ĐỌC
CHICKEN SOUP FOR THE SOUL,
NGHĨ
VỀ DƯỠNG CHẤT TÂM HỒN
CHO
TUỔI TRẺ HÔM NAY
Nguyên
Cẩn
Vì
sao tuổi trẻ hôm nay bị "suy dinh dưỡng tâm hồn"? Vì sao
khi hai người cùng ngắm nhìn bầu trời đêm qua những chấn
song cửa, một người chỉ thấy toàn màu đen, còn người
kia lại thấy những vì sao lấp lánh?...
Trong
loạt bài phóng sự "Giang hồ đất cảng", báo Tuổi Trẻ số
ra ngày 17-2 đã dẫn lời Thượng tá Dương Tự Trọng, Đội
trưởng Đội cảnh sát điều tra tội phạm và an toàn xã
hội Hải Phòng: "Nguyên nhân sâu xa nhất là một bộ phận
giới trẻ bị "suy dinh dưỡng" nhân cách, khiến họ không
rõ ràng phương hướng phấn đấu, không có lý tưởng sống
cao đẹp. Sự tha hoá xuống cấp của một bộ phận đạo
đức xã hội và sự thay đổi thang giá trị cuộc sống, cộng
với sự tác động của mặt trái từ nền kinh tế thị trường
khiến những tiêu cực đã thấm vào họ khi họ chưa được
trang bị sức đề kháng hay kiến thức để phân biệt rõ
ràng".
Bằng
những câu chuyện thấm đẫm tình người với những tấm
gương giàu nghị lực và nhân ái, tác phẩm Chicken Soup for
the Soul của Jack Canfield và Mark Victor Hansen đã cho ta những
giải đáp cụ thể, đầy tính nhân văn về vấn đề này.
Cuốn
sách ấy đề cập đến điều gì mà được phát hành đến
85 triệu bản và được dịch sang 37 ngôn ngữ khác nhau trên
thế giới, tính cả bản tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 38?
Jack
Canfield và Mark Victor Hansen đều là những nhà diễn thuyết
lừng danh. Họ đã thuyết trình những câu chuyện ấy cho những
tập đoàn lớn như Sony Pictures, Federal Express, Merrill Lynch…,
các đài truyền hình và phát thanh nổi tiếng như ABC, CBS,
CNN … Đến khi tập hợp 101 câu chuyện tâm đắc nhất để
in thành sách, họ đã đặt tên là Chicken Soup for the Soul, do
Jack liên tưởng đến những lần ông bị ốm, mẹ thường
cho ăn súp gà để mau phục hồi sức khỏe. Ở đây, đối
với những kẻ "suy dinh dưỡng tinh thần" cũng cần bồi bổ
món súp như thế để nhanh chóng hồi phục, cuốn sách ấy
có thể hiểu là "dưỡng chất tâm hồn".
Những
câu chuyện trong cuốn sách đó thoạt nghe có vẻ rất "đời
thường": một cô con gái từ bé đã được người cha luôn
thương yêu, cưng chiều nhưng cô không để ý đến điều
ấy nhiều lắm, có lúc cô còn phản đối khi ông gọi cô
là "đứa con gái bé bỏng của bố". Cho đến một hôm cha
cô bị liệt sau một cơn đột quỵ, ông không còn có thể
đi lại, cười đùa và nhất là không bao giờ có thể nói
được lời yêu thương cô nữa. Cô ôm lấy cha mình mà lòng
quặn thắt trước nỗi đau quá lớn và cảm thấy dường
như mình đã mất cha. Nhưng cũng từ đó cô mới lắng nghe
được tiếng đập đều đều, càng lúc càng mạnh mẽ hơn
phát ra từ trái tim trong lồng ngực cha mình, như đang muốn
nói với cô rằng: "cha vẫn yêu con…"
Có
câu chuyện kể về một đứa con lúc nào cũng mặc cả tiền
bạc với mẹ của mình cho những công việc thường ngày:
cắt cỏ: 5 đô la; dọn dẹp: 1 đô la; đổ rác: 1 đô la; học
tập tốt: 5 đô la; trông em:25 xu... Và cậu nhận được câu
trả lời nhẹ nhàng của mẹ cũng trên tờ phiếu tính tiền
ấy: chín tháng mười ngày trong bụng mẹ: miễn phí; chăm
sóc cầu nguyện khi con đau ốm, nhiều đêm thức trắng không
ngủ, đồ chơi, thức ăn, quần áo, và cả nước mắt của
mẹ do con gây ra: tất cả đều miễn phí; và trên tất cả
là tình yêu của mẹ dành cho con: cũng hoàn toàn miễn phí.
Khi đọc những giòng chữ này, cậu bé đã xúc động ghi lại:
mẹ sẽ được nhận lại trọn vẹn (Paid in full).
Có
câu chuyện về tình bạn khi cả lớp cùng cạo trọc đầu
để cho người bạn bị ung thư khỏi phải mặc cảm; có câu
chuyện về lòng trung thực khi người cha phải làm gương cho
đứa con khi không muốn khai gian tuổi của chúng để giảm
giá vé; có câu chuyện cần phải học về sự đoàn kết từ
đàn ngỗng đang bay trên bầu trời theo đội hình chữ "V"
để chống chọi với sức cản của gió, và khi một con ngỗng
nào bị ốm hoặc bị bắn trọng thương, lập tức sẽ có
hai con tách khỏi đội hình dìu nó xuống đất và bảo vệ
nó.
Và
bài học con người cần rút ra: chúng ta phải luôn là điểm
tựa cho nhau trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào của cuộc
sống, phải luôn giữ đúng vai trò và vị trí của mình.
Tất
cả những câu chuyện được cuốn sách này kể lại tuy rất
bình dị, rất "đời thường", nhưng từ lâu chúng ta hoặc
không để ý hoặc quên lãng. Chúng ta kêu gọi giới trẻ phải
hy sinh, phải yêu nước, phải và phải..., nhưng lại chưa
hề hoặc đã xao nhãng trong việc dạy dỗ chúng phải biết
yêu thương mẹ của mình, người đầu tiên đã ấp ủ tình
thương yêu mà chúng được hội ngộ trên đời, làm sao để
chúng biết yêu thương cha, thầy cô, anh em, bạn bè, cho đến
những người láng giềng quanh khu phố. Ta nhớ đến "Những
tấm lòng cao cả" của Emondo de Amicis mà ngày xưa ta may mắn
có lần được đọc. Tuổi trẻ hôm nay sống trong nhiều điều
kiện hiện đại hơn xưa, trong một thời đại mà sức mạnh
của khoa học kỹ thuật đang xâm nhập vào nhiều lĩnh vực
của đời sống, thế nên "khoảng trống tâm hồn" sẽ rất
lớn nếu chúng ta không đưa vào gia đình, đưa vào học đường
những bài học căn bản về TÌNH YÊU THƯƠNG, hay nói chính
xác hơn, chúng ta phải có trách nhiệm giáo dục TÂM HỒN cho
lớp trẻ. Người ta đã chứng minh bằng các nghiên cứu khoa
học, bằng các con số thống kê, rằng những đứa trẻ lớn
lên trong bầu không khí đầm ấm và tràn ngập thương yêu
của gia đình hay lớp học thì chúng sẽ không bao giờ trở
thành những kẻ xấu ác. Nếu những đứa trẻ được lớn
lên trong một môi trường luôn bị dày vò bởi những đam
mê vật chất, chứng kiến những thói hư tật xấu mà
người lớn gieo vào tâm hồn chúng như tính ích kỷ,
hận thù, nhỏ nhen, thô bạo... thì những đứa trẻ bất hạnh
ấy sẽ bị rơi vào những vũng xoáy của tội lỗi, bởi lẽ
ở đó là một KHOẢNG TRỐNG VĂN HÓA mà những người lớn,
những người có trách nhiệm đã vô tình hay cố ý xô đẩy
chúng vào đó (xem bài phân tích trên Báo Văn Hoá Phật Giáo
số 13). Đây là MỘT VẤN ĐỀ ĐÁNG BÁO ĐỘNG khi tuổi trẻ
đang phải ăn đong lý tưởng và đang ở tình trạng "suy dinh
dưỡng tâm hồn" trầm trọng mà lại phải ngốn các món ăn
độc hại về thói dối trá, về tính vụ lợi đến tàn nhẫn...
Hãy
mang ngay Chicken Soup for the Soul hay dưỡng chất tâm hồn đến
cho tuổi trẻ hôm nay bằng những bài học giản đơn, nhưng
được minh chứng hùng hồn bằng những tấm gương trung thực,
tràn đầy lòng nhân ái cuả các bậc cha anh.
Đức
Dalai Lama đã nói: "Không một ai sinh ra mà không cần tình thương…,con
người không phải chỉ thuần thể xác, mà tinh thần có vai
trò chủ động trong việc cảm nhận cái đẹp, cái quý giá,
làm cho chúng ta có thể thương yêu...", bởi vì "trong tâm khảm
mỗi chúng ta đều mong muốn được thương yêu".
NẰM
TRONG HẠT CẢI
Nhật
Chiêu
Càn
khôn có thể cầm nắm, nhật nguyệt có thể thu nhỏ. Đời
sống vũ trụ có thể mang theo bên mình trên bước đường
vân du như một hành trang nhỏ nho và rất nhẹ. Và ta cảm
thấy càn khôn, nhật nguyệt nở rộ quanh ta như hoa cỏ trên
đồng. Và chân lông, tơ tóc của ta rung động với thế giới,
với mười phương...
Cái
mà con người có thể nhìn ngắm mỗi ngày là bầu trời và
mặt đất, và thân thiết gọi: Càn - Khôn.
Cái
mà con người thường chờ đợi trong thiên nhiên vô tận là
mặt trời và mặt trăng, hai quả cầu chói rạng, được thế
gian xem như bạn tình: Nhật - Nguyệt.
Càn
khôn và nhật nguyệt quá lớn lao đối với con người. Từ
nghìn xưa, không có điều gì khác gần gũi hơn, thân quen hơn,
đáng yêu hơn.
Và
còn điều này nữa: Không có gì nhỏ hơn nhật nguyệt, càn
khôn! Thực sự, đó là những cái vô cùng nhỏ.
Những
tâm hồn thiền xưa kia đã nhìn ngắm càn khôn nhật nguyệt
mỗi ngày như đó là nguồn vui bất tuyệt và như đó là cái
đẹp vô song.
Nên
lời thơ cổ vẫn còn vang vọng đến nay:
Tụ
trung nhật nguyệt tàng
Chưởng
nội ác càn khôn.
(Thiền
lâm cú tập)
Nhật
nguyệt ẩn tàng trong ống tay áo này và càn khôn nắm trong
lòng bàn tay đây.
Với
nhà thơ Trung Hoa ấy, càn khôn có thể cầm nắm, nhật nguyệt
có thể thu nhỏ. Đời sống vũ trụ có thể mang theo bên mình
trên bước đường vân du như một hành trang nhỏ nho và rất
nhẹ.
Ở
Việt Nam, vào thời Lý, thiền sư Khánh Hỷ (1067-1142) nhìn
trong hạt cải và đầu sợi lông cả một vũ trụ huy hoàng:
Nhật
nguyệt nằm trong hạt cải,
Càn
khôn náu tại đầu lông.
Ai
hay phàm thánh, tây đông?
Hiện
ra đại dụng trong lòng bàn tay.
Điệu
thơ tiếng Việt này là do tôi chuyển ngữ, cũng liều lĩnh
đấy thôi. Nguyên ý thì như sau:
Càn
khôn tận thị mao đầu thượng
Nhật
nguyệt bao hàm giới tử trung
Đại
dụng hiện tiền quyền tại thủ
Thùy
tri phàm thánh dữ tây đông.
Dịch
sát nghĩa sẽ là: Cả càn khôn ở trên đầu một sợi lông.
Cả nhật nguyệt chứa trong lòng hạt cải. Đại dụng hiện
trước mắt như nắm tay ở tại cánh tay. Ai biết được đâu
phàm thánh cùng với tây đông?
Thiền
sư Khánh Hỷ là người huyện Long Biên, thụ giới nơi thiền
sư Bản Tịnh ở chùa Chúc Thánh. Ông được vua Lý Thần Tông
phong làm Tăng thống.
Tập
thơ của Khánh Hỷ là “Ngộ đạo ca thi tập”, rất tiếc
là đã thất lạc. Đoạn thơ trên nằm trong bài thơ bát cú
hay là bài kệ trả lời đệ tử Pháp Dung hỏi về sắc không,
phàm thánh.
Càn
khôn tận thị mao đầu thượng
Có
gì nhỏ bằnh đầu sợi lông? đầu ngọn cỏ? đầu sợi tóc?
đầu giọt lệ?... Không phải là một cái gì rất li ti mà
chính là càn khôn.
Càn
khôn có thể cực nhỏ chính là vì nó cực lớn.
Sợi
lông mong manh nhưng đầy sức sống. Nó mọc. Như cỏ mọc.
Như sóng dâng. Như một tia nắng. Nó mọc với tất cả sức
mạnh của càn khôn.
Sợi
lông mọc.
Nó
mọc như một ý niệm. Và gió nổi lên. Và vũ trụ thành hình.
Vô
vàn sợi lông mọc trên thế gian như vô vàn ý niệm lao xao
trong tâm hồn nhân thế.
Có
gì nhỏ hơn một ý niệm? Và có gì lớn hơn một ý niệm?
Sợi
lông thì cũng nhỏ như một chút nhụy hoa mai :
Nhất
điểm hoa mai nhụy
Tam
thiên thế giới hương.
(Thiền
lâm cú tập)
Nhụy
hoa nhỏ nhít như vậy mà bao phủ hương thơm cho bao nhiêu càn
khôn.
Hoa
mơ một chút nhụy
Ba
nghìn thế giới thơm.
Vậy
thì một sợi lông cũng chứa đủ càn khôn, thế giới. Nếu
không thì nó không thể mọc. Ba nghìn thế giới không thơm
thì chẳng có một nhụy mơ nào thơm.
Vì
thế giới này là thế giới Hoa Nghiêm.
Có
một vị tăng sau khi bị thiền sư Mã Tổ đạp cho một cái
vì hỏi về chân lý Thiền đã vui mừng phấn khích kêu lên:
“Lạ thay, tất cả chân lý trong kinh đều hiện ra trên đầu
một sợi lông!”
Nhật
nguyệt bao hàm giới tử trung
Hạt
cải, bông hoa dại, hạt cát, giọt nước… chứa được những
gì?
Nhà
thơ huyền bí Anh William Blake ca hát:
Nhìn
thấy thế giới trong hạt cát
Và
thiên đàng trong bông hoa dại
Nắm
vô tận trong lòng bàn tay
Và
vĩnh cửu trong một giờ này.
(To
see a World in a Grain of Sand
And
a Heaven in a wild flower,
Hold
Infinity in the palm of your hand
And
Eternity in an hour).
Tâm
hồn ấy gặp gỡ phương Đông trong khoảnh khắc, dường như
đang trò chuyện cùng Khánh Hỷ thiền sư: Nhật nguyệt nằm
trong hạt cải.
Dạy
chúng đệ tử, Hòa thượng Tuyết Phong nói rằng: “Nếu như
thâu nhiếp tất cả đại địa này thì cũng chỉ vừa bằng
hạt gạo mà thôi!”.
Tất
nhiên rồi, một giọt nước biển chính là biển, một tia
nắng cũng là mặt trời, một lá cỏ đủ là thiên nhiên.
Cái
cách mà mặt trời mặt trăng đi vào hạt cải chẳng khác
gì cách chúng đi vào mây, vào biển, vào đất, vào trái tim
chúng ta.
Mặt
trời mặt trăng cũng là những hạt cải, những hoa cải trên
cánh đồng vũ trụ. Một bài thơ haiku của Buson đã thể hiện
hình ảnh đó:
Đồng
cải hoa vàng:
Phương
Tây mặt trời lặn,
Phương
Đông vầng trăng lên.
(Na
no hana ya
tsuki
wa higashi ni
hi
wa nishi ni).
Trong
kinh Duy Ma, phẩm Bất Tư Nghì có đoạn: “Lấy núi Tu Di bỏ
vào trong hạt cải, lấy nước bốn biển đổ vào chân lông”.
Chính
vì thế mà Thứ sử Giang Châu là Lý Bột đời Đường, đọc
sách nhiều đến nỗi được gọi là Lý Vạn Quyển, lên Lô
Sơn tham vấn Hòa thượng Qui Tôn: “Kinh nói hạt cải chứa
núi Tu Di là sao?”. Hòa thượng hỏi lại: “Thế thì vạn
quyển sách chứa trong đầu ông thế nào?”. Dường như, Lý
Bột nghe thế bỗng dưng đại ngộ.
Hạt
cải chứa nhật nguyệt hay chứa núi Tu Di thì cũng tựa như
tâm hồn ta chứa vô vàn thanh sắc của đời sống.
Đại
dụng hiện tiền quyền tại thủ
Đại
dụng hiện ra huy hoàng trước mắt và có thể nắm trong nắm
tay này.
Đại
dụng là cái huyền diệu của vô tận. Nhà thơ Blake nói “Nắm
vô tận trong lòng bàn tay” thì chẳng khác nào Khánh Hỷ thiền
sư bảo: “Hiện ra đại dụng trong lòng bàn tay”.
Bàn
tay nắm lấy đại dụng cũng như nắm lấy mọi thứ có thể,
cũng như buông bỏ mọi cái có thể. Vì một nắm tay không
thể nắm mãi.
Đại
dụng hay đại đạo luôn luôn hiện ra trước mắt. Có thấy
hay không là chuyện của ta.
Ta
sống với cái hiện tiền của đại đạo từng ngày, từng
giờ và từng sát na.
Bích
Nham Lục còn ghi lời cổ nhân: “Tất cả càn khôn đại địa
chỉ là cái chính mình. Lạnh thì khắp trời đất lạnh. Nóng
thì khắp trời đất nóng…”.
Thùy
tri phàm thánh dữ tây đông
Ai
hay biết thế nào là phàm thánh, thế nào là tây đông?
Phàm
thánh hay tây đông chỉ là những cái thấy sai lầm của nhị
kiến, do chấp ngã và chấp pháp mà ra.
Tuệ
Trung Thượng Sĩ nói rõ:
Ta
và người như móc cũng như sương
Phàm
với thánh như sấm và như chớp
…
Ai
là phàm nào? ai là thánh?
(Ngã
nhân tự lộ diệc tự sương
Phàm
thánh như lôi diệc như điện.
…
Thục
thị phàm hề, thục thị thánh?).
Cũng
vậy, nơi nào là tây, nơi nào là đông? Khi phân biệt, ta chẻ
đời sống ra. Làm đôi, làm tư… Đời sống trở nên manh
mún và chính ta trở nên manh mún, linh loạn.
Toàn
văn bài thơ của Khánh Hỷ là lời đáp cho câu hỏi về sắc
không của đệ tử Pháp Dung, ghi lại trong Thiền uyển tập
anh.
Một
hôm, Pháp Dung hỏi: “Thấu đạt được sắc không, thì sắc
là phàm hay thánh?”.
Sư
ứng khẩu đọc bài kệ:
Lao
sinh hưu vấn sắc kiêm không
Học
đạo vô như phỏng tổ tông
Thiên
ngoại mịch tâm nan định thể
Nhân
gian thực quế khởi thành tùng
Càn
khôn tận thị mao đầu thượng
Nhật
nguyệt bao hàm giới tử trung
Đại
dụng hiện tiền quyền tại thủ
Thùy
tri phàm thánh dữ tây đông?
Bây
giờ, có lẽ nên chuyển ngữ toàn thể bài thơ:
Không
sắc hỏi chi cho mệt
Đạo
à? Tìm đến nguồn tông.
Ngoài
trời tìm được tâm không?
Cũng
như hương quế không trồng cõi nhơ.
Nhật
nguyệt nằm trong hạt cải
Càn
khôn náu tại đầu lông.
Ai
hay phàm thánh tây đông?
Hiện
ra đại dụng trong lòng bàn tay.
Cái
tên Khánh Hỷ mang ý nghĩa vui mừng, tương đương với tên
tiếng Phạn Ananda, em họ của Phật Thích Ca, sau trở thành
đệ tử thân tín nhất của Phật, nổi tiếng là đa văn.
Bài
thơ tinh diệu của Thiền sư Khánh Hỷ ngát lừng hương quế.
Đó là hương của niềm vui. Và ta cảm thấy càn khôn, nhật
nguyệt nở rộ quanh ta như hoa cỏ trên đồng. Và chân lông,
tơ tóc của ta rung động với thế giới, với mười phương.
Tự
tình ca
Người
đi cuối đất cùng trời
Về
nghe Non Nước nối lời mẹ ru
Biển
reo hòa sóng vi vu
Núi
mênh mông dựng nụ cười cỏ hoa
Tiếng
chuông thạch động ngân nga
Lắng
trong đều thở ngọc ngà đá xanh
Về
đây soi bóng long lanh
Hòa
âm sông núi thiên thanh như là...
Phạm
Thư Cưu
TẠ
ƠN NƯỚC MẮT NỤ CƯỜI
Võ
Quê
Tôi
xin thầm tạ ơn người
Tặng
tôi nước mắt nụ cười ngày qua
Cánh
hồng vẫn thắm đài hoa
Đóa
sen hương vẫn mượt mà búp xanh
Một
mai tôi có lìa cành
Ơn
người xin giữ ngọn ngành riêng tôi
Tôi
xin thầm tạ ơn người
Tặng
tôi nước mắt nụ cười thương yêu
Cầm
bằng tôi một cánh diều
Tả
tơi trước gió trong chiều biệt ly
Khổ
đau bởi quá yêu vì
Thì
thôi sắc tướng níu chi bên lòng
Tạ
ơn nước mắt người trong
Soi
vào tôi những sầu đong cuộc đời
Tạ
ơn tặng phẩm nụ cười
Dẫn
tôi vào một cõi người bao dung.
Hóa
thân
Xuân
tới. Bài thơ của tôi
Hưng
phấn che lòng ủ rũ
Ngượng
ngùng là cuộc chia phôi
Giữa
trái tim và ngôn ngữ
Bước
của mùa đi rất chậm
Thời
gian trũng xuống thanh xuân
Thơ
trên mặt bàn ảm đạm
Giấu
đi giùm tôi lệ hoen
Đứng
dậy. Thôi đành đứng dậy
Thơ
vừa xong lúc rạng đông
Ồ
trên trang thơ khi ấy
Tràn
ra những ngọn nắng hồng.
Nguyễn
Đạt
ĐẠI
SƯ TRÍ KHẢI
VÀ
THIÊN THAI TÔNG
Tuệ
Hạnh
Đã
có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên
cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên
Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí
của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật
giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể
nhân loại.
Đại
sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử
gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được
lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong
thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc
Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần
Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại
sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng
Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước
nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều
cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than
đau khổ.
Về
mặt địa lý, Trung Hoa là một nước rộng lớn gồm nhiều
tỉnh, riêng một tỉnh như Quảng Đông đã lớn hơn nước
Việt Nam, cho nên Trung Hoa có nhiều dân tộc với thổ ngữ,
tập tục văn hóa, truyền thống tín ngưỡng không giống nhau.
Chữ Hán được dùng làm văn tự chính.
Phật
giáo truyền sang Trung Hoa vào đầu kỷ nguyên Tây lịch do các
tăng sĩ Ấn Độ thuộc nhiều vùng như Khương Cư, Nguyệt
Chi, Quy Tư... hoằng hóa; các ngài đến bằng đường bộ,
xuyên qua dải Thông Lĩnh, du nhập vào miền Bắc, hay đến
bằng thuyền, đáp bến tại Quảng Châu miền Nam 1. Trước
khi đến Trung Hoa, các ngài đã nổi danh, nên khi đến đây,
các ngài đã nỗ lực thuyết giảng, dịch thuật kinh sách,
để được các "phiên vương" biết đến mà thỉnh mời và
hỗ trợ cho việc hoằng Pháp. Nhiều người đã dựa vào truyền
thuyết: vua Hán Minh đế nằm mộng thấy người vàng (Đức
Phật), bèn cho người sang Thiên Trúc và thỉnh được hai vị
Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan cùng kinh Tứ thập nhị chương
về an trí tại Bạch Mã tự, để cho rằng Phật giáo được
truyền đến Trung Hoa vào năm 67 sau Tây lịch. Tuy nhiên, học
giả Hồ Thích giả thiết rằng, Phật giáo được truyền
vào sớm hơn niên đại này nhiều thế kỷ. Giả thiết của
ông đang được các học giả lưu tâm, do ông lý luận rằng:
-
Vua A Dục (Asoka, 273-231 trước Tây lịch) sau khi quy Phật đã
tận tâm xiển dương Phật pháp, và một trong những công đức
của ông là gửi nhiều phái đoàn tăng lữ đi khắp nơi để
hoằng hóa: phương Nam truyền đến Tích Lan; phương Tây truyền
đến tận Hy Lạp, Do Thái, Nga, Ba Tư... Vậy thì không lý nào
mà không có một hoặc vài tăng đoàn đến được vùng Đông
Bắc Trung Hoa.
-
Đã có những chứng tích để khẳng định vào năm 245 trước
Tây lịch, dưới triều vua A Dục, Phật giáo đã có mặt tại
các nước Đông Nam Á, vùng đất vàng (Suvarnabhùmi, thuộc
quần đảo Java), trong đó có Việt nam: với thuyết Chử Đồng
tử học đạo với nhà sư Phật Quang khoảng thế kỷ III trước
Tây lịch 2.
Nhưng
dù Phật pháp có du nhập Trung Hoa vào đời Hán Minh đế hay
sớm hơn nữa, thì lịch sử cho thấy rằng, mãi đến thế
kỷ III sau Tây lịch, Phật pháp vẫn chưa phát triển rộng
rãi tại đất nước được xem là trung tâm của vũ trụ này.
Từ khi Hán Minh đế nằm mộng vào năm 67 sau Tây lịch cho
đến một trăm năm sau, An Thế Cao mới là vị tăng sĩ đầu
tiên được ghi trong lịch sử 3, từ An Tức đến Lạc Dương
vào năm 166 sau Tây lịch và hoạt động tại đây một thời
gian trước khi xuống vùng Quảng Châu. Kế đến là Khương
Tăng Hội, sơ Tổ Phật giáo Việt Nam và cũng là sơ Tổ Thiền
tông Việt Nam4, từ Giao Châu chống tích trượng đến nước
Ngô vào năm 247 sau Tây lịch để hoằng hóa. Cùng thời với
Tăng Hội có Chi Khiêm, một cư sĩ học giả, dịch nhiều kinh
điển. Tuy nhiên, những sinh hoạt như thế cho thấy Phật giáo
vẫn còn phôi thai, lẻ tẻ, do một vài nhóm nhỏ trí thức
hay quý tộc bảo trợ các công cuộc giảng pháp, phiên dịch,
thảo luận..., chứ chưa hội nhập vào toàn thể nếp sống
văn hóa thượng lưu hay tín ngưỡng trong dân gian.
Các
học giả hiện đại khi nghiên cứu về thời đại này đã
phân tích: lý do Phật giáo Ấn Độ đã không thể phát triển
mau chóng tại Trung Hoa vào những thế kỷ đầu vì những lý
do như sau:
1.
Phương diện ngôn ngữ5
Tiến
trình dịch kinh từ chữ Phạn sang chữ Hán là một tiến trình
dài hàng trăm năm, với rất nhiều trở ngại, thử thách về
mặt ngôn ngữ. Phạn và Pàli là ngôn ngữ đa âm, có văn phạm
và ngữ pháp rành mạch, phát âm trầm bổng dài ngắn rõ rệt,
nên khi chuyển dịch sang Hán ngữ (ngôn ngữ độc âm, bình,
thanh, tượng hình, không có văn phạm quy ước...) đã gây
nên không ít khó khăn cho các nhà hoằng giáo và phiên dịch
kinh điển.
Mãi
cho đến Cưu Ma La Thập (344-413)6, nhà phiên dịch lớn của
văn hóa Phật giáo Trung Hoa, Phật pháp mới có thể xem như
đã đặt được nền móng làm cơ sở cho những phát triển
lớn mạnh về sau. Đương thời, ngay chính ngài La Thập cũng
phải đối diện với vấn đề: nên dịch ý hay dịch sát
nghĩa... Dịch ý có thể bỏ mất phần uyển chuyển trong văn
pháp của kinh Phạn, còn dịch sát nghĩa thì Hoa văn bấy giờ
không đủ từ ngữ cao thâm và nhiều ý nghĩa như của Phạn
ngữ để chuyển tải. Cuối cùng, chính Cưu Ma La Thập cũng
phải than thở: “Tiến trình dịch kinh từ Phạn ra Hán cũng
giống như việc mình nhai cơm cho nhuần nhuyễn rồi để cho
người khác nuốt vậy”7.
2.
Phương diện tư tưởng
Bấy
giơ,ø triết lý Trung Hoa không có những khái niệm tương đương
với Phật học. Thí dụ điển hình là thuật ngữ sunyatà,
cho đến ngày nay, Tây phương vẫn phải điên đầu: trước
tiên sunyata được dịch là nihilism, sau đó void, đến nothingness,
rồi emptiness, cuối cùng là transparency, mà vẫn không chuyển
tải được đầy đủ nghĩa của sunyatà. Cho nên trong các
tự điển Anh-Mỹ tầm cỡ hiện nay đã dùng từ này để
bổ sung vào ngôn ngữ của họ. Khi dịch sunyatà ra Hán ngữ,
các nhà phiên dịch đầu tiên đã phải mượn chữ "vô" theo
nghĩa "hư vô" của Đạo giáo8. Như phẩm XXIV, kệ 18 của Trung
luận, La Thập dịch là: "Chúng nhân duyên sinh pháp, Ngã thuyết
tức thị vô..." (theo Đại Tạng Taishò q.30, tr. 33b, dòng 11),
về sau mới đổi lại là "không". "Vô" ở đây đối lập
với "hữu". Thời bấy giờ Đạo giáo đang hưng thịnh, các
cuộc huyền đàm của nhóm trí giả huyền học là môi trường
thích ứng cho Phật học phát triển, nên các nhà phiên dịch
hay trước tác đã không ngần ngại sử dụng rất nhiều từ
ngữ tương đương của Đạo giáo để giải thuyết tư tưởng
Phật học, điển hình là từ sunyatà nêu trên. Phương thức
sử dụng đối giải này được gọi là "cách nghĩa" (matching
terms). Tăng Triệu (374-414), một trong bốn đệ tử xuất sắc
của La Thập, thường sử dụng từ ngữ Đạo giáo để cách
nghĩa tư tưởng Tánh Không trong các tiểu luận mà về sau
được lập thành là Triệu luận9, tác phẩm đã đưa ngài
lên làm sơ tổ của Tam luận tông Trung Hoa.
Ngoài
ra, những ý niệm như luân hồi, nghiệp (samsara), giải thoát
(moksa), giác ngộ (nirvana), báo ứng... đều rất mới mẻ với
Trung Hoa thời bấy giờ. Nhất là kha1i niệm "vô ngã" (anatta).
Người Trung Hoa tin có hồn phách, nên ban đầu họ khó chấp
nhận quan điểm "vô ngã".
3. Phương diện văn hóa và chính trị
Bấy
giờ đạo Khổng chủ trương nhập thế, đóng góp vào xã
hội, nên đã có hệ thống lý luận chặt chẽ bàn về Tam
cương, Ngũ thường, với các bộ ngũ kinh, tứ thư; khuyến
khích sinh sản con cái để nối dõi tông đường, rạng rỡ
gia môn. Phật giáo lại chủ trương xuất thế, tức phá vỡ
kết cấu trật tự theo mô hình xã hội đạo Khổng; xuất
gia giữ giới thì không sinh con, không bái lạy vua quan,... nên
đi ngược với tôn ti luật lệ xã hội đương thời. Các
nhà nghiên cứu đều có chung quan điểm rằng, dân tộc Ấn
Độ với nguồn gốc Aryan, rất giống với Tây phương trong
mọi phương diện hơn là với Trung Hoa.
4.
Phương diện tín ngưỡng
Người
dân Trung Hoa tin tưởng có một vị Ngọc hoàng Thượng đế
ngự trị trên trời, nhìn xuống cõi trần và lo cho dân gian,
phán định lành dữ; hệ thống triều đình của ngài giống
như triều đình cõi trần thế, bởi vì chính ngài đã gửi
con ngài (thiên tử) xuống trần trị vì thiên hạ, nên hoàng
đế thì có được thiên mạng. Phật pháp lại không nói gì
đến Ngọc hoàng Thượng đế hay các thần thánh mười phương
tám hướng, chỉ dạy tu hành tự mình cứu khổ..., nên đó
là điều mà người Trung Hoa lúc đầu khó chấp nhận.
Đây
là những trở lực lớn mà Phật giáo Ấn Độ khi truyền
sang Trung Hoa phải đối mặt. Cho nên, phải khoảng từ thế
kỷ 6 trở đi, sau khi Phật giáo đã phát triển vững mạnh
tại Trung Hoa, dung hội Khổng, Đạo, thì mới tạo thành ba
lực lượng văn hóa tín ngưỡng chủ đạo của Trung Hoa. Tây
phương bây giờ cũng phải tán thán: "Nếu Phật giáo đã có
thể phát triển và hội nhập tại Trung Hoa, thì chắc chắn
có thể phát triển bất kỳ nơi nào trên thế gian này"10.
Họ phải tán thán bởi vì họ đã đích thân chứng kiến
lịch sử phát triển cuồn cuộn không ngừng của Phật giáo
tại Tây phương trong vòng chỉ hơn một thế kỷ qua.
Như
vậy, phải trải qua một thời gian dài gần 6, 7 thế kỷ,
từ thời du nhập bị lãng quên (3 thế kỷ đầu) đến thời
phát triển (thế kỷ III-IV), cây cổ thụ Phật giáo mới có
thể đâm chồi, nở hoa trên mảnh đất Trung Hoa. Và trong thời
phát triển này, các sinh hoạt có tính cách Phật giáo phần
lớn quy tụ chung quanh những bộ kinh điển, hoặc công tác
dịch thuật, hoặc viết sớ giải, hoặc đàm luận có tính
cách trí thức, thượng lưu, bác học..., hoặc với không khí
huyền đàm, trừu tượng..., thường được giới vua chúa
hay quyền quý bảo trợ.
Tiến
trình dịch thuật đòi hỏi thời gian và nỗ lực của nhiều
người. Như trường hợp La Thập, ngài đọc bản Phạn văn,
sau đó một hay nhiều đệ tử xuất sắc diễn dịch ra Hán
văn, người nào giỏi Hán văn thì ghi chép lại thành câu đủ
nghĩa11. Một tiến trình đòi hỏi nhiều công sức như thế
đưa đến một sự kiện kỳ thú là khi kinh Đại bát Niết
bàn (Mahàparinirvàna sùtra) mới vừa được dịch phần đầu,
Đại sư Đạo Sanh, đứng đầu tứ kiệt, đã có viễn kiến
cho rằng, hạng nhất xiển đề ca (icchantikas), vốn bị xem
là hạ tiện không thể có khả năng giác ngộ, cũng có Phật
tính. Đề xướng táo bạo và độc đáo này đã khiến Đạo
Sanh bị trục xuất khỏi đạo tràng Kiến Khương vào năm
428. Đạo Sanh bèn lui về Lô sơn, dọc đường, trong khi nghỉ
ngơi, Đại sư xếp đá lại thành một đống, ngồi giảng
ý nghĩa Phật tính tiềm tàng trong mỗi sinh thể; đá cũng
gật đầu12. Phải đợi đến năm 431, khi Dharmaksema hoàn tất
phần cuối kinh Đại bát Niết bàn, Đạo Sanh mới được
tán thán là đúng, có tuệ giác hơn người.
Các
bộ kinh lớn lần lượt xuất hiện. Năm 179, dòng văn học
Bát Nhã (Prajnaparamita), với các kinh tiêu biểu như kinh Kim
Cương, Bát nhã Tâm kinh,... đã được truyền vào Ttung Hoa.
Chi Lâu Ca sấm (Lokakshema) dịch Đạo hành Bát nhã năm 181,
sau đó dịch Ban châu Tam muội kinh (Pratyutpanna-samàdhi sùtra).
Đại
Bát nhã kinh do Pháp Hộ (Dharmaraksha) dịch năm 286; sau đó Moksala
(Vô Cha La) trùng dịch năm 291. Trúc Pháp Hộ cũng tiếp dịch
kinh Pháp Hoa do Chi Lâu Ca Sấm bỏ dở; sau này Cưu Ma La Thập
lại trùng dịch lần nữa vào năm 406 và được sử dụng
đến ngày nay. Chi Khiêm, cư sĩ học giả thế kỷ III đã dịch
kinh Duy Ma Cật (Vimalakìrtinirdesa sùtra), mà sau này cũng lại
được La-thập trùng dịch năm 406. Kinh Niết Bàn, khiến Đạo
Sanh nổi danh do chủ trương Phật tính phổ quát, và bị trục
xuất khỏi đạo tràng Kiến Nghiệp vào năm 428, trước được
Pháp Hiển dịch năm 418 cùng với Giác Hộ (Buddhabhadra) nhưng
bỏ dở cho đến khi Dharmaksema hoàn tất năm 431.
Số
lượng kinh điển được phiên dịch bấy giờ đã đủ nhiều,
nên Đại sư Đạo An (312-385) mới đề xướng việc tập hợp
các kinh điển lại, liệt kê những bản đã được dịch
cho tiện tham khảo, nhưng đề xướng này bị bỏ qua; ngay
cả quyển mục lục đầu tiên do Đạo An tập thành cũng bị
thất tán. Mãi cho đến đời Đại sư Trí Khải ở cuối thế
kỷ VI, tình trạng kinh điển bằng Hán văn đã quá phong phú,
đến nỗi những cuốn mục lục đầu tiên đã xuất hiện:
- Xuất
tam tạng ký tập (Taisho 55, 2145: 1-114)13 do Tăng Hựu tập thành
vào khoảng năm 515. Đây là quyển mục lục ra đời sớm nhất,
đúng đắn và đáng tin cậy nhất hiện còn lưu hành. Trong
quyển này, Tăng Hựu có nhắc đến một mục lục do ngài
Đạo An tập thành năm 374, trong đó Đạo An liệt kê 26 nghi
kinh (ngờ không phải do chính Phật thuyết), 143 bản thất
dịch (không tên dịch giả) và 175 tư liệu lạ kỳ (dị kinh).
Đại sư Tăng Hựu cũng ghi thêm 24 bản mà chính ngài cho là
ngụy kinh và 30 bản do các vị khác gọi là ngụy kinh.
- Chúng
kinh mục lục (Taisho 55, 2146: 115-149) do vua Tùy ra sắc lệnh
tập thành vào năm 589. Bộ mục lục này kể như đầy đủ
nhất về các kinh điển lưu hành đương thời, nhưng không
đáng tin cậy vì người ghi đôi khi không có bản kinh trong
tay, chỉ nghe nói lại.
- Lịch
đại Tam bảo ký (Taisho 49, 2034:22-128) do Phí Trường Phòng
tập thành 4 năm sau Tùy Chúng kinh mục lục trên, với mục
đích chứng tỏ Phật pháp siêu việt hơn Đạo giáo, đưa
đến tình trạng ghi chép hỗn tạp, không đáng tin cậy.
Còn
có một số quyển mục lục không tiêu biểu khác sau thời
Đại sư Trí Khải, không liệt kê ở đây. Tuy nhiên, chỉ
3 bộ mục lục cùng với bộ của Đạo An đã mất, cho thấy
tình trạng phong phú của kinh điển bằng Háùn văn được
lưu hành đương thời. Ngoài ra, lại còn có những sinh hoạt
khác, như các nhà du hành, nổi tiếng nhất là Pháp Hiển du
hành Ấn Độ và Trung Á những năm 399-414 để sưu tập thêm
kinh điển. Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma, 470-543) đến Trung
Hoa vào thời Lương Võ đế để đề xướng Thiền. Đồng
thời lại có Đàm Loan (476-542) và Thiện Đạo (513-681) đang
cực lực xiển dương Tịnh Độ tông tại Nam phương. Vào
năm 504, Lương Võ đế là vị vua đầu tiên hộ trì Phật
giáo và quy y Phật, thọ giới cư sĩ tại gia.
Tóm
lại, Phật giáo vào thời kỳ của Đại sư Trí Khải rất
đa dạng, cả ở phương Bắc và phương Nam, nhưng mang nhiều
sắc thái khác nhau. TaÏi miền Bắc, chư tăng chuyên về thiền
định và tụng kinh, trong khi ở phương Nam thì lại chú trọng
đến biện luận các triết thuyết trong giới thượng lưu,
và niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh Độ trong giới bình dân.
Miền nào cũng cho rằng mình sở hữu kinh do Phật thuyết và
được chân truyền từ Phật. Tiến trình lịch sử văn hóa
nhân loại trong gần ba ngàn năm qua cho thấy, khi một tình
huống trở nên hỗn độn, cực đoan, cục bộ, bế tắc, thì
sẽ có sự xuất hiện một hay nhiều nhân vật lỗi lạc,
có viễn kiến, có đầu óc tiến bộ, có can đảm vượt ngoài
và vượt trên trào lưu đương thời để xiển dương một
tư tưởng mới, một học thuyết mới, một sáng tạo mới,
để đưa tình huống đó tiến thêm một cấp cao hơn, đưa
văn hóa bước thêm một bước xa hơn. Nhân vật lỗi lạc
đó, tại Trung Hoa, trong môi trường Phật giáo đang phát triển
rầm rộ nhưng đa phức đó là Đại sư Trí Khải (538-597),
một nhà tư tưởng đã hệ thống hóa toàn bộ giáo pháp của
Đức Phật, một triết gia Phật giáo vĩ đại ngang hàng với
Long Thọ bên Thiên Trúc với triết thuyết Tam Đế đặc biệt
của ngài.
1
Một số trước khi đến Quảng Châu thường ghé qua Giao Châu
(tức miền Bắc Việt Nam ngày nay) một thời gian để hoằng
pháp và tạo tên tuổi trưóc khi sang phương Bắc.
2
Xem Lê MaÏnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt nam, q. 1.
3
Trúc Pháp Lan và Trúc Phật Niệm vẫn còn xem là thuộc huyền
sử.
4
Tìm đọc “Khương Tăng Hội, sáng tổ Phật giáo Việt nam”
của Tuệ Hạnh, đăng trên nhiều tạp chí Phật học tại
hải ngoại.
5
Viết theo Richard J. Smith. Buddhism and the “Great Persecution”
in China, AD 841-845, trong Buddhism in Chinese Culture, edited by Cheu
Hock-Tong. Malaysia, Pelanduk Pub. 2000. tr. 21.
6
Cưu Ma La thập (Kumarajiva) cùng Chân Đế (Paramartha) và Huyền
Trang được xem là ba nhà phiên dịch tài giỏi nhất,
đã thay đổi toàn diện lịch sử văn hóa và văn học Trung
Hoa.
7
Các học giả Tây phương dịch kinh Pháp Hoa trực tiếp từ
Phạn ngữ, nếu đối chiếu với bản Hán dịch của ngài
La Thập ta sẽ thấy có một vài khác biệt. Xem lời nói đầu
trong bản dịch kinh Pháp Hoa của HT. Thích Trí Quang.
8
Ở đây cũng cần nhắc đến sự sai biệt giữa đạo Lão
và Đạo giáo: Đạo giáo là theo triết lý tiên thiên ẩn cư
luyện đan, đạo Lão thì nhập thế dùng phù chú thuật số
như Ngũ đẩu giáo...; người tu theo đạo Lão thì gọi là
Đạo sĩ hay Đạo gia.
9
Có 2 bản dịch Triệu luận: 1 của Thiền sư Thích Duy Lực,
"Triệu luận", phát hành năm 1987 tại California; 1 của Tuệ
Hạnh, "Tăng Triệu và Tánh Không Học Trung Hoa", Viện Đại
học Vạn Hạnh, 1974.
10
Viết theo Richard J. Smith, bài đã dẫn.
11
Tăng Triệu, một trong 4 đại đệ tử của La Thập (tứ kiệt),
được giao giữ việc chấp bút ghi chép này, nhờ đó mà viết
thành các tiểu luận, lập thành Triệu luận.
12
Đạo Sanh cũng là người đầu tiên thiết lập hệ thống
tư tưởng của Phật pháp trước khi Trí Khải hoàn thành Phán
giáo. Xem bài viết về "Những khuôn mặt tạo thành lịch sử:
Đạo Sanh.
13
Thập niên 1924-1934, một số học giả, giáo sư do ông
Takakusu Junjiro và Watanabe Kaigyoku làm trưởng nhóm đã tập
thành toàn bộ kinh điển Phật pháp đặt tên là Taishò Shinshù
Daizòkyò, Đại chánh tân tu Đại tạng kinh, được toàn thể
thế giới học thuật dùng làm tài liệu tham khảo và dẫn
chứng căn bản chính yếu nhất. Sách Tây phương viết tắt
là T. hay Taisho (Đại chánh) tiếp đến là quyển số (55),
mục số (2145) và số trang.
5
câu hỏi cho bạn lúc bình minh
1.
Trái tim của bạn còn đập không?
Trong
suốt cuộc đời, hình như chúng ta chỉ chăm chăm một việc
là bảo vệ mình đến mức tối đa. Chúng ta tránh né những
chướng ngại và đương đầu với những gì ngăn cản bước
tiến của mình; chúng ta nghi ngờ những âm mưu, cạm bẫy
và rồi tìm mọi cách để đối phó...
Thế
nhưng khi nhìn lại, quanh ta đa số là kẻ thù, kẻ không đáng
tin cậy. Những người bạn ngày xưa đồng cam cộng khổ nay
cũng đứng bên kia chiến tuyến với ta trong cuộc đời. Nhìn
vào gương, chúng ta thấy gì trên khuôn mặt của mình? Đó
là nét mặt đanh lại, và như thế, sâu trong lòng ngực, trái
tim ta đã hóa đá mất rồi.
Bạn
nghĩ việc gì sẽ xảy ra nếu tim mình không còn đập hay chẳng
có trái tim?
2.
Bạn làm gì với trái tim mình?
Chỉ
cần bạn có một trái tim. Thế là quá đủ! Hãy bảo vệ
trái tim này của bạn cho dù thế giới có điên đảo đến
đâu. Khi giữ được trái tim mình thì chắc chắn có những
trái tim khác đập cùng nhịp với trái tim bạn.
3.
Nên kỳ vọng vào ai giữa cuộc đời này?
Bạn
đừng kỳ vọng vào bất cứ ai giữa cuộc đời này, cho dù
đó là những vĩ nhân, là thiên tài, nếu bạn không muốn
mình bị nản lòng và thất vọng. Vì sao vậy? Bạn có nghĩ
rằng mình có thể hiểu được mọi sự trong cuộc đời này
chăng? Bạn có thể không bao giờ phạm sai lầm trong nhận
thức và hành động? Bạn hãy nhìn lại mình và tập chơi
với cuộc đời này cho thành thực và điệu nghệ, bạn sẽ
dần dần thấy rằng vạn sự xuất phát từ tâm.
4.
Nói hay nín?
“Buổi
sáng nghĩ điều lành, buổi trưa nói lời tốt, buổi tối
làm điều thiện, ta có một ngày vui.” Nếu bạn chỉ nói
những điều lành mà không nghĩ và không làm thì những lời
nói của bạn sẽ đi về đâu, chắc chắn bạn đã biết!
5.
Những con người khác có ý nghĩa với bạn không?
Khi
bơ vơ nơi xa lạ, chung quanh không một bóng người, bạn sẽ
khao khát biết bao một bóng dáng của bất cứ ai, dù đó là
người mà ngày thường bạn không hề muốn gặp. Trong cuộc
sống này, không có ai trong cuộc đời này là không có ý nghĩa
với bạn.
Theo
Viên Chiếu 2006
HỒNG
HẠC
Vương
Biên Hương
Vu
là một bốc sư sống ở núi Nam San. Ông nổi tiếng là người
nuôi chim Hồng. Hồng là giống chim trời, thế mà Vu nuôi được.
Đồn rằng ông cho chim Hồng ngủ trong một cái tổ lót bằng
mây bông trắng, đón chim Hồng bằng âm thanh dìu dặt của
sáo trúc, sáo diều, cho chim Hồng ăn bọt khí.
Ai
cũng muốn chạm tay vào cánh chim Hồng của Vu.
Họ
đổ về sân nhà Vu, trên núi Nam San. Nhưng tìm viên bốc sư
này cũng khó như tìm cánh chim Hồng. Trên cái sân đất nện,
có ngày người ta đếm được cả thảy một vạn vết chân
người và vết chân ngựa đan vào nhau, chồng chất lên nhau.
Có một ông già lẩn thẩn lập một túp lều cỏ ở sân nhà
Vu để đếm vết chân người và ngựa. Đếm xong, ông viết
cẩn thận lượng đếm được vào một cuốn sách. Sách chỉ
có hai dấu hiệu. Một dấu chữ Nhân. Một dấu chữ Mã. Còn
lại toàn là vạch. Nhưng rồi những dấu hiệu này càng về
cuối cuốn sách càng mờ dần, hòa lẫn vào nhau đến độ
không phân biệt nổi đâu là gì. Những cái vạch cũng bắt
đầu chồng chéo lên nhau đến độ không đọc nổi. Và cuốn
sách biến thành cái sân đất nện. Ông già lẩn thẩn bực
mình, thay một cuốn sách khác và cần mẫn đếm lại từ
đầu.
Trong
khi người và ngựa chen lấn để được đếm dấu chân và
họ tin tưởng rằng mình sẽ được cấp một dấu hiệu nào
đó, một tấm huy chương bằng vải đỏ có thắt nút một
bông hoa to tướng có thể quàng lên cổ hay đeo trước ngực
tùy thích nhằm chứng minh rằng mình đã đến sân nhà Vu ở
núi Nam San thì sự mệt mỏi xuất hiện. Nó dâng lên từ từ.
Nhưng nó luôn xuất hiện như một dịch bệnh, một cơn buồn
ngủ, một nỗi đắng cay, một sự thất vọng. Và đến lượt
họ, từng người một, và chúng, từng con ngựa một, diện
kiến ông già lẩn thẩn, thì chẳng còn ai trong số đó, cả
người và ngựa, nhớ được họ đến đây để làm gì. Họ
rơi vào mê cung của sự luẩn quẩn. Họ quên mất tên của
bốc sư. Họ cũng chẳng bao giờ tìm thấy ông ta và những
con chim Hồng trong các lời đồn đãi liên tục và bất tận.
Chỉ
có xưởng làm giấy đóng sách và xưởng sản xuất các huy
chương bằng vải đỏ sau núi Nam San là phát đạt và lúc
nào cũng phải tuyển thêm người.
Nhưng
đó không phải là tất cả. Một ngày trời nóng nực. Ngay
cả trên núi Nam San, vốn luôn mát lạnh, những người và
ngựa chen lấn trong sân cũng phải đổ mồ hôi. Ngày đó có
một gã đàn ông lầm lì xuất hiện. Gã đã ẩn nhẫn xếp
hàng. Gã lần từng bước trên sân nhà Vu. Gã nhắm mắt để
không nhìn thấy người, lừa và ngựa. Gã không buồn nhìn
những vệt chân chồng chéo vào nhau, trên sân cũng như trong
các cuốn sách xếp chồng đống trong lều. Cuối cùng gã cũng
đứng trước mặt ông già lẩn thẩn, kẻ chuyên chép lại
các dấu chân. Ông lão nhìn dấu chân của gã hồi lâu và
biên chép. Nhưng do trời quá nóng và vẻ ngoài lì lợm của
hắn, ông đã để cho mồ hôi tay chảy ra. Vệt mồ hôi này
bắt đầu ri rỉ, sau đó lớn dần, như một dòng suối tí
hon, màu đen kịt, bắt đầu loang ra cuốn sách và xóa dần
vết chân mà ông già đã biên chép cẩn thận. Khi nó bôi đen
vết chân ấy thì bỗng tất cả trang sách biến thành màu
trắng xóa. Không ai đọc được gì từ trang sách trắng xóa
ấy nữa.
Đó
là người duy nhất lọt vào nhà của bốc sư Vu.
Vu
nhìn người khách đối diện với ông bằng cặp mắt của
một kẻ mù lòa. Viên bốc sư cảm thấy hơi thở của gã
đàn ông này thật nặng nề và hôi hám. Nhưng ông vẫn quyết
định tung ra những cánh Hồng.
Ông
cho một con chim trong đàn chim nằm trong tổ lót bằng mây trắng
tiến dần ra bến sông. Đó là một con bé tí và mới mọc
lông cánh. Chẳng ai để ý đến con Hồng này vì dường như
nó quá yếu đuối và xấu xí.
Gã
đàn ông cũng thấy chưng hửng vì con chim này làm gã thất
vọng. Nhưng gã che dấu nỗi thất vọng vào bên trong và an
tâm nhìn vào đôi mắt mù lòa của bốc sư.
Bốc
sư quyết định cho con chim đẹp của ông rời bến sông để
bước lên trên một tảng đá tuy không lớn lắm nhưng bằng
phẳng và chắc chắn.Ông cảm thấy đôi chân run rẩy của
con chim yêu dấu, bé tí, mềm mại đang bước thêm những bước
nhỏ, nhưng an toàn.
Gã
đàn ông kiên nhẫn nhìn bước chân của con chim bé tí và
xấu xí kia.
Trung
thành với lời hứa của mình, Vu cho con chim kia, bay lượn
một vòng nhỏ và đáp lên một bình nguyên, miệng ông lẩm
nhẩm đọc một lời thơ: Hồng vu lục.
Chẳng
một ai thèm để ý đến câu thơ của ông. Những kẻ kiên
nhẫn nhất cũng nhìn thấy bình nguyên bao la mà bốc sư cho
con chim Hồng của ông tiến vào chỉ là một vùng hoang vu và
hẻo lánh, khô cằn, trơ đất đá, không cây cối.
Gã
đàn ông ngáp ngắn ngáp dài.
Bốc
sư chợt phất tay áo và con chim Hồng, dường như đã to lớn
hơn một chút bắt đầu bay lượn vài vòng trên không trung
và đáp vào một cành cây. Đôi chân của nó vững vàng hơn.
Gã
đàn ông quỳ mọp dưới chân bốc sư, van nài ông hãy cho
hắn đặt tay vào cánh chim Hồng lộng lẫy và vĩ đại mà
hắn muốn. Hắn thở hồng hộc vì mệt. Hắn đặt vào tay
bốc sư tất cả những gì hắn mang theo. Đó là những đồng
tiền vàng trĩu nặng trong một cái túi lớn.
Bốc
sư dường như chẳng để ý gì đến hắn, ông tiếp tục
lắc chiếc đĩa nhỏ, trên đựng ba đồng xu cổ và chăm chú
vào việc vạch thêm một vạch thẳng, không hề đứt đọan
lên tờ giấy trước mặt và đưa tiếp con chim bé tí kia đến
với một gò đất .
Gã
đàn ông nổi điên. Hắn đập cái đĩa vỡ tan, dẫm lên ba
đồng xu. Hắn vo tròn tờ giấy có những vạch ngắn dài ném
vào lửa. Vơ vét túi tiền, hắn chạy ra khỏi lều cỏ và
lên ngựa phóng thẳng trước khi phải vạch thêm một lần
nữa dấu chân người và ngựa lên mảnh sân, hay trên cuốn
sách không biết đánh số thứ bao nhiêu rồi.
Sự
bực bội của hắn khiến cho đòan người trong sân nhà Vu
lần đầu tiên chuyển động kỳ dị. Rồi bọn họ đi mất,
mang theo những thanh âm khó chịu của những lời bàn tán lao
xao, mang theo tất cả các đôi giày cỏ và những móng lừa
ngựa.
Lặng
lẽ mỉm cười, bốc sư sai người đóng cửa lại. Ông phất
tay áo và lần này, cánh chim Hồng lộng lẫy nhất hiện ra.Con
chim bé nhỏ đứng trên gò kia biến thành một con chim đẹp
chưa từng thấy cất cánh bay thẳng lên trời, lạc vào các
tầng mây trắng và biến mất.
Sân
nhà bốc sư, lần đầu tiên sạch bong. Cỏ lặng lẽ mọc
lên chen lẫn với rêu. Chẳng thấy ai thăm viếng bốc sư nữa.
Ông già mù này đã chuyển nghề nuôi chim Hồng sang nuôi vịt.
Chỉ có điều không ai biết là những con vịt ông nuôi khi
lớn lên đều biến thành chim Hồng.
Sài
Gòn, 15-1-2006
Chùa
Quán Thế Âm (Non Nước, Đà Nẵng):
Sẽ
thực hiện pho tượng Đức Quán Thế Âm
bằng
pha lê
Lễ
hội Quán Thế Âm ở Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng là một trong
15 lễ hội lớn của đất nước được Bộ Văn hóa-Thông
tin và Tổng cục Du lịch công nhận. Hàng năm, vào trung tuần
tháng 2 âm lịch, núi non Ngũ Hành Sơn lại chứng kiến cảnh
nô nức trẩy hội của hàng chục vạn khách thập phương.
VHPG đã có cuộc trao đổi với Đại đức Thích Huệ Vinh,
trụ trì chùa Quán Thế Âm, Trưởng ban tổ chức lễ hội.
Đại
đức có thể nói vài nét về Lễ hội Quán Thế Âm ở Ngũ
Hành Sơn?
Lễ
hội Quán Thế Âm được tổ chức hàng năm, chính thức vào
các ngày 17, 18 và 19 tháng 2 âm lịch. Truyền thống tín ngưỡng
Đức Quán Thế Âm có từ rất lâu ở vùng Non Nước, nhưng
trở thành một lễ hội quy mô rộng lớn như hiện nay thì
phải nhắc đến cố Thượng tọa Thích Huệ Hướng, nguyên
trú trì chùa Quán Thế Âm. Nhận thấy nhu cầu tín ngưỡng
của người dân về Đức Quán Âm rất lớn, năm 1991, cố
Thượng tọa cùng với chúng tôi đã khởi xướng lễ tưởng
niệm hàng năm thành lễ hội với nhiều sinh hoạt văn hóa,
tâm linh. Lễ hội bắt đầu từ ngày 17 và kết thúc vào ngày
19 tháng 2 âm lịch. Từ đó đến nay, lễ hội được duy trì
và được quần chúng Phật tử hưởng ứng ngày càng đông,
các hoạt động ngày càng phong phú... Chúng tôi đã được
ủng hộ rất nhiều từ Ban Trị trị Thành hội PG, từ các
ban ngành và đặc biệt là chính quyền Quận Ngũ Hành Sơn
trong việc tổ chức lễ hội nhiều năm qua.
Ảnh
hưởng của Lễ hội Quán Thế Âm ở Ngũ Hành Sơn ngày càng
có sức lan tỏa. Năm 2000, Bộ Văn hóa-Thông tin và Tổng cục
Du lịch công nhận là một trong 15 lễ hội tiêu biểu ở nước
ta.
Đại
đức cho biết các hoạt động chính của lễ hội năm nay?
Lễ
hội Quán Thế Âm luôn cân đối giữa hai phần là lễ và
hội. Phần lễ gồm những nghi lễ tôn giáo như lễ thượng
phan – khai hội, lễ nghinh rước tôn tượng Đức Quán Thế
Âm, Lễ rước ánh sáng Từ bi, lễ vía Đức Quán Thế Âm,
lễ cầu quốc thái dân an, lễ phóng sinh, hoa đăng, thuyết
giảng Phật pháp, lễ tôn vinh nghề đá mỹ nghệ, trai đàn
chẩn tế... Phần hội gồm nhiều sinh hoạt tập thể như
diễn sự tích Quán Âm, hội trại, sân khấu hát tuồng - dân
ca, tái diễn bài chòi, biểu diễn văn nghệ, trưng bày cây
cảnh, triển lãm nghệ thuật, biểu diễn võ cổ truyền, đua
ghe, múa lân - rồng trên sông, thi ẩm thực, trưng bày tượng
đá - mỹ nghệ Non Nước... và nhiều hoạt động giao
lưu khác.
Qua
quan sát, lễ hội Quán Thế Âm ngày càng có ảnh hưởng không
chỉ ở TP. Đà Nẵng mà cả khu vực trung Miền Trung, với
vai trò là người trú trì chùa Quán Thế Âm và là Trưởng
ban tổ chức, Đại đức có dự định gì trong việc xây dựng
thêm công trình để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của lễ
hội?
Trong
năm nay, chúng tôi có kế hoạch xây dựng khu văn hóa Thiền
trà cạnh chùa Quán Thế Âm, nhìn ra sông Cầu Biện (Cổ Cò)
với diện tích 1.000m2. Đây là khu vực dành riêng cho các loại
hình sinh hoạt như Thiền trà, trình diễn thơ - nhạc, trưng
bày sách, tranh ảnh và thư pháp.
Chúng
tôi cũng có nguyện vọng tạo một pho tượng Đức Quán Thế
Âm bằng pha lê trong suốt trong hình tướng tay cầm bình nước
cam lồ với dòng nước tỏa ánh ngũ sắc. Pho tượng này sẽ
là sự kết hợp giữa phong cách cổ truyền và hiện đại.
Khi hoàn thành, pho tượng sẽ được tôn trí trên bệ
trung tâm của lễ đài chính nhìn ra sông Câu Biện, tượng
sẽ tự động quay 1800 quanh tâm điểm cố định. Chúng tôi
mong ước nguyện này sớm hoàn thành.
Chúng
tôi cũng nghĩ đến thành lập một Vườn thiền trên cồn
cỏ trước chùa Quán Thế Âm với diện tích 2.000m2. Đây là
nơi sẽ trưng bày các tác phẩm điêu khắc đá - sản
phẩm nổi tiếng của Non Nước. Chúng tôi rất mong chính quyền
thành phố Đà Nẵng, Quận Ngũ Hành Sơn và Phật tử ủng
hộ để chúng tôi thực hiện tốt các Phật sự trên, nhằm
để lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn ngày càng được phát
triển, đặc sắc, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng và văn hóa
của đông đảo quần chúng.
Cảm
ơn Đại đức.
Nguyên
Mãn- Nhật Uyển thực hiện
NON
NƯỚC VÀO HỘI
Thích
Huệ Vinh
Hàng
năm, cứ vào ngày 19 tháng Hai âm lịch, Ngũ Hành Sơn-Non Nước
lại thơm ngát hương trầm, vang vọng tiếng kinh kệ và vui
tươi với các hoạt động văn hóa trong lễ hội Quán Thế
Âm. Trung tâm điểm là Lễ vía Đức Quán Thế Âm, lễ Cầu
nguyện quốc thái dân an và Hội Tôn vinh làng nghề đá Non
Nước...
Ngũ
Hành Sơn - Non Nước là quần thể núi non gồm năm ngọn chính:
Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Đây là một trong những thắng
cảnh của đất nước, cách trung tâm TP. Đà Nẵng 7 km về
phía Đông Nam, trước mặt là biển Đông, sau lưng là dòng
Trường Giang (còn gọi là sông Cầu Biện hay Cổ Cò). Ngũ
Hành Sơn - Non Nước còn có tên gọi khác là Phổ Đà Sơn,
Ngũ Uẩn Sơn… Non nước Ngũ Hành Sơn thoang thoảng mùi hương
trầm tỏa ra từ những ngôi chùa Tam Thai, Linh Ứng, Long Hoa,
Huệ Quang... Núi non, hang động và chùa chiền làm nên một
quần thể danh lam thắng cảnh hiếm thấy của đất nước,
là điểm đến của tao nhân mặc khách nhiều thế hệ, nguồn
cảm hứng sáng tác của thơ, nhạc, họa.
Nhìn
từ xa, Ngũ Hành Sơn trông như dáng rồng lượn từ biển vào
đất liền, gợi về truyền thuyết trứng rồng trên cát nở
ra năm cánh trong mối tình thủy chung Tiên Nữ và Long Quân.
Hàng năm, Ngũ Hành Sơn thu hút hàng triệu du khách thưởng
lãm cảnh đẹp và hành hương đến với một trong những đạo
tràng của Đức Quán Thế Âm, một vị Bồ tát lắng nghe âm
thanh khổ đau của chúng sinh liền thị hiện đến để cứu
giúp, vị Bồ tát có một vị trí quan trọng và phổ biến
trong tâm thức văn hóa dân tộc từ xa xưa.
Nói
đến danh lam thắng cảnh Ngũ Hành Sơn, không thể không nhắc
đến chùa - động Quán Thế Âm và lễ hội Quán Thế Âm diễn
ra rầm rộ vào tháng Hai âm lịch hàng năm, như lời lưu truyền
của người dân qua câu ca dao:
“Quan
Âm mười chín tháng Hai
Ngũ
Hành lễ hội ai ai cũng về”.
Chùa
Quán Thế Âm tựa lưng vào Kim Sơn, nhìn ra sông Cầu Biện.
Cạnh chùa là động Quán Thế Âm. Đây là một trong những
hang động cao và rộng, đặc biệt trong hang động có hình
tượng Bồ tát Quán Thế Âm kết thành tự nhiên từ nhũ đá.
Tượng cao 1,75m với thế đứng an nhiên trên mình rồâng uốn
khúc, bên trái là hình tượng đá Thiện tài đồng tử, bên
phải là rừng trúc và chim Khổng tước. Hình tượng Bồ tát
hiện ra trong tư thái trang nghiêm, lân mẫn, từ hòa.
Hàng
năm, cứ vào tháng Hai âm lịch, núi non Ngũ Hành Sơn lại thơm
ngát hương trầm, vang vọng tiếng kinh kệ và vui tươi với
các hoạt động văn hóa trong lễ hội Quán Thế Âm diễn ra
tập trung vào các ngày 17-18 -19, trung tâm điểm là Lễ vía
Đức Quán Thế Âm, lễ Cầu nguyện quốc thái dân an và Hội
Tôn vinh làng nghề đá Non Nước.
Lễ
hội thu hút hàng chục vạn lượt khách về hành hương từ
ba miền đất nước. Trong tiết nhịp mùa xuân, mùa trẩy hội
nơi nơi, lễ hội Quán Thế Âm thể hiện sắc thái nền nếp
một lễ hội văn hóa Phật giáo chan hòa trong nguồn tình tự
quê hương với thắng tích Ngũ Hành Sơn - Non Nước.
Lễ
hội diễn ra trong mùa xuân với trời đất giao hòa, cây lá
nẩy lộc đơm hoa. Đây là dịp để mọi người cùng nhau
rộng mở tâm tình trở về nguồn cội.
Lễ
hội cũng là nơi mọi người hành hương được dịp thể
hiện lòng thành kính hướng về Mẹ hiền Quán Thế Âm, hướng
về nguồn cội, nguồn sống, nguồn ánh sáng thương yêu bình
đẳng. Theo gót chân ngài, du khách xa gần đã về đây trong
không khí trầm mặc của chùa chiền, núi non, của hang động
huyền ảo; để có niềm giao cảm với thiên nhiên, để yêu
quê hương, đất nước hơn nữa.
Cùng
với lễ hội mùa xuân trên mọi miền đất nước, lễ hội
Quán Thế Âm - Non Nước - Ngũ Hành Sơn diễn ra nhân ngày khánh
đản Đức Quán Thế Âm 19 tháng 2 âm lịch, đã góp phần
làm nên nét đẹp văn hóa dân tộc, nét đẹp của một đất
nước thơm mùi hương trầm, đáp ứng nhu cầu tâm linh của
đông đảo đồng bào ở miền Trung nói riêng và của cả
nước nói chung.
Lời
cảm ơn cuộc sống 14
Tôi
đánh mất tình yêu, không phải vì tôi bị người yêu phụ
bạc, khiến tôi phải sinh con trong sự thương xót của những
người cùng ở trọ, mà chính bản thân tôi đã không biết
yêu thương là gì nữa. Tôi hận người yêu nên quyết bỏ
đứa con của mình đi. Tôi cũng chẳng hiểu làm sao tôi lại
nhiều cô đơn và mất mát đến như thế. Lúc đó, trong một
thoáng ích kỷ, tôi đã từng nghĩ, mình cần phải thay đổi
để làm một người mới, một người chưa chồng chưa con.
Từ đau khổ đến lãng quên có bao xa đâu, nhưng sao nhiều
lúc lòng thương nhớ con trong tôi quặn thắt. Phải chi lúc
đó tôi đừng hận ai hết, đừng bỏ con rời tay trong tiếng
khóc như xé ruột của nó…
Tôi
đã nhiều lần đi hỏi tìm con nhưng vô vọng. Có lẽ đó
chính là bài học yêu thương mà tôi phải mang theo trong suốt
cuộc đời còn lại của mình. Cuộc sống của tôi là những
ngày mà tôi hình dung con trong nước mắt. Tôi chỉ biết dựa
vào sự ăn năn để sống và hy vọng tìm lại được con,
mong rằng ở đâu đó, con sẽ tha thứ cho một người mẹ
nhiều mất mát như tôi…
Trần
Thị Ngân
(TP.HCM)
Tôi
biết, khi nào tôi tỏ ra ngông cuồng là lúc bố tôi tức giận
và hoảng sợ. Vì tôi cũng chỉ là một bản sao tính cách
của ông mà thôi. Ông có thể biến tôi thành một người
đàng hoàng, nên thân, nhưng ông không đủ thì giờ và can
đảm để làm. Có lẽ ông không đủ minh mẫn thì đúng hơn.
Chuyện tiền bạc, địa vị của ông bao trùm lên căn nhà
mà mẹ con tôi ở. Tôi sống trong ánh sáng tiền bạc của
ông nhưng chỉ như một người ăn mày cao cấp. Ông gần như
không nghĩ rằng trong căn nhà này có một người vợ đầy
buồn tủi và một người con đầy hư hỏng. Ông ấy chỉ
nghĩ đến tiền và những cuộc vui ở bên ngoài…
Nhưng
cuộc sống đã không bỏ rơi tôi khi cho tôi một người mẹ
tuyệt vời. Sự nhẫn chịu và yêu thương của bà đã giữ
cho gia đình tôi yên ổn. Nếu không có tình yêu thương của
mẹ, tôi sẽ mắc nghiện lần thứ 2, và mọi chuyện sẽ chấm
dứt. Vàhơn cả niềm hạnh phúc, tôi đã gặp em trong khi bệnh
hoạn. Em đã dạy tôi phải biết tự lập, phải vươn lên
mà sống và phải quên đi cả những sung sướng ảo để làm
một người đàn ông bình thường. Tôi đã quyết tâm làm,
và tôi đã làm được…
Nay
tôi có thể sống hạnh phúc với em và các con trong mái ấm
riêng của mình, tôi mới hiểu, “làm một người đàn ông
bình thường” là câu nói có ý nghĩa nhất mà em đã dành
để nói với một người đàn ông đầy ngông cuồng như tôi…
Nguyễn
Văn Thuận
(TP.
Hà Nội)
BÙI
KHO VỚI NẤM VÀ ĐẬU HŨ
Vật
liệu:
- Trái
bùi ngâm muối: 30 trái
-
Đậu hũ:
1 bìa
-
Nấm hương khô:
30 tai
-
Ớt trái dầm muối:
3 trái
-
Gia vị: dầu ăn, boa-rô, xì dầu, tiêu, đường
Cách
làm:
Trái
bùi còn gọi là trái trám đen hoặc trái cảm lãm. Lấy trái
bùi đã ngâm nước muối một thời gian cho mềm cơm, đem xẻ
đôi lấy phần cơm, phần hạt cứng để riêng.
- Đậu
hũ cắt miếng vuông đem chiên vàng.
- Nấm
hương khô: ngâm nước một lúc rửa sạch để ráo.
- Bắc
chảo nóng, cho boa-rô xắt nhỏ vào xào thơm, rồi cho nấm,
đậu hũ, cơm bùi, ớt trái dầm muối vào, nêm một chút xì
dầu, đường cho vừa ăn. Đổ vào một ít nước lạnh, đậy
nắp và đun lửa nhẹ cho đến khi đậu hũ, nấm hương thấm
gia vị lẫn hương vị của bùi, nước của món ăn còn xâm
xấp là được.
Nhắc
xuống, múc ra dĩa, rắc vào một ít tiêu xay.
XÔI
NHÂN HẠT BÙI
Vật
liệu:
- Nếp
ngon: 3 lon
-
Nhân hạt bùi: ½ lon
Cách
làm:
- Nếp:
vút sạch, ngâm nước lạnh một đêm.
- Hạt
bùi sau khi đã dùng phần cơm rồi chỉ còn lại hạt cứng.
Đem chặt đôi hạt cứng, lấy phần nhân có màu trắng. Rồi
trộn chung với gạo nếp, đem hấp chín.
Nhân
hạt bùi khi chín cũng có màu trắng gần giống với màu của
hạt xôi chín. Nhưng khi ăn thì nghe sần sật, lại có vị
thơm ngầy ngậy của nhân bùi quyện lẫn với nếp dẻo nên
có hương vị đặc biệt khó quên.
Món
xôi này dùng với muối mè.