thơ lục bát và một lá thư của Kính Tâm để lại cho cha mẹ được viết theo lối văn biền ngẫu. Tuy hình thức có khác nhau nhưng nội dung của tích chèo và truyện thơ Quan Âm Thị Kính vẫn là một, nhân vật chính vẫn là Thị Kính, một hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm. Đại ý cốt truyện cũng gần giống nhau như sau: 

Ngày xưa, có một chàng trai tu hành đã chín kiếp, đến kiếp thứ mười lại sinh làm con gái trong một gia đình họ Mãng ở huyện Hồ Nam, quận Lũng Tài, thành Đại Bang, nước Cao Ly. Nàng tên là Thị Kính, một người con gái rất đẹp, đoan trang, bản tánh hiền hậu, lớn lên được cha mẹ gả cho một nho sinh họ Sùng, tên Thiện Sỹ. 

Vào một đêm nọ, Thiện Sỹ đọc sách mệt mỏi vừa ngả lưng xuống ngủ, Thị Kính đang ngồi bên cạnh may vá bỗng thấy dưới cằm của chồng có một chùm râu mọc ngược rất khó coi, liền đưa kéo định cắt bỏ đi. Thiện Sỹ bỗng giật mình thức giấc, tưởng vợ định giết mình bèn la lớn lên. Thị Kính hết lời phân giải nhưng vẫn bị Thiện Sỹ đuổi ra khỏi nhà. Chán nản vì nhân tình thế thái, nàng đã cải trang thành nam đi đến một nơi thật xa. Cuối cùng nàng vào một ngôi chùa nọ (chùa Vân) xin xuất gia, được thầy đặt cho pháp danh là Kính Tâm. Ở gần chùa có một người con gái tên là Thị Mầu, con của một phú ông thường lui tới, thấy Kính Tâm đẹp người đẹp nết đã đem lòng si mê, nhiều lần cố tình quyến rũ nhưng trước sau đều bị Kính Tâm chối từ lẩn tránh. Thị Mầu vô cùng tức giận. Sau đó, ả lỡ có thai hoang với một đứa tớ trai, bèn đem việc này đổ tội cho Kính Tâm, vì thế mà Kính Tâm đã bị làng nước khảo tra hết sức tàn nhẫn. Cuối cùng, sư cụ chùa Vân phải đem tiền nộp phạt cho làng để chuộc nàng về, cho làm căn chòi phía ngoài cổng chùa để ở.

Thị Mầu sau khi hạ sinh được một con trai liền đem bỏ trước căn chòi của Kính Tâm. Lúc đầu Kính Tâm rất bối rối, nhưng rồi do lòng từ bi nên nàng đã đem đứa bé vào nhà nuôi dưỡng, ngày ngày lại phải ẵm “con” vào làng xin sữa, mặc cho mọi người mỉa mai. Thật không có nỗi đắng cay tủi nhục nào bằng cái cảnh mà Kính Tâm phải chịu đựng hơn mười năm trời để nuôi đứa bé. Thế rồi, lúc đứa bé chưa đến tuổi trưởng thành thì Kính Tâm từ giã cõi đời. Trước khi chết, Kính Tâm đã viết một bức thư để lại cho cha mẹ và một bức gởi cho sư cụ trụ trì kể rõ mọi sự tình. Mọi người bấy giờ mới vỡ lẽ ra Kính Tâm là gái, lập tức thiết đàn tràng cầu siêu cho nàng. Trong lúc cầu nguyện, mọi người bỗng nhìn thấy Đức Phật Thiên Tôn hiện ra trên vừng mây ngũ sắc, truyền cho Kính Tâm được làm Phật Quan Âm. Sư cụ chùa Vân (theo tích chèo) lúc đó đã hát theo điệu kể hạnh rằng:

Nay Bà Thị Kính hóa duyên
Nam mô Phật độ vô biên hằng hà
Hóa thân được cả mẹ cha
Kìa là bạn cũ, nọ là con thơ
Thế gian trông thấy sờ sờ …”.

Theo tích chèo thì câu chuyện dừng lại ở đó, nhưng truyện thơ thì đi xa hơn: Thị Mầu phải đền tội, phải để tang, phải trả chi phí lập trai đàn; cha mẹ của Thị Kính cùng Thiện Sỹ đến kịp, tất cả đều thấy cảnh Phật hiện ra truyền cho Kính Tâm thành Phật; ông bà họ Mãng và đứa bé cũng được lên tòa sen, còn Thiện Sỹ bị hóa thành chim vẹt đứng hầu một bên... 

Trong truyện thơ Quan Âm Thị Kính, cảnh đó được tả lại như sau:

Giữa trời một đóa tường vân 
Đức Thiên Tôn hiện toàn thân xuống đàn...
Truyền cho nào tiểu Kính Tâm
Phi thăng làm Phật Quan Âm tức thì
Lại thương đến đứa tiểu nhi 
Lên tay cho đứng liền khi bấy giờ
Kìa như Thiện Sỹ lờ đờ
Cho làm chim vẹt đứng nhờ một bên
Độ cho hai khóm xuân huyên
Ra tay cầm quyết bước lên trên tòa 
Siêu thăng thoát cả một nhà
Từ đây phúc đẳng hà sa vô cùng”.

Như vậy, ngoài việc đề cao các hạnh trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục thuộc lục độ Ba la mật của Phật giáo, cả tích chèo và truyện thơ Quan Âm Thị Kính còn đề cập đến một vấn đề khác cũng hết sức quan yếu, đó là quan niệm về đạo hiếu. Nhưng quan niệm hiếu ở đây đã vượt xa chữ hiếu của nhà Nho, không chỉ gói gọn trong việc đối xử chăm sóc cha mẹ, mà phải tìm mọi cách để độ thoát cho cha mẹ khỏi vòng sinh tử luân hồi. 

Nhìn chung, tích chèo và truyện thơ Quan Âm Thị Kính là những tác phẩm văn học dân gian rất có giá trị cả về nội dung tư tưởng lẫn phương thức thể hiện, là sự kết hợp tự nhiên, nhuần nhị giữa giáo lý nhà Phật với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Các tình tiết được hư cấu trong truyện Quan Âm Thị Kính tuy còn mang nhiều yếu tố huyền thoại, nhưng nội dung xuyên suốt của nó lại rất phù hợp với tinh thần vị tha của Phật giáo.
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 14 -THÁNG 3 2006


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)