Tâm
Sự Với Một Người Thân Đã Chia Tay
Kỳ
2:
Yêu
cái Đẹp cũng như yêu Chân lý
Võ
Xuân Hân
Một
số quan điểm về nghệ thuật, về vai trò của nó, cùng một
số khía cạnh trong cái nhìn về thân phận mà Chỉ đã thể
hiện quá đỗi tài tình trên khung vải bố hay khung giấy.
Tôi cảm động khi nhận thức được con người nhân bản
trong con người nghệ sĩ hăng say của Chỉ, thể hiện bằng
tư tưởng và hành động bên trong lẫn bên ngoài nghệ thuật...
Nếu
đất Phú Xuân là chiếc nôi của nhiều anh hùng hào kiệt,
ngược lại, nó có ít kẻ sĩ-lồng-nghệ sĩ. Qua các hành
động dũng cảm để chống đối các sự kỳ thị áp bức
trong kỳ pháp nạn của Phật Giáo Việt Nam, Chỉ là một trong
những người đã xóa mờ biên giới giữa kẻ sĩ và nghệ
sĩ. Từ trong tù, Chỉ đã giám dùng ngòi bút làm khí cụ đấu
tranh cho công bằng, cho tự do. Do đó có thể nói nghệ thuật
của Chỉ là nghệ thuật sống, nghệ thuật dấn thân. Trong
một cuốn sách đẹp về lịch sử hội hoạ và điêu khắc
Việt Nam của Nhà Xuất bản Thế Giới Hà Nội (100 Vietnamese
Painters and Sculptors of the 20th Century, 1996), ở trang 323 nói về
tiểu sử của họa sĩ Bửu Chỉ, Chỉ đã ghi mấy chữ giản
dị nhưng đầy ý nghĩa như sau: “Để nhớ một người học
trò khởi đầu bằng Luật, kết thúc bằng hội họa.
Âu cũng là một định mệnh - Yêu cái đẹp cũng như yêu sự
công bằng”. Đấy, mấy chữ cuối trong lời đề tặng mà
Chỉ đã dành cho tôi cứ nhảy múa trong đầu óc tôi mỗi
khi nghĩ đến Chỉ. Nhưng nếu bầu máu nóng sôi sục trong
huyết quản Chỉ, lý tưởng, lòng yêu công bằng đã đưa
Chỉ vào con đường hành động trong thời loạn, thì trong
thời bình, khi bom đạn đã ngưng xé nát quê hương, khi anh
em bắc nam một nhà đã ngồi lại với nhau, lòng yêu công
bằng tha thiết đó đã đưa Chỉ đến vài sự hoài nghi lớn
về thời thế. Chỉ, cũng như Sơn, hai bạn thân thiết, là
một trong những nghệ sĩ miền Trung đầu tiên hăng hái tham
gia vào niềm vui chung khi quê hương tưng bừng mở tiệc liên
hoan “...từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay...” sau cơn ác
mộng hãi hùng. Chúng ta là những kẽ đã sung sướng và tự
hào với một đất nước đã thanh bình, đã dành lại được
độc lập và thống nhất cho giang sơn gấm vóc, cho một gia
tài vô giá mà tiền nhân ta đã dày công gầy dựng và để
lại. Nhưng bên cạnh niềm hân hoan lớn đó, Chỉ đã có lần
hé cho tôi thấy một dư vị nửa chua chát nửa đắng cay qua
kinh nghiệm đời mình.
Trong
các dịp gặp gỡ với các anh chị em cựu sinh viên trường
Luật tại Huế cũng vào hồi 1997, Chỉ đã chung vui hết mình
với nhiều bản đơn ca và đồng ca, tay luôn luôn gảy cây
đàn guitare cũ kỹ đã rè tiếng, giọng ca có khi pha lẫn cả
hơi men. Trong các kỷ niệm khó quên đó, tôi còn nhớ đôi
lần Chỉ hát lời ca Từ Công Phụng gây nỗi buồn man mác
“...con dế mèn tự tử giữa đêm khuya...”. Và như thế,
tôi đã có dịp chứng kiến cái Chỉ hân hoan lẫn cái Chỉ
bực bội và hoài nghi - một sự hoài nghi không phải không
có lý do của nó. Ở Chỉ, đôi khi sự hoài nghi tăng lên đến
độ thất vọng chăng, song nói đến chán chường hay tuyệt
vọng thì tuyệt nhiên tôi chưa thấy ở Chỉ bao giờ. Bửu
Chỉ trước hết là một nghệ sĩ yêu đời ra rít, nói theo
giọng quê mùa miền Trung.
Nói
về bầu máu nóng của Chỉ, tôi lại nhớ đến những kỷ
niệm êm đềm với những buổi lễ tất niên quá đẹp của
sinh viên trường luật Huế vào các năm xưa. Cao điểm là
lễ ông Táo chầu trời, là cơ hội để sinh viên bày tỏ
các cảm nghĩ tốt đẹp hay than phiền của mình đối với
giáo sư trong năm qua. Đó cũng là thời gian để anh em trong
ban giảng huấn chúng tôi có dịp phập phồng lên ruột, vì
chưa biết táo quân sẽ nói gì về mình. Thực tình, tôi không
nhớ rõ Chỉ có bao giờ đóng vai táo quân hay không. Nhớ rõ
hay không nhớ rõ, điều đó không quan trọng, nhưng biết Chỉ
là một người trực tính và rất hăng say trong các hoạt động
của sinh viên, nên đến nay, hơn ba thập niên sau, tôi vẫn
có thể mường tượng hình dung Chỉ sau bộ râu và mũ cánh
chuồn của táo quân đang dâng sớ lên Ngọc Hoàng Thượng
Đế.
Trong
chuyến trở về 1997, tôi còn nhớ rõ những buổi tâm sự
với Chỉ bên ly cà phê, hoặc trong quán bánh bèo bên đường
cố đô, hoặc tản bộ bên bờ sông Hương, hay hóng gió ở
bờ bể Thuận An. Đáng nhớ nhất là một buổi chuyện trò
khá lâu qua mấy chiếc bánh bột lọc và nước chè Huế trong
một quán xẹp hình như ở hàng me hay hàng đoát cũ gì đó.
Chỉ đã thao thức và không giấu được nỗi bức xúc về
những khía cạnh tiêu cực của xã hội ta sau ngày đổi mới,
về sự trì hoãn hay thiếu hụt trong vấn đề cởi mở và
trong sáng trong bộ máy chính quyền. Đấy cũng là niềm khắc
khoải chung của nhiều người ở trong và ngoài nước quan
tâm đến hạnh phúc và vận mệnh của xứ sở. Nói chung,
trong thời gian mấy tháng ở Huế, chúng ta đã trao đổi rất
nhiều, từ nghệ thuật đến thời cuộc, nhưng điều đó
không có nghĩa là luôn luôn có đồng quan điểm. Nhận định
về xã hội ta sau khi tiếng súng đã ngưng tất nhiên nhuốm
màu sắc kinh nghiệm và hoàn cảnh bản thân, về tuổi tác,
về lòng tin tưởng và kiên nhẫn, mà chúng ta không luôn luôn
giống nhau. Nhưng điều tôi tin chắc là chúng ta chia sẻ một
lý tưởng phụng sự, một lý tưởng đóng góp cho gia tài
kiến thức và văn hoá của con người, cùng mơ một giấc
mơ thanh bình, độc lập, tiến bộ, và hạnh phúc cho đất
mẹ, giấc mơ công bằng cho xã hội, cho nhân bản và tình
người trên quả đất. Và một điểm hội tụ lớn nữa
giữa chúng ta là một số cảm quan về cái đẹp, một số
quan điểm về nghệ thuật, về vai trò của nó, cùng một
số khía cạnh trong cái nhìn về thân phận mà Chỉ đã thể
hiện quá đỗi tài tình trên khung vải bố hay khung giấy.
Tôi cảm động khi nhận thức được con người phản kháng
(có lý do), con người nhân bản trong con người nghệ sĩ hăng
say của Chỉ, thể hiện bằng tư tưởng và hành động bên
trong lẫn bên ngoài nghệ thuật. Từ những bức tranh bằng
bút và mực xạ (một số tặng cho con trai tôi), cho đến các
bức sơn dầu mà tôi có hoặc được xem, Chỉ đã không chút
ngại ngùng thét lên tiếng nói phẩn nộ trước áp bức và
bất công, rồi tiếp đến tiếng nói của phận làm người,
đôi khi pha vị cay chua lẫn vị hài hước. Con người phản
kháng trong Bửu Chỉ đã có lần nói với tôi trong dịp đi
thăm Hoàng Đăng Nhuận, qua tiếng mệ của xứ Huế nghe mới
“dễ ghét” làm sao: “Em là thằng học trò mất dạy của
thầy đây...thầy!”.
Làm
sao quên được một vinh dự lớn mà Chỉ đã dành cho tôi
và gia đình tôi trong chuyến về 97. Đó là dịp vẽ chân dung
bằng sơn dầu cho đứa con gái sáu tuổi của chúng tôi, mà
theo chỗ tôi biết, Chỉ đã không bao giờ làm như vậy.
Hôm đó là một buổi sáng đẹp trời cuối Xuân, tại xưởng
vẽ xinh xắn của Hoàng Đăng Nhuận. Chỉ và gia đình tôi
hẹn gặp nhau tại đó khoảng tám giờ sáng, và khi đến,
ba chúng tôi là em bé, mẹ em bé, và tôi đã thấy hai bạn
Chỉ và Nhuận đã đợi ở đó, sẵn sàng bắt tay vào việc.
Sau một vài phút tìm chỗ, hai hoạ sĩ nỗi tiếng của Việt
Nam và thế giới, đều tự học, đều xuất thân từ cố
đô Huế, đã bắt đầu hạ bút. Con chúng tôi chưa bao giờ
quen ngồi yên để được vẽ như thế, nhưng có lẽ vì cảm
thấy đây là một cái gì to tát, một vinh dự hiếm có, nên
nó vẫn vui lòng “cộng tác”, và sau bốn giờ hầu như liên
tục ngồi yên, hai bức chân dung truyền thần đã được vẽ
xong. Trưa hôm đó, chúng tôi “thưởng nhau” bằng cách đi
ăn bánh khoái tại gần Bãi Dâu, bên bờ sông Gia Hội. Khi
trở lại quê người, chúng tôi đã lồng khung và trân trọng
treo chúng bên cạnh bức “Vô Thường”.
Đi dọc dòng
sông Phật giáo
THĂM
CHÙA CHIỀN
TRÊN
ĐẤT NƯỚC TRIỆU VOI
Trần
Đức Tuấn
Cuộc
hành hương tìm về cội nguồn của dòng sông Phật giáo đã
buộc chúng tôi phải vượt qua hàng chục, hàng chục ngàn
cây số, băng qua những thảo nguyên mênh mông giá lạnh của
miền nóc nhà thế giới rộng trên 2 triệu cây số vuông,
luồn sâu vào những khe núi tuyết hoang vu ở tận lưng trời,
vượt qua những đỉnh đèo cao trên 5.000m chênh vênh bên mép
vực, để cố lần theo dòng chảy của Mê Kông như lần theo
những dấu vết mơ hồ...
Chuyến
đi hãi hùng 500 cây số bằng đường thuỷ mới đây nhất,
vượt qua thác ghềnh đầy phiêu lưu mạo hiểm trên đất
Thượng Lào băng qua Tam Giác Vàng quả là một hành trình lãng
mạn hiếm có trong đời. Cõi thiên thai sơn thuỷ gần nửa
ngàn cây số đó kết thúc ở hang Phật Động Tham Tinh hùng
vĩ đã để lại dấu ấn không phai mờ về một miền đất
Phật nên thơ lung linh bên dòng sông hoang vắng. Cho tới bây
giờ, mỗi khi nhớ lại, vẫn còn thấy bên tai tiếng gầm
rú kinh hồn của đôi xuồng máy điên cuồng lao đi trong gió
núi, tiếng sấm vang rền của những trận mưa nguồn tầm
tã, và tiếng chuông chùa ấm cúng lan tỏa trên khắp mặt
nước bao la giữa núi rừng cô tịch.
Rời
Phật Động bên cửa sông Nậm U tĩnh lặng, đoàn thám hiểm
Mê Kông tiếp tục xuôi dòng. Đoạn cuối lộ trình này về
tới Luang Pra Bang còn khoảng 25 cây số. Bắt đầu từ đây,
nét đẹp huyền bí của thác ghềnh kỳ lạ, như một đoàn
thiên binh trùng điệp, được thay thế bằng phong cảnh khoáng
đạt thơ mộng của mặt nước Mê Kông bắt đầu mở dòng,
không còn cái vẻ hối hả, cuồn cuộn, vật lộn với đá
ghềnh nữa. Giờ đây nó thực sự thư thả, an nhàn, với
dáng vẻ cực kỳ lơ đãng. Những khối núi ven bờ đoạn
này cũng lớn hơn nhiều, phần lớn dựng đứng. Núi non ở
Luang Pra Bang quả là hùng vĩ. Chúng án ngữ khắp mọi góc
trời, cao ngất, ôm gọn lấy dòng sông và miền đất cố
đô, giống như những bức tường thành thiên nhiên vĩ đại.
Chúng
tôi giã từ Mê Kông tại một bến nước thanh bình ở ngoại
ô kinh thành. Đã từng nghe nói khá nhiều nét đẹp kỳ bí
của cố đô Lào, song khi đặt chân tới đây tất cả đều
hết sức ngỡ ngàng: Núi sông kỳ vĩ và nên thơ quá, các
công trình tôn giáo bề thế và tráng lệ quá. Một thành phố
trầm mặc, khoan thai, duyên dáng đến nao lòng.
Luang
Pra Bang
So
với các thành phố lớn trên thế giới thì cố đô Lào chỉ
như một thị trấn. Nhưng đó là một sơn trấn rất nên thơ
và một thuỷ trấn hết sức mơ màng, mênh mông cách trở,
nối với thủ đô Viêng Chăn bằng quốc lộ 13, bằng đường
hàng không và bằng sông Mê Kông dài gần 500 cây số chảy
hoàn toàn trong nội địa quốc gia. Luang Pra Bang nằm ở chính
tâm điểm đoạn sông đó, thanh bình, cô đơn và biệt lập.
Nhìn dáng vẻ thờ ơ với sự đời của nó, ta có cảm giác
như thành phố đã hoàn toàn bị lãng quên, không còn tham gia
gì vào thời cuộc. Có vẻ như nó hoàn toàn bằng lòng với
mặt nước Mê Kông, Nậm Khan phẳng lặng, êm đềm, với những
khối sơn thạch khổng lồ, kỳ vĩ, im lìm bao quanh, với một
hoàng cung lộng lẫy, với những ngôi chùa tráng lệ trầm
mặc đầy hãnh diện và với những đoàn Tăng lữ khất thực
lặng lẽ, âm thầm vào mỗi buổi sáng mát dịu khi mặt trời
vừa mới mọc. Cư dân ở đây thưa thớt, làm nghề trồng
vườn buôn bán, mở quán, mở xưởng thủ công, an tâm với
một cuộc sống nhàn nhã và đạm bạc. Hình như họ chỉ
cần làm cho đủ ăn, thì giờ còn lại thì dành cho việc đến
chùa, cúng dường cho các tu sĩ đi khất thực và chuẩn bị
cho những lễ hội tôn giáo diễn ra quanh năm.
Thành
phố này xa xưa là kinh đô của một trong những tiểu quốc
hùng mạnh trên bờ Mê Kông - tiểu quốc Mường Xoa - và sau
đó trở thành kinh đô của nhà nước quân chủ Lạng Xạn
thống nhất. Lịch sử cố đô gắn liền với sự nghiệp
của vị quân vương vĩ đại nhất của nước Lào là Phạ
Ngừm. Mường Xoa (hay còn có tên là Xiềng Đông, Xiềng Thoong)
là địa bàn lâu đời nhất giữ vai trò trung tâm của sự
phát triển và tụ cư của người Lào ở thượng lưu Mê Kông
mà dòng họ Phạ Ngừm kế nhau cai trị. Do bị tranh cướp
ngôi vua nên cha con Phạ Ngừm đã rời tiểu quốc Mường Xoa
sang lánh nạn tại Camphuchia. Ông sống với vua cha lưu vong
tại Angkor tới năm 16 tuổi (1332) thì được Quốc vương Campuchia
gả công chúa cho, đồng thời giúp đỡ thành lập quân đội
để ông trở về khôi phục ngai vàng bấy giờ đang nằm trong
tay cha con người chú ruột. Năm 1351, ông ca khúc khải hoàn,
lên ngôi vua ở Mường Xoa trên bờ Nậm Khan và Mê Kông rồi
tiếp tục đi chinh phục các tiểu quốc khác. Năm 1353, Phạ
Ngừm đăng quang ở Viêng Chăn, sau đó làm lễ đăng quang lại,
chính thức ở Luang Pra Bang, với danh nghĩa kinh đô của nhà
nước Lạng Xạn thống nhất. Luang Pra Bang trở thành kinh đô
Lào suốt 2 thế kỷ. Mãi cho tới năm 1545, thủ đô mới được
dời về Viêng Chăn để tránh xa quân xâm lược Myanmar và
để triều đình tiện việc lãnh đạo 3 cuộc kháng chiến
chống lại quân xâm lăng Myanmar vào các năm 1563, 1568 và 1574.
Nếu
gọi Lào là một quốc gia Phật giáo thì Luang Pra Bang là đô
thị điển hình của đạo Phật. Chùa chiền ở đây có rất
nhiều. Chỉ tính riêng chùa lớn, có tuổi đời hàng trăm
năm trở lên, toàn thành phố đã có khoảng 40 toà kiến trúc
Phật giáo tầm cỡ. Thậm chí hoàng cung cũng là một trung
tâm Phật giáo. Có tới 4 ngôi chùa Hoàng gia là Wat Visun, Wat
Mai, Wat Thông và Wat Xẻn Xu Kha Ram.
Đạo
Phật thâm nhập vào Lào khá sớm. Có nhiều tư liệu và phỏng
đoán khác nhau về thời gian Phật giáo được truyền bá vào
nước này, phần lớn là từ Campuchia, do sự mở rộng của
đế chế Angkor tới lưu vực sông Nậm U, trong đó có Luang
Pra Bang. Người ta cho rằng đạo Phật đã vào Lào nhiều lần.
Vào thế kỷ thứ I, tức năm 600 theo Phật lịch, là giai đoạn
Phật giáo Đại thừa du nhập, tiếp theo là các thế kỷ thứ
VIII, thứ XI, thứ XII và thứ XIV. Riêng tại Luang Pra Bang, Phật
giáo được truyền tới lần đầu vào thế kỷ thứ XII; đến
thế kỷ thứ XIV, Phạ Ngừm lại cho truyền bá đạo Phật
một lần nữa, và đó là Phật giáo Tiểu thừa có nguồn
gốc từ Angkor. Từ đó Phật giáo ở đất nước này thực
sự phát triển mạnh mẽ, các Hoàng tử đều đến học ở
chùa do sư dạy. Cũng từ đó, nhà chùa trở thành trường
học của Hoàng gia và của toàn xã hội.
Tên
gọi “Luang Pra Bang” bắt nguồn từ lý do sau đây: Vua Phạ
Ngừm có mang từ Angkor về một bức tượng Phật quý bằng
vàng nặng 50kg do Quốc vương Campuchia tặng, có tên là Luang
Pra Bang (Luang là lớn, Pra là Phật, Bang là tên bức tượng).
Vì tượng được đặt ở kinh đô Mường Xoa nên ông đặt
cho thành phố này cái tên của bức tượng. Đây được coi
là báu vật quan trọng nhất của quốc gia. Năm 1545, tượng
được chuyển về Viêng Chăn vì lý do dời đô. Năm 1779 nó
bị quân Xiêm xâm lược cướp mất, mãi tới năm 1867 mới
trả lại cho Lào, được thờ ở chùa Wat Mai của Luang Pra
Bang. Sau đó nó được cất giữ tại bảo tàng Quốc gia (tức
Hoàng cung). Chúng tôi đã được xem bức tượng quý đó nhưng
không được quay phim chụp ảnh.
Hoàng
cung là một kiến trúc không cổ nhưng lớn nhất của kinh
thành, được công nhân Việt Nam và Lào thi công theo phong cách
kiến trúc Pháp từ năm 1904 đến 1909 thì hoàn thành. Riêng
phần nóc được sửa lại theo kiến trúc Lào vào năm 1930.
Trong Hoàng cung, người ta khai quật được nhiều tượng Phật
của các thế kỷ XVI và XVII, có mô hình cỗ xe ngựa đế
vương, có bộ Hoàng phục của vị vua cuối cùng là Xixavang
Vatthana và của Hoàng hậu cùng ngai vàng chưa kịp ngồi của
vị vua này (ông thoái vị năm 1975). Lịch sử nước Lào có
tất cả 63 ông vua. Trong tủ kính có trưng bày đôi kiếm vàng
3kg và 2,8kg, 16 thanh kiếm bạc và hàng loạt tượng Phật bằng
vàng, bằng ngọc quý. Đặc biệt Hoàng cung còn lưu lại khá
nhiều tác phẩm hội họa của các họa sĩ Lào, Việt Nam và
Nga.
Trong
khuôn viên rộng lớn của Hoàng cung, khi chúng tôi tới thăm,
người ta đang xây một ngôi chùa cực kỳ lộng lẫy, có nền
cao, mục đích là để thờ bức tượng Phật quý “Luang Pra
Bang” hiện đang trưng bày ở Hoàng cung.
Cung
vua vừa là chốn tôn nghiêm của thế quyền nhưng đồng thời
cũng là chốn tôn nghiêm của Phật giáo, bởi tại đây hàng
năm đều diễn ra những lễ hội lớn của đạo Phật, được
dân chúng đến tham dự rất đông.
Những
ngôi chùa Hoàng gia
Toàn
kinh thành có tất cả 4 ngôi chùa của Hoàng gia trong tổng
số 40 tòa kiến trúc Phật giáo đáng chú ý nhất. Đó là
các chùa Wat Mai, Wat Thông, Wat Visun và Wat Xen Xu Kha Ram. Vì không
đủ thời gian nên chúng tôi chỉ tới thăm được 3 ngôi chùa
Hoàng gia và 2 ngôi chùa thường khác là Chomxi trên đỉnh núi
và Phật Tích trên bờ Mê Kông.
Wat
Mai (Wat là chùa, Mai là mới): tòa kiến trúc này ra đời
vào năm 1796 và được coi như Viện bảo tàng độc đáo về
nghệ thuật kiến trúc tôn giáo Lào với lớp mái 5 tầng được
xây dựng ròng rã suốt 70 năm trời mới hoàn thành. Tác phẩm
siêu đẳng nhất của Wat Mai là bức tranh khắc gỗ mạ vàng
lộng lẫy kể về một trong những hoá thân cuối cùng của
Đức Phật gọi là Pravét. Chùa có một gác trống như thường
thấy ở nhiều ngôi chùa làng ở Lào. Nhìn bề ngoài Wat Mai
là một kiến trúc tôn giáo bình dị, trầm mặc, tạo cho du
khách một cảm giác gần gũi và thân thiện.
Wat
Xiêng Thông: với lớp mái 7 tầng, cong, sà thấp xuống
gần mặt đất trông rất ấn tượng, là kiến trúc quan trọng
nhất trong số 4 ngôi chùa Hoàng gia ở Luang Pra Bang. Chùa nằm
ngay bờ Mê Kông, có dãy bậc thềm cao, dài gần xuống mặt
nước trông rất bề thế và thơ mộng. Chùa có từ rất lâu,
đến năm 1561 thì được vua Set Tha Thi Rat cho tái thiết, là
tinh hoa của nền nghệ thuật kiến trúc Lào, có rất nhiều
tượng Phật quý bằng đồng và gỗ. Vách tường có tranh
ghép bằng thuỷ tinh. Xà và cột mang những họa tiết dát
vàng rất sinh động và lộng lẫy. Tại đây còn lưu giữ
một cỗ xe tang Hoàng gia cao 6m dùng cho tang lễ của bậc đế
vương. Trên xe đặt 3 ngôi mộ tháp và một cây tháp cao 4,5m.
Riêng cỗ xe tang đã là cả một công trình nghệ thuật.
Wat
Visun: đây là ngôi chùa trang nhã nhất trong 4 ngôi chùa
Hoàng gia của kinh thành, và cũng là tòa kiến trúc duy nhất
được UNESCO công nhận là di sản văn hóa nhân loại tại
cố đô. Wat Visun thường được gọi bằng cái tên nôm na
là “Chùa Dưa Hấu”, vì ngôi tháp chính ở đây có hình
một trái dưa. Chùa không hề có trang trí loè loẹt xanh vàng
đỏ, hầu như không có chạm trổ, tháp sơn đã ngả màu xám,
ngói đã cũ. Mái chùa không có 3 hoặc 5 tầng lớp so le chồng
lên nhau như các chùa khác mà chỉ có 2 lớp như kiểu lồng
chợ, cách nhau một mét tường. Visun được xây dựng năm
1527, bị cháy năm 1887, sau phải tu sửa lại.
Chỉ
riêng một đô thị nhỏ 20 ngàn dân mà có tới 4 ngôi chùa
Hoàng gia và gần 40 ngôi chùa khác đã là một điều thật
đáng chú ý, một tỷ lệ công trình tôn giáo rất cao, một
mật độ chùa chiền đậm đặc, nhất là khu vực đế vương.
Điều đó chứng tỏ nhu cầu tín ngưỡng của quốc gia này
lớn tới chừng nào.
Lên
đỉnh Phu Si và thăm chùa Phật Tích
Luang
Pra Bang có đệ nhất thắng cảnh là ngọn đồi Phu Si,
ngay cạnh Hoàng cung, cao 150m. Dòng Mê Kông êm ả dưới
chân đồi cùng với dòng Nậm Khan xinh đẹp uốn lượn, ẩn
dưới tán cây rừng được nhìn từ đỉnh Phu Si như một
bức tranh thơ tuyệt mỹ. Cũng từ trên đỉnh núi này bạn
có thể nhìn bao quát kinh thành và những dãy núi hùng vĩ vây
quanh, đặc biệt là sông Nậm Khan và những cây cầu giữa
2 bờ vách núi. Sông Nậm Khan là biểu tượng của Luang Pra
Bang, một nhánh quan trọng của Mê Kông. Cố đô Lào còn được
mệnh danh là “Thành phố bên bờ Nậm Khan” là vì thế.
Trên bờ con sông này hiện còn ngôi mộ của nhà thám
hiểm người Pháp vĩ đại, một nhà khoa học lừng danh, tên
là Henry Mouhot. Ông là người phát hiện ra Angkor ở Campuchia.
Trong cuộc thám hiểm Mê Kông trên đất Lào, ông đã bị sốt
rét rừng quật ngã rồi lìa đời ở tuổi 35. Lịch sử khoa
học và khám phá đã suy tôn ông là “Kẻ lữ hành cô đơn
vĩ đại”. Mê Kông ký sự đã dành một phút để nói
về kẻ tài hoa bạc mệnh này.
Trên
đỉnh Phu Si có một ngôi chùa và một ngôi tháp rất đẹp,
từ rất xa đã nhìn thấy rõ. Tuy không phải là một công
trình tôn giáo lớn nhưng Phật tháp Phu Si được coi là biểu
tượng của Phật giáo và đệ nhất thắng cảnh của Kinh
thành. Trong suốt chiều dài lộ trình thám hiểm Mê Kông, chúng
tôi thấy hầu hết các đô thị đều dành những vị trí
cao nhất trong địa phận của mình để tôn tạo một công
trình kiến trúc Phật giáo. Rõ ràng tháp Phu Si lung linh trên
đỉnh núi đã làm cho cả kinh thành Luang Pra Bang vốn đã thơ
mộng càng trở nên huyền ảo.
Ngay
bên dòng chảy êm đềm của Mê Kông có một cõi Phật dành
riêng cho người Việt xa xứ. Đó là ngôi chùa “Phật Tích”
nên thơ rợp bóng bồ đề với khuôn viên rộng lớn, có bậc
từ sân sau dẫn xuống mặt nước. Đây là ngôi chùa Việt
duy nhất ở Lào theo cả 2 phái Đại thừa và Nguyên thủy.
Chùa do nhà sư Thích Thái Phùng trụ trì, có 8 chú tiểu mặc
áo hở vai theo kiểu Nguyên thủy đón tiếp Phật tử Lào tới
lễ bái. Chùa này xưa kia vốn của người Lào, sau người
Việt xin nhượng lại, nâng cấp, mở rộng rồi đem tượng
Phật Bà Quan Âm từ Việt Nam sang thờ nên chùa trở thành
lưỡng phái (vì Nam tông chỉ thờ Đức Phật Thích Ca). Luang
Pra Bang có khoảng 100 gia đình Việt kiều sang từ thời Pháp,
nay cộng cả con cháu đông tới 400 người.
Người
Việt định cư ở nước ngoài có tới gần 3 triệu nhưng
phần lớn ra đi từ năm 1975. Số xa quê hương từ trên nửa
thế kỷ trở lên không nhiều. Số người lớn tuổi sinh ra
từ trên đất khách, nhất là tại các vùng hẻo lánh, chưa
được một lần về đất mẹ tương đối hiếm. Cuộc gặp
gỡ với những đối tượng như vậy thường mang lại cho
chúng tôi những cảm xúc dạt đào. Đó là một vài gia đình
mà đoàn làm phim có dịp tiếp xúc tại Myanmar, Lào và Thái
Lan. Tại vùng rừng núi Keng Tông của Bang Shan (Miến Điện),
chúng tôi có gặp một người Việt rất nghèo, đã 60 tuổi
mà chưa hề biết quê hương là gì và chắc chắn cho tới
lúc chết cũng không thể có đủ tiền để về thăm đất
nước. Cả vùng cao nguyên mênh mông hẻo lánh này chỉ có
một mình ông là người Việt. So với trường hợp trên thì
cộng đồng người Việt ở Luang Pra Bang còn may mắn hơn nhiều.
Họ có cả một ngôi chùa lớn khang trang để đoàn tụ với
đồng bào mình. Chùa Phật Tích chính là biểu tượng của
quê hương, của tổ tiên, là nơi mà những thân phận tha hương
có thể đến để sưởi ấm tấm lòng và để gửi hồn về
quê hương xứ sở.
| Dòng
sông vĩ đại ra đi từ miền đất Phật lơ lửng trong mây,
uốn lượn dưới chân các đỉnh núi tuyết vĩnh cửu cao sáu
bảy ngàn mét. Như một tráng sĩ oai hùng bôn ba trên vó ngựa
phong trần, Mê Kông hòa vào dòng đời lam lũ, vào cuộc sống
gian truân với sứ mệnh cao cả đem lại nguồn sống cho hàng
triệu cư dân ven bờ, góp phần vỗ về an ủi họ, làm bớt
đi nỗi đau nhân thế. Trên suốt cuộc hành trình gió bụi,
cùng với đạo Phật, nó góp phần kiến tạo nên những giá
trị tinh thần bất tử, xây dựng nên một hệ thống triết
lý bền vững, đủ sức đương đầu với biết bao thế kỷ
giông tố bằng một bản lĩnh phi thường. |
CHUYẾN
ĐI LẦN CUỐI
Du
Li
Từ
Illinois- Mỹ, bạn tôi, Hồ Đắc Đằng gửi cho tôi một bài
viết ngắn của chị Du Li, tên thật là Nguyễn Thị Phương
Dung. Ở tuổi trung niên, chị bị ung thư tử cung, được cắt
bỏ, hóa trị, nhưng hai năm sau, lại xuất hiện di căn ở
ruột. Nằm trong bệnh viện, chị biết mình đã đến hồi
chung cuộc, bèn viết những dòng này. Chị viết tự nhiên,
thẳng thắn những điều đang diễn ra trong cuộc sống ngắn
hạn của mình. Từ đó, chị trình bày vài kinh nghiệm bên
bờ tử sinh. Tôi nghĩ rằng chị đã nói những lời ái ngữ,
lành và thật, nên đã giúp cho tôi có cảm giác an lành và
được an ủi...
Chị
qua đời vài tháng sau khi viết những dòng này. Qua báo Văn
Hóa Phật Giáo, tôi chia sẻ món quà tâm linh mà chị để lại.
Thân
Trọng Minh
Trong
cái yên lặng vô cùng của khu vườn sau, tôi nghe thấy tiếng
lá chạm nhau xào xạc khi có gió. Tôi nghe cả tiếng thức
ăn chuyển từ khúc ruột nọ tới khúc ruột kia kêu ùng ục.
Tôi bỗng nhớ tới ba tuần lễ nằm bệnh viện và cuộc giải
phẫu vừa qua. Cuộc đời ít khi đau ốm. Lần đầu tiên vào
nhà thương cách đây hai năm là để giải phẫu cắt tử cung
vì ung thư. Và bây giờ ung thư tái phát. Theo thống kê thì
93% bệnh nhân bị ung thư tử cung sau khi giải phẫu thường
khỏi bệnh. Tôi rơi vào số 7% người bệnh bị tái phát.
Theo bác sĩ, ung thư này khi tái phát thường được coi là
hiểm nghèo. Tin đồn đi, bạn bè nhiều người ở xa phải
nhờ chồng lái xe lặn lội tới thăm. Chỉ để cầm tay tôi
vuốt ve an ủi. Để vuốt xuôi những sợi tóc lòa xòa trên
trán hâm hấp nóng. Thật ân cần. Thật nhẹ nhàng. Tôi nhận
được những tấm thiệp chúc bình phục thật chân thành tình
nghĩa. Mấy cậu em trai tôi, ngày trước khi tôi còn khỏe,
xuân thu nhị kỳ có tới thăm thì cũng chân trước chân sau,
nói gì rồi cũng xoay sang chuyện làm ăn, thuế má hay computer,
có thế thì mới ngồi lâu. Vậy mà nay các cậu ngồi với
tôi hàng giờ. Xỏ cho tôi đôi dép vào chân và đỡ tôi vào
buồng tắm. Tâm sự vụn vặt với nhau như chuyện chị em
gái thường làm. Nói cho nhau nghe những ý tưởng cảm xúc
mình chưa hề động hay nói đến trong suốt khoảng bốn mươi
năm trời tình nghĩa chị em. Rồi đêm khuya, những lúc thức
giấc, tôi nghĩ tới con người. Thấy hay và lạ thật. Hay
ở chỗ thật ra ai cũng có tính nhẹ nhàng, kiên nhẫn, độ
lượng và đầy thương yêu. Lạ là không hiểu sao người
ta thường chỉ biểu lộ những quý tính này đối với trẻ
con và người ốm. Một đôi khi với người già. Nhưng thường
phải là những người già dễ tính! Tôi tự hỏi, phải chăng
vì trẻ con và người bệnh biết mình bất lực nên đón nhận
sự giúp đỡ dễ dàng, không áy náy, không tự ái; khiến
người cho dễ trở về với chân tính của mình là tử tế
và thương yêu. Thực ra ai cũng muốn là người tử tế nghĩa
tình, vì con người khi sống tử tế thương yêu, sẽ thấy
chính mình cũng có hạnh phúc. Kinh sách nào cũng nói vậy.
Và chính tôi cũng chiêm nghiệm như thế trong cơn bệnh.
Những
ý nghĩ ở bệnh viện đêm trước hiện về, lồng vào đoạn
thư vừa đọc, rồi thấy lòng lóe lên một mong cầu. “Nếu
mọi người đều biết là mình ốm - ốm bệnh khổ, cái khổ
nằm trong Đệ bát khổ mà Đức Phật đã dạy - mà cư xử
với nhau như cư xử với người ố thì cuộc đời này sẽ
lành mạnh biết bao!”. Nghĩ thế và rồi thấy ngay là mình
đang vọng tưởng. Những từ "giá", "nếu" là dấu hiệu của
vọng tưởng. Tôi thường dựa vào những dấu hiệu này để
biết mình đang ở đâu mà tìm đường quay về. Thường cứ
thoắt một cái là cái đầu lại ở đâu đâu.
“Làm
sao hàng phục vọng tâm. Làm sao an trụ chân tâm?”, câu hỏi
của một đệ tử Phật lúc đương thời, và cũng là thắc
mắc của biết bao người, kể cả tôi: Làm sao. How to? Rồi
đổ xô nhau đi tìm phương cách. Thiền là một cách. Thân
có yên thì tâm mới tịnh. Tâm tịnh rồi thì mình sẽ “nhìn
đời bằng một con mắt lạnh như tro tàn và một trái tim
nóng hổi”, như lời một vị thiền sư chăng? Nhìn đời
và mọi sự việc mà không thành kiến, không phê phán, không
phân chia, không sắp loại. Sự việc thế nào là thế ấy.
Để rồi bỗng thấy dấy lên từ trái tim nóng hổi niềm
thương yêu, thông cảm và tha thứ vô cùng.
Tôi
đang nằm đây im lặng. Thiền. Tập nhìn cơn bệnh hoạn của
thân xác. Những ngày nằm bệnh viện, cơn đau quằn quại
của thịt da bị mổ xẻ, của khúc ruột hư bị cắt đi và
nối ngắn lại, của các thứ thuốc trụ sinh, thuốc ngủ
và thuốc morphine; tất cả khiến đầu óc mịt mùng. Và từ
sự mịt mùng đó thấy mình là thân xác bệnh hoạn nằm trên
giường bệnh. Thấy mình là những cuống quít sợ hãi, những
níu kéo, cầu mong. Chân tâm biến mất. Tâm trí biến loạn,
vọng tưởng, bị thôi thúc, lôi kéo, vật vờ như chiếc lá
trên mặt hồ một chiều lộng gió. Bao nhiêu công phu thiền
tập như tan biến. Cho đến một đêm, thức giấc, qua cửa
kính nhìn ra ngoài trời không trăng sao, tôi bắt gặp một
cảm giác an lành vô cùng. Rồi bỗng nhớ tới hai câu thơ
của thi sĩ Huyền Không:
"Ta
từ sinh tử về chơi
Ngồi
trên chóp đỉnh mỉm cười với trăng".
Ta
nào vậy nhỉ? Mà sao an nhiên tự tại thế. Bỗng thấy mình
như với được một đầu dây để tìm về. Về đâu nhỉ?
Về chân tâm. Về nơi chốn ở đó có cái nhìn lạnh như tro
tàn chăng?
Từ
đêm đo,ù lúc ẩn lúc hiện, tôi thấy hình thành một đường
hướng tâm nguyện. Hướng tìm gặp cái "Ta" của thi sĩ Huyền
Không. Cái "Ta" tự tại, đồng thời cũng sẵn sàng tan biến,
hội nhập vào càn khôn vũ trụ. Như một giọt nước trở
về đại dương. Thanh thoát. Vô cầu.
Rồi
cũng từ hôm đó, tôi dám nhìn thẳng vào sự thật, cái chết
sẽ xảy đến cho mình, có thể trong một ngày rất gần. Tôi
bắt đầu bằng cách nhờ cậu em lo làm hộ chúc thư và gửi
giấy cho nhà băng đóng những trương mục hiện hữu, và bắt
đầu nghuệch ngoạc trên cuốn tập học trò lời căn dặn
về một vài chuyện tụng niệm ma chay. Mấy năm gần đây,
tôi tự nhiên xé bỏ tất ả những thẻ tín dụng, đi vào
một đời sống vật chất thật giản dị. Cho đi bớt quần
áo. Chỉ giữ lại ít cái đủ mặc và một “bộ cánh”
của thời phù hoa thuở trước, phòng khi phải đi ăn cưới.
Tự nhiên bắt chước được cái thói quen của chị bạn là
mỗi khi có ai cho mình một cái quần mới, áo mới thì lập
tức phải cho bớt đi một cái quần, cái áo trong số áo quần
đương mặc. Nhiều lúc cũng tần ngần, vì số đồ giữ lại
thường là những cái mình vừa ý nhất. Nhưng rồi cũng cố
gắng làm. Và quen đi. Để rồi thấy một hôm mình ngồi trước
kệ sách, chọn được một mớ đem cho. Sau đó, hễ thấy
bạn bè ngỏ ý thích cuốn sách nào mà mình có, là mừng rỡ
gửi biếu. Ngày xửa ngày xưa, vật dụng tôi đưa người
khác mượn một cách dễ dàng. Nhưng mượn sách là tôi kỹ
lắm.
Nhiều
lúc mặc cảm là mình ích kỷ chăng? Sau này nhìn ra thấy mình
quá bám víu vào sách vở, vào kiến thức. Coi đó là mình.
Coi mình là quan trọng! Tủ sách tôi càng quang thì đầu óc
tôi càng nhẹ nhõm. Căn phòng ngủ ngày càng thưa trống đồ
đạc, trông rộng rãi hẳn ra. Lâu lâu tâm sự với chị bạn:
“Một ngày nào đó em có Đi, chắc cũng dễ vì va li nhẹ
lắm rồi!”. Hôm nằm bệnh viện mới thấy mình lầm to.
Vì tất cả những sự “dọn mình” lúc trước mới chỉ
là như lá sân chùa. Hành trang vật chất tuy ít thật, nhưng
hành trang tình cảm còn bề bộn, nặng nề. Từ hôm đó tôi
lo tập trung tâm sức vào việc dọn dẹp bên trong. Nhưng không
phải dễ. Nhìn vào nội tâm đòi hỏi một sự tỉnh thức
tuyệt đối. Trong khi đó thì con người cả đời chỉ biết
phóng ra bên ngoài. Rồi quen thói đi. Sợ sự im lặng.
Sợ bóng tối. Thức giấc dậy là mắt mở lơ láo. Và mở
miệng. Có một lần tôi nghe một cậu em ít nói bảo tôi là:
“ Nếu tạo hóa muốn con người nói nhiều hơn nghe, thì con
người phải có hai cái miệng và một cái tai chứ. Đằng
này con người có hai lỗ tai và một cái miệng vừa dùng vào
việc ăn và việc nói, thì mình phải hiểu ý trời là muốn
mình nói ít nghe nhiều mà”. Tôi nghe thấy hợp lý nên sau
đó mỗi khi nhớ, cái miệng của tôi cũng ít phải làm việc
hơn. Tôi tập nghe nhiều hơn. Nghe âm thanh. Và nghe cả sự
im lặng nữa. Rồi khám phá ra rằng sự im lặng rất ngọt
ngào, bao dung. Một tiếng lá rơi, một tiếng chim vỗ cánh,
một thinh không tĩnh lặng dẫn đưa tâm hồn vào một niềm
hoan lạc vô cùng. Từ đấy thấy nhạc hòa tấu, nhạc thính
phòng, tiếng hát Khánh Hà, Don Hồ, chỉ là một thoáng gió
quạt nan trong cái nóng hầm hập của đêm hè trần gian. Từ
đấy thấy trìu mến cái âm thanh của im lặng. Của một mình.
Không thấy cô đơn. Không buồn chán.
Tôi
nằm im. Nhắm mắt. Nghe. Thấy những ý tưởng hỗn tạp tiếp
nối chạy trong đầu như những cụm mây bay ngang bầu trời.
Không ngừng nghỉ. Thích cái này, không thích cái kia. Muốn
cái này, không muốn chuyện kia. Thương người này, không ưa
người kia. Hợp ý, hợp khẩu, hợp nhãn v.v… Phân chia mọi
chuyện ra thành trắng đen, chấp vào ý mình mà phán đoán.
Rồi mắc kẹt ở trong đó, từ đó mua cho mình và gây cho
người nhiều phiền não, khổ đau. Nghiệp chướng cứ thế
mà tích tụ. Những ý tưởng và tình cảm vô trách nhiệm,
rối rắm, không rõ ràng đẻ ra những nợ nần oan trái. Quán
chiếu trong im lặng tôi nhận diện được một số nghiệp
chướng và oan trái đời này. “Tội từ tâm khởi. Cũng từ
tâm diệt. Tâm không tội diệt. Cả hai đều hết”. Nhưng
còn những nghiệp chướng từ vô thỉ tàng tích lại? Làm
sao mà quán chiếu cho hết trong lúc khẩn cấp này? Phải sám
hối. Chỉ có cách sám hối! Tôi nghe vọng lên trong tôi lời
nhủ thầm này.
Tôi
nhờ Vân cho mượn mấy cuốn kinh. Sáng sáng, chiều chiều
tôi mở kinh ra đọc. Đọc lần đầu tiên trong đời. Đọc
như đọc sách. Nhưng đọc thành tiếng. Tôi được biết giáo
sư V.K. Khoan cũng quay về đọc kinh trong hai năm bệnh nặng
trước khi ông qua đời. Qua kinh kệ ông thấy: “Tôi lặng
lẽ dìu tôi đi vào một cõi mới dấy lên. Cõi đó, lạ lạ
quen quen. Cõi đó hằng đêm. Cõi đó riêng tôi. Một mình”.
Bây
giờ thế giới của tôi chỉ còn lại chuyện đọc kinh học
kệ. Những lúc trí óc linh hoạt, tôi đem quán chiếu câu nói
của Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn từng được ấp ủ trong tâm:
“Hạnh phúc đích thực là niềm an lạc nội tâm và tự tại
mà ra. Mà niềm an lạc tự tại phải đạt lấy qua sự nuôi
dưỡng óc vị tha, lòng từ bi và diệt trừ sân hận, vị
kỷ, tham lam…”. Rồi quy nguyện sẽ sống trong ánh sáng đó
những ngày còn lại. Những lúc khác tôi chuyên cần đọc
kinh dọn mình cho cuộc ra đi cuối cùng.
Cảm
thấy vừa run vừa sợ, vừa mong mỏi. Trong một niềm kính
cẩn chân thành. Một mình. Mà không thấy chơi vơi trong chuyến
đi. Một chuyến Ra Đi, Trở Về, không Đi cũng không Về, hay
chỉ là vật chất chuyển dạng và thần thức thăng hoa?
ANDREW
BOND
VÀ
CON ĐƯỜNG TU TẬP CỦA MÌNH
Cũng
giống như các tôn giáo khác, người ta có nhiều lý do khác
nhau khi tìm đến với Phật giáo. Riêng tôi, đến với Phật
giáo không phải vì lễ nghi tôn giáo hay vì để thiết lập
một niềm tin mà là để học cách sống tốt và cách suy nghĩ
chân chính...
Tôi
tu tập Phật pháp đã được hai năm nay. Sau mấy năm đi đây
đó, trong tôi đã hình thành một ý thức tâm linh rõ rệt,
và ý thức này ngày càng được vun bồi thêm bởi sách của
Đức Dalai Lama, của Jack Kerouac và một số tác giả khác.
Sau khi dự một khoá tu ở Ireland với Hội Ái hữu Phật giáo
Tây phương (FWBO), tôi bắt đầu tu tập nghiêm túc hơn.
Cũng
giống như các tôn giáo khác, người ta có nhiều lý do khác
nhau khi tìm đến với Phật giáo. Riêng tôi, đến với Phật
giáo không phải vì lễ nghi tôn giáo hay vì để thiết lập
một niềm tin mà là để học cách sống tốt và cách suy nghĩ
chân chính. Và tôi nghĩ đây cũng chính là lý do hiện nay Phật
giáo phát triển rất mạnh ở phương Tây. Sự khác biệt cơ
bản giữa Phật giáo so với Hồi giáo và đạo Thiên chúa
ở chỗ, Phật giáo không đề cập đến vai trò của đấng
sáng thế mà chỉ nhấn mạnh đến sự phát triển tâm linh
của mỗi cá nhân.
Đôi
khi tôi cũng có đi chùa để cầu nguyện và tham dự các buổi
lễ, nhưng phần lớn thời gian tôi dành để hành thiền và
cố giữ những trọng giới mà Đức Phật đã dạy. Trong lời
Phật dạy đã bao gồm cả tình thương, sự cảm thông, chia
sẻ và quan trọng hơn là phải biết chấp nhận trong cuộc
sống luôn tồn tại những khổ đau. Chúng ta chỉ có thể
làm vơi đi những khổ đau ấy bằng cách biết suy nghĩ đúng,
hiểu đúng, hành động đúng và nói đúng…
Vẫn
biết vậy, nhưng tôi lại được nuôi dưỡng bởi một nền
văn hoá phương Tây, vốn rất xa lạ với đời sống luôn
biết vừa đủ rất được đề cao trong Phật giáo. Đây quả
là một trở ngại lớn đối với tôi. Vì vậy tôi chọn cho
mình cách tiếp cận Phật giáo bằng con đường thực nghiệm.
Do sự lựa chọn này phù hợp với tính cách của tôi nên
đã giúp tôi có thể hiểu và chấp nhận thuyết nhân quả
trong Phật giáo. Giờ đây, nhờ sự thực tập “trải lòng
thương đến mọi người” mà tôi thấy mình ngày càng trở
nên bao dung hơn, ít sân hận hơn, đồng thời những dục vọng
và nỗi sợ hãi cái chết cũng giảm dần trong tôi.
Cuối
cùng, tôi và những người bạn quanh tôi đã hiểu ra được
một quy luật của cuộc sống: nếu ta làm một điều xấu
thì một lúc nào đó trong tương lai, nghiệp lực xấu ấy
sẽ trở lại đeo bám lấy ta!
Hằng
Minh dịch
ÁO
TÍM LÊN NON
CÁT
T ƯỜNG
Hàng
năm, cứ đến ngày 9 tháng Giêng âm lịch là ngôi chùa của
thầy tôi lại rộn rã những bước chân của các đệ tử
gần xa trở về mừng ngày xuất gia của thầy. Chuyện xuất
gia của thầy cũng là một bài “pháp” cuốn hút các đệ
tử chúng tôi. Ngày xưa, thầy là một nữ sinh Gia Long được
học bổng nội trú toàn phần. Màu áo tím rất đỗi lãng
mạng ấy, một ngày bỗng bị “hớp hồn” bởi một thiền
sư thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 41. Và cơ duyên đã đến.
Sau cái tết năm Tuất của thập niên 1950, thầy từ giã màu
áo tím của cô nữ sinh Gia Long để khoác lên người chiếc
áo nâu sòng. Ngôi chùa nhỏ thầy đến thế phát quy y nằm
cheo leo trên dốc núi Dinh (thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).
Đó cũng là điểm nóng của chiến tranh vì phía sau chùa là
chiến khu Minh Đạm, một căn cứ của lực lượng Thành Đoàn
lúc bấy giờ. Chiến tranh lan rộng xuống những xóm làng phía
dưới chân núi. Cửa nát nhà tan, hàng trăm trẻ em sống lang
thang vì mất cha mất mẹ. Được sự đồng ý của sư
phụ, thầy vận động thành lập cô nhi viện Phước Lộc
Thọ, nuôi dạy trẻ em mồ côi trong chiến tranh. Hơn 200 trẻ
đã được đùm bọc trong vòng tay thương yêu của thầy dưới
mái chùa Linh Sơn. Các em được ăn no, mặc ấm và được
học hành như bao đứa trẻ khác. Cảm nhận trước ân đức
của thầy, số Phật tử theo thầy xuất gia ngày càng đông.
Để đào tạo Tăng Ni, thầy thành lập Phật học đường
Tây Phương, trường Phật học đầu tiên nằm trong lòng chiến
khu. Ngày ngày, tăng ni tu học giữa hai lằn đạn giao tranh
và dưới tiếng gầm rú inh tai của những chiếc F-115 sẵn
sàng ném bom vào bất cứ nơi đâu. Rồi những đêm chiến
dịch, bộ đội dừng chân bên hiên chùa. Thầy tất bật lo
toan những nắm cơm nóng hổi, những món lương khô chay chất
vào ba lô trước khi các anh bộ đội tiếp tục lên đường
hành quân. Ngôi chùa có sức sống mãnh liệt theo tinh thần
dân tộc - đạo pháp còn lưu giữ trong chúng tôi bao nhiêu
kỷ niệm đẹp.
Đã
thành truyền thống, hàng năm đến kỷ niệm ngày thầy xuất
gia là chúng tôi dù đang tu học ở Bắc, Trung hay Nam đều
tề tựu về. Lên vài trăm bậc đá mới được gặp hình
bóng ân sư trên vách núi cheo leo, chúng tôi ai nấy đều mừng
mừng tủi tủi. Nhưng rồi những nụ cười lại nở rộ trên
môi vì mọi người có dịp nhắc nhớ những kỷ niệm
đẹp thời tu học tại một ngôi chùa trong lòng chiến khu
cách nay gần nửa thế kỷ. Chúng tôi gọi đây là một tổ
đình - tổ đình Linh Sơn - vì từ nơi này đã ươm mầm cho
hơn 100 ngôi chùa khác hình thành và phát triển khắp ba miền
đất nước. Trụ trì những ngôi chùa đó không ai khác hơn
là các đệ tử, tăng ni đã từng tu học và làm Phật sự,
công tác xã hội cùng thầy nơi đây. Trên những quà
tặng kính dâng thầy, thường chúng tôi đề tặng bằng một
cái tên rất thân thương thuở trước là “Ni cô Lệ Cưng”
thay vì “Ni Trưởng Thích Nữ Huệ Giác” rất trang trọng
mà mọi người thường gọi cung kính khi tuổi thầy đã xế
chiều.
CHUYỆN
LÀM PHƯỚC…
Thảo
Vy
Chuyến
phà Rạch Miễu trong sương sớm đưa tôi đến với xứ dừa.
Dọc đường khi gặp dòng quảng cáo:”tết làm điều phúc,
sung túc cả năm”, tôi thầm cảm phục người nào đã
đưa ra được một ý tưởng quảng cáo xuất sắc như vậy...
Omo
không chỉ quảng cáo mà còn nêu lên một khẩu hiệu
hành động. Mọi người đều được “sung túc cả năm”
chính nhờ việc “làm điều phúc” của bản thân mang lại.
Ông bà ta xưa đã kết luận: "của cho là của còn, của ăn
là của mất". “Làm điều phúc” chính là vì mình và
cho mình. Để “của” chẳng những “còn” mà
sinh sôi nẩy nở thì “điều phúc” là việc phải làm ngay.
Đây đích thị là một quảng cáo đem lại lợi ích cho nhà
sản xuất và cả cho cộng đồng.
Anh
S. giới thiệu với tôi về địa phương mình. Anh nói:"Huyện
này được xem là vùng đất thép, theo cả nghĩa đen của nó”.
Bến tre có mười mấy vị tướng thì huyện đã có tám người.
Huyện có một ngàn cây cầu khỉ. Ba mươi năm bê tông hóa
được tám trăm cầu. Đấy là một cố gắng rất lớn của
người Bến tre để làm cho hết “sắc mùa chinh chiến cũ”.
Kinh
phí của nhà nước không đủ để bê-tông hóa mấy ngàn cầu
khỉ và vô số các con đường rẽ nhánh, bề ngang hai mét
trong các ấp, phải cần có sự hỗ trợ từ các nguồn khác.
Tuy vậy, người Bến tre vẫn khắc khoải. Họ vẫn cảm thấy
không yên lòng nếu chỉ nhận sự giúp đỡ bên ngoài. Bà
má Bến Tre hỏi một câu khó trả lời: "Lần trước từ thiện
làm đường, lần này cũng từ thiện làm đường, vậy là
có phước hay vô phước...?”.
Trước
hết, có phước hay vô phước là do nhận thức ý
nghĩa của hai chữ “vì mình”. Có nhiều người nghĩ
tới việc lợi ích của mình với quan niệm "chết là hết".
Nhiều “xót xa ân hận” đã xảy ra. Họ không nghĩ đến
những người xung quanh mà chỉ chuyên tâm lo thực tế cơm
gạo vì mình. Nhiều đỗ vỡ cho chính bản thân và gia đình
của họ đã xảy ra. Nhận thức đó mang lại nhiều điều
vô phước. Việc lợi ích cho mình phải không hại cho người
và cho môi trường. Tốt nhất, có phước nhất là lợi
ích cho mình và cho mọi người. Hiểu những điều ấy là
“hiểu sâu” lợi ích của mình. Đã hiểu sâu, để
có phước còn phải “chuyên tâm” làm lợi ích cho mình.
Muốn có được kho “phước đức” cần phải xây dựng
từng viên gạch một. Điều ấy cần phải có một quyết
tâm và một phương cách hành động đúng đắn.
Một
cái cầu bê-tông nhỏ thay thế cầu khỉ giá khoảng chừng
25 triệu đồng. Một ngàn mét đường bê-tông trong ấp giá
khoảng 60 triệu đồng, vị chi 1 mét giá 60 ngàn đồng. Sẽ
có phước nếu càng lúc càng nhiều người Bến Tre chịu "đổi
một bữa nhậu lấy một mét đường bê tông". Sẽ có phước
nếu thanh niên Bến Tre đồng lòng nghĩ tới việc đổi thì
giờ rỗi chơi bi-da để treo vài cái bảng lên tường, sơn
phết mái trường, giọi lại những mái nhà dột trong
ấp. Sẽ có phước nếu những người con Bến Tre ở
khắp các phương trời cũng nghĩ đến những điều cụ thể
cho quê hương. Sẽ có phước nếu bạn đổi một tô
phở ở Ca-li lấy một mét đường. Sẽ có phước nếu bạn
đổi một chút thời gian “bàn về nền hòa bình thế giới”,
để tạo nhân duyên thuận lợi cho những người có lòng có
thể bê tông hóa một cái cầu.
Tỉnh
Bến Tre đang mong chờ sự phát triển bằng du lịch sinh thái.
Sự phát triển sẽ mạnh mẽ hơn, ít tốn tiền hơn và bền
vững hơn nếu nó theo định hướng “hiểu sâu” và “chuyên
tâm” làm lợi ích cho mình.
Vậy
nên, chúng ta phải “sống làm sao” để có thể vừa lợi
ích cho mình, vừa lợi ích cho người khác. Khẩu hiệu của
Omo thực sự hòa nhập với tinh thần “lá lành đùm lá rách”
của dân tộc , và cũng phù hợp với tinh thần vị tha của
Phật giáo. Phải “Sống làm sao”, đó là việc mà mỗi
người phải học hỏi, chiêm nghiệm và hành động để “gieo
điều phúc” vào cộng đồng và được “sung túc”
cùng cộng đồng.
THIỀN
VÀ Y HỌC HIỆN ĐẠI
Thierry
Janssen
Nguyễn
văn Nhật dịch
Từ
ngày 8 đến ngày 10-11-2005, nhiều nhà khoa học nổi tiếng
quốc tế đã gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma và nhiều nhân vật
quan trọng khác của giới tâm linh học để thảo luận về
những nền tảng khoa học và các ứng dụng lâm sàng của
phương pháp thiền định. Được tổ chức bởi Viện Tâm
linh và Đời Sống (Mind and Life Institute), cuộc gặp gỡ kéo
dài ba ngày này đã diễn ra tại Washington, ngay trước lúc
khai mạc Đại hội thường niên của Hiệp hội Thần kinh,
nơi đức Đạt Lai Lạt Ma được mời phát biểu.
Khởi
đầu từ hai người: Adam Engle, luật sư và là nhà kinh doanh
người Mỹ; và Francisco Varela, nhà sinh học thần kinh người
Chi Lê tốt nghiệp Havard và là Giám đốc nghiên cứu của
Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp (CNRS - Centre National
de la Recherche Scientifique) ở Paris. Duyên cớ để họ gặp nhau
chỉ là mỗi người từ lĩnh vực riêng của mình đã cùng
quy y Phật pháp và cùng biết đến sự quan tâm của Đức
Đạt Lai Lạt Ma đối với khoa học phương Tây. Và vào năm
1985, Joan Halifax, nhà giáo dục về Thiền Phật giáo, đã nảy
ra một ý tưởng tuyệt vời là kết hợp họ lại để rồi
Viện Tâm linh và Đời sống ra đời, với mục tiêu thiết
lập sự đối thoại giữa khoa học và Phật giáo. Hai nền
văn hóa, mỗi bên theo cách riêng của mình, đều mưu tìm việc
giải thích bản chất của thực tại nhằm cải thiện hoàn
cảnh của loài người. Đây thật là một dự án đầy tham
vọng, vì chẳng có gì khó hơn việc đạt được một cuộc
đối thoại xây dựng giữa hai nền văn hóa. Hai năm sau, cuộc
gặp gỡ đầu tiên đã được tổ chức giữa đức Đạt
Lai Lạt Ma và các nhà nghiên cứu trong những mật thất của
vị lãnh đạo tinh thần người Tây tạng ở Dharamsala. Khoảng
một chục cuộc hội thoại khác đã diễn ra ở các tiểu
ban. Cho đến năm 2003, Viện Công Nghệ Massachusetts (MIT - Massachusetts
Institute of Technology) lừng danh mời Adam Engle tổ chức một
cuộc hội thoại tại Boston với sự có mặt của một công
chúng rộng lớn. Francisco Varela qua đời vào tháng 5 năm 2001,
nhưng trước đó, ông đã cảm nhận được, những cuộc đối
thoại của Viện Tâm linh và Đời sống sẽ gợi nên sự quan
tâm của cả cộng đồng khoa học như đã diễn ra ngày nay.
Cách
đây hai mươi năm, vào lần họp thứ 13 của mình, các cuộc
gặp gỡ khoa học-tâm linh ấy đã nhận được sự đỡ đầu
của cả hai định chế hết sức nghiêm túc như Viện Đại
học John Hopkins của Baltimore và Viện Đại học Georgetown của
Washingto. Edward Miller, Trưởng khoa Y, Trường Đại học John
Hopkins, đã phát biểu: “Nhiệm vụ của chúng tôi là tiến
vào những lĩnh vực chưa khai phá và tìm hiểu những gì có
vẻ như chúng ta còn chưa biết đến. Chúng tôi vẫn phải
còn nhạy cảm với những vấn đề mới để có thể mang
lại những giải đáp mới”. Lần này, vấn đề là việc
đánh giá những cơ sở khoa học và hiệu quả lâm sàng của
phương pháp thiền định, vốn là những câu hỏi mà các nhà
khảo cứu Tây phương đã tự đặt ra cho mình từ lâu. Nhưng
chỉ từ khi có những tiến bộ mới đây của khoa thần kinh,
họ mới bắt đầu có giải đáp.
Từ
đầu thập niên 1970, nhà sinh học Jon Kabat-Zinn đã quan tâm
đến sự tương tác giữa cơ thể và tinh thần. Rất nhanh,
ông đã hiểu được lợi ích của việc sử dụng những kỹ
thuật thiền định dựa trên khái niệm của Niệm (mindfulness:
sự chú tâm hoàn toàn). Làm dịu tâm thần để buông
lỏng cơ thể. Gạt bỏ mọi ý niệm về tôn giáo ngoại lai
hay phương Đông, phương pháp mà ông đề nghị được gọi
theo tên khoa học là Việc giảm trầm uất dựa trên sự chú
tâm hoàn toàn (MBSR - Mindfulness based stress reduction). Kabat-Zin
bình luận rằng “[Đó là] một cách để trấn an những
người đa nghi. Một phương tiện để đưa thiền định vào
việc thực hành lâm sàng”. Chương trình học thiền định
của ông thật đơn giản: một buổi [ngồi thiền] hai tiếng
rưỡi, mỗi tuần một lần, kéo dài trong tám tuần; thêm vào
đó là mỗi ngày một giờ thực hành tại nhà bệnh nhân.
Từ hai mươi năm qua, hơn mười lăm ngàn người đã hưởng
lợi từ phương pháp thiền định để giúp vào
việc điều trị những bệnh về tim mạch, bệnh AIDS, chứng
đau mạn tính, chứng rối loạn chức năng dạ dày và ruột,
chứng đau nửa đầu, chứng cao huyết áp tĩnh mạch, chứng
mất ngủ, sự lo âu, sự hoảng loạn… Dựa vào những thành
công ấy, phương pháp giảm trầm uất dựa trên sự chú tâm
hoàn toàn (MBRS) ngày nay được giảng dạy cho sinh viên ở
hai mươi chín phân khoa Y học trên toàn nước Mỹ. "Điều
này làm thay đổi mối quan hệ giữa thầy thuốc với bệnh
nhân”, Jon Kabat-Zinn đã giải thích với Đức Đạt Lai Lạt
Ma như vậy. Càng lúc những nghiên cứu lâm sàng càng chứng
tỏ lợi ích của phương pháp này.
Richard
Davidson, Giáo sư tâm lý học và tâm thần học thuộc đại
học Wisconsin, người đứng đầu một phòng thí nghiệm siêu
hiện đại, nơi những máy ghi nhận cảm biến bằng điện
và những máy ghi hình bằng sự cộng hưởng từ về phương
diện chức năng cho phép ông ghi nhận những hoạt động của
não bộ trong thời gian thực tế. Nhờ vậy, ông có khả năng
chỉ ra rằng việc thiền định đều đặn làm tăng hoạt
động của phần phía trước bán cầu não trái, vùng
có liên hệ với việc kiểm soát các cảm xúc tích cực, và
do đó liên kết với khả năng phòng thủ miễn dịch. Sau hai
tháng, một cuộc thử nghiệm về chủng ngừa cho thấy kháng
thể được tạo ra ở những người thực tập thiền định
đều đặn cao hơn hẳn so với ở những người chưa bao giờ
ngồi thiền.
Trong
một cuộc khảo cứu khác có sự tham gia của tu sĩ Phật giáo
người Pháp Mathieu Ricard, Richard Davidson, và Antoine Lutz, các
nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng, so với hoạt động não
bộ của những người ít có thói quen ngồi thiền, hoạt động
não bộ của những tu sĩ có hơn mười ngàn giờ thiền định
sản sinh ra rất nhiều tia gamma. Theo Wolf Singer, Giám đốc Viện
Max Planck ở Frankfort cũng có mặt tại Washington vào lúc đó
cho rằng, tia gamma làm tăng tính mạch lạc trong các hoạt động
của não bộ, làm tăng diện tích não bộ để tạo sự đồng
bộ trong các chức năng của chúng và làm tăng trình độ nhận
thức của những người có thói quen thiền định. Hiển nhiên,
người ta có thể cho rằng điều đó có nguồn gốc từ thiên
hướng của các tu sĩ chứ không hẳn đã là hậu quả của
sự chuyên cần ngồi thiền. Để trả lời cho giả thiết
này, Lutz và Davidson đã so sánh sự “biểu diễn” giữa các
tu sĩ có thời gian ngồi thiền trên bốn mươi ngàn giờ với
những tu sĩ chỉ thực hành khoảng mười ngàn giờ. Kết quả,
vị tu sĩ nào có thời gian ngồi thiền càng lâu, lượng tia
gamma phát hiện được trong não bộ của vị đó càng nhiều,
và điều đó độc lập với tuổi tác của họ. Wolf Singer
kết luận rằng: “Có vẻ như sự luyện tập về tâm thần
tạo ra một trạng thái tâm thức bén nhạy hơn và một tinh
thần trong sáng hơn”. Mathieu Ricard nhận định: “Trải qua
một thời gian thiền định tách biệt với cuộc đời rõ
ràng chuẩn bị cho một hành động công bình hơn và vị tha
hơn trong cuộc đời”.
Như
vậy, nhận thức trung tâm trong cuộc gặp gỡ ấy của Viện
Tâm linh và Đời sống là nhận thức về tính linh động của
não bộ. Sự phát hiện cũng là tương đối mới: những nối
kết thần kinh, tùy trường hợp, hoặc biến mất, hoặc ngược
lại tự tạo ra hay tự tăng cường. Và Richard Davidson đã
nhấn mạnh, những kết quả có được với việc thiền định
chứng tỏ rằng những tín hiệu thuần túy tâm linh đủ để
phát động hiện tượng. Một số những biến đổi xuất
hiện trong vài phút hay vài giờ. Những biến đổi khác, sâu
sắc hơn, chiếm nhiều thời gian hơn. Vậy là, tính kỷ luật
và sự thực hành - những yếu tố căn bản của mọi cuộc
vận động tâm linh - không chỉ ảnh hưởng đến tư tưởng,
chúng còn thực sự gợi ra những sự điều chỉnh trong việc
sắp xếp lại các tế bào của não bộ, và một điều không
tránh khỏi là hiện tượng này kết thúc bằng việc lan tỏa
khắp sự vận hành của cơ thể. Esther Stenberg lưu ý: “Trong
ngôn ngữ Tây Tạng không có từ nào để nói về sự trầm
uất (stress)” . Thế nhưng, chính trầm uất lại là nguồn
gốc của vô số những nỗi thống khổ của chúng ta cả về
mặt tâm lý lẫn vật lý: sợ hãi, lo âu, căng thẳng, đau
đớùn, hung hăng và bạo lực. John Teasdale, nhà nghiên cứu
tâm lý học ở Cambridge nhận thấy rằng: “Con người thực
sự được lợi khi học để điều hòa sự chú tâm, làm dịu
cơn sợ hãi, và phát triển một thái độ thản nhiên của
họ đối với những biến cố của cuộc đời”. Vì vậy,
Đức Đạt Lai Lạt Ma nhắc nhở: “Mục đích chính của những
cuộc đối thoại tại Viện Tâm linh và Đời sống là giúp
cho nhân loại không còn là con mồi của bạo lực”. Tuy nhiên,
Jan Chosen Bays lo âu cho rằng: "Bạo lực được nuôi dưỡng
bởi phương tiện truyền thông”, khi ông liên hệ đến một
thực tế là bộ não của chúng ta không thể ngốn ngấu quá
nhiều nỗi đau khổ như thế. Ngày xưa, con người cần phải
đối diện với những khó khăn của cái bộ lạc nhỏ bé
của họ. Ngày nay, vô tuyến truyền hình đã buộc chúng ta
phải đối mặt với những nỗi bất hạnh của toàn thể
thế giới.
Theo
ý kiến của nhiều chuyên gia có mặt tại Washington, sự hiểu
biết về cơ chế thần kinh của phương pháp thiền định
cho phép đặt những nguyên tắc của phương pháp này vào thái
độ ngừa bệnh và chiến lược chữa bệnh của chúng ta.
Ralph Snyderman, giáo sư Y khoa và cựu viện trưởng viện đại
học Duke phát biểu: “Tất cả chúng ta đều đã vay mượn
những con đường mòn khác nhau để đến được đây. Nhưng
chúng ta hy vọng sẽ tìm thấy những phương tiện làm giảm
những nỗi thống khổ của mình. Và chúng ta đều biết rằng
chỉ công nghệ không thôi thì chưa đủ”. Dù không phủ định
những thành tựu của y khoa khoa học, hình như đã đến lúc
phải góp thêm vào cho nền y học hiện đại những phương
pháp dẫn xuất từ những kinh nghiệm cổ truyền của loài
người. Jan Chosen Bays, thông thạo cả hai nền văn hóa khoa
học và tâm linh, đã nói rõ: “Nếu đã chứng minh được
rằng việc rút lui vào trong trạng thái thiền định có thể
giúp chữa lành chứng trầm cảm, thì cũng cần thấy rằng
một loại thuốc chống trầm cảm đôi khi cần thiết để
giúp một bệnh nhân thoát khỏi vực thẳm trước khi thực
hành thiền định”. Một viên chức của Bộ Giáo dục Hoa
kỳ ngồi bên cạnh tôi trong suốt cuộc thảo luận đã nói
riêng với tôi: “Đối diện với những vấn đề về sự
chú tâm và tính khí hung hăng mà chúng tôi vẫn gặp phải
trong hệ thống trường học của Hoa kỳ, có thể chúng tôi
phải đưa việc giáo dục thiền định vào chương trình học
ngay từ những lớp tiểu học”. Rõ ràng đây chính là điều
mà Richard Davidson đã mong mỏi khi ông tuyên bố rằng: “Một
ngày nào đó, bên cạnh việc giáo dục thể chất, con em của
chúng ta có thể được hưởng lợi nhờ học thêm về giáo
dục tinh thần và tâm linh". Thật vậy, điều quan trọng là
minh định rằng vấn đề tâm linh ở đây chỉ thuần túy
là khái niệm, không liên quan gì với những thiên kiến tôn
giáo. Đức Lạt Lai Lạt Ma xác định: “Vấn đề ở đây
không phải là chuyện niềm tin và tín ngưỡng, mà là sự
quan tâm về đạo đức và tinh thần. Trách nhiệm của chúng
ta ở chỗ đã là người thì ta phải sử dụng sự thông minh
của mình để hiểu được bản chất và sự vận hành của
tâm trí”. Việc minh định này có thể trấn an được những
khoa học gia hay ngờ vực luôn đòi hỏi khoa học phải giữ
được sự độc lập trước mọi ảnh hưởng tôn giáo. Cuộc
tranh luận hết sức sôi nổi. Một số thầy thuốc và nhà
nghiên cứu đã đệ trình một bản kiến nghị chống lại
việc Hiệp hội Thần kinh mời Đức Đạt Lai Lạt Ma đọc
diễn văn khai mạc Đại hội khai diễn tại Washington chỉ
vài ngày sau các cuộc gặp gỡ của Viện Tâm linh và Đời
sống. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã khẳng định trước đại
hội của các nhà thông thái: “Nếu khoa học chứng minh được
những niềm tin nào đó của Phật giáo là sai lạc thì Phật
giáo sẽ điều chỉnh những niềm tin ấy”. Nhưng phải nhìn
nhận rằng những kết luận dẫn xuất từ kinh nghiệm ngàn
đời của Phật giáo hoàn toàn ứng hợp với những kinh nghiệm
đã sản sinh ra phương pháp khoa học. Và vì cả hai khảo hướng
nuôi dưỡng cùng một khát vọng giúp cho sự tiến hóa của
nhân loại, cho nên hoàn toàn hợp lý để thấy hai khảo hướng
ấy thống nhất các cố gắng của mình.
Vậy
là, thiền định, một phương pháp thực hành tâm linh ngàn
đời, đang trên đường trở thành một phương thức chữa
trị cho những chứng bệnh của xã hội hiện đại, và được
xem là đã đi trước thời đại.
Tác
giả bài tường thuật này, Thierry Janssen là bác sĩ giải phẫu,
chuyên gia thần kinh trị liệu, tác giả các sách Le Travail
d’une vie (Công trình một đời, NXB Robert Laffont, 2001), Vivre
en paix (Sống trong hòa bình, NXB Robert Laffont, 2003), La Solution
Intérieure. Vers une nouvelle médecine du corps et de l’esprit (Giải
pháp từ bên trong, hướng đến một nền y học mới về thể
chất và tinh thần, NXB Fayard, 2006).
HOÀNG
ĐẾ VÀ NGƯỜI THI SĨ
Cao
Huy Thuần
Khi
nghe tin người thi sĩ ấy mất, cả thủ đô rúng động. Trong
một thoáng, mọi người ai cũng nghĩ như ai: chưa có nhà thơ
nào lớn hơn thế. Như một cây đại thụ mênh mông, người
ấy tỏa bóng mát trong hơn nửa thế kỷ trên vườn hoa tư
tưởng đơm bông mới. Thơ của người ấy vang dội trên mỗi
bước dựng xây của nền Cộng Hòa, trên mỗi chiến thắng,
mỗi thất bại của dân chủ. Với ông, lịch sử biến thành
thơ. Với thơ, ông phất cờ cho tự do, công lý. Bàn tay của
ông nóng trong bàn tay của người cùng khổ. Tiếng nói của
ông đập trong ngực của bất cứ ai yêu mến tự do. Ngày
22 tháng 5 năm 1885, khi ông ngừng thở, dường như người ấy
đang thở trong tim của mọi người. Người ấy là Victor Hugo.
Sáng
sớm chủ nhật 31 tháng 5, quan tài của ông được chở đến
Khải Hoàn Môn truớc đám đông dân chúng đã đứng chờ suốt
đêm tại đó. Như lúc ông còn sống, họ hoan hô: "Victor Hugo
muôn năm!". Một tấm màn đen mênh mông phủ trên Khải Hoàn
Môn, nhấp nhánh tên những tác phẩm của người thi sĩ. Trên
các nẻo đường đổ vào Khải Hoàn Môn, hàng trăm ngàn người
kéo đến diễn hành không ngớt trước quan tài.
Suốt
cả ngày hôm đó cho đến nửa khuya, đại lộ Champs-Elysées
tràn ngập người, Khải Hoàn Môn được thắp sáng với hai
hàng kỵ binh cầm đuốc. Tờ mờ năm giờ sáng hôm sau, mồng
một tháng sáu, dân chúng lại nườm nượp kéo đến, kèn
lại thổi vang, vòng hoa lại phủ một núi hoa chung quanh quan
tài. Đúng 11 giờ, 21 phát súng đại bác nổ vang, báo hiệu
lễ chính thức. Quân nhạc trỗi bản tang hành của Chopin.
"Đây không phải là đám tang; đây là lễ đăng quang của
vua chúa": ai đó, từ một bài diễn văn, đã nói lên đúng
ý nghĩ của mọi người.
Lễ
"đăng quang", người thi sĩ ấy đã nhận từ lúc còn sống.
Ngày 25-12-1881, Thủ tướng Jules Ferry đích thân đến viếng
ông tại nhà riêng, mang quà tặng sinh nhật 80 tuổi của Chính
phủ. Ngày 27, đúng ngày sinh nhật, dân chúng lũ lượt diễn
hành trước gian nhà được trang hoàng đèn hoa, hoan hô vang
dậy tên tuổi của ông. Vòng hoa thi nhau móc vào tường: "Tặng
người thi sĩ, tặng nhà triết gia, tặng người chiến sĩ
tranh đấu cho công lý của các dân tộc". Hết đoàn đại
biểu này đến đoàn đại biểu khác của các thành phố,
của các tỉnh, lần lượt bước vào nhà, giữa tiếng hoan
hô vang dậy. Diễn hành, dàn nhạc, dàn ca, và hoa, và hoa, và
hoa phủ lên nhau chật nhà, chật ngõ, từ sáng đến đêm,
giữa trời tuyết, và người, và người, và người chen nhau,
đủ mọi thành phần, mũ dạ của trưởng giả chen với cát-két
của thợ thuyền, học sinh chen với binh lính, tay chen tay vẫy
lên cửa sổ. Quà tặng, huân chương, sách, báo, chen nhau đưa
đến tận tay người nhận. Trên tóc bạc của người thi sĩ
ấy, dường như mở ra rạng đông của thời đại mới mà
vầng trán kia đã không ngớt mơ tưởng bằng thơ văn, bằng
hành động.
Bằng
thơ văn và hành động: Victor Hugo ngự trị trên thế kỷ của
ông là vì thế. Văn thơ của ông là khí giới sắc bén trong
cuộc đấu tranh chính trị sắt máu, triền miên từ cách mạng
tư tưởng 1789 đến sau cách mạng xã hội 1848, với quần
chúng thấp hèn vươn lên nắm lấy vận mệnh của mình. Đưa
thơ vào chính trị, ông thổi khí thế cho quần chúng. Làm
chính trị với uy lực của thơ, ông tạo chấn động trong
nghị trường. Thơ của ông kích thích như bài hịch. Dấn
thân của ông ngay thật, bất khuất. Ông là lương tâm của
thế hệ cộng hòa, chiến sĩ của tự do, nhà tiên tri của
nhân loại, kẻ tiên phong của Âu châu hợp nhất, người bênh
vực giới khốn cùng. Tất nhiên ông có địch thủ. Trong giới
nhà thờ. Nơi phe bảo hoàng, quân chủ. Nhưng ông càng cao,
địch thủ của ông càng thấp.
Đâu
phải người thi sĩ này sinh ra và lớn lên giữa lòng của
khuynh hướng cấp tiến! Ngược lại, gia đình ông mang truyền
thống Thiên Chúa giáo và bảo hoàng. Ông bắt đầu sự nghiệp
văn thơ và chính trị dưới bóng lá cờ trắng của phe quân
chủ. Cuộc sống trước mắt và kinh nghiệm chính trị máu
xương xoay tầm nhìn của ông về chân trời khác, rất sớm.
Vở kịch Cromwell, viết xong năm 25 tuổi, mở đầu cách mạng
lãng mạn trong kịch nghệ, cởi trói cho bi kịch thoát khỏi
những quy tắc cổ điển. Ông tuyên bố tự do trong nghệ thuật,
đưa nhân vật trong kịch trở về với đời sống thực, với
con người thực, con người toàn diện, gồm cả cao thượng
lẫn thấp hèn. Cùng với kịch và thơ, ông viết xong một
truyện ngắn xứng đáng được xem như phát súng đầu nổ
vào thành trì bảo thủ kiên cố nhất, không phải của ngày
hôm qua mà cả ngày nay: "Ngày cuối cùng của người tử tù".
Rất sớm, Victor Hugo đi trước thời đại; từ đó cho đến
cuối đời ông không để lỡ một dịp nào để đòi hỏi
chấm dứt tội tử hình. Cái gì đã đưa ông đến thái độ
quyết liệt như vậy? Một kỷ niệm mà ông kể lại 40 năm
sau, năm 1862:
"Tại
Paris, năm 1818 hay 19, một ngày hè, vào khoảng trưa, tôi đi
ngang qua trước tòa án. Một đám đông vây quanh một cột
trụ. Tôi đến gần. Một thân hình người, không biết đàn
bà hay con gái, bị trói vào cột trụ, gông quàng trên cổ,
bảng đội trên đầu. Dưới chân của thân hình người ấy,
một lò lửa cháy rực than hồng, một miếng sắt cán gỗ
vùi trong than, đỏ ửng, đám đông có vẻ hài lòng. Người
phụ nữ ấy phạm cái tội mà luât lệ gọi là ăn cắp của
chủ và ngôn ngữ thông thường gọi là tính thêm tiền chợ.
Đồng hồ điểm 12 tiếng. Thoắt nhiên, từ phía sau tội nhân,
một người đàn ông vọt ra, leo lên thang chém. Trước đó,
tôi để ý thấy chiếc áo ngắn của người phụ nữ bị
tách ra hai vạt, buộc lại sau lưng bằng sợi dây. Người
đàn ông nhanh nhẹn mở dây, vén áo lên, lột trần lưng của
người đàn bà đến eo, vớ lấy miếng sắt trong lò lửa
dí sâu vào chiếc vai trần. Một màn khói trắng bốc lên,
phủ mờ miếng thép và bàn tay của tên đao phủ. Hơn 40 năm
sau, tai tôi vẫn còn nghe và lòng tôi còn chấn động tiếng
thét hãi hùng của người bị hình phạt. Từ kẻ ăn cắp,
người phụ nữ trong tôi đã trở thành người tử đạo.
Tôi ra khỏi đám đông, lòng quyết tâm chống lại đến cùng
những hành động tai hại của luật lệ. Lúc đó, tôi 16 tuổi".
Tháng
6 năm 1848, quần chúng nổi loạn. Cuộc vùng dậy bị dập
tắt trong máu. Victor Hugo xông trận trên khắp chiến tuyến:
đòi tự do chống lại thiết quân luật ; đòi tương trợ
xã hội chống lại nghèo khốn; đòi chủ quyền cho nước
Ý chống lại quyền hành chuyên chế của giáo hoàng; đòi
giáo dục tiểu học trung lập chống lại trường học lệ
thuộc giáo quyền; đòi phổ thông đầu phiếu chống lại
đầu phiếu hạn chế. Người thi sĩ trở thành chiến sĩ của
phe xã hội. Đảo chánh quân chủ tháng Chạp năm 1851 đẩy
ông ra khỏi nước Pháp, mở đầu cuộc đời lưu đày kéo
dài gần hai chục năm. Đây là giai đoạn phong phú nhất trong
sáng tác của ông. Hầu hết các tác phẩm danh tiếng nhất
ra đời trong khoảng thời gian này, đáng kể nhất, đối với
độc giả Việt Nam, là tập tiểu thuyết "Những người cùng
khổ". Trong một lời tựa gởi đến nhà xuất bản năm 1862,
ông viết:
“Cho
đến khi nào, bằng luật lệ và phong tục, xã hội bày đặt
ra một cách giả tạo, giữa nền văn minh đang nẩy nở, những
địa ngục để đày đọa con người, làm con người lầm
tưởng rằng vận mạng của mình, vốn linh thiêng, đã được
an bài từ trước; cho đến khi nào ba vấn đề của thế kỷ
- con người bị rơi tụt xuống hàng vô sản, phụ nữ bị
mất phẩm cách vì đói, trẻ em teo tóp vì đêm khuya - chưa
được giải quyết; cho đến khi nào, trong nhiều nơi, con người
vẫn còn có thể bị bóp ngạt trong xã hội; nghĩa là, nói
rộng hơn, cho đến khi nào trên mặt đất còn ngu dốt và
khốn cùng, những quyển sách như quyển truyện này vẫn còn
ích lợi".
Ông
viết thêm trong một thư gởi Lamartine cùng năm :
“Vâng,
thế đấy, tôi muốn hủy diệt số phận an bài; tôi kết
án chế độ nô lệ, tôi xua đuổi nghèo khổ, tôi dạy cho
sự dốt nát, tôi chữa cho bệnh tật, tôi thắp đèn cho đêm
khuya, tôi căm thù sự căm thù. Tôi là như vậy, và đó là
lý do tôi viết “Những người cùng khổ". Trong suy nghĩ của
tôi, đây là quyển truyện lấy tình huynh đệ làm gốc, lấy
tiến bộ làm ngọn".
Đó
chưa phải là xã hội chủ nghĩa. Chỉ xã hội thôi đã quá
đủ để phe hữu mạt sát, la ó, tố cáo người thi sĩ ấy
phun nọc độc cách mạng. “Đả đảo Jean Valjean!”, “Giết
chết Jean Valjean!”, giới bảo thủ ở Bruxelles, nơi ông lưu
vong, còn ném hằn học vào cửa sổ nhà ông mười năm sau
khi quyển truyện ra đời. Họ đồng hóa ông với Jean Valjean,
nhân vật trong truyện, người tù bị đày khỏi xứ. Nhưng
Jean Valjean là hiện thân của công lý dưới ngòi bút của
Victor Hugo. Vượt ngục, trở về nước, đổi tên, sống cuộc
đời thánh thiện, giúp người nghèo, nâng đỡ thợ thuyền,
được yêu mến, được kính trọng, bỗng một hôm Jean Valjean
nghe tin cảnh sát bắt được một tội nhân vượt ngục tên
là ... Jean Valjean. Làm gì bây giờ? Tiếp tục sống đời thánh
thiện, cứu giúp đồng loại, mặc người kia hàm oan, hay nhận
lãnh trách nhiệm, tránh bất công? Jean Valjean lựa chọn công
lý. Ông tự nộp mình cho cảnh sát. Nhưng hành động đạo
đức cao thượng ấy cũng là hiện thân cao nhất của tự
do, bởi vì tự do cụ thể nhất, cơ bản nhất, là tự do
lựa chọn. Sống vì tự do, chết vì tự do, con người phải
có tự do lựa chọn: đó là thông điệp hùng vĩ nhất của
Victor Hugo, trong "Những người cùng khổ" cũng như trong tất
cả tác phẩm và hành động chính trị của ông.
*
Chính
tư tưởng đó đã khiến Victor Hugo lựa chọn đời sống lưu
vong thay vì chấp nhận ân xá của một chế độ độc tài.
Cũng chính tư tưởng đó đã khiến ông thay đổi thái độ
đối với Napoléon, thần tượng của ông lúc trẻ. Napoléon!
Có ai lớn hơn vị thần ấy? Núi, sông, đồng bằng, lâu đài,
kinh đô, trận mạc, Đức, Ý, Áo, Phổ, Nga, giáo hoàng, tất
cà Âu châu, cho đến tận Ai Cập xa xăm, huyền bí, tất cả
đều nằm rạp dưới vó ngựa của hoàng đế. Napoléon! Như
hình vẽ từ ngón tay đứa bé trên cát / Từng đế quốc ngổn
ngang xóa sạch dưới chân người. Napoléon! “Không có môt
cái đầu nào, dù cao lớn, ngạo nghễ đến đâu đi nữa,
mà không cúi chào vầng trán kia, trên đó rõ ràng bàn tay của
Trời đã đặt hai vương miện, một làm bằng vàng mà người
ta gọi là vương hiệu, một làm bằng ánh sáng mà người
ta gọi là thiên tài". Napoléon! Người ngự trị trên thời
đại chúng tôi, thiên thần hay quỷ dữ không cần biết /
Cánh ó của Người mang chúng tôi phiêu du khắp chốn, ngất
ngây".
Đó
là Napoléon thần thánh của Victor Hugo lúc trẻ, ngôi sao dẫn
đường trong đêm tối trước khi trở thành mặt trời chiếu
sáng cho thế kỷ mở đầu. Vầng ánh sáng đó rạng rỡ quá,
che khuất hẳn mặt tối của ông thần nhưng không xóa được.
Mặt tối ấy là tham vọng, độc tài. Tham vọng làm tanh máu
trên bàn tay của ông. Máu của hơn 800.000 xác chết vất trên
khắp chiến trường. Máu của 3000 lính Thổ đầu hàng ở
Jaffa năm 1799 mà ông hạ lệnh bắn chết sạch. Sạch! Giữa
sa mạc, chỗ đâu mà chứa? Quang cảnh hàng ngày trước mắt
ông là hàng ngàn, hàng chục ngàn thi hài hấp hối, thối rữa.
Bài học vỡ lòng của ông là phải có trái tim sắt, không
biết cảm động: bản chất của sự vật, theo ông, là như
vậy. Suốt đời, ông đi trên máu và thịt ; ông lấy máu
làm mực để viết lịch sử. Lịch sử của tham vọng, của
ước mơ trong đầu ông. Ông hô to: "Ta đưa các ngươi đến
những cánh đồng phì nhiêu nhất thế giới". Cánh đồng này
rồi cánh đồng khác, lính của ông tha hồ cướp bóc, và
giết, và chết.
Ông
áp dụng "bản chất của sự vật" đó vào chính trị: sẵn
sàng giết không động lòng. "Chính người lính dựng xây Cộng
Hòa; thanh gươm là trục quay của thế giới", ông tuyên bố.
Cho nên, tướng biên cương, ông cưỡi gươm về kinh đô đảo
chánh ngày 18 Mãn Thu. Ông đoạt quyền. Ông ngồi trên gươm
để cai trị. Ông dạy: "chính trị không có tim, chỉ có đầu".
Chống đối, ông dẹp. Hiến pháp, ông sửa. Địch thủ - quận
công d’Enghien - ông bắt cóc, ông bắn. Ông thổ lộ: "Từ
toàn thắng đến sụp đổ, chỉ một bước thôi. Bao giờ
cũng vậy, một chuyện cỏn con, vô nghĩa lý, chợt đến, quyết
định những sự việc trọng đại". Tay độc tài nào cũng
sợ những “chuyện cỏn con” như vậy. Cho nên đã nắm trọn
vẫn cứ muốn nắm trọn hơn nữa quyền hành: ông dẹp luôn
chế độ cộng hòa. Từ Bonaparte, ông trở thành Napoléon hoàng
đế. Ôi, cay đắng cho bao nhiêu hy vọng đặt vào ông để
bảo vệ gia tài của cách mạng lúc đầu! "Bonaparte đập nát
tự do bây giờ, nhưng ông sửa soạn tự do cho ngày mai bằng
cách kiềm chế cách mạng và tiếp tục tận diệt những gì
còn sót lại của nền quân chủ hôm qua. Ông cày bừa cánh
đồng ngổn ngang xác chết và phế tích : chiếc cày lực lưỡng
của ông được Vinh Quang kéo đi, đào sâu trong đất những
luống cày từ đó những hạt giống tự do sẽ mọc". Ôi,
ngây thơ! Ngây thơ ngủ ngon với nhung y của Bonaparte và thức
dậy với cái vương miện trên đầu hoàng đế.
(Xem
tiếp VHPG số 15)
QUAN
ÂM THỊ KÍNH
HÌNH
ẢNH ĐẸP CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
Trần
Phước Thuận
Truyện
Quan Âm Thị Kính không rõ xuất hiện từ thời nào, do ai sáng
tác, chỉ biết lúc đầu nó vốn là khúc hát chèo gồm nhiều
đoạn, được hát theo các điệu kể hạnh, hát kệ, hát cách...,
về sau mới có truyện thơ Quan Âm Thị Kính ra đời...
Nếu
đem so sánh ta thấy, ngôn từ trong khúc hát chèo rất bình
dị và tự nhiên, rõ ràng là khúc hát của dân quê; còn truyện
thơ thì được viết bằng thể thơ lục bát, mang nhiều ý
nghĩa thâm thúy của Nho và Phật, chắc chắn phải do một
người có học thức sáng tác.
Đa
số các bản chèo Quan Âm Thị Kính còn lưu lại đến hôm
nay đều là những bản viết tay, ngoại trừ một bản chữ
Nôm được khắc in vào cuối thế kỷ XIX và một bản in bằng
chữ quốc ngữ do Vũ Khắc Khoan giới thiệu, Nhà Xuất bản
Đào Tấn (Sài Gòn) ấn hành năm 1966. Bản truyện thơ Nôm
được in bằng chữ quốc ngữ lần đầu tiên vào năm 1911,
do bà Phan Thị An phiên âm và hiệu đính, tất cả gồm 788
câu thơ lục bát và một lá thư của Kính Tâm để lại cho
cha mẹ được viết theo lối văn biền ngẫu. Tuy hình thức
có khác nhau nhưng nội dung của tích chèo và truyện thơ Quan
Âm Thị Kính vẫn là một, nhân vật chính vẫn là Thị Kính,
một hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm. Đại ý cốt truyện
cũng gần giống nhau như sau:
Ngày
xưa, có một chàng trai tu hành đã chín kiếp, đến kiếp thứ
mười lại sinh làm con gái trong một gia đình họ Mãng ở
huyện Hồ Nam, quận Lũng Tài, thành Đại Bang, nước Cao Ly.
Nàng tên là Thị Kính, một người con gái rất đẹp, đoan
trang, bản tánh hiền hậu, lớn lên được cha mẹ gả cho
một nho sinh họ Sùng, tên Thiện Sỹ.
Vào
một đêm nọ, Thiện Sỹ đọc sách mệt mỏi vừa ngả lưng
xuống ngủ, Thị Kính đang ngồi bên cạnh may vá bỗng thấy
dưới cằm của chồng có một chùm râu mọc ngược rất khó
coi, liền đưa kéo định cắt bỏ đi. Thiện Sỹ bỗng giật
mình thức giấc, tưởng vợ định giết mình bèn la lớn lên.
Thị Kính hết lời phân giải nhưng vẫn bị Thiện Sỹ đuổi
ra khỏi nhà. Chán nản vì nhân tình thế thái, nàng đã cải
trang thành nam đi đến một nơi thật xa. Cuối cùng nàng vào
một ngôi chùa nọ (chùa Vân) xin xuất gia, được thầy đặt
cho pháp danh là Kính Tâm. Ở gần chùa có một người con gái
tên là Thị Mầu, con của một phú ông thường lui tới, thấy
Kính Tâm đẹp người đẹp nết đã đem lòng si mê, nhiều
lần cố tình quyến rũ nhưng trước sau đều bị Kính Tâm
chối từ lẩn tránh. Thị Mầu vô cùng tức giận. Sau đó,
ả lỡ có thai hoang với một đứa tớ trai, bèn đem việc
này đổ tội cho Kính Tâm, vì thế mà Kính Tâm đã bị làng
nước khảo tra hết sức tàn nhẫn. Cuối cùng, sư cụ chùa
Vân phải đem tiền nộp phạt cho làng để chuộc nàng về,
cho làm căn chòi phía ngoài cổng chùa để ở.
Thị
Mầu sau khi hạ sinh được một con trai liền đem bỏ trước
căn chòi của Kính Tâm. Lúc đầu Kính Tâm rất bối rối,
nhưng rồi do lòng từ bi nên nàng đã đem đứa bé vào nhà
nuôi dưỡng, ngày ngày lại phải ẵm “con” vào làng xin
sữa, mặc cho mọi người mỉa mai. Thật không có nỗi đắng
cay tủi nhục nào bằng cái cảnh mà Kính Tâm phải chịu đựng
hơn mười năm trời để nuôi đứa bé. Thế rồi, lúc đứa
bé chưa đến tuổi trưởng thành thì Kính Tâm từ giã cõi
đời. Trước khi chết, Kính Tâm đã viết một bức thư để
lại cho cha mẹ và một bức gởi cho sư cụ trụ trì kể rõ
mọi sự tình. Mọi người bấy giờ mới vỡ lẽ ra Kính Tâm
là gái, lập tức thiết đàn tràng cầu siêu cho nàng. Trong
lúc cầu nguyện, mọi người bỗng nhìn thấy Đức Phật Thiên
Tôn hiện ra trên vừng mây ngũ sắc, truyền cho Kính Tâm được
làm Phật Quan Âm. Sư cụ chùa Vân (theo tích chèo) lúc đó
đã hát theo điệu kể hạnh rằng:
“Nay
Bà Thị Kính hóa duyên
Nam
mô Phật độ vô biên hằng hà
Hóa
thân được cả mẹ cha
Kìa
là bạn cũ, nọ là con thơ
Thế
gian trông thấy sờ sờ …”.
Theo
tích chèo thì câu chuyện dừng lại ở đó, nhưng truyện thơ
thì đi xa hơn: Thị Mầu phải đền tội, phải để tang, phải
trả chi phí lập trai đàn; cha mẹ của Thị Kính cùng Thiện
Sỹ đến kịp, tất cả đều thấy cảnh Phật hiện ra truyền
cho Kính Tâm thành Phật; ông bà họ Mãng và đứa bé cũng
được lên tòa sen, còn Thiện Sỹ bị hóa thành chim vẹt đứng
hầu một bên...
Trong
truyện thơ Quan Âm Thị Kính, cảnh đó được tả lại như
sau:
“Giữa
trời một đóa tường vân
Đức
Thiên Tôn hiện toàn thân xuống đàn...
Truyền
cho nào tiểu Kính Tâm
Phi
thăng làm Phật Quan Âm tức thì
Lại
thương đến đứa tiểu nhi
Lên
tay cho đứng liền khi bấy giờ
Kìa
như Thiện Sỹ lờ đờ
Cho
làm chim vẹt đứng nhờ một bên
Độ
cho hai khóm xuân huyên
Ra
tay cầm quyết bước lên trên tòa
Siêu
thăng thoát cả một nhà
Từ
đây phúc đẳng hà sa vô cùng”.
Như
vậy, ngoài việc đề cao các hạnh trì giới, tinh tấn, nhẫn
nhục thuộc lục độ Ba la mật của Phật giáo, cả tích chèo
và truyện thơ Quan Âm Thị Kính còn đề cập đến một vấn
đề khác cũng hết sức quan yếu, đó là quan niệm về đạo
hiếu. Nhưng quan niệm hiếu ở đây đã vượt xa chữ hiếu
của nhà Nho, không chỉ gói gọn trong việc đối xử chăm
sóc cha mẹ, mà phải tìm mọi cách để độ thoát cho cha mẹ
khỏi vòng sinh tử luân hồi.
Nhìn
chung, tích chèo và truyện thơ Quan Âm Thị Kính là những tác
phẩm văn học dân gian rất có giá trị cả về nội dung tư
tưởng lẫn phương thức thể hiện, là sự kết hợp tự
nhiên, nhuần nhị giữa giáo lý nhà Phật với thuần phong
mỹ tục của dân tộc. Các tình tiết được hư cấu trong
truyện Quan Âm Thị Kính tuy còn mang nhiều yếu tố huyền
thoại, nhưng nội dung xuyên suốt của nó lại rất phù hợp
với tinh thần vị tha của Phật giáo.