.
.SỐ 14 -THÁNG 3, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
SỐ 14-THÁNG 3, 2006

 

ĐỌC CHICKEN SOUP FOR THE SOUL, 
NGHĨ VỀ DƯỠNG CHẤT TÂM HỒN 
CHO TUỔI TRẺ HÔM NAY
Nguyên Cẩn

Vì  sao tuổi trẻ hôm nay bị "suy dinh dưỡng tâm hồn"? Vì sao khi hai người cùng ngắm nhìn bầu trời đêm qua những chấn song cửa, một người chỉ thấy toàn màu đen, còn người kia lại thấy những vì sao lấp lánh?... 

Trong loạt bài phóng sự "Giang hồ đất cảng", báo Tuổi Trẻ số ra ngày 17-2 đã dẫn lời Thượng tá Dương Tự Trọng, Đội trưởng Đội cảnh sát điều tra tội phạm và an toàn xã hội Hải Phòng: "Nguyên nhân sâu xa nhất là một bộ phận giới trẻ bị "suy dinh dưỡng" nhân cách, khiến họ không rõ ràng phương hướng phấn đấu, không có lý tưởng sống cao đẹp. Sự tha hoá xuống cấp của một bộ phận đạo đức xã hội và sự thay đổi thang giá trị cuộc sống, cộng với sự tác động của mặt trái từ nền kinh tế thị trường khiến những tiêu cực đã thấm vào họ khi họ chưa được trang bị sức đề kháng hay kiến thức để phân biệt rõ ràng". 

Bằng những câu chuyện thấm đẫm tình người với những tấm gương giàu nghị lực và nhân ái, tác phẩm Chicken Soup for the Soul của Jack Canfield và Mark Victor Hansen  đã cho ta những giải đáp cụ thể, đầy tính nhân văn về vấn đề này. 

Cuốn sách ấy đề cập đến điều gì mà được phát hành đến 85 triệu bản và được dịch sang 37 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới, tính cả bản tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 38?

Jack Canfield và Mark Victor Hansen đều là những nhà diễn thuyết lừng danh. Họ đã thuyết trình những câu chuyện ấy cho những tập đoàn lớn như  Sony Pictures, Federal Express, Merrill Lynch…, các đài truyền hình và phát thanh nổi tiếng như ABC, CBS, CNN … Đến khi tập hợp 101 câu chuyện tâm đắc nhất để in thành sách, họ đã đặt tên là Chicken Soup for the Soul, do Jack liên tưởng đến những lần ông bị ốm, mẹ thường cho ăn súp gà để mau phục hồi sức khỏe. Ở đây, đối với những kẻ "suy dinh dưỡng tinh thần" cũng cần bồi bổ món súp như thế để nhanh chóng hồi phục, cuốn sách ấy có thể hiểu là "dưỡng chất tâm hồn".

Những câu chuyện trong cuốn sách đó thoạt nghe có vẻ rất "đời thường": một cô con gái từ bé đã được người cha luôn thương yêu, cưng chiều nhưng cô không để ý đến điều ấy nhiều lắm, có lúc cô còn phản đối khi ông gọi cô là "đứa con gái bé bỏng của bố". Cho đến một hôm cha cô bị liệt sau một cơn đột quỵ, ông không còn có thể đi lại, cười đùa và nhất là không bao giờ có thể nói được lời yêu thương cô nữa. Cô ôm lấy cha mình mà lòng quặn thắt trước nỗi đau quá lớn và cảm thấy dường như mình đã mất cha. Nhưng cũng từ đó cô mới lắng nghe được tiếng đập đều đều, càng lúc càng mạnh mẽ hơn phát ra từ trái tim trong lồng ngực cha mình, như đang muốn nói với cô rằng: "cha vẫn yêu con…" 

Có câu chuyện kể về một đứa con lúc nào cũng mặc cả tiền bạc với mẹ của mình cho những công việc thường ngày: cắt cỏ: 5 đô la; dọn dẹp: 1 đô la; đổ rác: 1 đô la; học tập tốt: 5 đô la; trông em:25 xu... Và cậu nhận được câu trả lời nhẹ nhàng của mẹ cũng trên tờ phiếu tính tiền ấy: chín tháng mười ngày trong bụng mẹ: miễn phí; chăm sóc cầu nguyện khi con đau ốm, nhiều đêm thức trắng không ngủ, đồ chơi, thức ăn, quần áo, và cả nước mắt của mẹ do con gây ra: tất cả đều miễn phí; và trên tất cả là tình yêu của mẹ dành cho con: cũng hoàn toàn miễn phí. Khi đọc những giòng chữ này, cậu bé đã xúc động ghi lại: mẹ sẽ được nhận lại trọn vẹn (Paid in full). 

Có câu chuyện về tình bạn khi cả lớp cùng cạo trọc đầu để cho người bạn bị ung thư khỏi phải mặc cảm; có câu chuyện về lòng trung thực khi người cha phải làm gương cho đứa con khi không muốn khai gian tuổi của chúng để giảm giá vé; có câu chuyện cần phải học về sự đoàn kết từ đàn ngỗng đang bay trên bầu trời theo đội hình chữ "V" để chống chọi với sức cản của gió, và khi một con ngỗng nào bị ốm hoặc bị bắn trọng thương, lập tức sẽ có hai con tách khỏi đội hình dìu nó xuống đất và bảo vệ nó. 

Và bài học con người cần rút ra: chúng ta phải luôn là điểm tựa cho nhau trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào của cuộc sống, phải luôn giữ đúng vai trò và vị trí của mình.

Tất cả những câu chuyện được cuốn sách này kể lại tuy rất bình dị, rất "đời thường", nhưng từ lâu chúng ta hoặc không để ý hoặc quên lãng. Chúng ta kêu gọi giới trẻ phải hy sinh, phải yêu nước, phải và phải..., nhưng lại chưa hề hoặc đã xao nhãng trong việc dạy dỗ chúng phải biết yêu thương mẹ của mình, người đầu tiên đã ấp ủ tình thương yêu mà chúng được hội ngộ trên đời, làm sao để chúng biết yêu thương cha, thầy cô, anh em, bạn bè, cho đến những người láng giềng quanh khu phố. Ta nhớ đến "Những tấm lòng cao cả" của Emondo de Amicis mà ngày xưa ta may mắn có lần được đọc. Tuổi trẻ hôm nay sống trong nhiều điều kiện hiện đại hơn xưa, trong một thời đại mà sức mạnh của khoa học kỹ thuật đang xâm nhập vào nhiều lĩnh vực của đời sống, thế nên "khoảng trống tâm hồn" sẽ rất lớn nếu chúng ta không đưa vào gia đình, đưa vào học đường những bài học căn bản về TÌNH YÊU THƯƠNG, hay nói chính xác hơn, chúng ta phải có trách nhiệm giáo dục TÂM HỒN cho lớp trẻ. Người ta đã chứng minh bằng các nghiên cứu khoa học, bằng các con số thống kê, rằng những đứa trẻ lớn lên trong bầu không khí đầm ấm và tràn ngập thương yêu của gia đình hay lớp học thì chúng sẽ không bao giờ trở thành những kẻ xấu ác. Nếu những đứa trẻ được lớn lên trong một môi trường luôn bị dày vò bởi những đam mê vật chất, chứng kiến những thói hư  tật xấu mà người lớn gieo vào tâm hồn chúng như  tính ích kỷ, hận thù, nhỏ nhen, thô bạo... thì những đứa trẻ bất hạnh ấy sẽ bị rơi vào những vũng xoáy của tội lỗi, bởi lẽ ở đó là một KHOẢNG TRỐNG VĂN HÓA mà những người lớn, những người có trách nhiệm đã vô tình hay cố ý xô đẩy chúng vào đó (xem bài phân tích trên Báo Văn Hoá Phật Giáo số 13). Đây là MỘT VẤN ĐỀ ĐÁNG BÁO ĐỘNG khi tuổi trẻ đang phải ăn đong lý tưởng và đang ở tình trạng "suy dinh dưỡng tâm hồn" trầm trọng mà lại phải ngốn các món ăn độc hại về thói dối trá, về tính vụ lợi đến tàn nhẫn...

Hãy mang ngay Chicken Soup for the Soul hay dưỡng chất tâm hồn đến cho tuổi trẻ hôm nay bằng những bài học giản đơn, nhưng được minh chứng hùng hồn bằng những tấm gương trung thực, tràn đầy lòng nhân ái cuả các bậc cha anh.

Đức Dalai Lama đã nói: "Không một ai sinh ra mà không cần tình thương…,con người không phải chỉ thuần thể xác, mà tinh thần có vai trò chủ động trong việc cảm nhận cái đẹp, cái quý giá, làm cho chúng ta có thể thương yêu...", bởi vì "trong tâm khảm mỗi chúng ta đều mong muốn được thương yêu". 


NẰM TRONG HẠT CẢI
Nhật Chiêu

Càn khôn có thể cầm nắm, nhật nguyệt có thể thu nhỏ. Đời sống vũ trụ có thể mang theo bên mình trên bước đường vân du như một hành trang nhỏ nho và rất nhẹ. Và ta cảm thấy càn khôn, nhật nguyệt nở rộ quanh ta như hoa cỏ trên đồng. Và chân lông, tơ tóc của ta rung động với thế giới, với mười phương...

Cái mà con người có thể nhìn ngắm mỗi ngày là bầu trời và mặt đất, và thân thiết gọi: Càn - Khôn.

Cái mà con người thường chờ đợi trong thiên nhiên vô tận là mặt trời và mặt trăng, hai quả cầu chói rạng, được thế gian xem như bạn tình: Nhật - Nguyệt.

Càn khôn và nhật nguyệt quá lớn lao đối với con người. Từ nghìn xưa, không có điều gì khác gần gũi hơn, thân quen hơn, đáng yêu hơn.

Và còn điều này nữa: Không có gì nhỏ hơn nhật nguyệt, càn khôn! Thực sự, đó là những cái vô cùng nhỏ.

Những tâm hồn thiền xưa kia đã nhìn ngắm càn khôn nhật nguyệt mỗi ngày như đó là nguồn vui bất tuyệt và như đó là cái đẹp vô song.

Nên lời thơ cổ vẫn còn vang vọng đến nay:

 Tụ trung nhật nguyệt tàng
 Chưởng nội ác càn khôn.
 (Thiền lâm cú tập)

Nhật nguyệt ẩn tàng trong ống tay áo này và càn khôn nắm trong lòng bàn tay đây.

Với nhà thơ Trung Hoa ấy, càn khôn có thể cầm nắm, nhật nguyệt có thể thu nhỏ. Đời sống vũ trụ có thể mang theo bên mình trên bước đường vân du như một hành trang nhỏ nho và rất nhẹ.

Ở Việt Nam, vào thời Lý, thiền sư Khánh Hỷ (1067-1142) nhìn trong hạt cải và đầu sợi lông cả một vũ trụ huy hoàng:

 Nhật nguyệt nằm trong hạt cải,
 Càn khôn náu tại đầu lông.
 Ai hay phàm thánh, tây đông?
 Hiện ra đại dụng trong lòng bàn tay.

Điệu thơ tiếng Việt này là do tôi chuyển ngữ, cũng liều lĩnh đấy thôi. Nguyên ý thì như sau:

 Càn khôn tận thị mao đầu thượng
 Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung
 Đại dụng hiện tiền quyền tại thủ
 Thùy tri phàm thánh dữ tây đông.

Dịch sát nghĩa sẽ là: Cả càn khôn ở trên đầu một sợi lông. Cả nhật nguyệt chứa trong lòng hạt cải. Đại dụng hiện trước mắt như nắm tay ở tại cánh tay. Ai biết được đâu phàm thánh cùng với tây đông?

Thiền sư Khánh Hỷ là người huyện Long Biên, thụ giới nơi thiền sư Bản Tịnh ở chùa Chúc Thánh. Ông được vua Lý Thần Tông phong làm Tăng thống.

Tập thơ của Khánh Hỷ là “Ngộ đạo ca thi tập”, rất tiếc là đã thất lạc. Đoạn thơ trên nằm trong bài thơ bát cú hay là bài kệ trả lời đệ tử Pháp Dung hỏi về sắc không, phàm thánh.

Càn khôn tận thị mao đầu thượng

Có gì nhỏ bằnh đầu sợi lông? đầu ngọn cỏ? đầu sợi tóc? đầu giọt lệ?... Không phải là một cái gì rất li ti mà chính là càn khôn.

Càn khôn có thể cực nhỏ chính là vì nó cực lớn. 

Sợi lông mong manh nhưng đầy sức sống. Nó mọc. Như cỏ mọc. Như sóng dâng. Như một tia nắng. Nó mọc với tất cả sức mạnh của càn khôn.

Sợi lông mọc.
Nó mọc như một ý niệm. Và gió nổi lên. Và vũ trụ thành hình.
Vô vàn sợi lông mọc trên thế gian như vô vàn ý niệm lao xao trong tâm hồn nhân thế.
Có gì nhỏ hơn một ý niệm? Và có gì lớn hơn một ý niệm?
Sợi lông thì cũng nhỏ như một chút nhụy hoa mai :
 Nhất điểm hoa mai nhụy
 Tam thiên thế giới hương.
 (Thiền lâm cú tập)

Nhụy hoa nhỏ nhít như vậy mà bao phủ hương thơm cho bao nhiêu càn khôn.

 Hoa mơ một chút nhụy
 Ba nghìn thế giới thơm.

Vậy thì một sợi lông cũng chứa đủ càn khôn, thế giới. Nếu không thì nó không thể mọc. Ba nghìn thế giới không thơm thì chẳng có một nhụy mơ nào thơm.

Vì thế giới này là thế giới Hoa Nghiêm.

Có một vị tăng sau khi bị thiền sư Mã Tổ đạp cho một cái vì hỏi về chân lý Thiền đã vui mừng phấn khích kêu lên: “Lạ thay, tất cả chân lý trong kinh đều hiện ra trên đầu một sợi lông!”

Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung
Hạt cải, bông hoa dại, hạt cát, giọt nước… chứa được những gì?
Nhà thơ huyền bí Anh William Blake ca hát:

 Nhìn thấy thế giới trong hạt cát
 Và thiên đàng trong bông hoa dại
 Nắm vô tận trong lòng bàn tay
 Và vĩnh cửu trong một giờ này.
 (To see a World in a Grain of Sand
 And a Heaven in a wild flower,
 Hold Infinity in the palm of your hand
 And Eternity in an hour).

Tâm hồn ấy gặp gỡ phương Đông trong khoảnh khắc, dường như đang trò chuyện cùng Khánh Hỷ thiền sư: Nhật nguyệt nằm trong hạt cải.

Dạy chúng đệ tử, Hòa thượng Tuyết Phong nói rằng: “Nếu như thâu nhiếp tất cả đại địa này thì cũng chỉ vừa bằng hạt gạo mà thôi!”.

Tất nhiên rồi, một giọt nước biển chính là biển, một tia nắng cũng là mặt trời, một lá cỏ đủ là thiên nhiên.

Cái cách mà mặt trời mặt trăng đi vào hạt cải chẳng khác gì cách chúng đi vào mây, vào biển, vào đất, vào trái tim chúng ta.

Mặt trời mặt trăng cũng là những hạt cải, những hoa cải trên cánh đồng vũ trụ. Một bài thơ haiku của Buson đã thể hiện hình ảnh đó:

 Đồng cải hoa vàng:
 Phương Tây mặt trời lặn,
 Phương Đông vầng trăng lên.
 (Na no hana ya
 tsuki wa higashi ni
 hi wa nishi ni).

Trong kinh Duy Ma, phẩm Bất Tư Nghì có đoạn: “Lấy núi Tu Di bỏ vào trong hạt cải, lấy nước bốn biển đổ vào chân lông”.

Chính vì thế mà Thứ sử Giang Châu là Lý Bột đời Đường, đọc sách nhiều đến nỗi được gọi là Lý Vạn Quyển, lên Lô Sơn tham vấn Hòa thượng Qui Tôn: “Kinh nói hạt cải chứa núi Tu Di là sao?”. Hòa thượng hỏi lại: “Thế thì vạn quyển sách chứa trong đầu ông thế nào?”. Dường như, Lý Bột nghe thế bỗng dưng đại ngộ.

Hạt cải chứa nhật nguyệt hay chứa núi Tu Di thì cũng tựa như tâm hồn ta chứa vô vàn thanh sắc của đời sống.

Đại dụng hiện tiền quyền tại thủ
Đại dụng hiện ra huy hoàng trước mắt và có thể nắm trong nắm tay này.
Đại dụng là cái huyền diệu của vô tận. Nhà thơ Blake nói “Nắm vô tận trong lòng bàn tay” thì chẳng khác nào Khánh Hỷ thiền sư bảo: “Hiện ra đại dụng trong lòng bàn tay”.
Bàn tay nắm lấy đại dụng cũng như nắm lấy mọi thứ có thể, cũng như buông bỏ mọi cái có thể. Vì một nắm tay không thể nắm mãi.
Đại dụng hay đại đạo luôn luôn hiện ra trước mắt. Có thấy hay không là chuyện của ta.
Ta sống với cái hiện tiền của đại đạo từng ngày, từng giờ và từng sát na.
Bích Nham Lục còn ghi lời cổ nhân: “Tất cả càn khôn đại địa chỉ là cái chính mình. Lạnh thì khắp trời đất lạnh. Nóng thì khắp trời đất nóng…”.

Thùy tri phàm thánh dữ tây đông
Ai hay biết thế nào là phàm thánh, thế nào là tây đông?
Phàm thánh hay tây đông chỉ là những cái thấy sai lầm của nhị kiến, do chấp ngã và chấp pháp mà ra.
Tuệ Trung Thượng Sĩ nói rõ:

 Ta và người như móc cũng như sương
 Phàm với thánh như sấm và như chớp
 …
 Ai là phàm nào? ai là thánh?
 (Ngã nhân tự lộ diệc tự sương
 Phàm thánh như lôi diệc như điện.
 …
 Thục thị phàm hề, thục thị thánh?).

Cũng vậy, nơi nào là tây, nơi nào là đông? Khi phân biệt, ta chẻ đời sống ra. Làm đôi, làm tư… Đời sống trở nên manh mún và chính ta trở nên manh mún, linh loạn.

Toàn văn bài thơ của Khánh Hỷ là lời đáp cho câu hỏi về sắc không của đệ tử Pháp Dung, ghi lại trong Thiền uyển tập anh.

Một hôm, Pháp Dung hỏi: “Thấu đạt được sắc không, thì sắc là phàm hay thánh?”.

Sư ứng khẩu đọc bài kệ:

 Lao sinh hưu vấn sắc kiêm không
 Học đạo vô như  phỏng tổ tông
 Thiên ngoại mịch tâm nan định thể
 Nhân gian thực quế khởi thành tùng
 Càn khôn tận thị mao đầu thượng
 Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung
 Đại dụng hiện tiền quyền tại thủ
 Thùy tri phàm thánh dữ tây đông?

Bây giờ, có lẽ nên chuyển ngữ toàn thể bài thơ:

 Không sắc hỏi chi cho mệt
 Đạo à? Tìm đến nguồn tông.
 Ngoài trời tìm được tâm không?
 Cũng như hương quế không trồng cõi nhơ.
 Nhật nguyệt nằm trong hạt cải
 Càn khôn náu tại đầu lông.
 Ai hay phàm thánh tây đông?
 Hiện ra đại dụng trong lòng bàn tay.

Cái tên Khánh Hỷ mang ý nghĩa vui mừng, tương đương với tên tiếng Phạn Ananda, em họ của Phật Thích Ca, sau trở thành đệ tử thân tín nhất của Phật, nổi tiếng là đa văn.

Bài thơ tinh diệu của Thiền sư Khánh Hỷ ngát lừng hương quế. Đó là hương của niềm vui. Và ta cảm thấy càn khôn, nhật nguyệt nở rộ quanh ta như hoa cỏ trên đồng. Và chân lông, tơ tóc của ta rung động với thế giới, với mười phương.
 


Tự tình ca 

Người đi cuối đất cùng trời 
Về nghe Non Nước nối lời mẹ ru 
Biển reo hòa sóng vi vu 
Núi mênh mông dựng nụ cười cỏ hoa
Tiếng chuông thạch động ngân nga 
Lắng trong đều thở ngọc ngà đá xanh 
Về đây soi bóng long lanh 
Hòa âm sông núi thiên thanh như là...
Phạm Thư Cưu 
 

TẠ ƠN NƯỚC MẮT NỤ CƯỜI
Võ Quê

Tôi xin thầm tạ ơn người
Tặng tôi nước mắt nụ cười ngày qua
Cánh hồng vẫn thắm đài hoa
Đóa sen hương vẫn mượt mà búp xanh
Một mai tôi có lìa cành
Ơn người xin giữ ngọn ngành riêng tôi
Tôi xin thầm tạ ơn người
Tặng tôi nước mắt nụ cười thương yêu
Cầm bằng tôi một cánh diều
Tả tơi trước gió trong chiều biệt ly
Khổ đau bởi quá yêu vì
Thì thôi sắc tướng níu chi bên lòng
Tạ ơn nước mắt người trong
Soi vào tôi những sầu đong cuộc đời
Tạ ơn tặng phẩm nụ cười
Dẫn tôi vào một cõi người bao dung.
 

Hóa thân

Xuân tới. Bài thơ của tôi
Hưng phấn che lòng ủ rũ
Ngượng ngùng là cuộc chia phôi
Giữa trái tim và ngôn ngữ

Bước của mùa đi rất chậm
Thời gian trũng xuống thanh xuân
Thơ trên mặt bàn ảm đạm
Giấu đi giùm tôi lệ hoen

Đứng dậy. Thôi đành đứng dậy
Thơ vừa xong lúc rạng đông
Ồ trên trang thơ khi ấy
Tràn ra những ngọn nắng hồng.
Nguyễn Đạt
 



ĐẠI SƯ TRÍ KHẢI 
VÀ THIÊN THAI TÔNG
Tuệ Hạnh

Đã có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể nhân loại. 

Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than đau khổ. 

Về mặt địa lý, Trung Hoa là một nước rộng lớn gồm nhiều tỉnh, riêng một tỉnh như Quảng Đông đã lớn hơn nước Việt Nam, cho nên Trung Hoa có nhiều dân tộc với thổ ngữ, tập tục văn hóa, truyền thống tín ngưỡng không giống nhau. Chữ Hán được dùng làm văn tự chính.

Phật giáo truyền sang Trung Hoa vào đầu kỷ nguyên Tây lịch do các tăng sĩ Ấn Độ thuộc nhiều vùng như Khương Cư, Nguyệt Chi, Quy Tư... hoằng hóa; các ngài đến bằng đường bộ, xuyên qua dải Thông Lĩnh, du nhập vào miền Bắc, hay đến bằng thuyền, đáp bến tại Quảng Châu miền Nam 1. Trước khi đến Trung Hoa, các ngài đã nổi danh, nên khi đến đây, các ngài đã nỗ lực thuyết giảng, dịch thuật kinh sách, để được các "phiên vương" biết đến mà thỉnh mời và hỗ trợ cho việc hoằng Pháp. Nhiều người đã dựa vào truyền thuyết: vua Hán Minh đế nằm mộng thấy người vàng (Đức Phật), bèn cho người sang Thiên Trúc và thỉnh được hai vị Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan cùng kinh Tứ thập nhị chương về an trí tại Bạch Mã tự, để cho rằng Phật giáo được truyền đến Trung Hoa vào năm 67 sau Tây lịch. Tuy nhiên, học giả Hồ Thích giả thiết rằng, Phật giáo được truyền vào sớm hơn niên đại này nhiều thế kỷ. Giả thiết của ông đang được các học giả lưu tâm, do ông lý luận rằng:

 - Vua A Dục (Asoka, 273-231 trước Tây lịch) sau khi quy Phật đã tận tâm xiển dương Phật pháp, và một trong những công đức của ông là gửi nhiều phái đoàn tăng lữ đi khắp nơi để hoằng hóa: phương Nam truyền đến Tích Lan; phương Tây truyền đến tận Hy Lạp, Do Thái, Nga, Ba Tư... Vậy thì không lý nào mà không có một hoặc vài tăng đoàn đến được vùng Đông Bắc Trung Hoa.

 - Đã có những chứng tích để khẳng định vào năm 245 trước Tây lịch, dưới triều vua A Dục, Phật giáo đã có mặt tại các nước Đông Nam Á, vùng đất vàng (Suvarnabhùmi, thuộc quần đảo Java), trong đó có Việt nam: với thuyết Chử Đồng tử học đạo với nhà sư Phật Quang khoảng thế kỷ III trước Tây lịch 2.

Nhưng dù Phật pháp có du nhập Trung Hoa vào đời Hán Minh đế hay sớm hơn nữa, thì lịch sử cho thấy rằng, mãi đến thế kỷ III sau Tây lịch, Phật pháp vẫn chưa phát triển rộng rãi tại đất nước được xem là trung tâm của vũ trụ này. Từ khi Hán Minh đế nằm mộng vào năm 67 sau Tây lịch cho đến một trăm năm sau, An Thế Cao mới là vị tăng sĩ đầu tiên được ghi trong lịch sử 3, từ An Tức đến Lạc Dương vào năm 166 sau Tây lịch và hoạt động tại đây một thời gian trước khi xuống vùng Quảng Châu. Kế đến là Khương Tăng Hội, sơ Tổ Phật giáo Việt Nam và cũng là sơ Tổ Thiền tông Việt Nam4, từ Giao Châu chống tích trượng đến nước Ngô vào năm 247 sau Tây lịch để hoằng hóa. Cùng thời với Tăng Hội có Chi Khiêm, một cư sĩ học giả, dịch nhiều kinh điển. Tuy nhiên, những sinh hoạt như thế cho thấy Phật giáo vẫn còn phôi thai, lẻ tẻ, do một vài nhóm nhỏ trí thức hay quý tộc bảo trợ các công cuộc giảng pháp, phiên dịch, thảo luận..., chứ chưa hội nhập vào toàn thể nếp sống văn hóa thượng lưu hay tín ngưỡng trong dân gian. 

Các học giả hiện đại khi nghiên cứu về thời đại này đã phân tích: lý do Phật giáo Ấn Độ đã không thể phát triển mau chóng tại Trung Hoa vào những thế kỷ đầu vì những lý do như sau:

 1. Phương diện ngôn ngữ5

Tiến trình dịch kinh từ chữ Phạn sang chữ Hán là một tiến trình dài hàng trăm năm, với rất nhiều trở ngại, thử thách về mặt ngôn ngữ. Phạn và Pàli là ngôn ngữ đa âm, có văn phạm và ngữ pháp rành mạch, phát âm trầm bổng dài ngắn rõ rệt, nên khi chuyển dịch sang Hán ngữ (ngôn ngữ độc âm, bình, thanh, tượng hình, không có văn phạm quy ước...) đã gây nên không ít khó khăn cho các nhà hoằng giáo và phiên dịch kinh điển. 

Mãi cho đến Cưu Ma La Thập (344-413)6, nhà phiên dịch lớn của văn hóa Phật giáo Trung Hoa, Phật pháp mới có thể xem như đã đặt được nền móng làm cơ sở cho những phát triển lớn mạnh về sau. Đương thời, ngay chính ngài La Thập cũng phải đối diện với vấn đề: nên dịch ý hay dịch sát nghĩa... Dịch ý có thể bỏ mất phần uyển chuyển trong văn pháp của kinh Phạn, còn dịch sát nghĩa thì Hoa văn bấy giờ không đủ từ ngữ cao thâm và nhiều ý nghĩa như của Phạn ngữ để chuyển tải. Cuối cùng, chính Cưu Ma La Thập cũng phải than thở: “Tiến trình dịch kinh từ Phạn ra Hán cũng giống như việc mình nhai cơm cho nhuần nhuyễn rồi để cho người khác nuốt vậy”7. 

 2. Phương diện tư tưởng

 Bấy giơ,ø triết lý Trung Hoa không có những khái niệm tương đương với Phật học. Thí dụ điển hình là thuật ngữ sunyatà, cho đến ngày nay, Tây phương vẫn phải điên đầu: trước tiên sunyata được dịch là nihilism, sau đó void, đến nothingness, rồi emptiness, cuối cùng là transparency, mà vẫn không chuyển tải được đầy đủ nghĩa của sunyatà. Cho nên trong các tự điển Anh-Mỹ tầm cỡ hiện nay đã dùng từ này để bổ sung vào ngôn ngữ của họ. Khi dịch sunyatà ra Hán ngữ, các nhà phiên dịch đầu tiên đã phải mượn chữ "vô" theo nghĩa "hư vô" của Đạo giáo8. Như phẩm XXIV, kệ 18 của Trung luận, La Thập dịch là: "Chúng nhân duyên sinh pháp, Ngã thuyết tức thị vô..." (theo Đại Tạng Taishò q.30, tr. 33b, dòng 11), về sau mới đổi lại là "không". "Vô" ở đây đối lập với "hữu". Thời bấy giờ Đạo giáo đang hưng thịnh, các cuộc huyền đàm của nhóm trí giả huyền học là môi trường thích ứng cho Phật học phát triển, nên các nhà phiên dịch hay trước tác đã không ngần ngại sử dụng rất nhiều từ ngữ tương đương của Đạo giáo để giải thuyết tư tưởng Phật học, điển hình là từ sunyatà nêu trên. Phương thức sử dụng đối giải này được gọi là "cách nghĩa" (matching terms). Tăng Triệu (374-414), một trong bốn đệ tử xuất sắc của La Thập, thường sử dụng từ ngữ Đạo giáo để cách nghĩa tư tưởng Tánh Không trong các tiểu luận mà về sau được lập thành là Triệu luận9, tác phẩm đã đưa ngài lên làm sơ tổ của Tam luận tông Trung Hoa. 

 Ngoài ra, những ý niệm như luân hồi, nghiệp (samsara), giải thoát (moksa), giác ngộ (nirvana), báo ứng... đều rất mới mẻ với Trung Hoa thời bấy giờ. Nhất là kha1i niệm "vô ngã" (anatta). Người Trung Hoa tin có hồn phách, nên ban đầu họ khó chấp nhận quan điểm "vô ngã". 

  3. Phương diện văn hóa và chính trị

Bấy giờ đạo Khổng chủ trương nhập thế, đóng góp vào xã hội, nên đã có hệ thống lý luận chặt chẽ bàn về Tam cương, Ngũ thường, với các bộ ngũ kinh, tứ thư; khuyến khích sinh sản con cái để nối dõi tông đường, rạng rỡ gia môn. Phật giáo lại chủ trương xuất thế, tức phá vỡ kết cấu trật tự theo mô hình xã hội đạo Khổng; xuất gia giữ giới thì không sinh con, không bái lạy vua quan,... nên đi ngược với tôn ti luật lệ xã hội đương thời. Các nhà nghiên cứu đều có chung quan điểm rằng, dân tộc Ấn Độ với nguồn gốc Aryan, rất giống với Tây phương trong mọi phương diện hơn là với Trung Hoa.

 4. Phương diện tín ngưỡng

Người dân Trung Hoa tin tưởng có một vị Ngọc hoàng Thượng đế ngự trị trên trời, nhìn xuống cõi trần và lo cho dân gian, phán định lành dữ; hệ thống triều đình của ngài giống như triều đình cõi trần thế, bởi vì chính ngài đã gửi con ngài (thiên tử) xuống trần trị vì thiên hạ, nên hoàng đế thì có được thiên mạng. Phật pháp lại không nói gì đến Ngọc hoàng Thượng đế hay các thần thánh mười phương tám hướng, chỉ dạy tu hành tự mình cứu khổ..., nên đó là điều mà người Trung Hoa lúc đầu khó chấp nhận. 

 Đây là những trở lực lớn mà Phật giáo Ấn Độ khi truyền sang Trung Hoa phải đối mặt. Cho nên, phải khoảng từ thế kỷ 6 trở đi, sau khi Phật giáo đã phát triển vững mạnh tại Trung Hoa, dung hội Khổng, Đạo, thì mới tạo thành ba lực lượng văn hóa tín ngưỡng chủ đạo của Trung Hoa. Tây phương bây giờ cũng phải tán thán: "Nếu Phật giáo đã có thể phát triển và hội nhập tại Trung Hoa, thì chắc chắn có thể phát triển bất kỳ nơi nào trên thế gian này"10. Họ phải tán thán bởi vì họ đã đích thân chứng kiến lịch sử phát triển cuồn cuộn không ngừng của Phật giáo tại Tây phương trong vòng chỉ hơn một thế kỷ qua.

 Như vậy, phải trải qua một thời gian dài gần 6, 7 thế kỷ, từ thời du nhập bị lãng quên (3 thế kỷ đầu) đến thời phát triển (thế kỷ III-IV), cây cổ thụ Phật giáo mới có thể đâm chồi, nở hoa trên mảnh đất Trung Hoa. Và trong thời phát triển này, các sinh hoạt có tính cách Phật giáo phần lớn quy tụ chung quanh những bộ kinh điển, hoặc công tác dịch thuật, hoặc viết sớ giải, hoặc đàm luận có tính cách trí thức, thượng lưu, bác học..., hoặc với không khí huyền đàm, trừu tượng..., thường được giới vua chúa hay quyền quý bảo trợ. 

Tiến trình dịch thuật đòi hỏi thời gian và nỗ lực của nhiều người. Như trường hợp La Thập, ngài đọc bản Phạn văn, sau đó một hay nhiều đệ tử xuất sắc diễn dịch ra Hán văn, người nào giỏi Hán văn thì ghi chép lại thành câu đủ nghĩa11. Một tiến trình đòi hỏi nhiều công sức như thế đưa đến một sự kiện kỳ thú là khi kinh Đại bát Niết bàn (Mahàparinirvàna sùtra) mới vừa được dịch phần đầu, Đại sư Đạo Sanh, đứng đầu tứ kiệt, đã có viễn kiến cho rằng, hạng nhất xiển đề ca (icchantikas), vốn bị xem là hạ tiện không thể có khả năng giác ngộ, cũng có Phật tính. Đề xướng táo bạo và độc đáo này đã khiến Đạo Sanh bị trục xuất khỏi đạo tràng Kiến Khương vào năm 428. Đạo Sanh bèn lui về Lô sơn, dọc đường, trong khi nghỉ ngơi, Đại sư xếp đá lại thành một đống, ngồi giảng ý nghĩa Phật tính tiềm tàng trong mỗi sinh thể; đá cũng gật đầu12. Phải đợi đến năm 431, khi Dharmaksema hoàn tất phần cuối kinh Đại bát Niết bàn, Đạo Sanh mới được tán thán là đúng, có tuệ giác hơn người.

 Các bộ kinh lớn lần lượt xuất hiện. Năm 179, dòng văn học Bát Nhã (Prajnaparamita), với các kinh tiêu biểu như kinh Kim Cương, Bát nhã Tâm kinh,... đã được truyền vào Ttung Hoa. Chi Lâu Ca sấm (Lokakshema) dịch Đạo hành Bát nhã năm 181, sau đó dịch Ban châu Tam muội kinh (Pratyutpanna-samàdhi sùtra). Đại Bát nhã kinh do Pháp Hộ (Dharmaraksha) dịch năm 286; sau đó Moksala (Vô Cha La) trùng dịch năm 291. Trúc Pháp Hộ cũng tiếp dịch kinh Pháp Hoa do Chi Lâu Ca Sấm bỏ dở; sau này Cưu Ma La Thập lại trùng dịch lần nữa vào năm 406 và được sử dụng đến ngày nay. Chi Khiêm, cư sĩ học giả thế kỷ III đã dịch kinh Duy Ma Cật (Vimalakìrtinirdesa sùtra), mà sau này cũng lại được La-thập trùng dịch năm 406. Kinh Niết Bàn, khiến Đạo Sanh nổi danh do chủ trương Phật tính phổ quát, và bị trục xuất khỏi đạo tràng Kiến Nghiệp vào năm 428, trước được Pháp Hiển dịch năm 418 cùng với Giác Hộ (Buddhabhadra) nhưng bỏ dở cho đến khi Dharmaksema hoàn tất năm 431.

Số lượng kinh điển được phiên dịch bấy giờ đã đủ nhiều, nên Đại sư Đạo An (312-385) mới đề xướng việc tập hợp các kinh điển lại, liệt kê những bản đã được dịch cho tiện tham khảo, nhưng đề xướng này bị bỏ qua; ngay cả quyển mục lục đầu tiên do Đạo An tập thành cũng bị thất tán. Mãi cho đến đời Đại sư Trí Khải ở cuối thế kỷ VI, tình trạng kinh điển bằng Hán văn đã quá phong phú, đến nỗi những cuốn mục lục đầu tiên đã xuất hiện: 

- Xuất tam tạng ký tập (Taisho 55, 2145: 1-114)13 do Tăng Hựu tập thành vào khoảng năm 515. Đây là quyển mục lục ra đời sớm nhất, đúng đắn và đáng tin cậy nhất hiện còn lưu hành. Trong quyển này, Tăng Hựu có nhắc đến một mục lục do ngài Đạo An tập thành năm 374, trong đó Đạo An liệt kê 26 nghi kinh (ngờ không phải do chính Phật thuyết), 143 bản thất dịch (không tên dịch giả) và 175 tư liệu lạ kỳ (dị kinh). Đại sư Tăng Hựu cũng ghi thêm 24 bản mà chính ngài cho là ngụy kinh và 30 bản do các vị khác gọi là ngụy kinh.

- Chúng kinh mục lục (Taisho 55, 2146: 115-149) do vua Tùy ra sắc lệnh tập thành vào năm 589. Bộ mục lục này kể như đầy đủ nhất về các kinh điển lưu hành đương thời, nhưng không đáng tin cậy vì người ghi đôi khi không có bản kinh trong tay, chỉ nghe nói lại.

- Lịch đại Tam bảo ký (Taisho 49, 2034:22-128) do Phí Trường Phòng tập thành 4 năm sau Tùy Chúng kinh mục lục trên, với mục đích chứng tỏ Phật pháp siêu việt hơn Đạo giáo, đưa đến tình trạng ghi chép hỗn tạp, không đáng tin cậy.

 Còn có một số quyển mục lục không tiêu biểu khác sau thời Đại sư Trí Khải, không liệt kê ở đây. Tuy nhiên, chỉ 3 bộ mục lục cùng với bộ của Đạo An đã mất, cho thấy tình trạng phong phú của kinh điển bằng Háùn văn được lưu hành đương thời. Ngoài ra, lại còn có những sinh hoạt khác, như các nhà du hành, nổi tiếng nhất là Pháp Hiển du hành Ấn Độ và Trung Á những năm 399-414 để sưu tập thêm kinh điển. Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma, 470-543) đến Trung Hoa vào thời Lương Võ đế để đề xướng Thiền. Đồng thời lại có Đàm Loan (476-542) và Thiện Đạo (513-681) đang cực lực xiển dương Tịnh Độ tông tại Nam phương. Vào năm  504, Lương Võ đế là vị vua đầu tiên hộ trì Phật giáo và quy y Phật, thọ giới cư sĩ tại gia.

Tóm lại, Phật giáo vào thời kỳ của Đại sư Trí Khải rất đa dạng, cả ở phương Bắc và phương Nam, nhưng mang nhiều sắc thái khác nhau. TaÏi miền Bắc, chư tăng chuyên về thiền định và tụng kinh, trong khi ở phương Nam thì lại chú trọng đến biện luận các triết thuyết trong giới thượng lưu, và niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh Độ trong giới bình dân. Miền nào cũng cho rằng mình sở hữu kinh do Phật thuyết và được chân truyền từ Phật. Tiến trình lịch sử văn hóa nhân loại trong gần ba ngàn năm qua cho thấy, khi một tình huống trở nên hỗn độn, cực đoan, cục bộ, bế tắc, thì sẽ có sự xuất hiện một hay nhiều nhân vật lỗi lạc, có viễn kiến, có đầu óc tiến bộ, có can đảm vượt ngoài và vượt trên trào lưu đương thời để xiển dương một tư tưởng mới, một học thuyết mới, một sáng tạo mới, để đưa tình huống đó tiến thêm một cấp cao hơn, đưa văn hóa bước thêm một bước xa hơn. Nhân vật lỗi lạc đó, tại Trung Hoa, trong môi trường Phật giáo đang phát triển rầm rộ nhưng đa phức đó là Đại sư Trí Khải (538-597), một nhà tư tưởng đã hệ thống hóa toàn bộ giáo pháp của Đức Phật, một triết gia Phật giáo vĩ đại ngang hàng với Long Thọ bên Thiên Trúc với triết thuyết Tam Đế đặc biệt của ngài.
 

1 Một số trước khi đến Quảng Châu thường ghé qua Giao Châu (tức miền Bắc Việt Nam ngày nay) một thời gian để hoằng pháp và tạo tên tuổi trưóc khi sang phương Bắc.
2 Xem Lê MaÏnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt nam, q. 1.
3 Trúc Pháp Lan và Trúc Phật Niệm vẫn còn xem là thuộc huyền sử.
4 Tìm đọc “Khương Tăng Hội, sáng tổ Phật giáo Việt nam” của Tuệ Hạnh, đăng trên nhiều tạp chí Phật học tại hải ngoại.
5 Viết theo Richard J. Smith. Buddhism and the “Great Persecution” in China, AD 841-845, trong Buddhism in Chinese Culture, edited by Cheu Hock-Tong. Malaysia, Pelanduk Pub. 2000. tr. 21.
6 Cưu Ma La thập (Kumarajiva) cùng Chân Đế (Paramartha) và Huyền Trang được xem là ba nhà phiên dịch tài giỏi  nhất, đã thay đổi toàn diện lịch sử văn hóa và văn học Trung Hoa.
7 Các học giả Tây phương dịch kinh Pháp Hoa trực tiếp từ Phạn ngữ, nếu đối chiếu với bản Hán dịch của ngài La Thập ta sẽ thấy có một vài khác biệt. Xem lời nói đầu trong bản dịch kinh Pháp Hoa của HT. Thích Trí Quang.
8 Ở đây cũng cần nhắc đến sự sai biệt giữa đạo Lão và Đạo giáo: Đạo giáo là theo triết lý tiên thiên ẩn cư luyện đan, đạo Lão thì nhập thế dùng phù chú thuật số như Ngũ đẩu giáo...; người tu theo đạo Lão thì gọi là Đạo sĩ hay Đạo gia.
9 Có 2 bản dịch Triệu luận: 1 của Thiền sư Thích Duy Lực, "Triệu luận", phát hành năm 1987 tại California; 1 của Tuệ Hạnh, "Tăng Triệu và Tánh Không Học Trung Hoa", Viện Đại học Vạn Hạnh, 1974.
10 Viết theo Richard J. Smith, bài đã dẫn.
11 Tăng Triệu, một trong 4 đại đệ tử của La Thập (tứ kiệt), được giao giữ việc chấp bút ghi chép này, nhờ đó mà viết thành các tiểu luận, lập thành Triệu luận.
12 Đạo Sanh cũng là người đầu tiên thiết lập hệ thống tư tưởng của Phật pháp trước khi Trí Khải hoàn thành Phán giáo. Xem bài viết về "Những khuôn mặt tạo thành lịch sử: Đạo Sanh.
13 Thập niên 1924-1934, một số học giả, giáo sư  do ông Takakusu Junjiro và Watanabe Kaigyoku làm trưởng nhóm đã tập thành toàn bộ kinh điển Phật pháp đặt tên là Taishò Shinshù Daizòkyò, Đại chánh tân tu Đại tạng kinh, được toàn thể thế giới học thuật dùng làm tài liệu tham khảo và dẫn chứng căn bản chính yếu nhất. Sách Tây phương viết tắt là T. hay Taisho (Đại chánh) tiếp đến là quyển số (55), mục số (2145) và số trang.
 



5 câu hỏi cho bạn lúc bình minh

1. Trái tim của bạn còn đập không?

Trong suốt cuộc đời, hình như chúng ta chỉ chăm chăm một việc là bảo vệ mình đến mức tối đa. Chúng ta tránh né những chướng ngại và đương đầu với những gì ngăn cản bước tiến của mình; chúng ta nghi ngờ những âm mưu, cạm bẫy và rồi tìm mọi cách để đối phó...

Thế nhưng khi nhìn lại, quanh ta đa số là kẻ thù, kẻ không đáng tin cậy. Những người bạn ngày xưa đồng cam cộng khổ nay cũng đứng bên kia chiến tuyến với ta trong cuộc đời. Nhìn vào gương, chúng ta thấy gì trên khuôn mặt của mình? Đó là nét mặt đanh lại, và như thế, sâu trong lòng ngực, trái tim ta đã hóa đá mất rồi.

Bạn nghĩ việc gì sẽ xảy ra nếu tim mình không còn đập hay chẳng có trái tim?

2. Bạn làm gì với trái tim mình?

Chỉ cần bạn có một trái tim. Thế là quá đủ! Hãy bảo vệ trái tim này của bạn cho dù thế giới có điên đảo đến đâu. Khi giữ được trái tim mình thì chắc chắn có những trái tim khác đập cùng nhịp với trái tim bạn.

3. Nên kỳ vọng vào ai giữa cuộc đời này?

Bạn đừng kỳ vọng vào bất cứ ai giữa cuộc đời này, cho dù đó là những vĩ nhân, là thiên tài, nếu bạn không muốn mình bị nản lòng và thất vọng. Vì sao vậy? Bạn có nghĩ rằng mình có thể hiểu được mọi sự trong cuộc đời này chăng? Bạn có thể không bao giờ phạm sai lầm trong nhận thức và hành động? Bạn hãy nhìn lại mình và tập chơi với cuộc đời này cho thành thực và điệu nghệ, bạn sẽ dần dần thấy rằng vạn sự xuất phát từ tâm.

4. Nói hay nín?

“Buổi sáng nghĩ điều lành, buổi trưa nói lời tốt, buổi tối làm điều thiện, ta có một ngày vui.” Nếu bạn chỉ nói những điều lành mà không nghĩ và không làm thì những lời nói của bạn sẽ đi về đâu, chắc chắn bạn đã biết!

5. Những con người khác có ý nghĩa với bạn không?

Khi bơ vơ nơi xa lạ, chung quanh không một bóng người, bạn sẽ khao khát biết bao một bóng dáng của bất cứ ai, dù đó là người mà ngày thường bạn không hề muốn gặp. Trong cuộc sống này, không có ai trong cuộc đời này là không có ý nghĩa với bạn.

Theo Viên Chiếu 2006
 



HỒNG HẠC
Vương Biên Hương

Vu là một bốc sư sống ở núi Nam San. Ông nổi tiếng là người nuôi chim Hồng. Hồng là giống chim trời, thế mà Vu nuôi được. Đồn rằng ông cho chim Hồng ngủ trong một cái tổ lót bằng mây bông trắng, đón chim Hồng bằng âm thanh dìu dặt của sáo trúc, sáo diều, cho chim Hồng ăn bọt khí.

Ai cũng muốn chạm tay vào cánh chim Hồng của Vu.

Họ đổ về sân nhà Vu, trên núi Nam San. Nhưng tìm viên bốc sư này cũng khó như tìm cánh chim Hồng. Trên cái sân đất nện, có ngày người ta đếm được cả thảy một vạn vết chân người và vết chân ngựa đan vào nhau, chồng chất lên nhau. Có một ông già lẩn thẩn lập một túp lều cỏ ở sân nhà Vu để đếm vết chân người và ngựa. Đếm xong, ông viết cẩn thận lượng đếm được vào một cuốn sách. Sách chỉ có hai dấu hiệu. Một dấu chữ Nhân. Một dấu chữ Mã. Còn lại toàn là vạch. Nhưng rồi những dấu hiệu này càng về cuối cuốn sách càng mờ dần, hòa lẫn vào nhau đến độ không phân biệt nổi đâu là gì. Những cái vạch cũng bắt đầu chồng chéo lên nhau đến độ không đọc nổi. Và cuốn sách biến thành cái sân đất nện. Ông già lẩn thẩn bực mình, thay một cuốn sách khác và cần mẫn đếm lại từ đầu.

Trong khi người và ngựa chen lấn để được đếm dấu chân và họ tin tưởng rằng mình sẽ được cấp một dấu hiệu nào đó, một tấm huy chương bằng vải đỏ có thắt nút một bông hoa to tướng có thể quàng lên cổ hay đeo trước ngực tùy thích nhằm chứng minh rằng mình đã đến sân nhà Vu ở núi Nam San thì sự mệt mỏi xuất hiện. Nó dâng lên từ từ. Nhưng nó luôn xuất hiện như một dịch bệnh, một cơn buồn ngủ, một nỗi đắng cay, một sự thất vọng. Và đến lượt họ, từng người một, và chúng, từng con ngựa một, diện kiến ông già lẩn thẩn, thì chẳng còn ai trong số đó, cả người và ngựa, nhớ được họ đến đây để làm gì. Họ rơi vào mê cung của sự luẩn quẩn. Họ quên mất tên của bốc sư. Họ cũng chẳng bao giờ tìm thấy ông ta và những con chim Hồng trong các lời đồn đãi liên tục và bất tận.

Chỉ có xưởng làm giấy đóng sách và xưởng sản xuất các huy chương bằng vải đỏ sau núi Nam San là phát đạt và lúc nào cũng phải tuyển thêm người.

Nhưng đó không phải là tất cả. Một ngày trời nóng nực. Ngay cả trên núi Nam San, vốn luôn mát lạnh, những người và ngựa chen lấn trong sân cũng phải đổ mồ hôi. Ngày đó có một gã đàn ông lầm lì xuất hiện. Gã đã ẩn nhẫn xếp hàng. Gã lần từng bước trên sân nhà Vu. Gã nhắm mắt để không nhìn thấy người, lừa và ngựa. Gã không buồn nhìn những vệt chân chồng chéo vào nhau, trên sân cũng như trong các cuốn sách xếp chồng đống trong lều. Cuối cùng gã cũng đứng trước mặt ông già lẩn thẩn, kẻ chuyên chép lại các dấu chân. Ông lão nhìn dấu chân của gã hồi lâu và biên chép. Nhưng do trời quá nóng và vẻ ngoài lì lợm của hắn, ông đã để cho mồ hôi tay chảy ra. Vệt mồ hôi này bắt đầu ri rỉ, sau đó lớn dần, như một dòng suối tí hon, màu đen kịt, bắt đầu loang ra cuốn sách và xóa dần vết chân mà ông già đã biên chép cẩn thận. Khi nó bôi đen vết chân ấy thì bỗng tất cả trang sách biến thành màu trắng xóa. Không ai đọc được gì từ trang sách trắng xóa ấy nữa.

Đó là người duy nhất lọt vào nhà của bốc sư Vu.

Vu nhìn người khách đối diện với ông bằng cặp mắt của một kẻ mù lòa. Viên bốc sư cảm thấy hơi thở của gã đàn ông này thật nặng nề và hôi hám. Nhưng ông vẫn quyết định tung ra những cánh Hồng.

Ông cho một con chim trong đàn chim nằm trong tổ lót bằng mây trắng tiến dần ra bến sông. Đó là một con bé tí và mới mọc lông cánh. Chẳng ai để ý đến con Hồng này vì dường như nó quá yếu đuối và xấu xí.

Gã đàn ông cũng thấy chưng hửng vì con chim này làm gã thất vọng. Nhưng gã che dấu nỗi thất vọng vào bên trong và an tâm nhìn vào đôi mắt mù lòa của bốc sư.

Bốc sư quyết định cho con chim đẹp của ông rời bến sông để bước lên trên một tảng đá tuy không lớn lắm nhưng bằng phẳng và chắc chắn.Ông cảm thấy đôi chân run rẩy của con chim yêu dấu, bé tí, mềm mại đang bước thêm những bước nhỏ, nhưng an toàn.

Gã đàn ông kiên nhẫn nhìn bước chân của con chim bé tí và xấu xí kia.

Trung thành với lời hứa của mình, Vu cho con chim kia, bay lượn một vòng nhỏ và đáp lên một bình nguyên, miệng ông lẩm nhẩm đọc một lời thơ: Hồng vu lục.

Chẳng một ai thèm để ý đến câu thơ của ông. Những kẻ kiên nhẫn nhất cũng nhìn thấy bình nguyên bao la mà bốc sư cho con chim Hồng của ông tiến vào chỉ là một vùng hoang vu và hẻo lánh, khô cằn, trơ đất đá, không cây cối.

Gã đàn ông ngáp ngắn ngáp dài.

Bốc sư chợt phất tay áo và con chim Hồng, dường như đã to lớn hơn một chút bắt đầu bay lượn vài vòng trên không trung và đáp vào một cành cây. Đôi chân của nó vững vàng hơn.

Gã đàn ông quỳ mọp dưới chân bốc sư, van nài ông hãy cho hắn đặt tay vào cánh chim Hồng lộng lẫy và vĩ đại mà hắn muốn. Hắn thở hồng hộc vì mệt. Hắn đặt vào tay bốc sư tất cả những gì hắn mang theo. Đó là những đồng tiền vàng trĩu nặng trong một cái túi lớn.

Bốc sư dường như chẳng để ý gì đến hắn, ông tiếp tục lắc chiếc đĩa nhỏ, trên đựng ba đồng xu cổ và chăm chú vào việc vạch thêm một vạch thẳng, không hề đứt đọan lên tờ giấy trước mặt và đưa tiếp con chim bé tí kia đến với một gò đất .

Gã đàn ông nổi điên. Hắn đập cái đĩa vỡ tan, dẫm lên ba đồng xu. Hắn vo tròn tờ giấy có những vạch ngắn dài ném vào lửa. Vơ vét túi tiền, hắn chạy ra khỏi lều cỏ và lên ngựa phóng thẳng trước khi phải vạch thêm một lần nữa dấu chân người và ngựa lên mảnh sân, hay trên cuốn sách không biết đánh số thứ bao nhiêu rồi.

Sự bực bội của hắn khiến cho đòan người trong sân nhà Vu lần đầu tiên chuyển động kỳ dị. Rồi bọn họ đi mất, mang theo những thanh âm khó chịu của những lời bàn tán lao xao, mang theo tất cả các đôi giày cỏ và những móng lừa ngựa.

Lặng lẽ mỉm cười, bốc sư sai người đóng cửa lại. Ông phất tay áo và lần này, cánh chim Hồng lộng lẫy nhất hiện ra.Con chim bé nhỏ đứng trên gò kia biến thành một con chim đẹp chưa từng thấy cất cánh bay thẳng lên trời, lạc vào các tầng mây trắng và biến mất.

Sân nhà bốc sư, lần đầu tiên sạch bong. Cỏ lặng lẽ mọc lên chen lẫn với rêu. Chẳng thấy ai thăm viếng bốc sư nữa. Ông già mù này đã chuyển nghề nuôi chim Hồng sang nuôi vịt. Chỉ có điều không ai biết là những con vịt ông nuôi khi lớn lên đều biến thành chim Hồng.

Sài Gòn, 15-1-2006
 



Chùa Quán Thế Âm (Non Nước, Đà Nẵng):
Sẽ thực hiện pho tượng Đức Quán Thế Âm 
bằng pha lê

Lễ hội Quán Thế Âm ở Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng là một trong 15 lễ hội lớn của đất nước được Bộ Văn hóa-Thông tin và Tổng cục Du lịch công nhận. Hàng năm, vào trung tuần tháng 2 âm lịch, núi non Ngũ Hành Sơn lại chứng kiến cảnh nô nức trẩy hội của hàng chục vạn khách thập phương. VHPG đã có cuộc trao đổi với Đại đức Thích Huệ Vinh, trụ trì chùa Quán Thế Âm, Trưởng ban tổ chức lễ hội.

Đại đức có thể nói vài nét về Lễ hội Quán Thế Âm ở Ngũ Hành Sơn?

Lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức hàng năm, chính thức vào các ngày 17, 18 và 19 tháng 2 âm lịch. Truyền thống tín ngưỡng Đức Quán Thế Âm có từ rất lâu ở vùng Non Nước, nhưng trở thành một lễ hội quy mô rộng lớn như hiện nay thì phải nhắc đến cố Thượng tọa Thích Huệ Hướng, nguyên trú trì chùa Quán Thế Âm. Nhận thấy nhu cầu tín ngưỡng của người dân về Đức Quán Âm rất lớn, năm 1991, cố Thượng tọa cùng với chúng tôi đã khởi xướng lễ tưởng niệm hàng năm thành lễ hội với nhiều sinh hoạt văn hóa, tâm linh. Lễ hội bắt đầu từ ngày 17 và kết thúc vào ngày 19 tháng 2 âm lịch. Từ đó đến nay, lễ hội được duy trì và được quần chúng Phật tử hưởng ứng ngày càng đông, các hoạt động ngày càng phong phú... Chúng tôi đã được ủng hộ rất nhiều từ Ban Trị trị Thành hội PG, từ các ban ngành và đặc biệt là chính quyền Quận Ngũ Hành Sơn trong việc tổ chức lễ hội nhiều năm qua.

Ảnh hưởng của Lễ hội Quán Thế Âm ở Ngũ Hành Sơn ngày càng có sức lan tỏa. Năm 2000, Bộ Văn hóa-Thông tin và Tổng cục Du lịch công nhận là một trong 15 lễ hội tiêu biểu ở nước ta.

Đại đức cho biết các hoạt động chính của lễ hội năm nay?

Lễ hội Quán Thế Âm luôn cân đối giữa hai phần là lễ và hội. Phần lễ gồm những nghi lễ tôn giáo như lễ thượng phan – khai hội, lễ nghinh rước tôn tượng Đức Quán Thế Âm, Lễ rước ánh sáng Từ bi, lễ vía Đức Quán Thế Âm, lễ cầu quốc thái dân an, lễ phóng sinh, hoa đăng, thuyết giảng Phật pháp, lễ tôn vinh nghề đá mỹ nghệ, trai đàn chẩn tế... Phần hội gồm nhiều sinh hoạt tập thể như diễn sự tích Quán Âm, hội trại, sân khấu hát tuồng - dân ca, tái diễn bài chòi, biểu diễn văn nghệ, trưng bày cây cảnh, triển lãm nghệ thuật, biểu diễn võ cổ truyền, đua ghe, múa lân - rồng trên sông, thi ẩm thực, trưng bày tượng đá - mỹ nghệ Non Nước...  và nhiều hoạt động giao lưu khác.

Qua quan sát, lễ hội Quán Thế Âm ngày càng có ảnh hưởng không chỉ ở TP. Đà Nẵng mà cả khu vực trung Miền Trung, với vai trò là người trú trì chùa Quán Thế Âm và là Trưởng ban tổ chức, Đại đức có dự định gì trong việc xây dựng thêm công trình để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của lễ hội?

Trong năm nay, chúng tôi có kế hoạch xây dựng khu văn hóa Thiền trà cạnh chùa Quán Thế Âm, nhìn ra sông Cầu Biện (Cổ Cò) với diện tích 1.000m2. Đây là khu vực dành riêng cho các loại hình sinh hoạt như Thiền trà, trình diễn thơ - nhạc, trưng bày sách, tranh ảnh và thư pháp.

Chúng tôi cũng có nguyện vọng tạo một pho tượng Đức Quán Thế Âm bằng pha lê trong suốt trong hình tướng tay cầm bình nước cam lồ với dòng nước tỏa ánh ngũ sắc. Pho tượng này sẽ là sự kết hợp giữa phong cách cổ truyền và hiện đại. Khi  hoàn thành, pho tượng sẽ được tôn trí trên bệ trung tâm của lễ đài chính nhìn ra sông Câu Biện, tượng sẽ tự động quay 1800 quanh tâm điểm cố định. Chúng tôi mong ước nguyện này sớm hoàn thành.

Chúng tôi cũng nghĩ đến thành lập một Vườn thiền trên cồn cỏ trước chùa Quán Thế Âm với diện tích 2.000m2. Đây là nơi sẽ trưng bày các tác phẩm điêu khắc  đá - sản phẩm nổi tiếng của Non Nước. Chúng tôi rất mong chính quyền thành phố Đà Nẵng, Quận Ngũ Hành Sơn và Phật tử ủng hộ để chúng tôi thực hiện tốt các Phật sự trên, nhằm để lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn ngày càng được phát triển, đặc sắc, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng và văn hóa của đông đảo quần chúng.

Cảm ơn Đại đức.
Nguyên Mãn- Nhật Uyển thực hiện


NON NƯỚC VÀO HỘI
Thích Huệ Vinh

Hàng năm, cứ vào ngày 19 tháng Hai âm lịch, Ngũ Hành Sơn-Non Nước lại thơm ngát hương trầm, vang vọng tiếng kinh kệ và vui tươi với các hoạt động văn hóa trong lễ hội Quán Thế Âm. Trung tâm điểm là Lễ vía Đức Quán Thế Âm, lễ Cầu nguyện quốc thái dân an và Hội Tôn vinh làng nghề đá Non Nước...

Ngũ Hành Sơn - Non Nước là quần thể núi non gồm năm ngọn chính: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Đây là một trong những thắng cảnh của đất nước, cách trung tâm TP. Đà Nẵng 7 km về phía Đông Nam, trước mặt là biển Đông, sau lưng là dòng Trường Giang (còn gọi là sông Cầu Biện hay Cổ Cò). Ngũ Hành Sơn - Non Nước còn có tên gọi khác là Phổ Đà Sơn, Ngũ Uẩn Sơn… Non nước Ngũ Hành Sơn thoang thoảng mùi hương trầm tỏa ra từ những ngôi chùa Tam Thai, Linh Ứng, Long Hoa, Huệ Quang... Núi non, hang động và chùa chiền làm nên một quần thể danh lam thắng cảnh hiếm thấy của đất nước, là điểm đến của tao nhân mặc khách nhiều thế hệ, nguồn cảm hứng sáng tác của thơ, nhạc, họa. 

Nhìn từ xa, Ngũ Hành Sơn trông như dáng rồng lượn từ biển vào đất liền, gợi về truyền thuyết trứng rồng trên cát nở ra năm cánh trong mối tình thủy chung Tiên Nữ và Long Quân. Hàng năm, Ngũ Hành Sơn thu hút hàng triệu du khách thưởng lãm cảnh đẹp và hành hương đến với một trong những đạo tràng của Đức Quán Thế Âm, một vị Bồ tát lắng nghe âm thanh khổ đau của chúng sinh liền thị hiện đến để cứu giúp, vị Bồ tát có một vị trí quan trọng và phổ biến trong tâm thức văn hóa dân tộc từ xa xưa.

Nói đến danh lam thắng cảnh Ngũ Hành Sơn, không thể không nhắc đến chùa - động Quán Thế Âm và lễ hội Quán Thế Âm diễn ra rầm rộ vào tháng Hai âm lịch hàng năm, như lời lưu truyền của người dân qua câu ca dao:

Quan Âm mười chín tháng Hai
Ngũ Hành lễ hội ai ai cũng về”.

Chùa Quán Thế Âm tựa lưng vào Kim Sơn, nhìn ra sông Cầu Biện. Cạnh chùa là động Quán Thế Âm. Đây là một trong những hang động cao và rộng, đặc biệt trong hang động có hình tượng Bồ tát Quán Thế Âm kết thành tự nhiên từ nhũ đá. Tượng cao 1,75m với thế đứng an nhiên trên mình rồâng uốn khúc, bên trái là hình tượng đá Thiện tài đồng tử, bên phải là rừng trúc và chim Khổng tước. Hình tượng Bồ tát hiện ra trong tư thái trang nghiêm, lân mẫn, từ hòa.

Hàng năm, cứ vào tháng Hai âm lịch, núi non Ngũ Hành Sơn lại thơm ngát hương trầm, vang vọng tiếng kinh kệ và vui tươi với các hoạt động văn hóa trong lễ hội Quán Thế Âm diễn ra tập trung vào các ngày 17-18 -19, trung tâm điểm là Lễ vía Đức Quán Thế Âm, lễ Cầu nguyện quốc thái dân an và Hội Tôn vinh làng nghề đá Non Nước.

 Lễ hội thu hút hàng chục vạn lượt khách về hành hương từ ba miền đất nước. Trong tiết nhịp mùa xuân, mùa trẩy hội nơi nơi, lễ hội Quán Thế Âm thể hiện sắc thái nền nếp một lễ hội văn hóa Phật giáo chan hòa trong nguồn tình tự quê hương với thắng tích Ngũ Hành Sơn - Non Nước.

Lễ hội diễn ra trong mùa xuân với trời đất giao hòa, cây lá nẩy lộc đơm hoa. Đây là dịp để mọi người cùng nhau rộng mở tâm tình trở về nguồn cội. 

Lễ hội cũng là nơi mọi người hành hương được dịp thể hiện lòng thành kính hướng về Mẹ hiền Quán Thế Âm, hướng về nguồn cội, nguồn sống, nguồn ánh sáng thương yêu bình đẳng. Theo gót chân ngài, du khách xa gần đã về đây trong không khí trầm mặc của chùa chiền, núi non, của hang động huyền ảo; để có niềm giao cảm với thiên nhiên, để yêu quê hương, đất nước hơn nữa.

Cùng với lễ hội mùa xuân trên mọi miền đất nước, lễ hội Quán Thế Âm - Non Nước - Ngũ Hành Sơn diễn ra nhân ngày khánh đản Đức Quán Thế Âm 19 tháng 2 âm lịch, đã góp phần làm nên nét đẹp văn hóa dân tộc, nét đẹp của một đất nước thơm mùi hương trầm, đáp ứng nhu cầu tâm linh của đông đảo đồng bào ở miền Trung nói riêng và của cả nước nói chung.
 


Lời cảm ơn cuộc sống 14

Tôi đánh mất tình yêu, không phải vì tôi bị người yêu phụ bạc, khiến tôi phải sinh con trong sự thương xót của những người cùng ở trọ, mà chính bản thân tôi đã không biết yêu thương là gì nữa. Tôi hận người yêu nên quyết bỏ đứa con của mình đi. Tôi cũng chẳng hiểu làm sao tôi lại nhiều cô đơn và mất mát đến như thế. Lúc đó, trong một thoáng ích kỷ, tôi đã từng nghĩ, mình cần phải thay đổi để làm một người mới, một người chưa chồng chưa con. Từ đau khổ đến lãng quên có bao xa đâu, nhưng sao nhiều lúc lòng thương nhớ con trong tôi quặn thắt. Phải chi lúc đó tôi đừng hận ai hết, đừng bỏ con rời tay trong tiếng khóc như xé ruột của nó…

Tôi đã nhiều lần đi hỏi tìm con nhưng vô vọng. Có lẽ đó chính là bài học yêu thương mà tôi phải mang theo trong suốt cuộc đời còn lại của mình. Cuộc sống của tôi là những ngày mà tôi hình dung con trong nước mắt. Tôi chỉ biết dựa vào sự ăn năn để sống và hy vọng tìm lại được con, mong rằng ở đâu đó, con sẽ tha thứ cho một người mẹ nhiều mất mát như tôi…
 Trần Thị Ngân
                                                                                                                 (TP.HCM)

Tôi biết, khi nào tôi tỏ ra ngông cuồng là lúc bố tôi tức giận và hoảng sợ. Vì tôi cũng chỉ là một bản sao tính cách của ông mà thôi. Ông có thể biến tôi thành một người đàng hoàng, nên thân, nhưng ông không đủ thì giờ và can đảm để làm. Có lẽ ông không đủ minh mẫn thì đúng hơn. Chuyện tiền bạc, địa vị của ông bao trùm lên căn nhà mà mẹ con tôi ở. Tôi sống trong ánh sáng tiền bạc của ông nhưng chỉ như một người ăn mày cao cấp. Ông gần như không nghĩ rằng trong căn nhà này có một người vợ đầy buồn tủi và một người con đầy hư hỏng. Ông ấy chỉ nghĩ đến tiền và những cuộc vui ở bên ngoài…

Nhưng cuộc sống đã không bỏ rơi tôi khi cho tôi một người mẹ tuyệt vời. Sự nhẫn chịu và yêu thương của bà đã giữ cho gia đình tôi yên ổn. Nếu không có tình yêu thương của mẹ, tôi sẽ mắc nghiện lần thứ 2, và mọi chuyện sẽ chấm dứt. Vàhơn cả niềm hạnh phúc, tôi đã gặp em trong khi bệnh hoạn. Em đã dạy tôi phải biết tự lập, phải vươn lên mà sống và phải quên đi cả những sung sướng ảo để làm một người đàn ông bình thường. Tôi đã quyết tâm làm, và tôi đã làm được…

Nay tôi có thể sống hạnh phúc với em và các con trong mái ấm riêng của mình, tôi mới hiểu, “làm một người đàn ông bình thường” là câu nói có ý nghĩa nhất mà em đã dành để nói với một người đàn ông đầy ngông cuồng như tôi…
Nguyễn Văn Thuận
(TP. Hà Nội)


BÙI KHO VỚI NẤM VÀ ĐẬU HŨ

Vật liệu:

- Trái bùi ngâm muối:       30 trái
- Đậu hũ:                             1 bìa
- Nấm hương khô:              30 tai
- Ớt trái dầm muối:            3 trái
- Gia vị: dầu ăn, boa-rô, xì dầu, tiêu, đường

Cách làm:

Trái bùi còn gọi là trái trám đen hoặc trái cảm lãm. Lấy trái bùi đã ngâm nước muối một thời gian cho mềm cơm, đem xẻ đôi lấy phần cơm, phần hạt cứng để riêng.

- Đậu hũ cắt miếng vuông đem chiên vàng.

- Nấm hương khô: ngâm nước một lúc rửa sạch để ráo.

- Bắc chảo nóng, cho boa-rô xắt nhỏ vào xào thơm, rồi cho nấm, đậu hũ, cơm bùi, ớt trái dầm muối vào, nêm một chút xì dầu, đường cho vừa ăn. Đổ vào một ít nước lạnh, đậy nắp và đun lửa nhẹ cho đến khi đậu hũ, nấm hương thấm gia vị lẫn hương vị của bùi, nước của món ăn còn xâm xấp là được.

Nhắc xuống, múc ra dĩa, rắc vào một ít tiêu xay.
 

XÔI NHÂN HẠT BÙI

Vật liệu:

- Nếp ngon:           3 lon
- Nhân hạt bùi:     ½ lon

Cách làm:

- Nếp: vút sạch, ngâm nước lạnh một đêm.

- Hạt bùi sau khi đã dùng phần cơm rồi chỉ còn lại hạt cứng. Đem chặt đôi hạt cứng, lấy phần nhân có màu trắng. Rồi trộn chung với gạo nếp, đem hấp chín.

Nhân hạt bùi khi chín cũng có màu trắng gần giống với màu của hạt xôi chín. Nhưng khi ăn thì nghe sần sật, lại có vị thơm ngầy ngậy của nhân bùi quyện lẫn với nếp dẻo nên có hương vị đặc biệt khó quên.

Món xôi này dùng với muối mè.
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 14 -THÁNG 3 2006


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)