01
Nghĩ về việc bảo tồn giá trị truyền thống trong việc
trùng tu các di tích lịch sử (Trí Ngôn)
Ngõ
vào thiền
Thích
Nữ Trí Hải
Bạn
có thể vào thiền từ bất cứ ngõ nào, vì toàn thể đời
sống là một thiền định sâu xa: núi đồi, trăng sao, hoa
lá, cây cỏ, toàn trái đất đều đang nhập định. Bất cứ
sự vật gì cũng có thể trở thành ngõ vào thiền. Chính vì
vậy mà có rất nhiều kỹ thuật, rất nhiều giáo phái. Và
cũng chính vì vậy mà tôn giáo này không hiểu tôn giáo kia
- vì họ nhập đạo bằng những ngõ khác nhau. Đôi khi có
những người mà bạn sẽ không nhận ra là họ có “tôn giáo”
mặc dù họ vẫn có một niềm tin, sự nhiệt thành của người
theo một tôn giáo...
Sri
Aurobindo nói: toàn thể đời sống là Du già ( Yoya). Đúng thế,
mọi sự có thể trở thành một pháp thiền. Và bạn chưa
thực sự thiền định, khi bạn chỉ ngồi thiền vào một
lúc nào đó trong ngày, khi bạn không biến mọi chuyện thành
thiền pháp. Thiền không chỉ là một phần trong đời bạn
mà là một phẩm chất của đời bạn, như hơi thở. Bạn
vẫn tiếp tục thở, dù bạn đang làm bất cứ việc gì, chứ
không thể khi thở, khi không.
Thiền
là một hơi thở tâm linh. Cũng như thân thể đang thở không
khí, tâm bạn cũng có thể thở với ý thức tỉnh giác. Và
khi bạn hít vào thở ra với ý thức thì bạn không chỉ là
một thân xác vật lý, mà từ đó có một sự thở “cao cấp”,
nghĩa là thở trong tỉnh thức, hít thở chính sự sống. Khi
ấy bạn đi vào một lĩnh vực khác, gọi là lĩnh vực siêu
hình.
Sự
thở của bạn là vật lý, còn thiền định, ý thức tỉnh
giác - awareness - là siêu hình. Bạn không thể chỉ ngồi thiền
vào buổi sáng, rồi quên tuốt về chuyện ấy vào buổi chiều.
Bạn không thể đi vào một ngôi chùa để thiền, rồi ra khỏi
chùa là hết thiền. Ấy là làm một điều giả dối. Bạn
có thể vào chùa rồi đi ra, nhưng không thể vào thiền rồi
đi ra. Khi đã “vào” thiền, thì kể từ ấy, dù bạn đi
đâu, thiền cũng sẽ luôn luôn theo chân bạn.
Lại
nữa, bạn có thể vào thiền từ bất cứ ngõ nào, vì toàn
thể đời sống là một thiền định sâu xa: núi đồi, trăng
sao, hoa lá, cây cỏ, toàn trái đất đều đang nhập định.
Bất cứ sự vật gì cũng có thể trở thành ngõ vào thiền.
Chính vì vậy mà có rất nhiều kỹ thuật, rất nhiều giáo
phái. Và cũng chính vì vậy mà tôn giáo này không hiểu tôn
giáo kia - vì họ nhập đạo bằng những ngõ khác nhau. Đôi
khi có những đạo, thậm chí không mang tên là “đạo”,
bạn sẽ không nhận ra là họ có “tôn giáo” mặc dù họ
vẫn có một niềm tin, sự nhiệt thành của kẻ theo một tôn
giáo. Ví dụ một nhà thơ. Thi nhân có thể đi vào thiền định
không cần đến bậc thầy nào, cũng không đi chùa, và hoàn
toàn không được xem là người có tôn giáo. Nhưng ông ta có
thể “nhập đạo” bằng thơ văn, bằng tính sáng tạo trong
mình. Hoặc một người thợ gốm cũng có thể nhập thiền
chỉ nhờ nắn đồ gốm. Mỗi ngành nghề đều có thể trở
thành một cổng vào đạo. Người bắn tên, người làm vườn,
hay bất cứ ai cũng có thể vào đạo từ khắp mọi hướng.
Bất cứ điều gì bạn làm cũng đều có thể trở thành một
ngõ vào đạo, nếu việc làm của bạn có phẩm chất của
tỉnh giác chánh niệm.
Vậy
thì hành vi, kỹ thuật, phương pháp không quan trọng bằng
ý thức tỉnh giác mà bạn đặt vào mỗi hành vi mình làm.
Kabir,
một đạo sĩ Ấn vốn là thợ dệt, sau khi đắc đạo ông
vẫn dệt áo. Những đồ đệ thường bảo ông: “Xin thầy
nghỉ ngơi đi, chúng con sẽ cúng dường bất cứ gì thầy
cần”. Ông cười lớn mà bảo: “Việc ta làm không phải
là dệt. Dệt chỉ là hành vi bên ngoài. Đồng thời trong ta,
đang tiếp tục một việc mà các con không thể thấy: đấy
là thiền định của ta”. Và một đạo sĩ khác, Gora, vốn
là một thợ gốm. Ông nắn những bình đất, và khi bình được
xoay quanh trục thì trong tâm ông cũng đang tập trung chánh niệm
tỉnh giác. Chiếc bình được tạo ra chỉ là sản phẩm phụ.
Ông ta đang sáng tạo chính mình, qua việc nắn đồ gốm. Paul
Valéry nói: “Tout homme crée sans le savoir - Mais l’artiste se
sent créer - Son acte engage tout son être - Et la souffrance le fortifie”.
Tạm
dịch :
Mọi
người sáng tạo, nhưng ai nào tự biết ?
Nghệ
sĩ thấy mình sáng tạo từng giây
Sống
hết mình cho mỗi một hành vi
Và
đau khổ biến thành nguồn nghị lực.
Đạo
sĩ chính là nghệ sĩ của nghệ thuật “ sống cho ra hồn”.
Khi
thiền định, ta thấy mình chỉ như một làn sóng trên đại
dương cuộc đời. Nói cho cùng thì chỉ có biển hiện hữu
mà thôi. Không thể có những làn sóng mà không có biển. Sóng
chỉ là hiện tượng, mà biển là thực chất.
Ngôn
ngữ đã tạo nhiều rắc rối. Vì ta nói “một làn sóng”
nên có vẻ như sóng là cái gì có thực chất. Lẽ ra nên nói
“dậy sóng” thì hơn: vì đấy là một chuyển động, không
phải một vật thể. Biển có thể lặng yên hay chuyển động,
nhưng không thể nào có một làn sóng lặng yên. Lại nữa,
sóng nổi lên như những cá nhân riêng lẻ, có lớn có nhỏ
khác nhau, có sóng này đang lên và sóng khác đang xuống, nhưng
thực tại là biển cả đằng sau chúng thì chỉ là một; và
những làn sóng đều tương quan lẫn nhau, dù chúng có vẽ
tách rời.
Chúng
ta, cũng chỉ là những làn sóng trên đại dương vũ trụ.
Hơi thở vào của mỗi người là hơi ra của người khác,
của cây cối và mọi sinh vật khác. Trong ta có toàn thể mọi
người, mọi sự. Tính cá nhân, riêng rẽ chỉ là huyễn hoặc
mê, lầm. Bởi thế, chấp ngã là chướng ngại duy nhất, và
mọi tôn giáo đều lên án thái độ ích kỷ, chỉ biết có
mình. Nói rằng không có thượng đế cũng không sao, nhưng
bảo “chỉ có tôi quan trọng” là một thái độ phi tôn
giáo.
Đức
Phật là một người không tin vào một ông thượng đế nào
cả. Vậy, nếu bạn không tin thượng đế thì điều đó không
phải là yếu tố cơ bản cho tinh thần tôn giáo, mà vô ngã
mới là cơ bản. Và cho dù bạn có tin thượng đế mà tâm
bạn ích kỷ thì cũng là phi tôn giáo. Với tâm vô ngã thì
không cần tin thượng đế, vì tâm ấy tự nhiên là rất thánh
thiện.
Hãy
nhớ biển cả mà bỏ qua làn sóng. Vì mỗi khi khởi sự giống
như một làn sóng cá nhân, ta đang làm quấy và sẽ tạo ra
đau khổ vì đã chống lại quy luật phổ quát. Đấy là ý
nghĩa về nghiệp báo trong đạo Phật.
ĐỨC
PHẬT CỦA TÔI
Đức
Phật là một người như chúng ta. Ngài sinh ra là một con người,
sống như một con người và từ giả cõi đời như một con
người. Mặc dầu là người, Ngài trở thành một người siêu
phàm do những đặc tính duy nhất của Ngài. Đức Phật đã
ân cần nhắc nhở nhiều lần như vậy và không có điểm
nào trong đời sống hoặc trong lời dạy của Ngài khiến chúng
ta hiểu lầm rằng Ngài là một nhân vật bất sinh bất diệt…
Sinh
ra là một con người, sống như một con người, Đức Phật
đã thành đạt trạng thái tối thượng về sự toàn thiện,
Phật quả, do nỗ lực kiên trì cá nhân. Ngài không dành sự
liễu ngộ siêu phàm cho riêng mình, Ngài công bố trước thế
gian rằng tâm có khả năng và oai lực vô song. Không khi nào
ngài tự hào rằng chỉ có Ngài là người duy nhất chung đắc
Phật quả vì Phật quả không phải là một ân huệ đặc
biệt cho riêng một cá nhân tốt phước nào đó đã được
chọn trước.
Narada
Thera
(The
Buddha and His Teachings)
Đức
Phật của tôi.
TÔI
VẪN THƯỜNG GẶP PHẬT
Nguyễn
Duy Tuệ
Tôi
được nuôi dưỡng, dạy bảo trong một gia đình có truyền
thống Phật giáo. Từ thuở ấu thơ, tôi vẫn thường cầu
mong Đức Phật che chở cứu giúp. Tôi được nghe kể, được
đọc thấy những trường hợp các đấng linh thiêng hoá hiện
ra ở nhiều nơi, trên núi, trong hang động, giữa lưng chừng
trời, trong giấc mơ… Một thời gian dài cho đến khi lớn
lên, tôi vẫn cầu xin Đức Phật điều này điều nọ. Có
khi tôi được như ý, có khi lại thấy lời cầu xin của mình
không được đáp ứng. Ước mong lớn lao nhất của tôi là
được một lần nhìn thấy Đức Phật hóa hiện, nhưng ước
mong đó trong tôi dần dần suy giảm, và tôi nghĩ mình sẽ
không bao giờ được nhìn thấy Phật.
Tôi
tự an ủi và tự nghĩ: Đức Phật hiện ra để làm gì? Nếu
Ngài hiện ra thì Ngài sẽ cho tôi những gì, sẽ cho mọi người
những gì? Nếu Ngài dùng năng lực tối thượng để cứu
khổ thì có nhất thiết Ngài phải hoá hiện thân Ngài ra không?
Ngài có cần thiết phải hiện hình ra cho người ta tin kính
Ngài không? Và nếu người ta cho rằng, phải nhìn thấy được
Ngài mới tin, thì niềm tin đó đâu còn là niềm tin tôn giáo?
Suy
nghĩ của tôi là thế, nhưng cái ước mong được nhìn thấy
Phật thỉnh thoảng lại hiện về trong tâm trí. Cho đến một
hôm, nhân đến hầu thăm Hoà thượng Bổn sư của tôi và
khi từ biệt, bỗng dưng tôi ngây ngô buộc miệng hỏi: “Bạch
thầy, ngày thường hoặc trong lúc thiền định, có khi nào
thầy được nhìn thấy Phật chưa?” Vị Đại lão hơn 70
tuổi hạ và quá 90 tuổi đời đáp: “Không!” Rồi Ngài
tiếp: “Khi một người làm việc thiện, nói lời thiện,
suy nghĩ thiện thì chính khi đó, người ấy là Phật. Phật
vốn ở trong tâm mỗi người!”
Dần
dần tôi hiểu ra lời dạy ấy. Tôi đã thấy biết bao nhiêu
người thiện. Tôi đã thọ nhận sự giúp đỡ, chở che của
rất nhiều người thiện. Tôi đang bệnh bỗng bạn tôi ghé
thăm và mách thuốc; tôi lo buồn, mẹ tôi khuyên nhủ, an ủi;
tôi bị ngã xe, có người đi dường đỡ dậy; tôi sai lầm,
kém cõi thì có người chỉ bảo cho… Tôi đang tồn tại trên
đời là do vô số những tác nhân thiện lành.
Một
người, trong giây phút nào đó làm việc thiện, nói lời thiện,
suy nghĩ thiện, thì chính lúc ấy người đó là Phật. Tôi
tin ở hoá thân Phật. Đã là hoá thân thì không nhất thiết
phải là báo thân đẹp đẽ của Ngài. Và với suy nghĩ này,
hàng ngày tôi gặp bao nhiêu người thiện, dù là thiện trong
giây lát, thì cũng có nghĩa tôi đã gặp được bấy nhiêu
là hoá thân của Đức Phật. Trong nhà gặp Phật, ra đường
gặp Phật, có hạnh phúc nào hơn?
Và
tôi chỉ việc làm sao để nhiều lần, dù trong giây lát, tôi
trở thành hoá Phật đối với mọi người và đối với chính
mình.
Phát
triển lòng Từ
Dalai
Lama
Vài
người bạn của tôi nói rằng, tình thương và lòng Từ bi
rất tốt đẹp và kỳ diệu, nhưng chúng không có chỗ đứng
trong thế giới của chúng ta, nơi mà lòng sân hận và thù
hằn là một phần của con người, và như vậy chúng ta luôn
bị sân hận làm chủ. Điều nầy tôi không đồng ý.
Con
người chúng ta hiện hữu với hình hài nầy trong khoảng gần
một trăm ngàn năm nay. Tôi tin rằng trong khoảng thời gian
đó, nếu tinh thần chúng ta bị sân hận làm chủ thì dân
số của con người đáng lý phải bị giảm đi. Nhưng cho đến
hôm nay, mặc dù đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh, dân
số thế giới vẫn không ngừng gia tăng.
Điều
nầy chứng tỏ rằng, tình thương và lòng Từ bi vẫn chiếm
ưu thế. Vì vậy, những việc không hay là "tin tức", những
việc làm Từ bi trong đời sống hàng ngày bị coi như là điều
tất nhiên, và phần lớn bị phớt lờ đi.
Theo
kinh nghiệm của riêng tôi, sự thăng bằng về mặt tinh thần
và cơ thể mạnh khỏe có mối liên hệ mật thiết. Sự kích
động và tức giận dễ làm chúng ta nhiễm bệnh. Ngược lại,
nếu tinh thần yên tịnh và tràn đầy những ý nghĩ tốt lành
thì cơ thể ít có nguy cơ bị bệnh hoạn tấn công.
Muốn
được hạnh phúc chân thật thì cần phải có một tinh thần
an lạc, và để được tinh thần an lạc, cần phải có lòng
Từ bi. Làm sao để chúng ta phát triển được lòng Từ? Chỉ
nghĩ đến lòng Từ bi thôi thì chưa đủ, chúng ta phải làm
sao để chuyển hóa tâm niệm và hành động của mình trong
đời sống hàng ngày.
Trước
hết, chúng ta phải biết rõ Từ bi nghĩa là gì. Lòng Từ bi
cũng có nhiều hình thức và lắm lúc người ta dễ lẫn lộn
nó với sự bám víu và lòng ham muốn. Chẳng hạn, tình thương
của cha mẹ dành cho con cái thường có liên quan đến những
nhu cầu tình cảm của riêng họ, vì vậy tình thương đó
không hoàn toàn là Từ bi. Cũng vậy, trong hôn nhân, tình thương
giữa hai vợ chồng, nhất là giai đoạn mới kết hôn - lúc
mà cả hai chưa rõ những cá tính sâu sắc của nhau - tình
thương ấy dựa vào sự bám víu rõ hơn là lòng thương yêu.
Vì dục vọng của chúng ta quá mạnh nên người hôn phối
dù có tính xấu, dưới mắt ta lúc bấy giờ người ấy cũng
trở nên hoàn hảo. Hơn nữa, ta lại có khuynh hướng khuếch
trương những điều tốt nho nhỏ. Do đó, khi mà tính tình
một trong hai người thay đổi thì người kia cảm thấy thất
vọng vì chính tính tình họ cũng có đổi thay. Đây là điều
cho ta thấy tình yêu được thúc đẩy bởi những nhu cầu
của cá nhân hơn là vì thương yêu một cách thực sự.
Lòng
Từ bi chân thật không phải là một thứ tình thương có qua
có lại, mà là một sự cam kết chắc chắn dựa trên trí
tuệ. Vì vậy, cho dù kẻ nhận được sự cư xử không tốt,
một hành động Từ bi thật sự sẽ không hề thay đổi. Dĩ
nhiên là phát triển lòng từ bi chân thật sẽ không phải
là một việc dễ dàng. Lúc bắt đầu thực tập, chúng ta
nên nhìn vào những điểm sau đây :
Dù
người đẹp hay người xấu, người dễ thương hay kẻ phá
hoại, chúng ta đều là con người như nhau cả. Và vì là con
người nên chúng ta đều muốn hạnh phúc và không muốn đau
khổ. Hơn nữa, mỗi người có quyền tự do riêng để tránh
đau khổ và hưởng sung sướng. Bây giờ bạn chấp nhận là
tất cả chúng ta đều muốn hạnh phúc, và vì vậy bạn sẽ
tự dưng cảm thông được với mọi người và cảm thấy
gần gũi họ hơn. Thực tập điều này sẽ làm cho tinh thần
của bạn cảm nhận được tình vị tha, và bạn sẽ phát
triển được lòng tôn kính nơi mọi người chung quanh: muốn
giúp họ bớt khổ đau. Vì là con người nên ai cũng phải
trải qua những kinh nghiệm vui, buồn, sung sướng và đau khổ,
vì vậy không lý do gì bạn lại không thương được những
người có những hành động ích kỷ.
Trong
khả năng của chúng ta, để thực tập và phát triển lòng
từ bi, chúng ta cần phải có kiên nhẫn và thời gian. Tận
trong tiềm thức của chúng ta, lúc nào cái "tôi" cũng chiếm
ưu thế, và vì cái "tôi" đó mà lòng Từ bi của chúng ta bị
giới hạn. Thực ra, lòng từ bi chân thật chỉ được thể
hiện khi mà cái "tôi" bị diệt bỏ. Nói như thế không có
nghĩa là chúng ta không làm gì được, cái gì cũng có bắt
đầu, thực tập và tiến triển, đó là điều mà mỗi chúng
ta đều có thể làm được. Bạn hãy bắt đầu ngay từ hôm
nay, ngay trong từng suy nghĩ, lời nói và việc làm của mình.
Mỹ
Thanh dịch
ỨNG
XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
TRONG
KIẾN TRÚC ĐÌNH CHÙA NAM BỘ
KTS.
PHẠM ANH DŨNG
Nam
bộ là vùng đất non trẻ của khu vực Đông nam Á, vốn được
hình thành chủ yếu trong giai đoạn tân kiến tạo, và đây
cũng là vùng đất đan xen cả ba loại địa hình : núi, đồng
bằng và duyên hải. Kể từ khi được hình thành, vùng đất
này đã có sẵn một thảm động thực vật vô cùng phong phú.
Trong quá trình mở đất về phương Nam, tổ tiên ta đã mang
theo các lọai hình văn hóa nghệ thuật mang đậm dấu ấn
của người Việt đến vùng đất này, rõ nét nhất là các
loại hình kiến trúc. Kiến trúc thuộc loại hình văn hóa
ứng xử, chủ yếu là ứng xử với môi trường tự nhiên,
và điều này càng rõ hơn đối với vùng đất Nam bộ trong
buổi đầu khai hoang lập ấp.
1.
Kiến trúc đình chùa: phản ánh việc tận dụng môi trường
tự nhiên
Hơn
300 năm trước đây, cả vùng Nam bộ "từ các cửa biển lớn
nhỏ như Cần Giờ, Sài Lạp (Soài Rạp) đi vào, toàn là những
cánh đồng hoang vu đầy cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể
rộng hơn nghìn dậm" (1). Trong quá trình khai hoang của lưu
dân người Việt, chắc hẳn có rất nhiều cây gỗ rừng bị
đốn hạ và trong đó có không ít các loại gỗ quí. Sản
vật của môi trường tự nhiên phong phú này đã nhanh chóng
được tận dụng cho nhiều ngành trong đó có ngành xây dựng.
Kiến
trúc đình chùa trong buổi đầu định cư tại vùng đất này,
tổ tiên ta thường sử dụng bộ khung sườn thuần gỗ. Về
cách thức sử dụng bộ khung sườn gỗ, tuy có phần giống
cấu trúc gỗ của đình chùa Bắc bộ, nhưng xuất phát điểm
có khác: gỗ sử dụng cho đình, chùa Bắc bộ thường không
phải được khai thác tại chỗ mà do các đại thí chủ xuất
tiền ra mua từ xa về với giá thành cao, do đó rất quí, nên
các khung sườn gỗ ở đây được gia công chăm chút và chạm
trổ khá công phu. Ngược lại, gỗ sử dụng trong kiến trúc
đình, chùa ở Nam bộ (buổi đầu) thường được dân làng
hoặc bá tánh khai thác, tận dụng tại chỗ trong quá trình
khai hoang, nên giá thành của chúng là không đáng kể. Phải
chăng vì vậy mà trong kiến trúc nhà cửa, đình chùa, gỗ
ở đây được sử dụng lãng phí hơn, và ít được người
ta gia công chạm trổ hơn?
Vùng
đất Nam bộ là vùng đất trũng, có hơn phân nửa diện tích
ven biển là vùng nước lợ (nước ngọt vào mùa mưa và mặn
vào mùa nắng), điều kiện môi trường này rất thích hợp
cho các loại cây sú, vẹt, đước, bần, tràm, dừa nước…
sinh sống. Đặc biệt, các giống cây tràm, cây đước và
dừa nước mọc thành rừng khắp vùng đất Nam bộ. Người
dân tại đây đã tận dụng các sản vật tự nhiên này làm
vật liệu xây dựng cho ngôi nhà của mình. Kiến trúc đình
chùa buổi đầu và kể cả ngày nay, tại vùng nông thôn, trong
các công trình phụ như bếp, kho, nhà khách…, loại vật liệu
thô sơ này cũng được người ta tận dụng để kiến
tạo. Đặc biệt, cây tràm đến ngày hôm nay vẫn là loại
cây làm "cừ" gia cố nền móng tiện dụng nhất tại Nam bộ.
Tiếp
giáp vùng đất trũng ven biển, tại Nam bộ, là vùng đất
thịt (á sét), và cao lanh rất phù hợp cho sản xuất vật
liệu đất nung hay gốm sứ. Chính nhờ môi trường tự nhiên
này mà gạch, ngói, gốm sứ…xuất hiện và được sử dụng
rất sớm (từ thời Phù Nam) tại Nam bộ. Tuy nhiên, vì giá
thành của gốm sứ thường đắt hơn "lá xé" (dừa nước),
nên người ta chỉ sử dụng nó cho các công trình quan trọng
như kiến trúc đình chùa chính.
Nam
bộ lại là vùng đất có núi mọc lên giữa đồng bằng (núi
Thất Sơn, núi Bà Đen, núi Thị Vãi…), nên vùng trung gian
tiếp giáp giữa đồng bằng và núi là vùng "đất phún" hoặc
"đá ong". Hợp cùng với đá núi, đá ong là vật liệu dễ
tạo hình, dùng làm vật liệu tấn nền rất tốt. Riêng đất
phún, cho đến ngày nay vẫn được làm vật liệu tôn nền
(xây dựng và giao thông) khá phổ biến tại Nam Bộ.
Nam
bộ còn là vùng đất có núi đá vôi, như núi đá vôi tại
Kiên Lương (Hà Tiên). Đá vôi là nguyên liệu chính nung lanh-ke
để sản xuất xi-măng phục vụ cho các công trình kiên cố
và hiện đại. Nhờ có sản vật tự nhiên này cùng với việc
tiếp thu thành tựu kỹ thuật hiện đại phương Tây khá sớm,
kiến trúc Nam bộ, trong đó có kiến trúc đình chùa, ngay từ
cuối thế kỷ XIX, người ta đã sử dụng "hồ xi-măng" và
"bê-tông" trong xây dựng.
Nam
bộ lại còn là vùng đất có nhiều sông rạch, đặc biệt
các con sông ở đây thường có thượng nguồn là các núi
sa thạch, chẳng hạn như sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông
Vàm Cỏ…, và ở hạ lưu của chúng thường có rất nhiều
bãi cát bồi lắng (cát sông). Các nhà xây dựng đã tận dụng
sản vật tự nhiên này để làm cốt liệu cho hồ xi-măng
và bê-tông trong việc xây dựng các công trình kiến trúc,
trong đó có kiến trúc đình chùa.
2.
Kiến trúc đình chùa: phản ánh việc ứng phó môi trường
tự nhiên
Sản
vật của môi trường tự nhiên tại Nam bộ rất nhiều, nhưng
khó khăn do tự nhiên gây ra cũng không ít. Bên cạnh cái khó
của việc "phá sơn lâm, đâm hà bá", vùng đất Nam bộ còn
có cái khắc nghiệt của khí hậu nóng ẩm. Để tồn tại,
các lưu dân Việt đã cùng nhau xây dựng những công trình
kiến trúc khá tốt nhằm ứng phó với môi trường tự nhiên
khắc nghiệt này. Và để ứng phó với cái nóng, các nhà
xây dựng đã phân chia công trình thành nhiều phần nhỏ, được
ngăn cách bởi các khoản sân trống. Các khoản sân trống
này giữ nhiệm vụ thông gió cho các phần bên trong công trình.
Từ đó, các kiểu nhà "bát dần", "nối đọi" hay "nối đọi
có sân tương"…được hình thành. Kiến trúc chùa Vĩnh Tràng
(Mỹ Tho) hoặc chùa Giác Lâm (Tp.HCM)… là các ví dụ điển
hình được xây dựng theo kiểu thức này. Kiến trúc có sân
trong (còn gọi là "sân tương" hay "patio") cũng ra đời từ
lý do đó.
Để
ứng phó với khí ẩm, việc thông gió cho công trình rất được
chú trọng. Cùng với việc tạo các khoản sân trống, mái
đình chùa thường rất cao, đầu tường xung quanh thường
được chừa thoáng, cửa "thượng song hạ bản" với nhiều
khe trống ở phần "thượng song"…là những vị trí tiếp
nhận tốt nhất luồng khí mát từ ngoài vào nội thất. Phần
"khu đĩ" (tam giác đầu hồi), vị trí cao nhất của mái nhà,
thường được chừa thoáng (chỉ che mưa) chứ ít khi người
ta bít kín. Dòng đối lưu không khí từ các khoản sân trống
đi vào công trình và thoát ra tại "khu đĩ" (từ dưới lên
trên) sẽ kéo theo nhiệt ẩm kể cả khói hương ra ngoài. Cấu
trúc các đình chùa xưa tại Nam bộ thường theo phương cách
này.
Để
ứng phó với mưa, những cơn mưa như "cầm tỉnh mà đổ",
người dân Nam bộ đã phải thay đổi cấu trúc mái nhà và
vật liệu lợp, tạo điều kiện cho lượng nước mưa ồ
ạt ấy thoát khỏi mái nhà nhanh nhất. Đó là một trong các
lý do quan trọng mà ngay từ thời kỳ đầu, ở Nam bộ, người
ta đã cho ra đời kiểu cấu trúc góc mái thẳng và sử dụng
ngói máng xối làm vật liệu lợp trong kiến trúc đình chùa
cũng như nhà ở. Và cũng để ứng phó với mưa dầm làm "mục"
các vách gỗ bao che bên ngoài công trình (vách "bổ kho" hay
"đố bản"), khi vừa mới tiếp cận với kỹ thuật xây dựng
hiện đại (hồ xi-măng), kết hợp với các vật liệu có
sẵn (cát sông, gạch đất nung), các nhà xây dựng đã dùng
"tường gạch" bao che bên ngoài công trình để ứng phó với
mưa nắng và chống mục.
Để
chống mục chân cột gỗ do ứ nước, đồng thời chống mối
mọt phá hoại (cách ẩm), các loại "tán đá" đã được sử
dụng. Đặc biệt, các hàng cột hiên tán đá có chân đế
rất cao (chẳng hạn như cột hàng hiên chùa Giác Viên - Tp.HCM).
Và cũng với cách ứng xử này, các mộ tháp sư tăng trong
các chùa tại Nam bộ thường có chân đế rất cao, có khi
đến hai tầng (như mộ tháp chùa Giác Viên - Tp.HCM). Để tránh
ứ nước khi mưa dầm, các tán đá thường không có lõm giữa
nơi tiếp xúc với chân cột. Lõm giữa này lẽ ra phải có
để tăng độ ổn định chân cột khi có chấn động do gió
bão, tránh chuyển vị tức thời; nhưng ở Nam bộ ít gió bão
mà lại mưa nhiều, lõm giữa tán đá được người ta bỏ
đi là do từ thực tế ấy.
Cũng
chính vì Nam bộ ít có gió bão, nên bộ khung sườn gỗ trong
kiến trúc đình chùa ở đây, do vậy, cũng thanh mảnh hơn
bộ khung sườn đình chùa ở Bắc bộ, nơi có nhiều gió bão
hàng năm. Bộ "dàn trò" đâm trính, "cột kê" không có "xuyên
lui" chống bão, chẳng có "chân ngạch cửa"…được sử dụng
phổ biến trong kiến trúc đình chùa Nam bộ, nhằm ứng xử
với đặc điểm môi trường tự nhiên ở đây.
Kể
từ buổi đầu, khi điều kiện giao thông còn rất khó khăn,
tại Nam bộ, người ta sử dụng giao thông đường thủy là
chính, phương tiện chuyên chở là ghe, thuyền, cộ, bè…,
nên vật liệu chuyên chở càng gọn càng tốt. Vì vậy, "gỗ
tròn" được chế tác thành "gỗ hộp" (tiết diện hình chữ
nhật hoặc vuông) để dễ chuyên chở và thu gọn thể tích.
Đó là một trong các lý do mà đa phần gỗ sử dụng trong
kiến trúc Nam bộ, trong đó có đình chùa, thường là gỗ
hộp.Gổ hộp còn có mặt tiếp xúc lớn nhất với thanh 'kèo"
và "rui" lợp ngói máng xối (không có "mè") nên ổn định
hơn khi tiếp xúc với mưa to. Vì vậy, tại Nam bộ, đòn tay
"tròn" đã được thay thế bằng đòn tay "hộp" trong kết cấu
bộ mái.
Đồng
thời, để ứng phó với môi trường tự nhiên thường thiếu
nước ngọt trong sáu tháng mùa nắng, nên người Nam bộ đã
sử dụng nhiều lu, vại, mái, khạp… hứng và trữ nước
mưa để sinh hoạt trong suốt mùa nắng nóng. Đối với đình
chùa, lượng nước ngọt cần rất nhiều cho sinh hoạt trong
mùa nắng, nhất là trong các dịp rằm, ngươn, lễ, tết. Lu,
vại… không đủ đáp ứng cho nhu cầu lớn lao này, chính
vì vậy, trong kiến trúc đình chùa Nam bộ xưa kia, hầu hết
đều có hồ chứa nước mưa rất lớn phục vụ cho thực
tế trên.
Ngoài
ra, hầu hết các đình chùa Nam bộ trước kia đều có rất
nhiều cây ăn quả ở quanh vườn. Ngoài việc có thêm vật
thực đáp ứng nhu cầu cúng lễ và tạo cảnh quan, cây xanh
trong khuôn viên đình chùa còn góp phần cải tạo vi khí hậu
tại khu vực, giảm bức xạ nhiệt, tạo cảm giác dễ chịu
(một trong các điều kiện cảnh quan) cho khách thập phương.
Và đó cũng là một cách ứng xử với môi trường tự nhiên
khá phổ biến của kiến trúc đình chùa ở Nam bộ.
Như
vậy, lối kiến trúc đình chùa ở Nam bộ, ngay trong bản thân
chúng, đã phản ánh rất rõ vai trò văn hóa ứng xử của
mình đối với môi trường tự nhiên.
Chú
thích:
(1).
Trần Văn Giàu, Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Tập
1, TP. HCM, 1987, trang 112
Sẽ
tổ chức một đại lễ Phật Đản
hoành
tráng
Đại
lễ Phật Đản là một trong những lễ hội tôn giáo lớn
của thế giới được Liên Hợp Quốc công nhận. Nhân kỷ
niệm Đại lễ Phật đản Phật lịch 2550, Liên Hợp Quốc
sẽ tổ chức đại lễ Phật Đản với quy mô hoành tráng
nhất từ trước đến nay tại Thái Lan, đất nước có lấy
Phật giáo làm quốc giáo. Với nước ta, ngày 10 tháng 3 vừa
qua, Trung ương GHPGVN đã ra thông bạch hướng dẫn tổ chức
đại lễ Phật đản năm nay, thông bạch do Hòa thượng Thích
Trí Tịnh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự ký.
Bản
thông bạch hướng dẫn về việc tổ chức đại lễ Phật
đản hoành tráng nhất trong 30 năm này, ngoài các hoạt động
kính mừng sự kiện trọng đại Đức Phật đản sinh như
thiết lập lễ đài, nghi lễ tưởng niệm và cầu nguyện
quốc thái dân an, các hoạt động văn hóa như triển lãm nghệ
thuật, biểu diễn, tọa đàm... đặc biệt năm nay, Trung
ương Giáo hội Phật giáo khuyến khích các cơ sở Phật giáo
tổ chức thiết lập mô hình vườn Lâm Tì Ni, thiết kế xe
hoa diễu hành vào hai ngày 14 và 15 tháng Tư âm lịch. Không
chỉ tại các cơ sở Phật giáo, Thông bạch năm nay còn khuyến
khích việc treo cờ Phật giáo, lồng đèn tại các tư gia Phật
tử...
Ngoài
các hoạt động mang ý nghĩa văn hóa và tôn giáo trên, bản
thông bạch còn khuyến khích các hoạt động từ thiện, nhằm
chia sẻ một cách thiết thực những khó khăn vật chất và
tinh thần của người có hoàn cảnh khó khăn trong niềm vui
đón mừng ngày đản sinh của Đức Phật.
Đúng
4 giờ sáng ngày 15 tháng Tư âm lịch, tất cả các cơ sở
Phật giáo cử ba hồi chuông trống Bát nhã kính rước Lễ
Đản sinh. Lễ chính thức được cử hành đồng loạt tại
các lễ đài chính trên cả nước vào lúc 6 giờ ngày Rằm
tháng Tư.
Theo
tinh thần của thông bạch, đại lễ Phật Đản năm nay sẽ
có quy mô và các loại hình hoạt động hoành tráng nhất trong
hơn 30 năm trở lại đây.
Bảo
tồn và phát huy
văn
hóa Phật giáo ở châu Á
Trần
Hồng Liên
Ra
đời tại Ấn Độ từ hơn 2500 năm trước, đạo Phật từ
lâu đã trở thành một tôn giáo mang tính thế giới, có một
vị trí hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh của
nhiều dân tộc. Do tính chất mềm dẽo, dễ thích nghi với
từng vùng văn hóa khác nhau, nên những nơi đạo Phật được
truyền đến đã hình thành trong nếp sinh hoạt của tín đồ
những nét văn hoá đặc thù, tạo cho Phật giáo ở từng quốc
gia một màu sắc riêng biệt và Phật giáo trên thế giới
có những sắc thái đa dạng, đặc biệt là tại các nước
châu Á.
1.Văn
hoá chùa tháp Phật giáo
Nói
đến văn hóa Phật giáo thì không thể bỏ qua một mảng chủ
đề quan trọng là nghệ thuật kiến trúc chùa tháp, đặc
biệt là tại các nước châu Á. Hàng ngàn di tích Phật giáo
qua nhiều thế kỷ đã trở thành di sản thế giới, như tháp
Sanchi, vườn Lâm Tỳ Ni, trụ đá do vua A Dục (Asoka) dựng
ở Tây nam Nepal, ghi dấu nơi Đức Phật ra đời… (Ấn Độ);
Angkor Wat, Angkor Thom (Campuchia; Borobudur (Indonesia), động Đôn
Hoàng, chùa Bạch Mã (Trung Quốc); Wat Phakeo, Wat Arun (Thái Lan);
That Luông (Lào); chùa Pháp Hưng (Hokoji), chùa Pháp Long (Horyuji)
- một kiến trúc gỗ cổ kính nhất thế giới còn tồn tại
ở Nara (Nhật Bản); khu di tích Phật giáo Đồng Dương; chùa
Trấn Quốc, chùa Kim Liên… (Việt Nam).
Bên
cạnh các kiến trúc chùa tháp, nghệ thuật Phật giáo châu
Á còn để lại một số lượng khổng lồ các pho tượng
Phật, Bồ tát, mà mỗi phong cách tạc tượng đều thể hiện
rõ đặc trưng tộc người của cư dân từng quốc gia ở châu
Á. Chẳng hạn, pho tượng Phật với tư thế đang đi, thuộc
phong cách Sukhothai (Thái Lan) thế kỷ 14; các pho tượng có
kích cở lớn, như tượng Tsukuba cao nhất thế giới (120 mét),
ở Tokyo (Nhật Bản); hay ở Tây Tạn hiện đang lưu giữ nền
nghệ thuật Phật giáo Mật tông (Lamaism), đặc biệt là với
hệ thống tranh Phật được vẽ trên tường từ thế kỷ
13, và hơn 8.000 báu vật của Phật giáo đã được trưng bày
vào năm 2000. Các ngôi tháp cổ ở Trung Quốc, như tháp Lôi
Phong, hiện đang lưu giữ tóc và xá lợi của Phật; hoặc
tại chùa Huê Lâm ở Quảng Châu hiện còn bảo lưu được
21 viên xá lợi Phật... Đó chính là những di sản văn hóa
tâm linh hết sức giá trị.
Tranh
và tượng của Phật giáo còn phong phú hơn nhiều qua khảo
sát của ngành Tiếu tượng học (Iconography), góp phần giới
thiệu nhiều tông phái Phật giáo với những nếp sinh hoạt
đặc thù của từng tông phái và các vùng miền văn hóa khác
nhau ở châu Á và trên khắp thế giới. Riêng Phật giáo ở
Tây Tạng và Mông Cổ lại còn góp phần giới thiệu một
phong cách đặc thù qua tên gọi Lạt Ma giáo (Lamaism). Theo truyền
thống này, Đức Đại Nhật Như Lai (Mahavairocana) được xem
là vị Phật trung tâm trong đồ hình Mạn Đà La, và đặc
biệt, họ còn giới thiệu nhiều dạng đặc thù của Bồ
tát Quán Thế Âm dưới hình ảnh muôn vẻ của Tara.
Kinh
sách Phật giáo là mảng văn hóa quan trọng, bao gồm cả Tam
tạng kinh điển (Tripitaka), góp phần giới thiệu tính đa dạng
văn hóa trong lĩnh vực này ở các nước châu Á. Có thể thấy,
từ hơn hai ngàn năm nay, kinh điển Phật giáo được lưu lại
dưới nhiều hình thức khác nhau: trên lá, trên đồng, trên
vải, trên đá, trên giấy… Ngoài hai ngôn ngữ chính là tiếng
Sanskrit và Pali, kinh điển Phật giáo đã được chuyển dịch
sang nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới.
2.
Văn hoá Phật trong đời sống cư dân Châu Á
Mục
đích cuối cùng của Phật giáo chính là sự giải thoát, và
hầu hết tín đồ Phật giáo không chỉ tin ở giáo lý mà
còn thực hành lời Đức Phật dạy ngay trong đời sống của
mình. Tư tưởng từ bi, bình đẳng, vị tha, tôn trọng sự
sống và yêu chuộng hoà bình… là những yếu tố tích cực,
giáo dục cho hàng tỷ tín đồ trên thế giới biết sống
vì mọi người, yêu chuộng hoà bình, tạo ra sự đoàn kết
trong mỗi quốc gia, tăng cường khối đoàn kết trong khu vực
và trên thế giới.
Sự
thực hành thiền định còn giúp cho mỗi cá nhân có được
sự điềm tĩnh, sáng suốt, góp phần có hiệu quả vào cả
lĩnh vực khoa học kỹ thuật, giúp con người tăng cường
sức khỏe và thể lực để có thể cống hiến tốt cho mọi
người xung quanh.
Văn
hoá Phật giáo còn giáo dục cho từng con người rèn luyện
một lối sống có đạo đức, biết hướng đến chân thiện
mỹ, không sử dụng bạo lực để chinh phục các quốc gia
khác, không gieo đau thương, thảm họa và tang tóc cho đồng
loại.
Các
tổ chức Phật giáo đã góp phần vào việc duy trì, phát huy
văn hoá Phật giáo thế giới. Hội Hữu Nghị Phật giáo Thế
giới ra đời cũng theo tinh thần này.
Tổ
chức “Phật tử Châu Á vì Hoà Bình” ra đời cách nay gần
40 năm, đã có những đóng góp quan trọng vào tiến trình gắn
kết các quốc gia ở châu Á theo đạo Phật thành một khối
đoàn kết, thống nhất. Trong dịp Đại hội Phật giáo Việt
Nam lần II (1987) Tổng thư ký của tổ chức này là Tiến sĩ
G.Lubsameren đã phát biểu:“Trong hiện tại, khi tình hình thế
giới đang tăng cường mức độ căng thẳng do âm mưu của
những thế lực độc ác, chúng ta, những người Phật tử
Châu Á, tập họp lại trong tổ chức ABCP, hãy tập trung mọi
cố gắng để thực hiện hoà bình và công lý ở châu Á và
trên thế giới”.
Ngoài
tổ chức chung cho toàn châu Á, trong mỗi quốc gia cũng đã
thiết lập các tổ chức riêng để đẩy mạnh hoạt động,
như Hội Ma Ha Bồ Đề (Maha Buddhi Society) ở Ấn Độ và Sri
Lanka, Hội Phụ nữ Phật giáo toàn Xây Lan (All Ceylon women’s
Buddhist Association), Giáo hội tín đồ Phật giáo Công chức
(Government and Local Government Buddhist Association), Hội Bình nghị
Phật giáo (The Buddha Sasana Council). Và các tổ chức này đã
có quy định chung về Điều lệ Phật giáo thế giới vào
năm1951.
Các
cuộc hội thảo quốc tế như: “Sự tham gia tích cực của
Phật tử vào phong trào chống chiến tranh, một trách nhiệm
đối với chánh pháp”, do trung tâm quốc gia ABCP Ấn Độ
tổ chức năm1984; hội thảo “Phật giáo và nền văn hóa
các dân tộc”, do chính phủ Ấn Độ tổ chức năm1984; hội
nghị “Tìm một nền đạo đức môi sinh”, do Phật giáo
Campuchia tổ chức năm1997… Và nhiều cuộc hội thảo quốc
tế với chủ đề Phật giáo khác, gồm có cả các nhà lãnh
đạo tôn giáo trong khu vực châu Á tham dự, được tổ chức
liên tục từ năm 2001 đến nay.
3.
Bảo tồn và phát huy giá trị của văn hóa Phật giáo tại
các nước châu Á và trên thế giới.
Văn
hoá Phật giáo trong quá trình phát triển đã để lại những
dấu ấn sâu đậm ở mỗi quốc gia, đặc biệt là các quốc
gia châu Á. Việc bảo tồn các giá trị văn hoá này hiện
đang là mối quan tâm đặc biệt không những của riêng Phật
giáo, của các quốc gia châu Á, mà của cả cộng đồng quốc
tế. Việc bảo tồn những di sản này những năm gần đây
càng được đặt ra một cách nghiêm túc hơn, nhất là sau
những biến động phá hủy các pho tượng Phật cổ rất có
giá trị ở Afghanistan. Mối quan hệ liên kết giữa các quốc
gia ở châu Á hoặc thuộc khu vực Đông nam Á thời gian gần
đây cho thấy, một khi trong từng nước có biến động, sẽ
kéo theo ảnh hưởng về nhiều mặt đến các nước khác.
Chính
vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn và phát
huy văn hoá Phật giáo ở châu Á cần thiết được triển
khai đồng bộ, bằng nhiều hình thức khả thi, đặc biệt
là thông qua các tổ chức đoàn thể Phật giáo. Những yếu
tố cấu thành nét riêng biệt, tạo nên tính đa dạng cho văn
hoá Phật giáo châu Á cần thiết được nhân rộng, thông
qua hội thảo, qua việc phát hành sách, báo… Đồng thời,
trên cơ sở đã có từ trước, hiện nay, cần thiết đẩy
mạnh mối liên kết giữa các quốc gia theo đạo Phật bằng
việc xích lại gần nhau hơn của các nhà hoạt động văn
hóa, các nhà nghiên cứu Phật học và cả các nhà khoa học.
Sự nhất trí cao trong hành động bảo tồn và phát huy văn
hóa Phật giáo sẽ tạo ra nhiều phương cách thực hiện với
nhiều hình thức đa dạng hơn. Đưa tinh thần giáo thuyết
của Phật giáo đi vào cuộc sống hiện thực, biến nó thành
hành động cụ thể, đó chính là bảo tồn và phát huy hữu
hiệu nhất văn hoá Phật giáo châu Á cũng như trên thế giơi.
BỒ
TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC
Phước
Cảnh
Đã
43 mùa sen đi qua, ngọn lửa và trái tim của Bồ tát Quảng
Đức vẫn còn sống mãi trong tâm thức những người con Phật.
Ngọn lửa Từ bi và Trái tim Bất diệt. Hầu như khắp các
tỉnh thành ở Nam bộ và Nam trung bộ đều có những con đường
được trang trọng mang tên ngài. Riêng tại Sài gòn, đường
Thích Quảng Đức hiện nằm trên địa bàn Quận Phú Nhuận,
nối liền đường Nguyễn Kiệm và Phan Đăng Lưu, ngang qua
trước chùa Quan Thế Âm, nơi cuối cùng ghi dấu bước chân
hành hóa của ngài.
Bồ
tát Thích Quảng Đức thế danh là Lâm Văn Tuất, sinh năm Đinh
dậu (1897) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn
Ninh, tỉnh Khánh Hòa, trong một gia đình nhiều đời tín Phật.
Năm lên 7 tuổi, ngài được song thân cho xuất gia với người
cậu ruột của mình là Hòa thượng Giải Nghĩa Hoằng Thâm.
Năm 15 tuổi thọ giới Sa-di, 20 tuổi thọ giới Tỳ-kheo, được
thầy đặt pháp danh là Thị Thủy, tự Hạnh Pháp, hiệu Quảng
Đức. Sau ngày Bổn sư viên tịch, ngài vào Núi Đất ở Ninh
Hòa nhập thất 3 năm, và về sau đã khai sơn tai ngọn núi
này một ngôi chùa có tên là Thiên Lộc.
Năm
1932, Hội An Nam Phật Học ra đời, Đại lão Hòa thượng Hải
Đức (Hòa thượng Phược Huệ) thân lâm đến vấn an và thỉnh
ngài đảm trách Chứng minh đạo sư Chi hội Phật học
Ninh Hòa, và 3 năm sau, ngài lại kiêm trách chức vụ Kiểm
tăng của Phật giáo tỉnh Khánh Hòa.
Năm
1948, ngài rời Khánh Hòa vân du hóa đạo khắp miền Nam, từ
Sài gòn - Gia Định cho đến Định Tường, Tây Ninh, Bà Rịa,
Hà Tiên..., đâu đâu cũng in dấu bước chân hành hóa của
ngài, có lúc ngài đã sang tận Nam Vang (Phnôm-pênh) để nghiên
cứu kinh điển Nam tạng và hướng dẫn kiều bào Phật tử
tu tập. Năm 1953, ngài được cung thỉnh giữ chức vụ Phó
Trị sự kiêm trưởng ban Nghi lễ của Giáo Hội Tăng Già Nam
Việt. Năm 1958, ngài xin thôi giữ mọi chức vụ để lui về
chuyên tâm tu tập, đặc biệt là chuyên tâm hành trì kinh Pháp
Hoa.
Pháp
nạn năm 1963 ập đến, Phật giáo nước nhà rơi vào cơn nguy
biến bởi chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ gia đình
trị Ngô Đình Diệm: loại ngày Phật Đản ra khỏi các ngày
nghỉ lễ chính thức trong năm (năm 1958), và đến mùa Phật
Đản năm 1963: triệt hạ cờ Phật giáo!
Tạithành
phố Huế, toàn thể Tăng ni Phật tử xuống đường biểu
tình, yêu cầu chính quyền thực thi chính sách bình đẳng
tôn giáo. Đêm mồng 8 tháng 5, tức đêm Phật Đản, như thường
lệ Phật tử từ khắp nơi đổ về Đài phát thanh Huế để
nghe phát lại chương trình Lễ Phật Đản, nhưng đợi mãi
vẫn bặt vô âm tín. Bất chợt, lựu đạn cay được ném
vào để giải tán đám đông, xe thiết giáp của quân đội
do Thiếu tá Đặng Sỹ, phó tỉnh trưởng phụ trách nội an,
lừ lừ tiến vào, cán bừa lên đám đông Phật tử. Máu của
tám em Đoàn sinh Phật tư, tám vị Thánh Tử Đạo đã đổ
xuống trước Đài phát thanh, thân thể các em bị giày xéo
dưới làn xích lạnh lùng của đoàn quân thiết giáp. Và sau
đó là một cuộc bố ráp, phong tỏa chùa chiền, bắt bớ
tra khảo Tăng ni Phật tử...
"Thầy
sẽ phải dấn thân thôi" - Bồ tát Quảng Đức nói với các
đệ tử. Vào giờ Ngọ ngày 20 tháng 4 (nhuận) năm Quý mão
(11-6-1963), giữa hai hàng Tăng ni Phật tử đang nhiễu hành
rước di ảnh tám vị Thánh Tử Đạo từ chùa Phật Bửu về
chùa Xá Lợi, khi ngang qua ngã tư Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt
(nay là ngã tư Nguyễn Đình Chiểu - CMT8), ngài đã âm thầm
tẩm xăng, bước xuống xe ngồi kiết già ngay giữa lòng đường,
mặt hướng về Tây, rồi...tự tay châm lửa. Ngọn lửa bùng
lên. Cao ngất. Ngài vẫn điềm nhiên ngồi quyết ấn Cam Lồ.
Hình ảnh ấy đã khiến cả nhân loại bàng hoàng. Những người
chứng kiến đều chấp tay quỳ cả xuống. Mọi cuồng vọng
đều phải giật mình...
Nhục
thân ngài tuy đã hóa thành tro, nhưng trái tim Bồ tát thì không
một ngọn lửa nào ở chốn trần thế này có thể thiêu cháy,
cho dù người ta đã thiêu lại nhiều lần với nhiệt độ
lên đến 4000oC: Quả Tim Bất Diệt!
Trong
bức tâm thư ngài để lại cho Tăng ni, Phật tử trước
lúc tự thiêu - Lời nguyện tâm quyết - lời đầu tiên là
cầu nguyện cho Tổng thống (người đứng đầu quốc gia)
được sáng suốt để lãnh đạo đất nước; lời cuối cùng
là cầu nguyện cho "đất nước thái bình, quốc dân an lạc..."
Lời cầu nguyện ấy tỏa rạng Từ bi, sáng ngời trí
tuệ. Trong suốt mấy nghìn năm hành trình cùng dân tộc, người
Phật tử Việt Nam, Phật giáo Việt Nam có mong mỏi gì hơn
ngoài ước nguyện ấy. Và đó cũng chính là tâm nguyện "chống
gậy Thiền trấn giữ kinh vua" mà Thiền sư Vạn Hạnh đã
hằng ấp ủ...
Cảm
niệm ân đức của ngài và nhìn lại lịch sử, tháng 5 năm
2005, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam tổ chức cuộc Hội
thảo với chủ đề: "Bồ tát Thích Quảng Đức vị pháp thiêu
thân", đã nhận được sự hưởng ứng rộng rải của các
bậc Tôn túc, các nhân sĩ trí thức cùng đông đảo Phật
tử trong và ngoài nước. Gần đây, chính quyền đã có quyết
định xây dựng Tượng đài để tôn vinh đức hy sinh vô úy
và phẩm hạnh cao cả của ngài. Từø đầu năm nay, Sở Văn
hóa thông tin TP.HCM đã kết hợp với Hội Mỹ thuật và Hội
Kiến trúc sư thành phố phát động cuộc thi sáng tác
mẫu Tượng đài Bồ tát Quảng Đức, nhằm chọn ra hình mẫu
ưu tú nhất, đặt tại nơi ngài đã ngồi tự thiêu (góc ngã
tư Nguyễn Đình Chiểu - CMT 8).
Phật
tử Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, đang ngày đêm hướng
về để cầu nguyện cho việc xây dựng Tượng đài Bồ tát
Quảng Đức sớm được thành tựu.
Thư
gởi các em Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Việt Nam:
Tuổi
trẻ Phật tử trước sự thách đố của thời đại
Nguyên
Thọ Trần Kiêm Đoàn
California,
Hoa Ky, ngày 18 tháng 6 năm 2006
Các
Em thân mến,
Anh
chọn đề tài cho thư nầy là Tuổi trẻ Phật tử trước
sự thách đố của thời đại. Đây là một đề tài quá
lớn, vì con người là sản phẩm của xã hội và thời đại,
trong khi khái niệm xã hội và thời đại có những phạm trù
hết sức bao quát. Trong thư nầy, anh chỉ giới hạn trong phạm
vị của tuổi trẻ Phật tử với khung cảnh của đất nước
mình mà thôi.
Với
tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ
như hiện nay thì lượng kiến thức khoa học kỹ thuật của
nhân loại, cứ mỗi mười năm lại tăng gấp đôi. Song
song với sự phát triển của tri thức là khối lượng và
chất lượng của sản phẩm kỹ nghệ sẽ tăng theo cùng tốc
độ. Hệ quả trực tiếp của những vụ mùa bội thu về
cả hai mặt tri thức lẫn vật chất là sự cạnh tranh ngày
càng gay gắt về thị trường tiêu thụ và nguồn cung ứng
tài nguyên. Sự cạnh tranh điển hình của thế kỷ 21 là tính
chất kinh tế thị trường toàn cầu. Tuổi trẻ Việt Nam,
nhất là tuổi trẻ đang ở quê nhà, phải trang bị cách nhìn
đất nước trong bối cảnh toàn cầu.
Tâm
lý làng trên xóm dưới giờ cần phải được mở rộng và
trang bị bằng tâm lý cộng đồng thế giới.
Riêng
đối với tuổi trẻ trong Gia Đình Phật Tử Việt Nam (GĐPTVN),
sự thách đố của thời đại càng lớn hơn vì trong cùng
một thời điểm, các em phải sống - nghĩa là phải suy tư
và hành xử - sao cho hòa điệu với cả hai nếp sống Đời
và Đạo. Với lịch sử lâu dài của GĐPTVN, tiếng tốt, tiếng
thơm của tổ chức được xây dựng nên bằng chính phẩm
chất và giá trị của thành viên chứ không phải bằng tên
gọi của tổ chức. Tổ chức GĐPTVN đã tồn tại, thử thách
và phát huy; được chư tôn đức trong hàng giáo phẩm, Phật
tử và đại chúng thương mến, dìu dắt và hỗ trợ. Tuy nhiên
nguồn mạch chính vẫn là nhờ lớp lớp huynh trưởng và đoàn
sinh qua nhiều thế hệ đã sống đời và sống đạo một
cách hài hòa, cao đẹp. Đạo pháp và dân tộc không tách rời
nhau trong vai trò của người Phật tử - người công dân giữa
cộng đồng dân tộc.
Hôm
nay, người Phật tử tuổi trẻ Việt Nam đang đứng trước
một thời đại mới. Đấy là giao điểm giữa tổ chức
GĐPT trong quan hệ địa phương, đất nước và toàn cầu.
Đưa ra một địa bàn không gian rộng lớn và bao quát như
thế hoàn toàn không mang tính cường điệu mà đấy là hiện
thực. Một bài báo, một quan điểm, một ý kiến cá nhân…
chỉ cách đây trên dưới mười năm thôi, phải qua nhiều
giai đoạn thư tín, gạn lọc, luân chuyển trong một khoảng
thời gian khá dài mới mong được công bố rộng rãi hay gửi
đi xa. Ngày nay, chỉ cần đưa lên email hay mạng lưới internet
và sau một cái bấm nút (click) nhẹ nhàng, nguồn thông tin
đó liền được chuyển đi khắp thế giới.
Gần
đây, một chương trình mới được áp dụng trong máy vi tính
để dịch từ chữ Hán qua chữ Việt nhanh như có phép “thần
thông biến hóa”. Tất cả 2372 bộ Kinh trong các tạng kinh
điển Phật giáo bằng chữ Hán được phiên dịch từ chữ
Hán qua Hán Việt và từ Hán Việt qua thuần Việt bằng máy
vi tính chỉ mất trong vòng 28 giờ. Để dịch các kinh như
A Di Đà, Dược Sư và Kim Cương…, chỉ mất 10 giây đồng
hồ. Các bộ kinh lớn như Hoa Nghiêm (80 quyển) dịch trong vòng
11 phút, bộ Đại Trí Độ Luận dịch trong 17 phút, bộ Đại
Bát Nhã (600 quyển) dịch mất 15 phút… Như thế, chỉ trong
vòng một ngày, máy móc đã làm thay một công việc mà con
người phải tốn cả trăm năm chưa làm xong. Những “phép
lạ” như thế đã không còn là phép lạ mà chỉ là chuyện
bình thường, nhất là trong những ngành công nghệ hiện đại.
Khi
nói đến sự thách thức của thời đại, người ta liên tưởng
ngay đến hình ảnh tiêu cực của kẻ thù, của bạo lực,
của những ác tính đang chực chờ hủy diệt con người yếu
đuối và bất hạnh. Tuy nhiên, sự thách đố của thời đại
mới rất tinh vi và bạo liệt; hay nói cách khác là bạo liệt
một cách tinh vi hơn. Nghĩa là sự thách thức không thô thiển,
không đe dọa, không biên cương, không hình tướng… như những
cuộc đua tranh trên các đấu trường thời quá khứ. Sự thách
thức hôm nay là một khuôn mặt vừa là kẻ thù lại vừa
là bạn. Nói một cách cụ thể hơn là thử lấy hoàn cảnh
của nước ta hiện nay làm thí dụ. Bây giờ là Mùa Phật
Đản 2550, năm 2006 Dương lịch. Chúng ta đang ở vào hoàn cảnh
kinh tế của vùng Ven Thái Bình Dương (Pacific Rim). Sự thách
thức đối với chúng ta hôm nay là cơ hội đồng đều so
với các nước trong vùng Đông nam châu Á về các lĩnh vực
kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, xã hội...
Trong khoảng trên dưới một thập niên nữa, khoảng mùa Phật
Đản năm 2016, khi tổng kết và so sánh thành quả của ta đạt
được so với các nước lân bang, sẽ thấy ngay chúng ta tiến
hay lùi theo cái tốc độ nào trong mối tương quan chung của
toàn vùng. Và cũng chính từ đó nhìn lại, chúng ta sẽ
thấy rõ mình đã làm được những gì hay chẳng làm được
gì cả để đương đầu và vượt qua những thách thức của
thời đại. Cái mô thức cổ điển nặng “khẩu nghiệp”
nói nhiều hơn làm và lối tự hào cục bộ “cha hát con khen”đã
trở thành quá khứ trong xã hội Âu Mỹ ngày nay. Sự
tiến bộ của cá nhân và xã hội được kiểm nghiệm
và đo lường bằng những tiêu chí cụ thể, khách quan.
Do đó, kiểu so sánh tùy hứng và sự thỏa mãn dễ dãi nhất
thời của tâm lý tiểu xảo và cung cách tiểu nông như so
sánh đơn phương nhà tranh với nhà ngói, làng trên với xóm
dưới, Hà Nội với Sài Gòn…, không có lý do tồn tại trong
một cơ chế thị trường toàn cầu mà tuổi trẻ Việt Nam
đang đi tới.
Thế
đó, sự thách thức đối với một đoàn sinh GĐPTVN hôm nay
không giống với sự thách thức đối với các anh chị cựu
huynh trưởng và đoàn sinh hơn 30 năm về trước. Sự thách
đố đối với tổ chức GĐPTVN đương đại lại càng mới
mẽ và phức tạp hơn thời trước. Một đoàn sinh không vượt
qua nổi sự thử thách sẽ xa đoàn và trong một tương lai
gần, sẽ không dám hay không muốn quay đầu nhìn lại tổ
ấm thân thương đầy kỷ niệm một thời của mình. Một
tổ chức GĐPT không vượt thử thách, nếu vẫn còn tồn tại
sẽ bị lão hóa và mất hết sự tươi mát, trẻ trung, nhiệt
thành cần thiết của tuổi trẻ Phật tử.
Các
em thân mến,
Qua
lá thư nầy, anh chỉ mới đặt ra những vấn đề của chúng
ta đang đối diện. Có những vấn đề thiết thân đang ở
ngay trước mắt. Nhưng cũng có những vấn đề đang còn ngoài
tầm tiếp cận của chúng ta. Trong khung cảnh quê nhà và trong
giới hạn của tuổi trẻ Phật tử Việt Nam, anh sẽ lần
lượt chia sẻ với các em 3 đối tượng thách đố gần nhất
của tập thể huynh trưởng và đoàn sinh GĐPTVN chúng ta: (1)
Đạo Phật trước sự thách đố của khoa học hiện đại;
(2) Tín tâm của người Phật tử trước sự thách đố của
tâm lý thị trường toàn cầu; (3) Đạo Phật là một triết
lý hay một tôn giáo?
Nội
dung thư sau anh sẽ cùng với các em chia sẻ và phân tích những
suy tư và quan điểm của mình dựa trên căn bản hiện thực
và những dữ kiện khách quan, khoa học. Thế hệ đàn anh,
dù ở đẳng cấp nào của xã hội, đều cần đến sự kế
thừa trong đức tin và văn hóa. Muốn có một sự kế thừa
trung thực và lành mạnh, thế hệ đàn anh phải biết lắng
nghe và trân trọng những ý kiến của thế hệ đàn em, cho
dẫu ý kiến đó là một sự phủ nhận có hệ thống và khoa
học những giá trị ngỡ như khuôn vàng thước ngọc làm nền
tảng trong một thời nào đó. Sự phủ nhận toàn triệt của
ngài Long Thọ trong hệ thống phủ định luận Bát Nhã đã
không làm cho triết học Phật giáo mất đi một mảy may tơ
hào nào cả; ngược lại, chính sự phủ định đó đã mở
toang cánh cửa cao viễn nhất để đi vào Tánh Không, trái
tim vĩnh hằng của đạo Phât. Chính Đức Phật đã dạy rằng:
“Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”. Bởi vậy, tuổi
trẻ các em trong thời đại khoa học kỹ thuật nầy không
những chỉ quan tâm mà còn phải có trách nhiệm tri thức,
nghĩa là cần phải đào sâu, phân tích để hiểu một cách
rạch ròi mọi hệ thống lý thuyết và mọi con đường mà
mình tin theo. Thái độ khoán trắng niềm tin là một sự dấn
thân tật nguyền, tuy rằng cĩ Bi, cĩ Dũng mà lại thiếu Trí
dẫn đường.
Anh
sẽ rất vui mừng khi nhận những ý kiến phản hồi của các
em trên diễn đàn nầy.
Trước
khi tạm ngưng thư nầy, anh muốn được chia sẻ với các em
một tin vui “nhỏ mà lớn” liên quan đến những hoạt động
văn hoá Phật giáo. Đó là buổi hội luận “liên lục
địa” đầu tiên của Tòa soạn Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo
tại Việt Nam và các Anh, Chị trong nhóm Thân hữu Cư sĩ ở
châu Âu và châu Mỹ trong ngày 17 tháng 3 năm 2006 (ở Việt
Nam là ngày 18). Giờ giấc khác nhau: 7 và 10 giờ tối ở châu
Mỹ; 4 giờ sáng ở châu Âu; 9 giờ sáng trước một ngày ở
Việt Nam. Tuy người ở Pháp, ở Đức chưa ăn sáng, kẻ ở
Mỹ chưa ăn tối, các vị ở Việt Nam chưa ăn trưa, nhưng
tấm lòng của người Phật tử trên khắp năm châu chỉ là
một. Cuôc hội luận diễn ra liên tục trên 2 giờ đồng hồ,
quanh chiếc “bàn tròn” mà mặt bàn là Thái Bình Dương,
Đại Tây Dương, châu Á, châu Âu và châu Mỹ. Quý thầy trong
toà soạn Văn hoá Phật giáo cùng các cư sĩ khắp các châu
lục đã chia sẻ tin tức Phật sự và thảo luận những dự
án sinh hoạt báo chí, nghệ thuật trong đề cương văn hóa
Phât giáo một cách tâm đắc.
Khi
thế giới nhỏ lại với phương tiện hiện đại của khoa
học kỹ thuật, những tấm lòng có chung lý tưởng phục vụ
dân tộc và đạo pháp sẽ có nhiều cơ duyên gần gũi với
nhau hơn. Ít ra, trước sự thách thức của hoàn cảnh
ngăn sông cách núi, chúng ta đã bắt đầu “nắm tay” nhau
đi tới. Sự thách đố của hoàn cảnh có chăng cũng chỉ
là bạn, chứ không phải là thù, khi từ trong sâu thẳm của
mỗi tấm lòng không còn cảm giác xa lạ, ngăn cách vì lòng
người ngại núi e sông, phải không các em?
Thương
mến chúc các em thân tâm thường hằng an lạc.
Chào
tinh tấn.
Tâm
Sự
Với
Một Người Thân Đã Chia Tay
Kỳ
cuối: Nghiệp và thời gian trong tranh Bửu Chỉ
Võ
Xuân Hân
Nghệ
thuật của Chỉ phong phú, đa dạng; ở đây tôi chỉ muốn
ghi lại vài nét chấm phá về cảm tưởng của mình nhìn từ
hai góc độ vô thường và nghiệp. Tôi đã nói qua về
góc độ vô thường; bây giờ tôi nhìn từ góc độ nghiệp.
Qua các tranh Chỉ đã cho tôi xem ở nhà riêng, tôi nhận thấy
Chỉ, cũng như Sơn trong âm nhạc, đã kiên trì trong việc đào
sâu về thân phận, về kiếp làm người với nhiều họa phẩm
tuyệt tác. Nhận thức của Chỉ về cuộc đời, trong
bối cảnh một nước và trên bình diện thế giới, đã tìm
đường lên khung vải, không chút do dự hay thắc mắc gì hết.
Yêu đời nồng nàn là một chuyện, nhưng cái cảm quan bén
nhạy của nghệ sĩ và trí thông minh cao độ trong người Chỉ
đã đưa Chỉ đến những nhận thức sâu sắc về cuộc đời.
Bàng bạc trong các bức sơn dầu là hai chủ đề về nghiệp
và thời gian. Một bức được Chỉ cho xem riêng mà tôi
rất thích và không biết bây giờ đang ở đâu, vẽ những
con người như những que củi khẳng khiu (dấu ấn của Chỉ)
đang bám quanh quả đất. Tôi hiểu ngay ý nghĩa, ngay cả
trước khi Chỉ giải thích về tác phẩm rằng “...thầy ạ,
người đời nó như thế, cứ bám vào đất mà sống.”
Bức nầy cũng thể hiện phần nào quan niệm về nhân sinh
thấy ở các bức khác mà tôi đã được xem, cái quan niệm
mà Chỉ có lần gọi là “une existence menacée” (một cuộc
sống bị đe dọa). Con người có hạnh phúc yêu đời
bám vào quả đất để sống là chuyện đã đành, nhưng con
người bất hạnh đau khổ cũng cố bám chặt vào quả đất
để sống, như vậy không phải “nghiệp” là gì, không phải
cộng nghiệp là gì? Một trong những cái hay của bức
tranh vừa nói là khi ngắm nó, tôi thấy có cả tôi trong đó,
chẳng đặng, chẳng đừng chi hết. Không giải thích
mà hiểu được nhau, đó mới là dấu hiệu của giây thông
cảm thiêng liêng giữa chúng ta, phải không Chỉ?
Trong
một bức tranh khác, mà có lẽ tôi và con trai tôi là trong
số những người đầu tiên được hân hạnh thưởng lãm
tại nhà riêng, Chỉ vẽ hình một tảng đá lớn có một góc
nhọn đang treo chênh vênh trên một sợi giây thừng bắc ngang
hai góc núi đá. Nhưng nếu nhìn kỹ, sợi giây thừng
là một con người khẳng khiu, hai tay bám vào một góc núi
bên này, hai chân bám vào một góc núi bên kia. Tôi nghi
rằng đây là một trong những bức thích ý nhất của tác
giả, đã được sáng tác không lâu đối với lúc bố con
tôi được xem (nay có in trong Tranh Bửu Chỉ, Nhà Xuất Bản
Trẻ, 2003, với nhan đề: “Không đề”). Mà cần chi
phải có nhan đề cho mệt, phải không Chỉ? Các tranh
của Chỉ tự chúng đã nói lên thấm thía cái thân phận làm
người bước cheo leo giữa không trung trên sợi giây trời.
Nay mỗi khi xem hình, ấn tượng đầu tiên của bức tranh đó
đối với tôi, từ kỹ thuật đến nội dung, vẫn còn đậm
nét như ngày nào.
Một
đề tài hấp dẫn khác của Chỉ mà tôi cũng rất thích là
ám ảnh về thời gian đã được thể hiện trong nhiều tác
phẩm qua hình cái đồng hồ có đủ kim ngắn và kim dài.
Nhưng cái kinh ngạc mạnh nhất cho người xem là những hình
người que củi, khi thì treo đứng vào kim đồng hồ bằng
một sợi giây thòng lọng buộc vào cổ, khi thì muốn chạy
trốn khỏi một chiếc đồng hồ, khi thì đội một chiếc
đồng hồ nằm trong một tảng đá, thân và đầu trịu xuống
dưới sức nặng của tảng đá, có khi đồng hồ nằm lấp
lửng trên mỏm đá nhọn, cũng có khi đồng hồ nằm trong
một tảng đá có chân đang chạy trốn, lại có ảnh vẽ đồng
hồ nằm trong một con mắt đang nhỏ lệ... Salvador Dalí
cũng có vẽ đồng hồ. Nhưng trong khi những cái đồng
hồ của Dalí mềm nhũn như chiếc bánh tráng (đa) mới hấp
để nói lên sự méo mó của thời gian, để gợi cái phi lý
của tư tưởng duy lý, để diễn đạt trạng thái mập mờ
nửa tỉnh nửa mê, nửa thực nửa mộng, cái đồng hồ của
Bửu Chỉ lại không siêu thực chút nào vì nó cụ thể, nó
chắc như cái chày vồ dã gạo. Nếu đồng hồ của Salvador
Dalí gây hoang mang, đồng hồ của Bửu Chỉ gây tỉnh thức,
là ngọn đèn pha rọi thẳng vào tính hữu hạn của đời
người, là nỗi bức xúc trước sự trói buộc của thời
gian, là điều kiện của nhân sinh. Trong thế giới tâm
tư và nghệ thuật của Bửu Chỉ, đồng hồ là phương tiện
để lột trần cái tương phản nhức nhối giữa đời người
ngắn ngủi với thời gian vô thủy vô chung. Và như thế
Bửu Chỉ đã dùng một ngôn từ đôi khi trắng trợn đến
sửng sốt, đến khó chịu.
Trong
một phương diện nào đó, cái kinh ngạc của Bửu Chỉ cũng
giống cái kinh ngạc của Bertolt Brecht. Một bên là hoạ
sĩ lớn của phương Đông (1948-2002), bên kia là nhà viết kịch
và dàn kịch lớn của phương Tây (1898–1956). Họ dùng
các phương tiện diễn đạt hoàn toàn khác nhau dĩ nhiên, nhưng
cùng có một chủ đích là đánh thức người xem. Trong
khi Brecht dùng những kỹ thuật của kịch nghệ có tác dụng
gây kinh ngạc (verfremdungseffekt), Chỉ dùng những hình ảnh
và màu sắc táo bạo để nhắc nhở người xem quay về thực
tại. Trong khi kịch của trường phái cổ điển Hy Lạp
(Aristote) nhằm làm cho người xem mê man hay đồng hoá với
các nhân vật trong vở kịch, Brecht làm ngược lại bằng cách
đưa ra những động tác hay cử chỉ lạ thường, lố lăng,
ngoài quy ước, nhiều khi không ăn khớp gì với tình tiết
của vở kịch, với mục đích gây ngạc nhiên để nhắc nhở
người xem rằng kịch là kịch—tức là biểu tượng của
thực tại—mà thực tại là thực tại, hai bên khác nhau.
Các kỹ thuật gây kinh ngạc của Brecht có các trường hợp
như diễn viên che miệng nói riêng với khán giả trong lúc
đang diễn kịch, hoặc cách xử dụng ánh sáng kỳ quặc, hoặc
đưa ra các bảng đã có viết chữ sẵn để gây sự chú ý
trong khi các diễn viên vẫn tiếp tục đóng kịch như không
có chuyện gì xẩy ra. Kịch cổ điển muốn làm cho người
nghe phải khóc với cái khóc, cười với cái cười của diễn
viên, nhưng Brecht cho như vậy là mê hoặc, là vong thân, là
điều cần phải tránh. Brecht muốn làm người xem tỉnh
táo, đứng ngoài cuộc để có thể sáng suốt mà nhận định
hay phán đoán, hơn là bị vở kịch hoàn toàn lôi cuốn.
Tóm lại, kịch cổ điển ru ngủ, trong khi kịch của Brecht
đánh thức.
Bertolt
Brecht có một người quen cùng gốc Đức mà sau này đã giúp
ông ta thoát khỏi Đức Quốc Xã là văn hào Hermann Hesse (1877–1962;
giải Nobel văn chương 1946). Năm 1922, Hesse cho ra đời
một tác phẩm lớn với tựa Siddhartha (Tất Đạt Đa) (Câu
Chuyện Giòng Sông, do Phùng Khánh, cố Ni Sư Thích Nữ Trí Hải,
và Phùng Thăng dịch). Đây là chuyện của một người
bất mãn với thực tại, trốn chạy thân tâm với ảo vọng
muốn đi tìm cái mình thật, tìm lẽ sống cho mình. Nhân
vật chính, Siddhartha, là một người đàn ông thuộc giòng
Bà La Môn sống cùng thời với Bụt, đã bỏ nhà ra đi để
tìm nguồn tâm linh của mình và sau khi trải qua nhiều kinh
nghiệm với đời sống tục lụy, từ khổ hạnh cho đến
trụy lạc, ông ta vẫn không thấy thoả mãn. Nhưng cuối
cùng Siddhartha ngộ chân lý bản lai diện mục, trở về với
thân tâm đích thực của mình khi về lại bên một giòng sông
hiền hòa, và cũng là giòng sông tâm linh, mà trước kia chàng
đã rời bỏ. Chân lý phải do tự mình khám phá lấy,
không ai truyền đạt cho mình được. Đó là một tuệ
giác của Đạo bụt, và Hesse, mặc dù không phải là Phật
tử, nhưng là người đã chịu khó tìm hiểu Ấn giáo và Phật
giáo trước khi viết chuyện nầy. Đến đây, tôi lại
nhớ một chuyện khác về Chỉ có liên quan đến phần tâm
linh và đạo Bụt. Chuyện xẩy ra trong lúc Chỉ và tôi
thăm xưởng vẽ của Hoàng Đăng Nhuận. Sau một hồi
xem tranh của Nhuận, tôi thấy Chỉ trèo lên một cái ghế
rồi dùng bút lông nắn nót vẽ lên tường chữ OM theo lối
viết của chữ Phạn. Dưới chữ OM đã có mấy câu niệm
về Đức Quán Thế Âm, phiên âm ra mẫu tự la tinh từ tiếng
Phạn và Tây Tạng, mà tôi đoán Chỉ đã viết từ trước.
Trong số đó, tôi chỉ nhớ được một câu nổi tiếng nhất,
Um Mani Padme Hum (phiên âm tiếng Việt: Úm Ma Ni Bát Minh
Hồng). Đây là lời cầu kinh linh thiêng và cô đọng
nhất đối với Phật giáo mật tông Tây Tạng. OM đây
cũng là âm thanh huyền bí phát xuất từ giòng sông đã thức
tỉnh Siddhartha trong câu chuyện bất hủ của Hermann Hesse.
Vậy ta thử hỏi Bertolt Brecht và Bửu Chỉ trong khi sáng tác
đã đến với tuệ giác đạo Bụt bằng cách nào? Nhờ
ở học vấn, kinh nghiệm bản thân, giáo dục gia đình, văn
hoá xã hội, tiền kiếp, hay tất cả các yếu tố đó?
Tôi
hãnh diện về đời Chỉ, từ tư duy đến hành động, từ
xã hội đến văn hóa. Tôi cảm kích về lòng yêu nước,
yêu nghệ thuật thiết tha ở Chỉ. Tôi thán phục tài
năng xuất chúng, pha lẫn với trí thông minh sắc bén cùng
sự cảm nhận thấm thía về đời người của Chỉ.
Có thể đây là một hiện tượng pha trộn khá hiếm hoi trong
ngành hội họa của thế giới. Tôi kính trọng lòng can
đảm và tư cách khẳng khái của Chỉ, một tư cách đã được
un đúc dưới mái ấm gia đình, dưới mái học đường, dưới
khí thiêng của đất thần kinh và thử thách bởi hoàn cảnh
đất nước. Tôi cảm ơn mối nhiệt tình đặc biệt
mà Chỉ đã dành cho tôi và gia đình tôi sau rất nhiều năm
xa cách. Và tôi cảm động, sung sướng khi nhận bức
tranh thêu mà các anh em cựu sinh viên trường Luật Huế, dĩ
nhiên có cả Chỉ, đã cho tôi trong chuyến hội ngộ không
quên trên sông Hương vào kỳ 97. Tranh cũng có cảnh sông
Hương và cầu Trường Tiền muôn thuở, phía dưới có ghi
hàng chữ: “Kính Tặng Thầy – Môn Sinh Trường Luật
Huế.” Tôi xem tranh nầy là một kỹ vật quý báu và
treo nó ngay ở phòng làm việc của mình. Những cử chỉ
rất đẹp của Chỉ cũng như các anh em khác là những hiện
thân của truyền thống cao quý nhất của đất Việt về tình
thầy trò, tình anh em, tình người, mà tôi thiết tha mong vẫn
còn tìm thấy ở quê mẹ trong tiến trình hiện đại hóa,
thị trường hóa ồ ạt ngày nay. Tôi rất quý các cảm
tình thắm thiết đó. Một xã hội cũng giống như hành
khách trên một chiếc thuyền (cộng nghiệp?). Nếu mất
neo, mất bánh lái, thuyền sẽ chơi vơi lạc hướng, mà một
cơn sóng lớn có thể đánh đắm dễ như chơi. Cũng như
thế, muốn xây nhà lên cao, thì trước hết nền móng phải
cho vững.
Trong
khi dạy học ở xã hội Tây phương, điều mất mát lớn nhất
đối với tôi là tình thầy trò, là nghĩa môn sinh rất đẹp
của Á Đông mình. Vì vậy, hơn lúc nào hết, trước
sự xâm nhập của toàn cầu hóa, tôi nghĩ rằng luân lý Đông
phương “tiên học lễ, hậu học văn” cần được cũng
cố ở học đường, truyền thống lễ nghĩa tốt đẹp cần
được chấn chỉnh trong xã hội ta ngày nay bằng mọi giá,
nếu ta muốn giữ gìn vốn đạo đức, nghĩa là giữ gìn cái
linh hồn của con người, linh hồn Việt Nam. Của cải
mất đi, còn tạo lại được, nhưng linh hồn một khi mất
đi là mất luôn. Có thể có người chê tôi là cổ hủ,
và tôi cũng đành chịu, nhưng qua kinh nghiệm, tôi nhận thấy
một xã hội dẫu giàu cho đến mấy về vật chất mà nghèo
về tình nghĩa và đạo đức thì vẫn còn nghèo, còn thiếu
thốn, vẫn nông cạn, vẫn không đạt được chân hạnh phúc.
Coi nhẹ tình nghĩa là một lổ hổng, một bài học quý giá
từ các xã hội Tây phương, là nơi đã đẩy nền kinh thị
trường và chủ nghĩa tư bản đến tột đỉnh, mà ta cần
phải chiêm nghiệm cho kỹ. Tiến bộ kinh tế và khoa học
giúp giải quyết tốt vấn đề thiếu thốn vật chất và
nâng cao đời sống người dân, đương nhiên là điều rất
cần thiết, nhưng sự thụt lùi về đạo lý có thể làm các
tiến bộ kinh tế phát sinh ra hoặc khuyếch đại những khủng
hoảng tinh thần, những đổ vỡ và thảm kịch. Nền
kinh tế cũng tựa như một chiếc xe chở hành khách. Máy
móc càng trơn tru, cản trở càng ít, thì hiệu năng càng cao,
nhiên liệu càng cần ít, xe càng khỏe, càng đi nhanh, càng
chở được nhiều người, nhưng muốn khỏi tai nạn, phải
có tài xế vững, có hành khách tốt biết suy nghĩ, có bộ
thắng tốt và hệ thống kiểm soát tốt. Suy rộng ra,
nếu nghĩ cho cùng, các giá trị đạo đức xử thế như nhân,
lễ, nghĩa, trí, tín, v.v. mà người ta thường gán cho ông
Khổng ông Mạnh, thật ra nó chỉ là những hạt cát nhỏ nhoi
trong bể pháp bao la và vi diệu của Như Lai, nó nằm ngay giữa
lòng đạo Bụt, gói ghém chỉ vỏn vẹn trong hai chữ Chánh
Niệm. Như Bụt đã dạy: hãy trở về với chân
tâm, hảy sống cho sâu sắc, hảy sống trong tỉnh thức, trong
chánh niệm. Hạnh phúc của ta và của người là một
chớ không bao giờ hai.
Về
mặt nghệ thuật, Chỉ đã điểm thêm các bông hoa tươi đẹp
cho vườn nhà tôi, cho vườn của đồng bào tôi, cho vườn
của đồng loại tôi. Cũng như Sơn, Chỉ đã để lại
cho đời một gia tài nghệ thuật tuyệt tác và súc tích.
Chỉ đã để lại một thế giới phong phú hơn, lung linh hơn,
đậm đà hơn, và dưới nhãn quan tôi, tỉnh táo và suy tư
hơn. Đó là trọng trách nhưng cũng là đặc quyền của
nghệ sĩ, một thứ đặc quyền mà tôi ganh tỵ. Ganh tỵ,
nhưng không vì vậy mà bớt lòng khâm phục và thương yêu
sâu xa của một người đã từng đóng vai hướng dẫn, rồi
sau đó trở thành một kẻ đồng hành.
Câu
nói “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” nghe
tuy nhàm tai nhưng đúng đối với trường hợp chúng ta.
Chúng ta có một số điểm dị biệt, và tôi rất tôn trọng
các quan điểm của Chỉ dẫu cho chúng không giống mình.
Nhưng chúng ta cũng là những lữ hành không dùn chân trên con
đường thiên lý mà trước mắt luôn luôn là chân trời của
chân thiện mỹ. Chúng ta phát xuất từ hai điểm khác
nhau, một bên làm nghệ thuật, một bên làm giáo dục và khoa
học, nhưng chúng ta cùng chia sẻ một mục tiêu hướng thượng,
cùng mong mỏi một ngày mai tươi sáng hơn; chúng ta muốn đem
tài mọn và hơi sức nhỏ nhoi của mình để bồi đắp, để
xây dựng. Như vậy đường đi chúng ta tuy khác nhau, nhưng
chúng song song với nhau. Nói theo nhà Phật, đời nầy
chúng ta đến với nhau, đem lại niềm vui cho nhau chắc nhờ
đã tu hành nhiều kiếp, nhờ cơ duyên tốt từ đời trước.
Đường đi của Chỉ tuy không trọn vẹn nhưng đã đem lại
cho đời tôi một nguồn hạnh phúc trong sáng. Bấy nhiêu
đó cũng đủ cho tôi niềm an ủi dù rằng hôm nay, trên đường
đi của mình, nhìn sang bên cạnh, tôi mủi lòng không còn thấy
Chỉ nữa.
Thôi
ta đành hẹn cơ duyên khác...