.
.SỐ 15 -THÁNG 4, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
 
SỐ 15-THÁNG 4, 2006

 

 

01 Nghĩ về việc bảo tồn giá trị truyền thống trong việc trùng tu các di tích lịch sử (Trí Ngôn) 

Ngõ vào thiền
Thích Nữ Trí Hải

Bạn có thể vào thiền từ bất cứ ngõ nào, vì toàn thể đời sống là một thiền định sâu xa: núi đồi, trăng sao, hoa lá, cây cỏ, toàn trái đất đều đang nhập định. Bất cứ sự vật gì cũng có thể trở thành ngõ vào thiền. Chính vì vậy mà có rất nhiều kỹ thuật, rất nhiều giáo phái. Và cũng chính vì vậy mà tôn giáo này không hiểu tôn giáo kia - vì họ nhập đạo bằng những ngõ khác nhau. Đôi khi có những người mà bạn sẽ không nhận ra là họ có “tôn giáo” mặc dù họ vẫn có một niềm tin, sự nhiệt thành của người theo một tôn giáo...

Sri Aurobindo nói: toàn thể đời sống là Du già ( Yoya). Đúng thế, mọi sự có thể trở thành một pháp thiền. Và bạn chưa thực sự thiền định, khi bạn chỉ ngồi thiền vào một lúc nào đó trong ngày, khi bạn không biến mọi chuyện thành thiền pháp. Thiền không chỉ là một phần trong đời bạn mà là một phẩm chất của đời bạn, như hơi thở. Bạn vẫn tiếp tục thở, dù bạn đang làm bất cứ việc gì, chứ không thể khi thở, khi không.

Thiền là một hơi thở tâm linh. Cũng như thân thể đang thở không khí, tâm bạn cũng có thể thở với ý thức tỉnh giác. Và khi bạn hít vào thở ra với ý thức thì bạn không chỉ là một thân xác vật lý, mà từ đó có một sự thở “cao cấp”, nghĩa là thở trong tỉnh thức, hít thở chính sự sống. Khi ấy bạn đi vào một lĩnh vực khác, gọi là lĩnh vực siêu hình.

Sự thở của bạn là vật lý, còn thiền định, ý thức tỉnh giác - awareness - là siêu hình. Bạn không thể chỉ ngồi thiền vào buổi sáng, rồi quên tuốt về chuyện ấy vào buổi chiều. Bạn không thể đi vào một ngôi chùa để thiền, rồi ra khỏi chùa là hết thiền. Ấy là làm một điều giả dối. Bạn có thể vào chùa rồi đi ra, nhưng không thể vào thiền rồi đi ra. Khi đã “vào” thiền, thì kể từ ấy, dù bạn đi đâu, thiền cũng sẽ luôn luôn theo chân bạn.

Lại nữa, bạn có thể vào thiền từ bất cứ ngõ nào, vì toàn thể đời sống là một thiền định sâu xa: núi đồi, trăng sao, hoa lá, cây cỏ, toàn trái đất đều đang nhập định. Bất cứ sự vật gì cũng có thể trở thành ngõ vào thiền. Chính vì vậy mà có rất nhiều kỹ thuật, rất nhiều giáo phái. Và cũng chính vì vậy mà tôn giáo này không hiểu tôn giáo kia - vì họ nhập đạo bằng những ngõ khác nhau. Đôi khi có những đạo, thậm chí không mang tên là “đạo”, bạn sẽ không nhận ra là họ có “tôn giáo” mặc dù họ vẫn có một niềm tin, sự nhiệt thành của kẻ theo một tôn giáo. Ví dụ một nhà thơ. Thi nhân có thể đi vào thiền định không cần đến bậc thầy nào, cũng không đi chùa, và hoàn toàn không được xem là người có tôn giáo. Nhưng ông ta có thể “nhập đạo” bằng thơ văn, bằng tính sáng tạo trong mình. Hoặc một người thợ gốm cũng có thể nhập thiền chỉ nhờ nắn đồ gốm. Mỗi ngành nghề đều có thể trở thành một cổng vào đạo. Người bắn tên, người làm vườn, hay bất cứ ai cũng có thể vào đạo từ khắp mọi hướng. Bất cứ điều gì bạn làm cũng đều có thể trở thành một ngõ vào đạo, nếu việc làm của bạn có phẩm chất của tỉnh giác chánh niệm.

Vậy thì hành vi, kỹ thuật, phương pháp không quan trọng bằng ý thức tỉnh giác mà bạn đặt vào mỗi hành vi mình làm. 

Kabir,  một đạo sĩ Ấn vốn là thợ dệt, sau khi đắc đạo ông vẫn dệt áo. Những đồ đệ thường bảo ông: “Xin thầy nghỉ ngơi đi, chúng con sẽ cúng dường bất cứ gì thầy cần”. Ông cười lớn mà bảo: “Việc ta làm không phải là dệt. Dệt chỉ là hành vi bên ngoài. Đồng thời trong ta, đang tiếp tục một việc mà các con không thể thấy: đấy là thiền định của ta”. Và một đạo sĩ khác, Gora, vốn là một thợ gốm. Ông nắn những bình đất, và khi bình được xoay quanh trục thì trong tâm ông cũng đang tập trung chánh niệm tỉnh giác. Chiếc bình được tạo ra chỉ là sản phẩm phụ. Ông ta đang sáng tạo chính mình, qua việc nắn đồ gốm. Paul Valéry nói: “Tout homme crée sans le savoir - Mais l’artiste se sent créer - Son acte engage tout son être - Et la souffrance le fortifie”. 

Tạm dịch :       

Mọi người sáng tạo, nhưng ai nào tự biết ?
Nghệ sĩ thấy mình sáng tạo từng giây
Sống hết mình cho mỗi một hành vi
Và đau khổ biến thành nguồn nghị lực.

Đạo sĩ chính là nghệ sĩ của nghệ thuật “ sống cho ra hồn”.

Khi thiền định, ta thấy mình chỉ như một làn sóng trên đại dương cuộc đời. Nói cho cùng thì chỉ có biển hiện hữu mà thôi. Không thể có những làn sóng mà không có biển. Sóng chỉ là hiện tượng, mà biển là thực chất.

Ngôn ngữ đã tạo nhiều rắc rối. Vì ta nói “một làn sóng” nên có vẻ như sóng là cái gì có thực chất. Lẽ ra nên nói “dậy sóng” thì hơn: vì đấy là một chuyển động, không phải một vật thể. Biển có thể lặng yên hay chuyển động, nhưng không thể nào có một làn sóng lặng yên. Lại nữa, sóng nổi lên như những cá nhân riêng lẻ, có lớn có nhỏ khác nhau, có sóng này đang lên và sóng khác đang xuống, nhưng thực tại là biển cả đằng sau chúng thì chỉ là một; và những làn sóng đều tương quan lẫn nhau, dù chúng có vẽ tách rời.

Chúng ta, cũng chỉ là những làn sóng trên đại dương vũ trụ. Hơi thở vào của mỗi người là hơi ra của người khác, của cây cối và mọi sinh vật khác. Trong ta có toàn thể mọi người, mọi sự. Tính cá nhân, riêng rẽ chỉ là huyễn hoặc mê, lầm. Bởi thế, chấp ngã là chướng ngại duy nhất, và mọi tôn giáo đều lên án thái độ ích kỷ, chỉ biết có mình. Nói rằng không có thượng đế cũng không sao, nhưng bảo “chỉ có tôi quan trọng” là một thái độ phi tôn giáo.

Đức Phật là một người không tin vào một ông thượng đế nào cả. Vậy, nếu bạn không tin thượng đế thì điều đó không phải là yếu tố cơ bản cho tinh thần tôn giáo, mà vô ngã mới là cơ bản. Và cho dù bạn có tin thượng đế mà tâm bạn ích kỷ thì cũng là phi tôn giáo. Với tâm vô ngã thì không cần tin thượng đế, vì tâm ấy tự nhiên là rất thánh thiện.

Hãy nhớ biển cả mà bỏ qua làn sóng. Vì mỗi khi khởi sự giống như một làn sóng cá nhân, ta đang làm quấy và sẽ tạo ra đau khổ vì đã chống lại quy luật phổ quát. Đấy là ý nghĩa về nghiệp báo trong đạo Phật.
 



ĐỨC PHẬT CỦA TÔI

Đức Phật là một người như chúng ta. Ngài sinh ra là một con người, sống như một con người và từ giả cõi đời như một con người. Mặc dầu là người, Ngài trở thành một người siêu phàm do những đặc tính duy nhất của Ngài. Đức Phật đã ân cần nhắc nhở nhiều lần như vậy và không có điểm nào trong đời sống hoặc trong lời dạy của Ngài khiến chúng ta hiểu lầm rằng Ngài là một nhân vật bất sinh bất diệt…

Sinh ra là một con người, sống như một con người, Đức Phật đã thành đạt trạng thái tối thượng về sự toàn thiện, Phật quả, do nỗ lực kiên trì cá nhân. Ngài không dành sự liễu ngộ siêu phàm cho riêng mình, Ngài công bố trước thế gian rằng tâm có khả năng và oai lực vô song. Không khi nào ngài tự hào rằng chỉ có Ngài là người duy nhất chung đắc Phật quả vì Phật quả không phải là một ân huệ đặc biệt cho riêng một cá nhân tốt phước nào đó đã được chọn trước.
 Narada Thera

 (The Buddha and His Teachings)


Đức Phật của tôi.
TÔI VẪN THƯỜNG GẶP PHẬT
Nguyễn Duy Tuệ

Tôi được nuôi dưỡng, dạy bảo trong một gia đình có truyền thống Phật giáo. Từ thuở ấu thơ, tôi vẫn thường cầu mong Đức Phật che chở cứu giúp. Tôi được nghe kể, được đọc thấy những trường hợp các đấng linh thiêng hoá hiện ra ở nhiều nơi, trên núi, trong hang động, giữa lưng chừng trời, trong giấc mơ… Một thời gian dài cho đến khi lớn lên, tôi vẫn cầu xin Đức Phật điều này điều nọ. Có khi tôi được như ý, có khi lại thấy lời cầu xin của mình không được đáp ứng. Ước mong lớn lao nhất của tôi là được một lần nhìn thấy Đức Phật hóa hiện, nhưng ước mong đó trong tôi dần dần suy giảm, và tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ được nhìn thấy Phật.

Tôi tự an ủi và tự nghĩ: Đức Phật hiện ra để làm gì? Nếu Ngài hiện ra thì Ngài sẽ cho tôi những gì, sẽ cho mọi người những gì? Nếu Ngài dùng năng lực tối thượng để cứu khổ thì có nhất thiết Ngài phải hoá hiện thân Ngài ra không? Ngài có cần thiết phải hiện hình ra cho người ta tin kính Ngài không? Và nếu người ta cho rằng, phải nhìn thấy được Ngài mới tin, thì niềm tin đó đâu còn là niềm tin tôn giáo?

Suy nghĩ của tôi là thế, nhưng cái ước mong được nhìn thấy Phật thỉnh thoảng lại hiện về trong tâm trí. Cho đến một hôm, nhân đến hầu thăm Hoà thượng Bổn sư của tôi và khi từ biệt, bỗng dưng tôi ngây ngô buộc miệng hỏi: “Bạch thầy, ngày thường hoặc trong lúc thiền định, có khi nào thầy được nhìn thấy Phật chưa?” Vị Đại lão hơn 70 tuổi hạ và quá 90 tuổi đời đáp: “Không!” Rồi Ngài tiếp: “Khi một người làm việc thiện, nói lời thiện, suy nghĩ thiện thì chính khi đó, người ấy là Phật. Phật vốn ở trong tâm mỗi người!”

Dần dần tôi hiểu ra lời dạy ấy. Tôi đã thấy biết bao nhiêu người thiện. Tôi đã thọ nhận sự giúp đỡ, chở che của rất nhiều người thiện. Tôi đang bệnh bỗng bạn tôi ghé thăm và mách thuốc; tôi lo buồn, mẹ tôi khuyên nhủ, an ủi; tôi bị ngã xe, có người đi dường đỡ dậy; tôi sai lầm, kém cõi thì có người chỉ bảo cho… Tôi đang tồn tại trên đời là do vô số những tác nhân thiện lành.

Một người, trong giây phút nào đó làm việc thiện, nói lời thiện, suy nghĩ thiện, thì chính lúc ấy người đó là Phật. Tôi tin ở hoá thân Phật. Đã là hoá thân thì không nhất thiết phải là báo thân đẹp đẽ của Ngài. Và với suy nghĩ này, hàng ngày tôi gặp bao nhiêu người thiện, dù là thiện trong giây lát, thì cũng có nghĩa tôi đã gặp được bấy nhiêu là hoá thân của Đức Phật. Trong nhà gặp Phật, ra đường gặp Phật, có hạnh phúc nào hơn?

Và tôi chỉ việc làm sao để nhiều lần, dù trong giây lát, tôi trở thành hoá Phật đối với mọi người và đối với chính mình.


Phát triển lòng Từ
Dalai Lama

Vài người bạn của tôi nói rằng, tình thương và lòng Từ bi rất tốt đẹp và kỳ diệu, nhưng chúng không có chỗ đứng trong thế giới của chúng ta, nơi mà lòng sân hận và thù hằn là một phần của con người, và như vậy chúng ta luôn bị sân hận làm chủ. Điều nầy tôi không đồng ý.

Con người chúng ta hiện hữu với hình hài nầy trong khoảng gần một trăm ngàn năm nay. Tôi tin rằng trong khoảng thời gian đó, nếu tinh thần chúng ta bị sân hận làm chủ thì dân số của con người đáng lý phải bị giảm đi. Nhưng cho đến hôm nay, mặc dù đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh, dân số thế giới vẫn không ngừng gia tăng.

Điều nầy chứng tỏ rằng, tình thương và lòng Từ bi vẫn chiếm ưu thế. Vì vậy, những việc không hay là "tin tức", những việc làm Từ bi trong đời sống hàng ngày bị coi như là điều tất nhiên, và phần lớn bị phớt lờ đi.

Theo kinh nghiệm của riêng tôi, sự thăng bằng về mặt tinh thần và cơ thể mạnh khỏe có mối liên hệ mật thiết. Sự kích động và tức giận dễ làm chúng ta nhiễm bệnh. Ngược lại, nếu tinh thần yên tịnh và tràn đầy những ý nghĩ tốt lành thì cơ thể ít có nguy cơ bị bệnh hoạn tấn công.

Muốn được hạnh phúc chân thật thì cần phải có một tinh thần an lạc, và để được tinh thần an lạc, cần phải có lòng Từ bi. Làm sao để chúng ta phát triển được lòng Từ? Chỉ nghĩ đến lòng Từ bi thôi thì chưa đủ, chúng ta phải làm sao để chuyển hóa tâm niệm và hành động của mình trong đời sống hàng ngày.

Trước hết, chúng ta phải biết rõ Từ bi nghĩa là gì. Lòng Từ bi cũng có nhiều hình thức và lắm lúc người ta dễ lẫn lộn nó với sự bám víu và lòng ham muốn. Chẳng hạn, tình thương của cha mẹ dành cho con cái thường có liên quan đến những nhu cầu tình cảm của riêng họ, vì vậy tình thương đó không hoàn toàn là Từ bi. Cũng vậy, trong hôn nhân, tình thương giữa hai vợ chồng, nhất là giai đoạn mới kết hôn - lúc mà cả hai chưa rõ những cá tính sâu sắc của nhau - tình thương ấy dựa vào sự bám víu rõ hơn là lòng thương yêu. Vì dục vọng của chúng ta quá mạnh nên người hôn phối dù có tính xấu, dưới mắt ta lúc bấy giờ người ấy cũng trở nên hoàn hảo. Hơn nữa, ta lại có khuynh hướng khuếch trương những điều tốt nho nhỏ. Do đó, khi mà tính tình một trong hai người thay đổi thì người kia cảm thấy thất vọng vì chính tính tình họ cũng có đổi thay. Đây là điều cho ta thấy tình yêu được thúc đẩy bởi những nhu cầu của cá nhân hơn là vì thương yêu một cách thực sự.

Lòng Từ bi chân thật không phải là một thứ tình thương có qua có lại, mà là một sự cam kết chắc chắn dựa trên trí tuệ. Vì vậy, cho dù kẻ nhận được sự cư xử không tốt, một hành động Từ bi thật sự sẽ không hề thay đổi. Dĩ nhiên là phát triển lòng từ bi chân thật sẽ không phải là một việc dễ dàng. Lúc bắt đầu thực tập, chúng ta nên nhìn vào những điểm sau đây :

Dù người đẹp hay người xấu, người dễ thương hay kẻ phá hoại, chúng ta đều là con người như nhau cả. Và vì là con người nên chúng ta đều muốn hạnh phúc và không muốn đau khổ. Hơn nữa, mỗi người có quyền tự do riêng để tránh đau khổ và hưởng sung sướng. Bây giờ bạn chấp nhận là tất cả chúng ta đều muốn hạnh phúc, và vì vậy bạn sẽ tự dưng cảm thông được với mọi người và cảm thấy gần gũi họ hơn. Thực tập điều này sẽ làm cho tinh thần của bạn cảm nhận được tình vị tha, và bạn sẽ phát triển được lòng tôn kính nơi mọi người chung quanh: muốn giúp họ bớt khổ đau. Vì là con người nên ai cũng phải trải qua những kinh nghiệm vui, buồn, sung sướng và đau khổ, vì vậy không lý do gì bạn lại không thương được những người có những hành động ích kỷ.

Trong khả năng của chúng ta, để thực tập và phát triển lòng từ bi, chúng ta cần phải có kiên nhẫn và thời gian. Tận trong tiềm thức của chúng ta, lúc nào cái "tôi" cũng chiếm ưu thế, và vì cái "tôi" đó mà lòng Từ bi của chúng ta bị giới hạn. Thực ra, lòng từ bi chân thật chỉ được thể hiện khi mà cái "tôi" bị diệt bỏ. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta không làm gì được, cái gì cũng có bắt đầu, thực tập và tiến triển, đó là điều mà mỗi chúng ta đều có thể làm được. Bạn hãy bắt đầu ngay từ hôm nay, ngay trong từng suy nghĩ, lời nói và việc làm của mình.

Mỹ Thanh dịch


ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 
TRONG KIẾN TRÚC ĐÌNH CHÙA NAM BỘ
KTS. PHẠM ANH DŨNG

Nam bộ là vùng đất non trẻ của khu vực Đông nam Á, vốn được hình thành chủ yếu trong giai đoạn tân kiến tạo, và đây cũng là vùng đất đan xen cả ba loại địa hình : núi, đồng bằng và duyên hải. Kể từ khi được hình thành, vùng đất này đã có sẵn một thảm động thực vật vô cùng phong phú. Trong quá trình mở đất về phương Nam, tổ tiên ta đã mang theo các lọai hình văn hóa nghệ thuật mang đậm dấu ấn của người Việt đến vùng đất này, rõ nét nhất là các loại hình kiến trúc. Kiến trúc thuộc loại hình văn hóa ứng xử, chủ yếu là ứng xử với môi trường tự nhiên, và điều này càng rõ hơn đối với vùng đất Nam bộ trong buổi đầu khai hoang lập ấp.

1. Kiến trúc đình chùa: phản ánh việc tận dụng môi trường tự nhiên

Hơn 300 năm trước đây, cả vùng Nam bộ "từ các cửa biển lớn nhỏ như Cần Giờ, Sài Lạp (Soài Rạp) đi vào, toàn là những cánh đồng hoang vu đầy cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể rộng hơn nghìn dậm" (1). Trong quá trình khai hoang của lưu dân người Việt, chắc hẳn có rất nhiều cây gỗ rừng bị đốn hạ và trong đó có không ít các loại gỗ quí. Sản vật của môi trường tự nhiên phong phú này đã nhanh chóng được tận dụng cho nhiều ngành trong đó có ngành xây dựng. 

Kiến trúc đình chùa trong buổi đầu định cư tại vùng đất này, tổ tiên ta thường sử dụng bộ khung sườn thuần gỗ. Về cách thức sử dụng bộ khung sườn gỗ, tuy có phần giống cấu trúc gỗ của đình chùa Bắc bộ, nhưng xuất phát điểm có khác: gỗ sử dụng cho đình, chùa Bắc bộ thường không phải được khai thác tại chỗ mà do các đại thí chủ xuất tiền ra mua từ xa về với giá thành cao, do đó rất quí, nên các khung sườn gỗ ở đây được gia công chăm chút và chạm trổ khá công phu. Ngược lại, gỗ sử dụng trong kiến trúc đình, chùa ở Nam bộ (buổi đầu) thường được dân làng hoặc bá tánh khai thác, tận dụng tại chỗ trong quá trình khai hoang, nên giá thành của chúng là không đáng kể. Phải chăng vì vậy mà trong kiến trúc nhà cửa, đình chùa, gỗ ở đây được sử dụng lãng phí hơn, và ít được người ta gia công chạm trổ hơn? 

Vùng đất Nam bộ là vùng đất trũng, có hơn phân nửa diện tích ven biển là vùng nước lợ (nước ngọt vào mùa mưa và mặn vào mùa nắng), điều kiện môi trường này rất thích hợp cho các loại cây sú, vẹt, đước, bần, tràm, dừa nước… sinh sống. Đặc biệt, các giống cây tràm, cây đước và dừa nước mọc thành rừng khắp vùng đất Nam bộ. Người dân tại đây đã tận dụng các sản vật tự nhiên này làm vật liệu xây dựng cho ngôi nhà của mình. Kiến trúc đình chùa buổi đầu và kể cả ngày nay, tại vùng nông thôn, trong các công trình phụ như bếp, kho, nhà khách…, loại vật liệu thô sơ này cũng  được người ta tận dụng để kiến tạo. Đặc biệt, cây tràm đến ngày hôm nay vẫn là loại cây làm "cừ" gia cố nền móng tiện dụng nhất tại Nam bộ.

Tiếp giáp vùng đất trũng ven biển, tại Nam bộ, là vùng đất thịt (á sét), và cao lanh rất phù hợp cho sản xuất vật liệu đất nung hay gốm sứ. Chính nhờ môi trường tự nhiên này mà gạch, ngói, gốm sứ…xuất hiện và được sử dụng rất sớm (từ thời Phù Nam) tại Nam bộ. Tuy nhiên, vì giá thành của gốm sứ thường đắt hơn "lá xé" (dừa nước), nên người ta chỉ sử dụng nó cho các công trình quan trọng như kiến trúc đình chùa chính.
 
Nam bộ lại là vùng đất có núi mọc lên giữa đồng bằng (núi Thất Sơn, núi Bà Đen, núi Thị Vãi…), nên vùng trung gian tiếp giáp giữa đồng bằng và núi là vùng "đất phún" hoặc "đá ong". Hợp cùng với đá núi, đá ong là vật liệu dễ tạo hình, dùng làm vật liệu tấn nền rất tốt. Riêng đất phún, cho đến ngày nay vẫn được làm vật liệu tôn nền (xây dựng và giao thông) khá phổ biến tại Nam Bộ. 

Nam bộ còn là vùng đất có núi đá vôi, như núi đá vôi tại Kiên Lương (Hà Tiên). Đá vôi là nguyên liệu chính nung lanh-ke để sản xuất xi-măng phục vụ cho các công trình kiên cố và hiện đại. Nhờ có sản vật tự nhiên này cùng với việc tiếp thu thành tựu kỹ thuật hiện đại phương Tây khá sớm, kiến trúc Nam bộ, trong đó có kiến trúc đình chùa, ngay từ cuối thế kỷ XIX, người ta đã sử dụng "hồ xi-măng" và "bê-tông" trong xây dựng.

Nam bộ lại còn là vùng đất có nhiều sông rạch, đặc biệt các con sông ở đây thường có thượng nguồn là các núi sa thạch, chẳng hạn như sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ…, và ở hạ lưu của chúng thường có rất nhiều bãi cát bồi lắng (cát sông). Các nhà xây dựng đã tận dụng sản vật tự nhiên này để làm cốt liệu cho hồ xi-măng và bê-tông trong việc xây dựng các công trình kiến trúc, trong đó có kiến trúc đình chùa.

2. Kiến trúc đình chùa: phản ánh việc ứng phó môi trường tự nhiên 

Sản vật của môi trường tự nhiên tại Nam bộ rất nhiều, nhưng khó khăn do tự nhiên gây ra cũng không ít. Bên cạnh cái khó của việc "phá sơn lâm, đâm hà bá", vùng đất Nam bộ còn có cái khắc nghiệt của khí hậu nóng ẩm. Để tồn tại, các lưu dân Việt đã cùng nhau xây dựng những công trình kiến trúc khá tốt nhằm ứng phó với môi trường tự nhiên khắc nghiệt này. Và để ứng phó với cái nóng, các nhà xây dựng đã phân chia công trình thành nhiều phần nhỏ, được ngăn cách bởi các khoản sân trống. Các khoản sân trống này giữ nhiệm vụ thông gió cho các phần bên trong công trình. Từ đó, các kiểu nhà "bát dần", "nối đọi" hay "nối đọi có sân tương"…được hình thành. Kiến trúc chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho) hoặc chùa Giác Lâm (Tp.HCM)… là các ví dụ điển hình được xây dựng theo kiểu thức này. Kiến trúc có sân trong (còn gọi là "sân tương" hay "patio") cũng ra đời từ lý do đó. 

Để ứng phó với khí ẩm, việc thông gió cho công trình rất được chú trọng. Cùng với việc tạo các khoản sân trống, mái đình chùa thường rất cao, đầu tường xung quanh thường được chừa thoáng, cửa "thượng song hạ bản" với nhiều khe trống ở phần "thượng song"…là những vị trí tiếp nhận tốt nhất luồng khí mát từ ngoài vào nội thất. Phần "khu đĩ" (tam giác đầu hồi), vị trí cao nhất của mái nhà, thường được chừa thoáng (chỉ che mưa) chứ ít khi người ta bít kín. Dòng đối lưu không khí từ các khoản sân trống đi vào công trình và thoát ra tại "khu đĩ" (từ dưới lên trên) sẽ kéo theo nhiệt ẩm kể cả khói hương ra ngoài. Cấu trúc các đình chùa xưa tại Nam bộ thường theo phương cách này.

Để ứng phó với mưa, những cơn mưa như "cầm tỉnh mà đổ", người dân Nam bộ đã phải thay đổi cấu trúc mái nhà và vật liệu lợp, tạo điều kiện cho lượng nước mưa ồ ạt ấy thoát khỏi mái nhà nhanh nhất. Đó là một trong các lý do quan trọng mà ngay từ thời kỳ đầu, ở Nam bộ, người ta đã cho ra đời kiểu cấu trúc góc mái thẳng và sử dụng ngói máng xối làm vật liệu lợp trong kiến trúc đình chùa cũng như nhà ở. Và cũng để ứng phó với mưa dầm làm "mục" các vách gỗ bao che bên ngoài công trình (vách "bổ kho" hay "đố bản"), khi vừa mới tiếp cận với kỹ thuật xây dựng hiện đại (hồ xi-măng), kết hợp với các vật liệu có sẵn (cát sông, gạch đất nung), các nhà xây dựng đã dùng "tường gạch" bao che bên ngoài công trình để ứng phó với mưa nắng và chống mục.

Để chống mục chân cột gỗ do ứ nước, đồng thời chống mối mọt phá hoại (cách ẩm), các loại "tán đá" đã được sử dụng. Đặc biệt, các hàng cột hiên tán đá có chân đế rất cao (chẳng hạn như cột hàng hiên chùa Giác Viên - Tp.HCM). Và cũng với cách ứng xử này, các mộ tháp sư tăng trong các chùa tại Nam bộ thường có chân đế rất cao, có khi đến hai tầng (như mộ tháp chùa Giác Viên - Tp.HCM). Để tránh ứ nước khi mưa dầm, các tán đá thường không có lõm giữa nơi tiếp xúc với chân cột. Lõm giữa này lẽ ra phải có để tăng độ ổn định chân cột khi có chấn động do gió bão, tránh chuyển vị tức thời; nhưng ở Nam bộ ít gió bão mà lại mưa nhiều, lõm giữa tán đá được người ta bỏ đi là do từ thực tế ấy.

Cũng chính vì Nam bộ ít có gió bão, nên bộ khung sườn gỗ trong kiến trúc đình chùa ở đây, do vậy, cũng thanh mảnh hơn bộ khung sườn đình chùa ở Bắc bộ, nơi có nhiều gió bão hàng năm. Bộ "dàn trò" đâm trính, "cột kê" không có "xuyên lui" chống bão, chẳng có "chân ngạch cửa"…được sử dụng phổ biến trong kiến trúc đình chùa Nam bộ, nhằm ứng xử với đặc điểm môi trường tự nhiên ở đây.

Kể từ buổi đầu, khi điều kiện giao thông còn rất khó khăn, tại Nam bộ, người ta sử dụng giao thông đường thủy là chính, phương tiện chuyên chở là ghe, thuyền, cộ, bè…, nên vật liệu chuyên chở càng gọn càng tốt. Vì vậy, "gỗ tròn" được chế tác thành "gỗ hộp" (tiết diện hình chữ nhật hoặc vuông) để dễ chuyên chở và thu gọn thể tích. Đó là một trong các lý do mà đa phần gỗ sử dụng trong kiến trúc Nam bộ, trong đó có đình chùa, thường là gỗ hộp.Gổ hộp còn có mặt tiếp xúc lớn nhất với thanh 'kèo" và "rui" lợp ngói máng xối (không có "mè") nên ổn định hơn khi tiếp xúc với mưa to. Vì vậy, tại Nam bộ, đòn tay "tròn" đã được thay thế bằng đòn tay "hộp" trong kết cấu bộ mái. 

Đồng thời, để ứng phó với môi trường tự nhiên thường thiếu nước ngọt trong sáu tháng mùa nắng, nên người Nam bộ đã sử dụng nhiều lu, vại, mái, khạp… hứng và trữ nước mưa để sinh hoạt trong suốt mùa nắng nóng. Đối với đình chùa, lượng nước ngọt cần rất nhiều cho sinh hoạt trong mùa nắng, nhất là trong các dịp rằm, ngươn, lễ, tết. Lu, vại… không đủ đáp ứng cho nhu cầu lớn lao này, chính vì vậy, trong kiến trúc đình chùa Nam bộ xưa kia, hầu hết đều có hồ chứa nước mưa rất lớn phục vụ cho thực tế trên.

Ngoài ra, hầu hết các đình chùa Nam bộ trước kia đều có rất nhiều cây ăn quả ở quanh vườn. Ngoài việc có thêm vật thực đáp ứng nhu cầu cúng lễ và tạo cảnh quan, cây xanh trong khuôn viên đình chùa còn góp phần cải tạo vi khí hậu tại khu vực, giảm bức xạ nhiệt, tạo cảm giác dễ chịu (một trong các điều kiện cảnh quan) cho khách thập phương. Và đó cũng là một cách ứng xử với môi trường tự nhiên khá phổ biến của kiến trúc đình chùa ở Nam bộ. 

Như vậy, lối kiến trúc đình chùa ở Nam bộ, ngay trong bản thân chúng, đã phản ánh rất rõ vai trò văn hóa ứng xử của mình đối với môi trường tự nhiên.
 
 

Chú thích:
(1). Trần Văn Giàu, Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Tập 1, TP. HCM, 1987, trang 112


Sẽ tổ chức một đại lễ Phật Đản 
hoành tráng 

Đại lễ Phật Đản là một trong những lễ hội tôn giáo lớn của thế giới được Liên Hợp Quốc công nhận. Nhân kỷ niệm Đại lễ Phật đản Phật lịch 2550, Liên Hợp Quốc sẽ tổ chức đại lễ Phật Đản với quy mô hoành tráng nhất từ trước đến nay tại Thái Lan, đất nước có lấy Phật giáo làm quốc giáo. Với nước ta, ngày 10 tháng 3 vừa qua, Trung ương GHPGVN đã ra thông bạch hướng dẫn tổ chức đại lễ Phật đản năm nay, thông bạch do Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự ký.

Bản thông bạch hướng dẫn về việc tổ chức đại lễ Phật đản hoành tráng nhất trong 30 năm này, ngoài các hoạt động kính mừng sự kiện trọng đại Đức Phật đản sinh như thiết lập lễ đài, nghi lễ tưởng niệm và cầu nguyện quốc thái dân an, các hoạt động văn hóa như triển lãm nghệ thuật, biểu diễn,  tọa đàm... đặc biệt năm nay, Trung ương Giáo hội Phật giáo khuyến khích các cơ sở Phật giáo tổ chức thiết lập mô hình vườn Lâm Tì Ni, thiết kế xe hoa diễu hành vào hai ngày 14 và 15 tháng Tư âm lịch. Không chỉ tại các cơ sở Phật giáo, Thông bạch năm nay còn khuyến khích việc treo cờ Phật giáo, lồng đèn tại các tư gia Phật tử...

Ngoài các hoạt động mang ý nghĩa văn hóa và tôn giáo trên, bản thông bạch còn khuyến khích các hoạt động từ thiện, nhằm chia sẻ một cách thiết thực những khó khăn vật chất và tinh thần của người có hoàn cảnh khó khăn trong niềm vui đón mừng ngày đản sinh của Đức Phật.

Đúng 4 giờ sáng ngày 15 tháng Tư âm lịch, tất cả các cơ sở Phật giáo cử ba hồi chuông trống Bát nhã kính rước Lễ Đản sinh. Lễ chính thức được cử hành đồng loạt tại các lễ đài chính trên cả nước vào lúc 6 giờ ngày Rằm tháng Tư.

Theo tinh thần của thông bạch, đại lễ Phật Đản năm nay sẽ có quy mô và các loại hình hoạt động hoành tráng nhất trong hơn 30 năm trở lại đây.


 Bảo tồn và phát huy 
văn hóa Phật giáo ở  châu Á
Trần Hồng Liên

Ra đời tại Ấn Độ từ hơn 2500 năm trước, đạo Phật từ lâu đã trở thành một tôn giáo mang tính thế giới, có một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh của nhiều dân tộc. Do tính chất mềm dẽo, dễ thích nghi với từng vùng văn hóa khác nhau, nên những nơi đạo Phật được truyền đến đã hình thành trong nếp sinh hoạt của tín đồ những nét văn hoá đặc thù, tạo cho Phật giáo ở từng quốc gia một màu sắc riêng biệt và Phật giáo trên thế giới có những sắc thái đa dạng, đặc biệt là tại các nước châu Á. 

1.Văn hoá chùa tháp Phật giáo

Nói đến văn hóa Phật giáo thì không thể bỏ qua một mảng chủ đề quan trọng là nghệ thuật kiến trúc chùa tháp, đặc biệt là tại các nước châu Á. Hàng ngàn di tích Phật giáo qua nhiều thế kỷ đã trở thành di sản thế giới, như tháp Sanchi, vườn Lâm Tỳ Ni, trụ đá do vua A Dục (Asoka) dựng ở Tây nam Nepal, ghi dấu nơi Đức Phật ra đời… (Ấn Độ); Angkor Wat, Angkor Thom (Campuchia; Borobudur (Indonesia), động Đôn Hoàng, chùa Bạch Mã (Trung Quốc); Wat Phakeo, Wat Arun (Thái Lan); That Luông (Lào); chùa Pháp Hưng (Hokoji), chùa Pháp Long (Horyuji) - một kiến trúc gỗ cổ kính nhất thế giới còn tồn tại ở Nara (Nhật Bản); khu di tích Phật giáo Đồng Dương; chùa Trấn Quốc, chùa Kim Liên… (Việt Nam).

Bên cạnh các kiến trúc chùa tháp, nghệ thuật Phật giáo châu Á còn để lại một số lượng khổng lồ các pho tượng Phật, Bồ tát, mà mỗi phong cách tạc tượng đều thể hiện rõ đặc trưng tộc người của cư dân từng quốc gia ở châu Á. Chẳng hạn, pho tượng Phật với tư thế đang đi, thuộc phong cách Sukhothai (Thái Lan) thế kỷ 14; các pho tượng có kích cở lớn, như tượng Tsukuba cao nhất thế giới (120 mét), ở Tokyo (Nhật Bản); hay ở Tây Tạn hiện đang lưu giữ nền nghệ thuật Phật giáo Mật tông (Lamaism), đặc biệt là với hệ thống tranh Phật được vẽ trên tường từ thế kỷ 13, và hơn 8.000 báu vật của Phật giáo đã được trưng bày vào năm 2000. Các ngôi tháp cổ ở Trung Quốc, như tháp Lôi Phong, hiện đang lưu giữ  tóc và xá lợi của Phật; hoặc tại chùa Huê Lâm ở Quảng Châu hiện còn bảo lưu được 21 viên xá lợi Phật... Đó chính là những di sản văn hóa tâm linh hết sức giá trị. 

Tranh và tượng của Phật giáo còn phong phú hơn nhiều qua khảo sát của ngành Tiếu tượng học (Iconography), góp phần giới thiệu nhiều tông phái Phật giáo với những nếp sinh hoạt đặc thù của từng tông phái và các vùng miền văn hóa khác nhau ở châu Á và trên khắp thế giới. Riêng Phật giáo ở Tây Tạng và Mông Cổ lại còn góp phần giới thiệu một phong cách đặc thù qua tên gọi Lạt Ma giáo (Lamaism). Theo truyền thống này, Đức Đại Nhật Như Lai (Mahavairocana) được xem là vị Phật trung tâm trong đồ hình Mạn Đà La, và đặc biệt, họ còn giới thiệu nhiều dạng đặc thù của Bồ tát Quán Thế Âm dưới hình ảnh muôn vẻ của Tara. 

Kinh sách Phật giáo là mảng văn hóa quan trọng, bao gồm cả Tam tạng kinh điển (Tripitaka), góp phần giới thiệu tính đa dạng văn hóa trong lĩnh vực này ở các nước châu Á. Có thể thấy, từ hơn hai ngàn năm nay, kinh điển Phật giáo được lưu lại dưới nhiều hình thức khác nhau: trên lá, trên đồng, trên vải, trên đá, trên giấy… Ngoài hai ngôn ngữ chính là tiếng Sanskrit và Pali, kinh điển Phật giáo đã được chuyển dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. 

2. Văn hoá Phật trong đời sống cư dân Châu Á 

Mục đích cuối cùng của Phật giáo chính là sự giải thoát, và hầu hết tín đồ Phật giáo không chỉ tin ở giáo lý mà còn thực hành lời Đức Phật dạy ngay trong đời sống của mình. Tư tưởng từ bi, bình đẳng, vị tha, tôn trọng sự sống và yêu chuộng hoà bình… là những yếu tố tích cực, giáo dục cho hàng tỷ tín đồ trên thế giới biết sống vì mọi người, yêu chuộng hoà bình, tạo ra sự đoàn kết trong mỗi quốc gia, tăng cường khối đoàn kết trong khu vực và trên thế giới. 

Sự thực hành thiền định còn giúp cho mỗi cá nhân có được sự điềm tĩnh, sáng suốt, góp phần có hiệu quả vào cả lĩnh vực khoa học kỹ thuật, giúp con người tăng cường sức khỏe và thể lực để có thể cống hiến tốt cho mọi người xung quanh. 

Văn hoá Phật giáo còn giáo dục cho từng con người rèn luyện một lối sống có đạo đức, biết hướng đến chân thiện mỹ, không sử dụng bạo lực để chinh phục các quốc gia khác, không gieo đau thương, thảm họa và tang tóc cho đồng loại. 

Các tổ chức Phật giáo đã góp phần vào việc duy trì, phát huy văn hoá Phật giáo thế giới. Hội Hữu Nghị Phật giáo Thế giới  ra đời cũng theo tinh thần này. 

Tổ chức “Phật tử Châu Á vì Hoà Bình” ra đời cách nay gần 40 năm, đã có những đóng góp quan trọng vào tiến trình gắn kết các quốc gia ở châu Á theo đạo Phật thành một khối đoàn kết, thống nhất. Trong dịp Đại hội Phật giáo Việt Nam lần II (1987) Tổng thư ký của tổ chức này là Tiến sĩ G.Lubsameren đã phát biểu:“Trong hiện tại, khi tình hình thế giới đang tăng cường mức độ căng thẳng do âm mưu của những thế lực độc ác, chúng ta, những người Phật tử Châu Á, tập họp lại trong tổ chức ABCP, hãy tập trung mọi cố gắng để thực hiện hoà bình và công lý ở châu Á và trên thế giới”.

 Ngoài tổ chức chung cho toàn châu Á, trong mỗi quốc gia cũng đã thiết lập các tổ chức riêng để đẩy mạnh hoạt động, như Hội Ma Ha Bồ Đề (Maha Buddhi Society) ở Ấn Độ và Sri Lanka, Hội Phụ nữ Phật giáo toàn Xây Lan (All Ceylon women’s Buddhist Association), Giáo hội tín đồ Phật giáo Công chức (Government and Local Government Buddhist Association), Hội Bình nghị Phật giáo (The Buddha Sasana Council). Và các tổ chức này đã có quy định chung về Điều lệ Phật giáo thế giới vào năm1951. 

 Các cuộc hội thảo quốc tế như: “Sự tham gia tích cực của Phật tử vào phong trào chống chiến tranh, một trách nhiệm đối với chánh pháp”, do trung tâm quốc gia ABCP Ấn Độ tổ chức năm1984; hội thảo “Phật giáo và nền văn hóa các dân tộc”, do chính phủ Ấn Độ tổ chức năm1984; hội nghị “Tìm một nền đạo đức môi sinh”, do Phật giáo Campuchia tổ chức năm1997… Và nhiều cuộc hội thảo quốc tế với chủ đề Phật giáo khác, gồm có cả các nhà lãnh đạo tôn giáo trong khu vực châu Á tham dự, được tổ chức liên tục từ năm 2001 đến nay. 

3. Bảo tồn và phát huy giá trị của văn hóa Phật giáo tại các nước châu Á và trên thế giới. 

Văn hoá Phật giáo trong quá trình phát triển đã để lại những dấu ấn sâu đậm ở mỗi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia châu Á. Việc bảo tồn các giá trị văn hoá này hiện đang là mối quan tâm đặc biệt không những của riêng Phật giáo, của các quốc gia châu Á, mà của cả cộng đồng quốc tế. Việc bảo tồn những di sản này những năm gần đây càng được đặt ra một cách nghiêm túc hơn, nhất là sau những biến động phá hủy các pho tượng Phật cổ rất có giá trị ở Afghanistan. Mối quan hệ liên kết giữa các quốc gia ở châu Á hoặc thuộc khu vực Đông nam Á thời gian gần đây cho thấy, một khi trong từng nước có biến động, sẽ kéo theo ảnh hưởng về nhiều mặt đến các nước khác. 

Chính vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn và phát huy văn hoá Phật giáo ở châu Á cần thiết được triển khai đồng bộ, bằng nhiều hình thức khả thi, đặc biệt là thông qua các tổ chức đoàn thể Phật giáo. Những yếu tố cấu thành nét riêng biệt, tạo nên tính đa dạng cho văn hoá Phật giáo châu Á cần thiết được nhân rộng, thông qua hội thảo, qua việc phát hành sách, báo… Đồng thời, trên cơ sở đã có từ trước, hiện nay, cần thiết đẩy mạnh mối liên kết giữa các quốc gia theo đạo Phật bằng việc xích lại gần nhau hơn của các nhà hoạt động văn hóa, các nhà nghiên cứu Phật học và cả các nhà khoa học. Sự nhất trí cao trong hành động bảo tồn và phát huy văn hóa Phật giáo sẽ tạo ra nhiều phương cách thực hiện với  nhiều hình thức đa dạng hơn. Đưa tinh thần giáo thuyết của Phật giáo đi vào cuộc sống hiện thực, biến nó thành hành động cụ thể, đó chính là bảo tồn và phát huy hữu hiệu nhất văn hoá Phật giáo châu Á cũng như trên thế giơi. 


BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC
Phước Cảnh

Đã 43 mùa sen đi qua, ngọn lửa và trái tim của Bồ tát Quảng Đức vẫn còn sống mãi trong tâm thức những người con Phật. Ngọn lửa Từ bi và Trái tim Bất diệt. Hầu như khắp các tỉnh thành ở Nam bộ và Nam trung bộ đều có những con đường được trang trọng mang tên ngài. Riêng tại Sài gòn, đường Thích Quảng Đức hiện nằm trên địa bàn Quận Phú Nhuận, nối liền đường Nguyễn Kiệm và Phan Đăng Lưu, ngang qua trước chùa Quan Thế Âm, nơi cuối cùng ghi dấu bước chân hành hóa của ngài.

Bồ tát Thích Quảng Đức thế danh là Lâm Văn Tuất, sinh năm Đinh dậu (1897) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, trong một gia đình nhiều đời tín Phật. Năm lên 7 tuổi, ngài được song thân cho xuất gia với người cậu ruột của mình là Hòa thượng Giải Nghĩa Hoằng Thâm. Năm 15 tuổi thọ giới Sa-di, 20 tuổi thọ giới Tỳ-kheo, được thầy đặt pháp danh là Thị Thủy, tự Hạnh Pháp, hiệu Quảng Đức. Sau ngày Bổn sư viên tịch, ngài vào Núi Đất ở Ninh Hòa nhập thất 3 năm, và về sau đã khai sơn tai ngọn núi này một ngôi chùa có tên là Thiên Lộc. 

Năm 1932, Hội An Nam Phật Học ra đời, Đại lão Hòa thượng Hải Đức (Hòa thượng Phược Huệ) thân lâm đến vấn an và thỉnh ngài đảm trách Chứng minh đạo sư  Chi hội Phật học Ninh Hòa, và 3 năm sau, ngài lại kiêm trách chức vụ Kiểm tăng của Phật giáo tỉnh Khánh Hòa.

Năm 1948, ngài rời Khánh Hòa vân du hóa đạo khắp miền Nam, từ Sài gòn - Gia Định cho đến Định Tường, Tây Ninh, Bà Rịa, Hà Tiên..., đâu đâu cũng in dấu bước chân hành hóa của ngài, có lúc ngài đã sang tận Nam Vang (Phnôm-pênh) để nghiên cứu kinh điển Nam tạng và hướng dẫn kiều bào Phật tử tu tập. Năm 1953, ngài được cung thỉnh giữ chức vụ Phó Trị sự kiêm trưởng ban Nghi lễ của Giáo Hội Tăng Già Nam Việt. Năm 1958, ngài xin thôi giữ mọi chức vụ để lui về chuyên tâm tu tập, đặc biệt là chuyên tâm hành trì kinh Pháp Hoa.

Pháp nạn năm 1963 ập đến, Phật giáo nước nhà rơi vào cơn nguy biến bởi chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm: loại ngày Phật Đản ra khỏi các ngày nghỉ lễ chính thức trong năm (năm 1958), và đến mùa Phật Đản năm 1963: triệt hạ cờ Phật giáo! 

Tạithành phố Huế, toàn thể Tăng ni Phật tử xuống đường biểu tình, yêu cầu chính quyền thực thi chính sách bình đẳng tôn giáo. Đêm mồng 8 tháng 5, tức đêm Phật Đản, như thường lệ Phật tử từ khắp nơi đổ về Đài phát thanh Huế để nghe phát lại chương trình Lễ Phật Đản, nhưng đợi mãi vẫn bặt vô âm tín. Bất chợt, lựu đạn cay được ném vào để giải tán đám đông, xe thiết giáp của quân đội do Thiếu tá Đặng Sỹ, phó tỉnh trưởng phụ trách nội an, lừ lừ tiến vào, cán bừa lên đám đông Phật tử. Máu của tám em Đoàn sinh Phật tư, tám vị Thánh Tử Đạo đã đổ xuống trước Đài phát thanh, thân thể các em bị giày xéo dưới làn xích lạnh lùng của đoàn quân thiết giáp. Và sau đó là một cuộc bố ráp, phong tỏa chùa chiền, bắt bớ tra khảo Tăng ni Phật tử... 
 
"Thầy sẽ phải dấn thân thôi" - Bồ tát Quảng Đức nói với các đệ tử. Vào giờ Ngọ ngày 20 tháng 4 (nhuận) năm Quý mão (11-6-1963), giữa hai hàng Tăng ni Phật tử đang nhiễu hành rước di ảnh tám vị Thánh Tử Đạo từ chùa Phật Bửu về chùa Xá Lợi, khi ngang qua ngã tư Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt (nay là ngã tư Nguyễn Đình Chiểu - CMT8), ngài đã âm thầm tẩm xăng, bước xuống xe ngồi kiết già ngay giữa lòng đường, mặt hướng về Tây, rồi...tự tay châm lửa. Ngọn lửa bùng lên. Cao ngất. Ngài vẫn điềm nhiên ngồi quyết ấn Cam Lồ. Hình ảnh ấy đã khiến cả nhân loại bàng hoàng. Những người chứng kiến đều chấp tay quỳ cả xuống. Mọi cuồng vọng đều phải giật mình... 

Nhục thân ngài tuy đã hóa thành tro, nhưng trái tim Bồ tát thì không một ngọn lửa nào ở chốn trần thế này có thể thiêu cháy, cho dù người ta đã thiêu lại nhiều lần với nhiệt độ lên đến 4000oC: Quả Tim Bất Diệt! 

Trong bức tâm thư  ngài để lại cho Tăng ni, Phật tử trước lúc tự thiêu - Lời nguyện tâm quyết - lời đầu tiên là cầu nguyện cho Tổng thống (người đứng đầu quốc gia) được sáng suốt để lãnh đạo đất nước; lời cuối cùng là cầu nguyện cho "đất nước thái bình, quốc dân an lạc..." Lời cầu nguyện ấy tỏa rạng Từ bi, sáng ngời  trí tuệ. Trong suốt mấy nghìn năm hành trình cùng dân tộc, người Phật tử Việt Nam, Phật giáo Việt Nam có mong mỏi gì hơn ngoài ước nguyện ấy. Và đó cũng chính là tâm nguyện "chống gậy Thiền trấn giữ kinh vua" mà Thiền sư Vạn Hạnh đã hằng ấp ủ...

Cảm niệm ân đức của ngài và nhìn lại lịch sử, tháng 5 năm 2005, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam tổ chức cuộc Hội thảo với chủ đề: "Bồ tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu thân", đã nhận được sự hưởng ứng rộng rải của các bậc Tôn túc, các nhân sĩ trí thức cùng đông đảo Phật tử trong và ngoài nước. Gần đây, chính quyền đã có quyết định xây dựng Tượng đài để tôn vinh đức hy sinh vô úy và phẩm hạnh cao cả của ngài. Từø đầu năm nay, Sở Văn hóa thông tin TP.HCM đã kết hợp với Hội Mỹ thuật và Hội Kiến trúc sư  thành phố phát động cuộc thi sáng tác mẫu Tượng đài Bồ tát Quảng Đức, nhằm chọn ra hình mẫu ưu tú nhất, đặt tại nơi ngài đã ngồi tự thiêu (góc ngã tư  Nguyễn Đình Chiểu - CMT 8). 

Phật tử Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, đang ngày đêm hướng về để cầu nguyện cho việc xây dựng Tượng đài Bồ tát Quảng Đức sớm được thành tựu. 


Thư gởi các em Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Việt Nam:
Tuổi trẻ Phật tử trước sự thách đố của thời đại
Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn

California, Hoa Ky, ngày 18 tháng 6 năm 2006

Các Em thân mến,

Anh chọn đề tài cho thư nầy là Tuổi trẻ Phật tử trước sự thách đố của thời đại. Đây là một đề tài quá lớn, vì con người là sản phẩm của xã hội và thời đại, trong khi khái niệm xã hội và thời đại có những phạm trù hết sức bao quát. Trong thư nầy, anh chỉ giới hạn trong phạm vị của tuổi trẻ Phật tử với khung cảnh của đất nước mình mà thôi.

Với tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ như hiện nay thì lượng kiến thức khoa học kỹ thuật của nhân loại, cứ mỗi mười năm lại tăng gấp đôi.  Song song với sự phát triển của tri thức là khối lượng và chất lượng của sản phẩm kỹ nghệ sẽ tăng theo cùng tốc độ. Hệ quả trực tiếp của những vụ mùa bội thu về cả hai mặt tri thức lẫn vật chất là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về thị trường tiêu thụ và nguồn cung ứng tài nguyên. Sự cạnh tranh điển hình của thế kỷ 21 là tính chất kinh tế thị trường toàn cầu. Tuổi trẻ Việt Nam, nhất là tuổi trẻ đang ở quê nhà, phải trang bị cách nhìn đất nước trong bối cảnh toàn cầu.

Tâm lý làng trên xóm dưới giờ cần phải được mở rộng và trang bị bằng tâm lý cộng đồng thế giới.

Riêng đối với tuổi trẻ trong Gia Đình Phật Tử Việt Nam (GĐPTVN), sự thách đố của thời đại càng lớn hơn vì trong cùng một thời điểm, các em phải sống - nghĩa là phải suy tư và hành xử - sao cho hòa điệu với cả hai nếp sống Đời và Đạo. Với lịch sử lâu dài của GĐPTVN, tiếng tốt, tiếng thơm của tổ chức được xây dựng nên bằng chính phẩm chất và giá trị của thành viên chứ không phải bằng tên gọi của tổ chức. Tổ chức GĐPTVN đã tồn tại, thử thách và phát huy; được chư tôn đức trong hàng giáo phẩm, Phật tử và đại chúng thương mến, dìu dắt và hỗ trợ. Tuy nhiên nguồn mạch chính vẫn là nhờ lớp lớp huynh trưởng và đoàn sinh qua nhiều thế hệ đã sống đời và sống đạo một cách hài hòa, cao đẹp. Đạo pháp và dân tộc không tách rời nhau trong vai trò của người Phật tử - người công dân giữa cộng đồng dân tộc. 

Hôm nay, người Phật tử tuổi trẻ Việt Nam đang đứng trước một thời đại mới.  Đấy là giao điểm giữa tổ chức GĐPT trong quan hệ địa phương, đất nước và toàn cầu.  Đưa ra một địa bàn không gian rộng lớn và bao quát như thế hoàn toàn không mang tính cường điệu mà đấy là hiện thực. Một bài báo, một quan điểm, một ý kiến cá nhân… chỉ cách đây trên dưới mười năm thôi, phải qua nhiều giai đoạn thư tín, gạn lọc, luân chuyển trong một khoảng thời gian khá dài mới mong được công bố rộng rãi hay gửi đi xa. Ngày nay, chỉ cần đưa lên email hay mạng lưới internet và sau một cái bấm nút (click) nhẹ nhàng, nguồn thông tin đó liền được chuyển đi khắp thế giới. 
 

Gần đây, một chương trình mới được áp dụng trong máy vi tính để dịch từ chữ Hán qua chữ Việt nhanh như có phép “thần thông biến hóa”. Tất cả 2372 bộ Kinh trong các tạng kinh điển Phật giáo bằng chữ Hán được phiên dịch từ chữ Hán qua Hán Việt và từ Hán Việt qua thuần Việt bằng máy vi tính chỉ mất trong vòng 28 giờ. Để dịch các kinh như A Di Đà, Dược Sư và Kim Cương…, chỉ mất 10 giây đồng hồ. Các bộ kinh lớn như Hoa Nghiêm (80 quyển) dịch trong vòng 11 phút, bộ Đại Trí Độ Luận dịch trong 17 phút, bộ Đại Bát Nhã (600 quyển) dịch mất 15 phút… Như thế, chỉ trong vòng một ngày, máy móc đã làm thay một công việc mà con người phải tốn cả trăm năm chưa làm xong. Những “phép lạ” như thế đã không còn là phép lạ mà chỉ là chuyện bình thường, nhất là trong những ngành công nghệ hiện đại.

Khi nói đến sự thách thức của thời đại, người ta liên tưởng ngay đến hình ảnh tiêu cực của kẻ thù, của bạo lực, của những ác tính đang chực chờ hủy diệt con người yếu đuối và bất hạnh. Tuy nhiên, sự thách đố của thời đại mới rất tinh vi và bạo liệt; hay nói cách khác là bạo liệt một cách tinh vi hơn. Nghĩa là sự thách thức không thô thiển, không đe dọa, không biên cương, không hình tướng… như những cuộc đua tranh trên các đấu trường thời quá khứ. Sự thách thức hôm nay là một khuôn mặt vừa là kẻ thù lại vừa là bạn. Nói một cách cụ thể hơn là thử lấy hoàn cảnh của nước ta hiện nay làm thí dụ. Bây giờ là Mùa Phật Đản 2550, năm 2006 Dương lịch. Chúng ta đang ở vào hoàn cảnh kinh tế của vùng Ven Thái Bình Dương (Pacific Rim). Sự thách thức đối với chúng ta hôm nay là cơ hội đồng đều so với các nước trong vùng Đông nam châu Á về các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, xã hội... Trong khoảng trên dưới một thập niên nữa, khoảng mùa Phật Đản năm 2016, khi tổng kết và so sánh thành quả của ta đạt được so với các nước lân bang, sẽ thấy ngay chúng ta tiến hay lùi theo cái tốc độ nào trong mối tương quan chung của toàn vùng.  Và cũng chính từ đó nhìn lại, chúng ta sẽ thấy rõ mình đã làm được những gì hay chẳng làm được gì cả để đương đầu và vượt qua những thách thức của thời đại. Cái mô thức cổ điển nặng “khẩu nghiệp” nói nhiều hơn làm và lối tự hào cục bộ “cha hát con khen”đã trở thành quá khứ trong xã hội Âu Mỹ ngày nay.  Sự tiến bộ của cá nhân và xã hội  được kiểm nghiệm và đo lường bằng những tiêu chí cụ thể, khách quan.  Do đó, kiểu so sánh tùy hứng và sự thỏa mãn dễ dãi nhất thời của tâm lý tiểu xảo và cung cách tiểu nông như so sánh đơn phương nhà tranh với nhà ngói, làng trên với xóm dưới, Hà Nội với Sài Gòn…, không có lý do tồn tại trong một cơ chế thị trường toàn cầu mà tuổi trẻ Việt Nam đang đi tới. 

 Thế đó, sự thách thức đối với một đoàn sinh GĐPTVN hôm nay không giống với sự thách thức đối với các anh chị cựu huynh trưởng và đoàn sinh hơn 30 năm về trước. Sự thách đố đối với tổ chức GĐPTVN đương đại lại càng mới mẽ và phức tạp hơn thời trước. Một đoàn sinh không vượt qua nổi sự thử thách sẽ xa đoàn và trong một tương lai gần, sẽ không dám hay không muốn quay đầu nhìn lại tổ ấm thân thương đầy kỷ niệm một thời của mình. Một tổ chức GĐPT không vượt thử thách, nếu vẫn còn tồn tại sẽ bị lão hóa và mất hết sự tươi mát, trẻ trung, nhiệt thành cần thiết của tuổi trẻ Phật tử.

 Các em thân mến,

 Qua lá thư nầy, anh chỉ mới đặt ra những vấn đề của chúng ta đang đối diện. Có những vấn đề thiết thân đang ở ngay trước mắt. Nhưng cũng có những vấn đề đang còn ngoài tầm tiếp cận của chúng ta. Trong khung cảnh quê nhà và trong giới hạn của tuổi trẻ Phật tử Việt Nam, anh sẽ lần lượt chia sẻ với các em 3 đối tượng thách đố gần nhất của tập thể huynh trưởng và đoàn sinh GĐPTVN chúng ta: (1) Đạo Phật trước sự thách đố của khoa học hiện đại; (2) Tín tâm của người Phật tử trước sự thách đố của tâm lý thị trường toàn cầu; (3) Đạo Phật là một triết lý hay một tôn giáo?

 Nội dung thư sau anh sẽ cùng với các em chia sẻ và phân tích những suy tư và quan điểm của mình dựa trên căn bản hiện thực và những dữ kiện khách quan, khoa học. Thế hệ đàn anh, dù ở đẳng cấp nào của xã hội, đều cần đến sự kế thừa trong đức tin và văn hóa. Muốn có một sự kế thừa trung thực và lành mạnh, thế hệ đàn anh phải biết lắng nghe và trân trọng những ý kiến của thế hệ đàn em, cho dẫu ý kiến đó là một sự phủ nhận có hệ thống và khoa học những giá trị ngỡ như khuôn vàng thước ngọc làm nền tảng trong một thời nào đó. Sự phủ nhận toàn triệt của ngài Long Thọ trong hệ thống phủ định luận Bát Nhã đã không làm cho triết học Phật giáo mất đi một mảy may tơ hào nào cả; ngược lại, chính sự phủ định đó đã mở toang cánh cửa cao viễn nhất để đi vào Tánh Không, trái tim vĩnh hằng của đạo Phât. Chính Đức Phật đã dạy rằng: “Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”. Bởi vậy, tuổi trẻ các em trong thời đại khoa học kỹ thuật nầy không những chỉ quan tâm mà còn phải có trách nhiệm tri thức, nghĩa là cần phải đào sâu, phân tích để hiểu một cách rạch ròi mọi hệ thống lý thuyết và mọi con đường mà mình tin theo. Thái độ khoán trắng niềm tin là một sự dấn thân tật nguyền, tuy rằng cĩ Bi, cĩ Dũng mà lại thiếu Trí dẫn đường.

 Anh sẽ rất vui mừng khi nhận những ý kiến phản hồi của các em trên diễn đàn nầy.

 Trước khi tạm ngưng thư nầy, anh muốn được chia sẻ với các em một tin vui “nhỏ mà lớn” liên quan đến những hoạt động văn hoá Phật giáo.  Đó là buổi hội luận “liên lục địa” đầu tiên của Tòa soạn Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo tại Việt Nam và các Anh, Chị trong nhóm Thân hữu Cư sĩ ở châu Âu và châu Mỹ trong ngày 17 tháng 3 năm 2006 (ở Việt Nam là ngày 18). Giờ giấc khác nhau: 7 và 10 giờ tối ở châu Mỹ; 4 giờ sáng ở châu Âu; 9 giờ sáng trước một ngày ở Việt Nam. Tuy người ở Pháp, ở Đức chưa ăn sáng, kẻ ở Mỹ chưa ăn tối, các vị ở Việt Nam chưa ăn trưa, nhưng tấm lòng của người Phật tử trên khắp năm châu chỉ là một. Cuôc hội luận diễn ra liên tục trên 2 giờ đồng hồ, quanh chiếc “bàn tròn” mà mặt bàn là Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, châu Á, châu Âu và châu Mỹ. Quý thầy trong toà soạn Văn hoá Phật giáo cùng các cư sĩ khắp các châu lục đã chia sẻ tin tức Phật sự và thảo luận những dự án sinh hoạt báo chí, nghệ thuật trong đề cương văn hóa Phât giáo một cách tâm đắc.

 Khi thế giới nhỏ lại với phương tiện hiện đại của khoa học kỹ thuật, những tấm lòng có chung lý tưởng phục vụ dân tộc và đạo pháp sẽ có nhiều cơ duyên gần gũi với nhau hơn.  Ít ra, trước sự thách thức của hoàn cảnh ngăn sông cách núi, chúng ta đã bắt đầu “nắm tay” nhau đi tới. Sự thách đố của hoàn cảnh có chăng cũng chỉ là bạn, chứ không phải là thù, khi từ trong sâu thẳm của mỗi tấm lòng không còn cảm giác xa lạ, ngăn cách vì lòng người ngại núi e sông, phải không các em?

 Thương mến chúc các em thân tâm thường hằng an lạc.

 Chào tinh tấn.


Tâm Sự 
Với Một Người Thân Đã Chia Tay
Kỳ cuối: Nghiệp và thời gian trong tranh Bửu Chỉ
Võ Xuân Hân

   
 Nghệ thuật của Chỉ phong phú, đa dạng; ở đây tôi chỉ muốn ghi lại vài nét chấm phá về cảm tưởng của mình nhìn từ hai góc độ vô thường và nghiệp.  Tôi đã nói qua về góc độ vô thường; bây giờ tôi nhìn từ góc độ nghiệp.  Qua các tranh Chỉ đã cho tôi xem ở nhà riêng, tôi nhận thấy Chỉ, cũng như Sơn trong âm nhạc, đã kiên trì trong việc đào sâu về thân phận, về kiếp làm người với nhiều họa phẩm tuyệt tác.  Nhận thức của Chỉ về cuộc đời, trong bối cảnh một nước và trên bình diện thế giới, đã tìm đường lên khung vải, không chút do dự hay thắc mắc gì hết.  Yêu đời nồng nàn là một chuyện, nhưng cái cảm quan bén nhạy của nghệ sĩ và trí thông minh cao độ trong người Chỉ đã đưa Chỉ đến những nhận thức sâu sắc về cuộc đời.  Bàng bạc trong các bức sơn dầu là hai chủ đề về nghiệp và thời gian.  Một bức được Chỉ cho xem riêng mà tôi rất thích và không biết bây giờ đang ở đâu, vẽ những con người như những que củi khẳng khiu (dấu ấn của Chỉ) đang bám quanh quả đất.  Tôi hiểu ngay ý nghĩa, ngay cả trước khi Chỉ giải thích về tác phẩm rằng “...thầy ạ, người đời nó như thế, cứ bám vào đất mà sống.”  Bức nầy cũng thể hiện phần nào quan niệm về nhân sinh thấy ở các bức khác mà tôi đã được xem, cái quan niệm mà Chỉ có lần gọi là “une existence menacée” (một cuộc sống bị đe dọa).  Con người có hạnh phúc yêu đời bám vào quả đất để sống là chuyện đã đành, nhưng con người bất hạnh đau khổ cũng cố bám chặt vào quả đất để sống, như vậy không phải “nghiệp” là gì, không phải cộng nghiệp là gì?  Một trong những cái hay của bức tranh vừa nói là khi ngắm nó, tôi thấy có cả tôi trong đó, chẳng đặng, chẳng đừng chi hết.  Không giải thích mà hiểu được nhau, đó mới là dấu hiệu của giây thông cảm thiêng liêng giữa chúng ta, phải không Chỉ?

 Trong một bức tranh khác, mà có lẽ tôi và con trai tôi là trong số những người đầu tiên được hân hạnh thưởng lãm tại nhà riêng, Chỉ vẽ hình một tảng đá lớn có một góc nhọn đang treo chênh vênh trên một sợi giây thừng bắc ngang hai góc núi đá.  Nhưng nếu nhìn kỹ, sợi giây thừng là một con người khẳng khiu, hai tay bám vào một góc núi bên này, hai chân bám vào một góc núi bên kia.  Tôi nghi rằng đây là một trong những bức thích ý nhất của tác giả, đã được sáng tác không lâu đối với lúc bố con tôi được xem (nay có in trong Tranh Bửu Chỉ, Nhà Xuất Bản Trẻ, 2003, với nhan đề: “Không đề”).  Mà cần chi phải có nhan đề cho mệt, phải không Chỉ?  Các tranh của Chỉ tự chúng đã nói lên thấm thía cái thân phận làm người bước cheo leo giữa không trung trên sợi giây trời.  Nay mỗi khi xem hình, ấn tượng đầu tiên của bức tranh đó đối với tôi, từ kỹ thuật đến nội dung, vẫn còn đậm nét như ngày nào.     

 Một đề tài hấp dẫn khác của Chỉ mà tôi cũng rất thích là ám ảnh về thời gian đã được thể hiện trong nhiều tác phẩm qua hình cái đồng hồ có đủ kim ngắn và kim dài.  Nhưng cái kinh ngạc mạnh nhất cho người xem là những hình người que củi, khi thì treo đứng vào kim đồng hồ bằng một sợi giây thòng lọng buộc vào cổ, khi thì muốn chạy trốn khỏi một chiếc đồng hồ, khi thì đội một chiếc đồng hồ nằm trong một tảng đá, thân và đầu trịu xuống dưới sức nặng của tảng đá, có khi đồng hồ nằm lấp lửng trên mỏm đá nhọn, cũng có khi đồng hồ nằm trong một tảng đá có chân đang chạy trốn, lại có ảnh vẽ đồng hồ nằm trong một con mắt đang nhỏ lệ...  Salvador Dalí cũng có vẽ đồng hồ.  Nhưng trong khi những cái đồng hồ của Dalí mềm nhũn như chiếc bánh tráng (đa) mới hấp để nói lên sự méo mó của thời gian, để gợi cái phi lý của tư tưởng duy lý, để diễn đạt trạng thái mập mờ nửa tỉnh nửa mê, nửa thực nửa mộng, cái đồng hồ của Bửu Chỉ lại không siêu thực chút nào vì nó cụ thể, nó chắc như cái chày vồ dã gạo.  Nếu đồng hồ của Salvador Dalí gây hoang mang, đồng hồ của Bửu Chỉ gây tỉnh thức, là ngọn đèn pha rọi thẳng vào tính hữu hạn của đời người, là nỗi bức xúc trước sự trói buộc của thời gian, là điều kiện của nhân sinh.  Trong thế giới tâm tư và nghệ thuật của Bửu Chỉ, đồng hồ là phương tiện để lột trần cái tương phản nhức nhối giữa đời người ngắn ngủi với thời gian vô thủy vô chung.  Và như thế Bửu Chỉ đã dùng một ngôn từ đôi khi trắng trợn đến sửng sốt, đến khó chịu. 

 Trong một phương diện nào đó, cái kinh ngạc của Bửu Chỉ cũng giống cái kinh ngạc của Bertolt Brecht.  Một bên là hoạ sĩ lớn của phương Đông (1948-2002), bên kia là nhà viết kịch và dàn kịch lớn của phương Tây (1898–1956).  Họ dùng các phương tiện diễn đạt hoàn toàn khác nhau dĩ nhiên, nhưng cùng có một chủ đích là đánh thức người xem.  Trong khi Brecht dùng những kỹ thuật của kịch nghệ có tác dụng gây kinh ngạc (verfremdungseffekt), Chỉ dùng những hình ảnh và màu sắc táo bạo để nhắc nhở người xem quay về thực tại.  Trong khi kịch của trường phái cổ điển Hy Lạp (Aristote) nhằm làm cho người xem mê man hay đồng hoá với các nhân vật trong vở kịch, Brecht làm ngược lại bằng cách đưa ra những động tác hay cử chỉ lạ thường, lố lăng, ngoài quy ước, nhiều khi không ăn khớp gì với tình tiết của vở kịch, với mục đích gây ngạc nhiên để nhắc nhở người xem rằng kịch là kịch—tức là biểu tượng của thực tại—mà thực tại là thực tại, hai bên khác nhau.  Các kỹ thuật gây kinh ngạc của Brecht có các trường hợp như diễn viên che miệng nói riêng với khán giả trong lúc đang diễn kịch, hoặc cách xử dụng ánh sáng kỳ quặc, hoặc đưa ra các bảng đã có viết chữ sẵn để gây sự chú ý trong khi các diễn viên vẫn tiếp tục đóng kịch như không có chuyện gì xẩy ra.  Kịch cổ điển muốn làm cho người nghe phải khóc với cái khóc, cười với cái cười của diễn viên, nhưng Brecht cho như vậy là mê hoặc, là vong thân, là điều cần phải tránh.  Brecht muốn làm người xem tỉnh táo, đứng ngoài cuộc để có thể sáng suốt mà nhận định hay phán đoán, hơn là bị vở kịch hoàn toàn lôi cuốn.  Tóm lại, kịch cổ điển ru ngủ, trong khi kịch của Brecht đánh thức.  

 Bertolt Brecht có một người quen cùng gốc Đức mà sau này đã giúp ông ta thoát khỏi Đức Quốc Xã là văn hào Hermann Hesse (1877–1962; giải Nobel văn chương 1946).  Năm 1922, Hesse cho ra đời một tác phẩm lớn với tựa Siddhartha (Tất Đạt Đa) (Câu Chuyện Giòng Sông, do Phùng Khánh, cố Ni Sư Thích Nữ Trí Hải, và Phùng Thăng dịch).  Đây là chuyện của một người bất mãn với thực tại, trốn chạy thân tâm với ảo vọng muốn đi tìm cái mình thật, tìm lẽ sống cho mình.  Nhân vật chính, Siddhartha, là một người đàn ông thuộc giòng Bà La Môn sống cùng thời với Bụt, đã bỏ nhà ra đi để tìm nguồn tâm linh của mình và sau khi trải qua nhiều kinh nghiệm với đời sống tục lụy, từ khổ hạnh cho đến trụy lạc, ông ta vẫn không thấy thoả mãn.  Nhưng cuối cùng Siddhartha ngộ chân lý bản lai diện mục, trở về với thân tâm đích thực của mình khi về lại bên một giòng sông hiền hòa, và cũng là giòng sông tâm linh, mà trước kia chàng đã rời bỏ.  Chân lý phải do tự mình khám phá lấy, không ai truyền đạt cho mình được.  Đó là một tuệ giác của Đạo bụt, và Hesse, mặc dù không phải là Phật tử, nhưng là người đã chịu khó tìm hiểu Ấn giáo và Phật giáo trước khi viết chuyện nầy.  Đến đây, tôi lại nhớ một chuyện khác về Chỉ có liên quan đến phần tâm linh và đạo Bụt.  Chuyện xẩy ra trong lúc Chỉ và tôi thăm xưởng vẽ của Hoàng Đăng Nhuận.  Sau một hồi xem tranh của Nhuận, tôi thấy Chỉ trèo lên một cái ghế rồi dùng bút lông nắn nót vẽ lên tường chữ OM theo lối viết của chữ Phạn.  Dưới chữ OM đã có mấy câu niệm về Đức Quán Thế Âm, phiên âm ra mẫu tự la tinh từ tiếng Phạn và Tây Tạng, mà tôi đoán Chỉ đã viết từ trước.  Trong số đó, tôi chỉ nhớ được một câu nổi tiếng nhất, Um Mani Padme Hum (phiên âm tiếng Việt:  Úm Ma Ni Bát Minh Hồng).  Đây là lời cầu kinh linh thiêng và cô đọng nhất đối với Phật giáo mật tông Tây Tạng.  OM đây cũng là âm thanh huyền bí phát xuất từ giòng sông đã thức tỉnh Siddhartha trong câu chuyện bất hủ của Hermann Hesse.  Vậy ta thử hỏi Bertolt Brecht và Bửu Chỉ trong khi sáng tác đã đến với tuệ giác đạo Bụt bằng cách nào?  Nhờ ở học vấn, kinh nghiệm bản thân, giáo dục gia đình, văn hoá xã hội, tiền kiếp, hay tất cả các yếu tố đó?  

 Tôi hãnh diện về đời Chỉ, từ tư duy đến hành động, từ xã hội đến văn hóa.  Tôi cảm kích về lòng yêu nước, yêu nghệ thuật thiết tha ở Chỉ.  Tôi thán phục tài năng xuất chúng, pha lẫn với trí thông minh sắc bén cùng sự cảm nhận thấm thía về đời người của Chỉ.  Có thể đây là một hiện tượng pha trộn khá hiếm hoi trong ngành hội họa của thế giới.  Tôi kính trọng lòng can đảm và tư cách khẳng khái của Chỉ, một tư cách đã được un đúc dưới mái ấm gia đình, dưới mái học đường, dưới khí thiêng của đất thần kinh và thử thách bởi hoàn cảnh đất nước.  Tôi cảm ơn mối nhiệt tình đặc biệt mà Chỉ đã dành cho tôi và gia đình tôi sau rất nhiều năm xa cách.  Và tôi cảm động, sung sướng khi nhận bức tranh thêu mà các anh em cựu sinh viên trường Luật Huế, dĩ nhiên có cả Chỉ, đã cho tôi trong chuyến hội ngộ không quên trên sông Hương vào kỳ 97.  Tranh cũng có cảnh sông Hương và cầu Trường Tiền muôn thuở, phía dưới có ghi hàng chữ:  “Kính Tặng Thầy – Môn Sinh Trường Luật Huế.”  Tôi xem tranh nầy là một kỹ vật quý báu và treo nó ngay ở phòng làm việc của mình.  Những cử chỉ rất đẹp của Chỉ cũng như các anh em khác là những hiện thân của truyền thống cao quý nhất của đất Việt về tình thầy trò, tình anh em, tình người, mà tôi thiết tha mong vẫn còn tìm thấy ở quê mẹ trong tiến trình hiện đại hóa, thị trường hóa ồ ạt ngày nay.  Tôi rất quý các cảm tình thắm thiết đó.  Một xã hội cũng giống như hành khách trên một chiếc thuyền (cộng nghiệp?).  Nếu mất neo, mất bánh lái, thuyền sẽ chơi vơi lạc hướng, mà một cơn sóng lớn có thể đánh đắm dễ như chơi.  Cũng như thế, muốn xây nhà lên cao, thì trước hết nền móng phải cho vững.

 Trong khi dạy học ở xã hội Tây phương, điều mất mát lớn nhất đối với tôi là tình thầy trò, là nghĩa môn sinh rất đẹp của Á Đông mình.  Vì vậy, hơn lúc nào hết, trước sự xâm nhập của toàn cầu hóa, tôi nghĩ rằng luân lý Đông phương “tiên học lễ, hậu học văn” cần được cũng cố ở học đường, truyền thống lễ nghĩa tốt đẹp cần được chấn chỉnh trong xã hội ta ngày nay bằng mọi giá, nếu ta muốn giữ gìn vốn đạo đức, nghĩa là giữ gìn cái linh hồn của con người, linh hồn Việt Nam.  Của cải mất đi, còn tạo lại được, nhưng linh hồn một khi mất đi là mất luôn.  Có thể có người chê tôi là cổ hủ, và tôi cũng đành chịu, nhưng qua kinh nghiệm, tôi nhận thấy một xã hội dẫu giàu cho đến mấy về vật chất mà nghèo về tình nghĩa và đạo đức thì vẫn còn nghèo, còn thiếu thốn, vẫn nông cạn, vẫn không đạt được chân hạnh phúc.  Coi nhẹ tình nghĩa là một lổ hổng, một bài học quý giá từ các xã hội Tây phương, là nơi đã đẩy nền kinh thị trường và chủ nghĩa tư bản đến tột đỉnh, mà ta cần phải chiêm nghiệm cho kỹ.  Tiến bộ kinh tế và khoa học giúp giải quyết tốt vấn đề thiếu thốn vật chất và nâng cao đời sống người dân, đương nhiên là điều rất cần thiết, nhưng sự thụt lùi về đạo lý có thể làm các tiến bộ kinh tế phát sinh ra hoặc khuyếch đại những khủng hoảng tinh thần, những đổ vỡ và thảm kịch.  Nền kinh tế cũng tựa như một chiếc xe chở hành khách.  Máy móc càng trơn tru, cản trở càng ít, thì hiệu năng càng cao, nhiên liệu càng cần ít, xe càng khỏe, càng đi nhanh, càng chở được nhiều người, nhưng muốn khỏi tai nạn, phải có tài xế vững, có hành khách tốt biết suy nghĩ, có bộ thắng tốt và hệ thống kiểm soát tốt.  Suy rộng ra, nếu nghĩ cho cùng, các giá trị đạo đức xử thế như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, v.v. mà người ta thường gán cho ông Khổng ông Mạnh, thật ra nó chỉ là những hạt cát nhỏ nhoi trong bể pháp bao la và vi diệu của Như Lai, nó nằm ngay giữa lòng đạo Bụt, gói ghém chỉ vỏn vẹn trong hai chữ Chánh Niệm.  Như Bụt đã dạy:  hãy trở về với chân tâm, hảy sống cho sâu sắc, hảy sống trong tỉnh thức, trong chánh niệm.  Hạnh phúc của ta và của người là một chớ không bao giờ hai.

Về mặt nghệ thuật, Chỉ đã điểm thêm các bông hoa tươi đẹp cho vườn nhà tôi, cho vườn của đồng bào tôi, cho vườn của đồng loại tôi.  Cũng như Sơn, Chỉ đã để lại cho đời một gia tài nghệ thuật tuyệt tác và súc tích.  Chỉ đã để lại một thế giới phong phú hơn, lung linh hơn, đậm đà hơn, và dưới nhãn quan tôi, tỉnh táo và suy tư hơn.  Đó là trọng trách nhưng cũng là đặc quyền của nghệ sĩ, một thứ đặc quyền mà tôi ganh tỵ.  Ganh tỵ, nhưng không vì vậy mà bớt lòng khâm phục và thương yêu sâu xa của một người đã từng đóng vai hướng dẫn, rồi sau đó trở thành một kẻ đồng hành.  

 Câu nói “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” nghe tuy nhàm tai nhưng đúng đối với trường hợp chúng ta.  Chúng ta có một số điểm dị biệt, và tôi rất tôn trọng các quan điểm của Chỉ dẫu cho chúng không giống mình.  Nhưng chúng ta cũng là những lữ hành không dùn chân trên con đường thiên lý mà trước mắt luôn luôn là chân trời của chân thiện mỹ.  Chúng ta phát xuất từ hai điểm khác nhau, một bên làm nghệ thuật, một bên làm giáo dục và khoa học, nhưng chúng ta cùng chia sẻ một mục tiêu hướng thượng, cùng mong mỏi một ngày mai tươi sáng hơn; chúng ta muốn đem tài mọn và hơi sức nhỏ nhoi của mình để bồi đắp, để xây dựng.  Như vậy đường đi chúng ta tuy khác nhau, nhưng chúng song song với nhau.  Nói theo nhà Phật, đời nầy chúng ta đến với nhau, đem lại niềm vui cho nhau chắc nhờ đã tu hành nhiều kiếp, nhờ cơ duyên tốt từ đời trước.  Đường đi của Chỉ tuy không trọn vẹn nhưng đã đem lại cho đời tôi một nguồn hạnh phúc trong sáng.  Bấy nhiêu đó cũng đủ cho tôi niềm an ủi dù rằng hôm nay, trên đường đi của mình, nhìn sang bên cạnh, tôi mủi lòng không còn thấy Chỉ nữa.  

 
 Thôi ta đành hẹn cơ duyên khác...
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁOSỐ 15 -THÁNG 4 2006


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)