.
.SỐ 15 -THÁNG 4, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
 
SỐ 15-THÁNG 4, 2006

 

 


AI NÓI CƯỜI TRONG MÂY BIẾC
Nhật Chiêu

Dường như vũ trụ thức giấc trong đôi mắt của thi ca. Dường như biển xanh đang trải mình trong đôi mắt phóng màu xanh vô tận. Đó là đôi mắt đang ôm choàng thế giới, ôm choàng ánh sáng. Và thấp thoáng trong gió mây Yên Tử là trăng sao, là mặt trời, là thiền sư, là thi sĩ, là rừng trúc, là hồn hoa, là tiếng chim, là tiếng suối… Có tiếng cười trong mây biếc… 

Thấp thoáng trong gió mây Yên Tử, vầng trăng khuyết vẫn óng ánh, như một nụ cười trôi.
Đêm trên chùa Hoa Yên. Đêm thiêng. Tiếng suối Ngự Dội rì rầm. Hơi thở của rừng ngan ngát hương. Ngàn trúc lao xao gió.
Cây đại cổ xưa ngàn năm tuổi vẫn còn đứng bên vách núi, vẫn nở những chùm hoa trắng, vẫn nhớ mong cánh hạc vừa bay qua trong ánh hoàng hôn.
Đêm thiêng Yên Tử. Tôi nhớ người xưa quá. Nhân Tông, Anh Tông, Huyền Quang, Nguyễn Trãi…
Đi trong rừng trúc, thương nhớ người xưa. Cảnh đêm Yên Tử thiền vị và thi vị.
Tôi nhớ cuộc leo núi ban ngày và tôi chờ ban mai. Trong khuất tịch non cao, tiếng chim đêm kêu như rót thơ và hồn hoa như bay lượn trong gió.
Đêm nay tôi hiểu ra rằng tại sao Hải Lượng Thiền sư Ngô Thời Nhiệm bảo hồn hoa không phải là hoa cũng như thân chim chẳng phải là chim (Điểu thân phi điểu, hoa hồn phi hoa).
Đêm nay, trên Yên Tử, tôi nhìn thấy cái vô hình là hữu hình, vĩnh cửu là phù vân.
Tôi nghe rõ tiếng cười nói của những bậc thầy tôi yêu. Ôi Trúc Lâm! Ôi Ức Trai! Tiếng cười của họ vang trong mây gió. 
Đợi trời ửng hồng, tôi trèo lên một bờ đá phẳng, nhìn xuống biển xa xanh.
Một cây lau trắng đơn độc đứng đó trước tôi và đứng cao hơn tôi, đong đưa trong gió tinh mơ.
Mây trắng và sương mờ dìu nhau bay trong không gian phớt hồng hư ảo, thấm ướt những giọt ánh sáng li ti.
Những đỉnh núi xa từ từ hiện lên, chập chờn biêng biếc.
Những áng thơ xưa in bóng Yên Tử cũng bay về. Nguyễn Trãi từng qua đây và đề thơ chùa Hoa Yên:
Yên Sơn sơn thượng tối cao phong
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung…
                      (Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự)
Nắng lên. Không gian như nở ra ánh sáng. Dường như, trên Yên Tử bạn có thể nhìn thấy toàn thể vũ trụ, nhìn thấy tận cùng vụ trụ. Trời hồng hồng, biển xanh lấp lánh bạc. Có nghe thấy tiếng gì trong mây biếc kia không? Tiếng ai cười nói đấy?
Hay tiếng cười của chính Ức Trai?
Trong nắng ban mai, tôi táo bạo chuyển ngữ vần thơ của người:
Nơi đỉnh non Yên cao ngất
Mới tinh mơ đã ửng trời
Mắt nhìn vũ trụ xanh khơi
Có tiếng cười trong mây biếc…
Yên Sơn sơn thượng tối cao phong
Trên núi Yên Tử nơi đỉnh cao nhất. Yên Tử linh thiêng không phải vì là đỉnh núi tuyệt cao.
Dù rất ngoạn mục, núi cũng chỉ có độ cao hơn một ngàn thước (1.068m).
Cái cao ngất của núi Yên Tử là độ cao không nơi nào có, là độ cao của “Núi vua hóa Phật”.
Đó là độ cao tâm linh.
Đó là độ cao mà Trúc Lâm (vua Trần Nhân Tông) nói tới trong bài ca Được Thú Lâm Tuyền Thành Đạo:
Khuất tịch non cao
Náu mình sơn dã…
Thanh nhàn vô sự
Quét tước đài hoa…
Niềm lòng vằng vặc
Giác tánh quang quang
Trần duyên rũ hết
Thị phi chẳng hề…
Vì vậy ai cũng có một đỉnh non Yên, một đỉnh non Thiêng để mà lên.
Trong bài Vân Tiêu Am, vua Trần Nhân Tông miêu tả núi Yên như sau:
Đình đình bảo cái cao ma vân
Kim tiên cung khuyết vô phàm trần…
(Lộng cao sừng sững chạm mây
Cung tiên kỳ diệu nào dây bụi trần…)
Núi Yên, đó lá cõi ánh sáng, là nơi tâm vằng vặc, là nơi tánh sáng ngời.
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vừa mới canh  năm trời đã ửng hồng. Aùnh sáng vừa mới toả đã lập tức chạm vào Yên Tử. Như thể mặt trời mọc là mọc từ núi thiêng, là mọc cho núi thiêng.
Nhật nguyệt như thay nhau soi chiếu Yên Tử.
Cũng trong bài Vân Tiêu Am, Nhân Tông đã hình dung ba điều kỳ tuyệt:
Thanh phong táp địa vô hưu yết
Minh nguyệt đương không kiểu băng tuyết
Thử phong, thử nguyệt dữ thử nhân
Hợp thành thiên hạ tam kỳ tuyệt.
(Gió bay trên đất vô ngần
Trăng lơ lững sáng một vừng tuyết phơi
Gió, trăng cùng ở bên người
Hợp nên tam tuyệt dưới trời là đây).
Có thể hiểu rộng ra, ba điều kỳ tuyệt ở dưới trời là ánh sáng, gió và con người đều đầy đủ ở đây.
Ba điều kỳ tuyệt cũng là ba điều thiêng liêng: sự soi chiếu của ánh sáng, cái tự do của gió và cái tâm tỏ ngộ của con người.
Yên Tử được bọc trong ánh sáng của Mặt Trời Phật và Mặt Trăng Phật, trong ánh bạc lung linh của trăng và ánh hồng óng ả của mặt trời.
Đấy cũng là ngày đối diện Phật, đêm đối diện Phật.
Đấy là ánh sáng của bất sinh bất diệt, ánh sáng của chư Phật hiện tiền.
Còn nhớ câu chuyện Trúc Lâm thị tịch ở am Ngọa Vân. Khi Bảo Sát đến am, Nhân Tông mỉm cười mà bảo:
- Sao đến muộn thế, ta sắp đi đây. Pháp gì chưa rõ thì hỏi đi.
Bảo Sát bèn hỏi:
- Khi Mã Tổ bệnh, vị viện chủ mới hỏi rằng: “Gần đây Tôn đức thế nào?” và Mã Tổ đã đáp “Ngày đối diện Phật, đêm đối diện Phật”. Là ý thế nào?
Trúc Lâm lớn tiếng đáp:
- Ngũ đế, Tam hoàng là vật gì?
Sau đó, đến ngày mùng một tháng mười một, vào nửa đêm, trời trong sao sáng, Trúc Lâm nói:
- Đến giờ ta đi
Bảo Sát hỏi:
- Tôn đức đi đâu bây giờ?
Trúc Lâm nói:
- … Chư Phật thường hiện tiền,
            Nào có đi hay đến.
Rồi người ngồi theo kiểu sư tử tọa mà hóa.
Trúc Lâm lặng lẽ ra đi trong ánh sao mai sáng rực, trong ánh hồng đang tỏa lan trên đỉnh non Yên.
Đó chính là ánh hồng mà nguyễn Trãi nhìn thấy khi đứng trên Yên Tử. Mới tinh mơ đã ửng trời.
Aùnh hồng mọc trên núi thiêng. Một cảnh tượng siêu phàm như thể chỉ có ở cung Tiên.
Và bắt chước người xưa, tôi cũng đứng trên non Yên mà ngắm bầu trời đang ửng sắc hồng.
Giữa khuất tịch non cao, tôi cảm thấy từng tia sáng mát lạnh kỳ diệu chạm vào người.
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Ta nhìn vũ trụ đến tận cùng biển xanh. Đôi mắt Ức Trai như bao trùm vũ trụ. Dường như vũ trụ thức giấc trong đôi mắt của thi ca. Dường như biển xanh đang trải mình trong mắt xanh, trong đôi mắt phóng màu xanh vô tận.
Đó là đôi mắt đang ôm choàng thế giới, ôm choàng ánh sáng.
Thi hào Bashô Nhật Bản cũng nhìn biển như thế:
Ôi biển hoang vu
Ngân hà vươn trải
Trên đảo Sado.
(Ara umi ya
Sado ni yokotau
Ama no gawa).
Bashô miêu tả: “Trước mắt tôi là biển động hoang vu, muôn trùng sóng gió, bên trời xa kia là đảo Sado. Giải ngân hà óng ánh sẽ nối liền đảo với bầu trời đêm…”.
Cứ thế, đôi mắt người và biển và trời nối liền nhau. Không có trong và ngoài. Không có hữu hạn và vô hạn.
Biển, ngân hà và đảo Sado của Bashô.
Biển, mặt trời và núi Yên Tử của Nguyễn Trãi.
Cả hai đều là thi ca trong ý nghĩa sâu thẳm nhất: ôm cả thế giới vào lòng, vào cái tâm của ánh sáng. Mắt nhìn vũ trụ xanh khơi.
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung
Trong làn mây biếc có tiếng người cười nói. Câu thơ lạ thường này kéo mây biếc vào cõi nhân gian.
Trong mây biếc có “người” (nhân) chứ không phải thần tiên nào.
Tiếng nói cười của người vang lừng trong mây biếc. Mây bay trên núi Yên như bay bên cạnh con người. Con người đi trong mây nói cười tự tại.
Như Nguyễn Khuyến nói:
Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá
Sư cụ nằm chung với khói mây…
Người và mây cùng nằm, cùng trôi, cùng nói cười trong một thế giới vô sai biệt.
Thấp thoáng trong gió mây Yên Tử là trăng sao, là mặt trời, là thiền sư, là thi sĩ, là rừng trúc, là hồn hoa, là tiếng chim, là tiếng suối… Là tiếng nói cười xôn xao mà cũng là niềm tịch lặng linh thiêng. 
Có tiếng cười trong mây biếc. Đó chính là tiếng cười trong mắt xanh ta, tiếng cười trong cõi vô tâm.

THƠ
Thu Nguyệt

Quen

Núi xa rừng lại càng xa
Chỉ còn có phố và ta rất quèn.

Nỗi buồn lẩn quẩn rất quen
Nụ cười lạ hoắc bon chen đầy đường
Ngày dài suông thiệt là suông
Đêm dài trắng vậy mà dường như đen.

Nhón tay khêu lại chút đèn
Tàn tro rớt xuống thấy quen lạ lùng!
Rõ rồi cát bụi hư không
Biết rồi mà lối đi vòng vẫn đi.
 

Giật mình

Hình như  nhân loại quá buồn
Ai cũng tiến tới mà luôn thụt lùi.

Hay cười trước cái không vui
Luôn thấy lợi trước thiệt thòi người dưng
Đảo điên vì thứ không cần
Tự tin đánh mất dần dần niềm tin
Cái TÔI  ảo tưởng tôn vinh
Chữ Nhân mỏng dính, chữ Tình rỗng suông.

Hình như thiên hạ quá buồn
Ai cũng tiến tới mà luôn thụt lùi.

!

Ta sống thật mà buồn như sống giả
Tim đập gần mà máu chảy đâu xa
Lòng như thể đám mây vừa rớt sạch
Mà gió còn tầm tã quất quanh ta!
 
 



Tản mạn về 
NỤ CƯỜI CỦA CÁC THIỀN SƯ
Thích Phước Đạt

Hạnh phúc thường được biểu lộ bằng nụ cười. Trong cuộc sống đầy biến động này, con nguời luôn khát khao hạnh phúc sẽ đến với chính mình, với mọi người. Cũng vậy, các thiền sư trong quá trình học đạo, hành đạo, chứng đạo đã từng mỉm cười để biểu đạt sự hỷ lạc, đó là nụ cười được xuất phát từ trong nội tâm khi các ngài đã an trú và liễu ngộ các pháp. 

Thực tế, mọi người cũng từng có nhiều lúc nở nụ cười, nhưng niềm vui đó không có giá trị bền vững, dài lâu. Đó là niềm vui của sự thỏa mãn lòng ham muốn khi sáu căn tiếp xúc sáu trần. Đức Phật dạy: “Các dục vui ít, khổ nhiều, và làm cho nguy hiểm càng nhiều hơn”. 

Chính lẽ đó, trong hội Linh Sơn khi Đức Phật đưa một nhánh hoa đưa lên trước đại chúng, mọi người đều im lặng, chỉ có tôn giả Ca Diếp mỉm cười. Nụ cười này đã làm hoan hỷ toàn thể Pháp hội, và Đức Thế Tôn đã hoan hỷ trao lời phó chúc: “Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo, nay trao truyền cho Ma ha Ca Diếp”.

Âm vang nụ cười ấy đã đi vào lịch sử, và các Thiền sư sau này cũng đã thể nghiệm nụ cười sâu lắng ở khắp nơi, từ thiền đường trang nghiêm cho đến đồng hoang cỏ nội, hay thành thị huyến náo trước cuộc hành trình dạo chơi sinh tử.

Tương truyền, sư Thủy Lạo đến tham vấn Mã Tổ (709 – 788), vừa hỏi về ý nghĩa đông du của Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma liền bị Mã Tổ giáng cho một đạp khiến sư té nhào. Đang từ từ bò dậy, sư hoát nhiên đại ngộ, vỗ tay cười ha hả. Từ đó về sau, sư thường khoe:“Từ khi ăn cái đạp của Mã Tổ về sau lão tăng cứ cười mãi không thôi”. Chưa hết, chúng ta còn được tiếp nhận nụ cười giác ngộ của sư Bách Trượng Hòai Hải (724 – 814) khi theo hầu sư Mã Tổ, giữa không gian bao la chợt gặp bầy vịt trời bay ngang, Mã Tổ hỏi:

- Có cái gì vậy?
- Thưa, bầy vịt trời.
- Đi đâu vậy?
- Thưa bay qua!

Mã Tổ quay đầu lại, nắm mũi sư vặn mạnh. Đau quá, sư la lên. Tổ nói:
- Sao không nói bay qua nữa đi!

Sư bèn tỉnh ngộ và khóc nức nở. Huynh đệ dỗ dành mãi, nhưng sư không nín. Có người trình Mã Tổ:
- Hoài Hải chẳng rõ vì sao đi dạo và cứ nằm khóc mãi?

Mã Tổ đáp:
- Hắn ta ngộ rồi đó!

Người huynh đệ trở về phòng thuật lại lời Tổ cho sư hay, sư bật cười ha hả. Mọi người ngạc nhiên, sư bình thản trả lời: “Hồi nãy khóc, bây giờ thì cười”.

Rõ ràng, các thiền sư đã hoát nhiên đại ngộ và biểu lộ sự chứng đạt với niềm vui hỷ lạc vô tận bằng những tiếng cười sảng khoái, vô tư, tự tại bất hủ giữa trời xanh, giữa chim bay cá lặn và hoa nở bên đường. Thú vị hơn nữa là chính các thiền sư còn “ngẫu hứng qua cầu” dùng tiếng cười thay cho lời thuyết giảng để khai thị tâm thức cho các thiền sinh. Thiền sư Phương Hội (? – 1054) ở Dương Kỳ là thí dụ điển hình. Một hôm sư thượng đường và ngồi lặng thinh. Giây lâu, sư phá lên cười ha hả. Tăng chúng ngạc nhiên, sư bảo: “Cái gì vậy? Thôi trở về trai đường uống trà đi”. Thiền sư Tùng 

Thẩm (778 – 897) ở Triệu Châu lại thường dùng tiếng cười để thay cho lời đáp mỗi khi có môn đồ đến hỏi. Một hôm có ni cô đến hỏi:
- Lìa hết những những gì đã nói từ trước đến nay, xin Hòa thượng chỉ dạy, sư hét lớn:
- Nướng hư cái bình sắt của người ta!
Ni cô đem bình sắt đi châm nước xong, thưa:
- Thỉnh Hòa thượng đáp câu hỏi. Sư bật cười. 

Dạo khác, có vị tăng đến hỏi:
- Pháp thân vô vi, không rơi vào các lòai, lại cho nói hay không? 
- Làm sao nói.
- Tức là không nói. 

Sư cũng bật cười. Thiền sư là thế. Bất cứ điều gì, kể cả nụ cười cũng khai thị được tâm thức người học trò. Thậm chí ngay cả trước bến bờ sinh tử, các thiền sư vẫn nở nụ cười, vẫn rong chơi giữa cuộc đời với lòng an nhiên tự tại. Theo thiền sử ghi lại thì vua Đường Hiển Tông rất ngưỡng mộ danh sư Vô Nghiệp (760-821) đã cử sứ giả nhiều lần đến thỉnh sư, nhưng lần nào sư cũng cáo bệnh từ chối. Lần cuối, sứ giả nài nỉ mãi, sư biết không thể từ chối nên sư mỉm cười bảo: 

- Lão tăng đức độ gì mà làm phiền thí chủ thế. Thôi quý vị về trước, lão tăng sẽ đi đường riêng!

Sứ giả hớn hở quay về báo tin. Sư liền đi tắm gội, từ biệt đồ chúng an nhiên thị tịch. Thiền sư Phật án (?-1908) cũng thế, trong lúc cùng khách đàm đạo, chợt nghe tin có người ngộ đạo, thiền sư liền cười một cái rồi thị tịch. Thiền sư Giới Không thời Lý Thần Tông (1128-1138) sau khi nói bài kệ dạy đồ chúng xong liền cười lớn một tiếng và thị tịch. Xem ra, chuyện sinh tử đối với các ngài chẳng có nghĩa lý gìõ: “Sinh tử chỉ là được mất/ Nếu cho sinh tử khác đường/ Lừa cả Thích Ca, Di Lặc/ Nếu biết sinh tử, sinh tử/ Mới hiểu lão tăng chỗ nào” (Sinh tử chỉ thị đắc thất, Nhược ngôn sinh tử di đồ, Trám khước Thích Ca Di Lặc, Nhược tri sinh tử sinh tử, Phương hội lão tăng xứ nặc). Tuệ Trung Thượng sĩ cũng xem sinh tử là chuyện nhàn "sinh tử nhàn nhi nhĩ”. Có gì phải nói đâu chứ, cười cũng là đủ rồi. Vấn đề là làm thế nào thoát ly sinh tử, tự tại ngay trong cõi đời đầy những mối ràng buộc này.

Một vòng hành hương
Trần Bỉ Ngạn

Hà Nội
Cội nguồn đâu, một Thăng Long
Mùi hương trong phố ngàn năm xưa về.

Quảng Trị
Năm nao nổi sóng đất bằng
Xô vào lịch sử cội nguồn muôn sau.

Huế
Núi xanh mơ tới mấy trời
Sông Hương vẫn chảy một ngày thiên thu.

Nha Trang
Mưa ngoài biển Bắc đêm qua
Sáng nay phố thị sáng lòa Nha Trang.

Đà Lạt
Mộng đầu ủ nắng trong cây
Ủ mây trong nước cho ngày rộng thênh.

Sài Gòn
Trăm đường đổ lại Sài Gòn
Mở ra lòng Thái Bình Dương muôn bề.

Miền Đông
Chôm chôm, măng cụt, sầu riêng...
Món quà của đất lấp miền hồng hoang.

Miền Tây
Về đây đất mở bao la
Hồn Tây Tạng hóa phù sa tặng người...


Hoa cỏ gởi đến bạn

Bạn thân mến, 

Cuộc sống phần nhiều là không như ý. Ngày xưa tôi đã không tin vào điều đó. Gần đây tôi mới ngẫm ra và nhận thấy điều đó với cái thấy của mình. Đôi khi thôi.  Thì ra, chân lý và cuộc sống thường đơn giản. Lời dạy của các bậc Thầy cũng thường giản dị, nhưng chính mình đã cố ném những điều giản dị ấy vào nhưng mê cung, ma trận của lý luận. Có khi choàng lên nó những chiếc áo, cả chiếc hoàng bào, để cho sang. Nói chung, sống thì giản dị mà lý luận thì đa đoan trăm bề. Khi chúng ta lấy lý luận để mà đối xử nhau thì buồn lắm. Tôi cũng đã tự đặt nhiều câu hỏi cho mình, nhưng chẳng có một câu trả lời nào là của tôi cả. 

Tôi trả lời theo, theo nhiều cách khác nhau.

Luân hồi là thế. 

Nhiều lúc tôi vẫn nghĩ, cũng là nghĩ theo mà thôi, quá nhiều bất trắc trong các cuộc hành trình. Tôi cũng đã từng băn khoăn, nhưng rồi điều giản dị nhất mà tôi nhận ra là mình chấp nhận cuộc sống, nhìn nhận và cố gắng nhìn nhận nó, qua thân và tâm mình trước hết, qua những tâm niệm đầy tính lắt léo và lươn lẹo mà động cơ là từ cái tham, cái sân, cái si; và không phải lúc nào tôi cũng có thể thành thực với tôi, thành thực chấp nhận hành động đó là do tham, do sân...

Bạn ơi,

Từ lúc tập nhìn mình như thế, thực ra là không phải nhìn một cái mình nào đâu, mà nhìn những niệm điêu ngoa và lắm lời lươn lẹo hiện hữu, tôi cũng thấy mình đỡ lý luận và dễ chịu hơn, bớt sự vùng vằng hơn, tôi nghĩ cũng giảm đi cái sự ác... Ít ra là tôi thấy tôi dễ thở hơn rất nhiều.

Bạn thân mến,

Cuộc sống không cắt nghĩa được. Chúng ta chỉ cắt nghĩa (qua lý luận) cái nghiệp chung của chúng ta. Cái mà chúng ta nên làm, theo tôi nghĩ thôi, cũng chính là việc làm với cái gọi là bản thân mình, ngày đêm, vì ta chung đụng với nó nhiều nhất. Còn những chuyện khác, tự khắc sẽ như thế, như thế, theo một cơ chế tự điều chỉnh...

Nói vậy không phải là phó mặc mọi sự. Ta vẫn làm một cách sống chết đó thôi, nhưng được cái, mọi sự cũng có phần qua đi mỗi khi có được sự thành, bại, được, mất...

Một chút hoa cỏ gởi đến bạn. Mong bạn luôn vui tươi!

Vi Thảo


Nghĩ về người thầy giáo 
 trong sự nghiệp chấn hưng giáo dục ở nước ta
Trần Chung Ngọc

 Đức Phật đã dạy một người dân thường tên là Dighajanu rằng có bốn điều kiện đưa đến hạnh phúc cho con người ở trên cõi đời: Thứ nhất: chăm chỉ, cố gắng đạt tới "nhất nghệ tinh nhất thân vinh"; Thứ nhì : phải bảo vệ tài sản kiếm được một cách chính đáng bằng mồ hôi, nước mắt; Thứ ba: kết bạn với các thiện tri thức, nghĩa là những người đạo đức, học rộng biết nhiều, phóng khoáng và thông minh, để giúp mình tiến bộ trên Chánh đạo, xa lánh ác nghiệp; và Thứ tư: tiêu pha trong khả năng và dành một phần cho những việc thiện, không bần tiện mà cũng không hoang phí.

 Sau đó Đức Phật nêu ra 4 đức tính đưa đến hạnh phúc trong tương lai của con người, và đây mới là những mối "phúc thật" chính tông: 

(l)  Phải có lòng tin vào những giá trị đạo đức, tinh thần và trí thức (Saddha); 
(2) Phải giữ năm giới căn bản của Phật tử (Sila); 
(3) Thực hành hạnh bố thí, lòng quảng đại, không bám chặt vào của cải (Caga); (4) Phát triển trí tuệ trên con đường diệt khổ, nhằm cứu cánh Niết Bàn (Panna). 

Chúng ta thấy rằng, giáo lý của Đức Phật nhằm tạo ra sự ổn định kinh tế gia đình và từ đó, đưa đến sự ổn định và phát triển kinh tế quốc gia, mang lại hạnh phúc cho dân chúng. Song song với việc mở mang dân trí là việc giáo dục quần chúng. Không ai có thể phủ nhận giáo dục là căn bản của sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Theo truyền thống Việt Nam, giáo dục còn đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng đạo đức xã hội. Vì thế ngày xưa vị trí của người thầy giáo được đặt lên trên cha mẹ. Trong các nước tân tiến ở Âu Mỹ, nghề dạy học phần lớn cũng giống như mọi nghề khác, người thầy làm hết bổn phận dạy ở học đường là xong, không còn ràng buộc tinh thần đối với học trò. Sau giờ dạy, ông thầy có thể la cà nơi tửu quán, ăn chơi đàng điếm v.v... mà không ai có quyền nói gì về đời tư của mình. Ông thầy, về đạo đức xã hội, không có bổn phận phải làm gương cho học trò. 

Ở Việt Nam, truyền thống xã hội không cho phép các người thầy giáo tự do muốn làm gì thì làm. Ngoài việc dạy văn hóa, chuyên môn trong các trường, người thầy giáo còn là những tấm gương về tác phong và đạo đức để cho các học trò soi vào. Một cô giáo không thể ngồi ở đầu đường ăn quà vặt, không thể ăn mặc lôi thôi hay màu sắc sặc sỡ, lố lăng. Một ông thầy không thể rượu chè be bét, không thể ăn chơi trác táng, đầu tóc bù xù.v... Nghề giáo bao giờ cũng là nghề khiêm tốn về đồng lương nhưng cũng là nghề cao quý nhất trong xã hội, vì các thầy cô, ngoài việc truyền bá kiến thức còn dạy giỗ đàn em nhỏ trong vấn đề đạo đức và luân lý qua tác phong và đạo đức của chính bản thân. Cho nên một chính sách khôi phục truyền thống học đường, nghiêm giữ kỷ luật học đường, song song với chính sách đãi ngộ giáo chức cho xứng đáng phải là một ưu tiên trong những quốc sách quan trọng và cấp thời nhất. 

Vai trò của giáo chức trong xã hội Việt Nam rất quan trọng, có ảnh hưởng đến tương lai dân tộc cho nên một sự suy sụp đạo đức trong giới giáo chức là một điều bất hạnh nhất cho dân tộc. Một nền giáo dục có phẩm chất tùy thuộc hoàn toàn vào giáo giới với sự cộng tác của gia đình học sinh, sinh viên. Cho nên, muốn cải tiến hay sửa chữa một nền giáo dục; chúng ta phải chữa ở gốc chứ không chỉ để ý đến ngọn. Chúng ta phải để ý đến đời sống kinh tế của giáo chức sao cho họ có một mức sống đủ để họ không còn phải lo nghĩ đến chuyện kiếm thêm tiền sao cho đủ sống và nuôi gia đình. Một cái cây mà gốc èo ọp thì không có hi vọng gì tạo ra cành lá xum xuê, khỏe mạnh tươi tốt. Trong các nước tân tiến, sự mở mang đầu óc và phát triển giáo dục quần chúng luôn luôn dựa vào hai yếu tố: khả năng và đời sống kinh tế của giáo chức, và thư viện đầy đủ sách vở. Muốn cho đầu óc lớp trẻ mở mang, không gì bằng đầu tư vào sách vở trong thư viện các trường cũng như các thư viện công cộng, song song với một chương trình giáo dục đặt nặng vào sự suy cứu tìm tòi của học sinh, bỏ lối học từ chương. 

Các sách vở thuộc loại nghiên cứu với đầy đủ tài liệu, dù có đụng chạm đến vấn đề tế nhị tôn giáo, tín ngưỡng, cũng phải để cho tự do phổ biến. Chỉ có như vậy người Việt mới có thể nhìn thấy rõ sự thực, rút ra những kinh nghiệm lịch sử, củng cố lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Trong một nền giáo dục mà tài liệu phong phú, cập nhật hóa sáng kiến mới nẩy nở để có thể đưa nước nhà tới chỗ giàu, mạnh. 

Mặt khác, giáo dục học đường không thôi thì chưa đủ, vì thời gian các em ở học đường quá ít và các thầy, cô nếu làm tròn nhiệm vụ hàng ngày của giáo chức cũng đủ mệt rồi. Cho nên, giáo dục gia đình cũng là một phần quan trọng trong vấn đề giáo dục toàn bộ con người. Trong lĩnh vực này, Phật tử có thể đóng góp rất nhiều. Đại cương thì các bậc cha mẹ, anh chị trong gia đình phải kiểm soát đời sống của các em nhỏ để kịp thời ngăn chặn những ảnh hưởng xấu do những người vô lương kiếm lợi bằng cách làm ô nhiễm đầu óc lớp trẻ qua sách báo, phim ảnh đồi trụy, hoặc đầu độc các em bằng ma túy, thuốc lá hay rượu. Phụ huynh học sinh cần đòi hỏi chính quyền ra những đạo luật nghiêm trị những kẻ phạm pháp trong lĩnh vực đầu độc đầu óc và thân thể lớp trẻ này. Phụ huynh học sinh cũng phải đòi hỏi chính quyền ra những đạo luật ngăn cấm trẻ em vị thành niên uống rượu, hút thuốc lá, lái xe hơi, xe gắn máy.v.v... và đưa ra những chính sách lành mạnh hóa xã hội, cấm nhập cảng phim ảnh, sách báo mà nội dung có tính cách bạo tàn hay khiêu dâm. 

Phụ huynh cũng phải tự mình làm gương cho con em qua một lối sống lành mạnh và đạo đức, khuyến khích con em học những ngành hữu dụng, gia nhập những đoàn thể để có những sinh hoạt tập thể lành mạnh. Phụ huynh cũng nên góp ý cùng chính quyền và đóng góp vào việc thành hình một chương trình giáo dục hợp lý. Chương trình giáo dục này phải phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, địa lý, kinh tế của đất nước. 

Việt Nam nặng về nông nghiệp và ngư nghiệp, cho nên mọi chính sách kinh tế không thể bỏ qua hai lĩnh vực này. Sự phát triển kinh tế phải đồng đều : phát triển thành thị song song với cải tiến và phát triển nông thôn đề hố cách biệt giữa nông thôn và thành thị không quá sâu và quá xa, dễ đưa đến sự bất mãn so bì và hiện tượng nông thôn đổ lên thành thị, làm suy yếu nền tảng hạ tầng cơ sở xã hội và gây nên nhưng vấn đề xã hội nơi thành thị. 

Vấn đề mở mang dân trí, giáo dục quần chúng, và xây dựng đất nước là một vấn đề rộng lớn. Đường hướng giáo dục, bất kể theo sách lược nào, đều nên hướng về mục tiêu bảo vệ và phát huy nền văn hóa dân tộc, cũng là nền văn hóa Phật giáo. 

(Trích theo ĐÔI ĐIỀU NHẬN XÉT & GÓP Ý XUNG QUANH: 
“BẢN DỰ THẢO BÁO CÁO CHÍNH TRỊ ĐẠI HỘI X, giaodiem.com) 


Tạp bút Nguyễn Thanh Thảo
HOA TRÊN MỘ…

Những bông hoa vàng nở trên khu mộ ngoài vườn khiến tôi có cảm giác sửng sốt vì hạnh phúc. Những bông hoa mới kiêu hãnh và đẹp đẽ làm sao. Hoa nở trên những đụn cát nhỏ, hoa nở trên thành bia mộ, hoa nở trên những mảng gạch đã nhuốm màu thời gian, hoa nở trong cảm giác khắc khoải hồi tưởng về những người đã khuất, những người vĩnh viễn nằm yên trong lòng đất mẹ.

Hoa gieo trên mộ, tại sao không? Chúng ta đã từng có biết bao ý tưởng về căn nhà thứ hai của cuộc đời với đầy ắp những điều tươi đẹp. Tôi yêu mến Trịnh Công Sơn bởi cái ý tưởng muốn biến những nghĩa trang, những khu mộ phần thành những khu công viên thật nhiều cây xanh và hoa trái để trẻ con có thể đến thả diều nơi đó, người lớn có thể đi tản bộ ở nơi đó mà không cảm thấy có sự cách biệt giữ “thế giới này” và “thế giới kia”, giữa cõi người ta và một cõi đi về…

Cha tôi gieo trên khu mộ tổ tiên chỉ một loài cúc tần có vị thảo dược thơm thơm dịu dịu. Trong một quán cà phê ở Huế cũng trồng nhiều loại hoa này trên tường thành dọc lối đi. Và nơi nào hoa cũng như hoa, nở tự nhiên quấn quýt, hồn nhiên như không biết gió sương mưa móc, không biết mùa đi mùa về, không biết những ai đi qua đã dừng lại nhìn ngắm hay lãng quên…

Cha tôi gieo hạt đầu mùa thu, đến cuối mùa thì hoa đã nở những bông đầu tiên bình yên trên cát, ở nơi tưởng chừng như chỉ có sự im lặng. Mỗi ngày, cha tôi thăm khu mộ hai lần, có khi hơn, một lần tưới nước cho hoa còn một hoặc nhiều hơn đến ngắm nhìn và trò chuyện. Những câu chuyện hằng ngày trong cuộc sống của một người nông phu về nương chè, rẫy sắn, về thửa ruộng mới vừa xanh lá hay đến vụ trổ đòng. Và biết bao điều thầm kín của nhân sinh mà cha không thể nói với chúng tôi, không thể… Những lúc như vậy, hoa như một sự mường tượng của hình ảnh tổ tiên; hoa trở nên thân thiết và gần gũi như một  người bạn, chia xẻ, cảm thông, an ủi một cách chân thành bằng cách nở những màu tươi mới. 

Hoa vẫn nở trên mộ mỗi ngày, hoa vẫn sống bằng sức sống của thiên nhiên quyện mình trong sự không ngăn cách trên những con đường sinh tử. Hoa cho tôi biết yêu mến và bình an bằng chữ tâm bình thường của một con người đang sống cùng những điều kỳ diệu có thật của cuộc đời.

NTT.


BÌNH YÊN và DỊU DÀNG
Nguyễn Anh Thi

Tôi dường như không thể nào viết được về  các con của tôi, không thể nào viết về những gì mà tôi yêu quý nhất, vì với tôi, đó là một thứ tình cảm thật khó giải thích...

Hằng ngày, bất cứ lúc nào tôi cũng đều nghĩ về các con của tôi, lắng nghe mọi âm thanh từ các con tôi, từ giọng nói, hơi thở và kể cả sự im lặng. Và tôi tận hưởng không khí thanh bình vào mỗi tối, khi các con ở bên tôi và vui đùa tươi tắn trong căn phòng nhỏ có những giỏ hoa Phong lữ thảo đu đưa trước gió, với những chú cá vàng đang quẫy đuôi dưới lớp bèo lấm tấm xanh. Rồi tôi lặng lẽ vuốt tóc chúng khi chúng ngủ và sau đó, tôi cũng có thể chìm vào một giấc ngủ hiền hòa.

Tôi luôn tin rằng, cuộc đời của tôi là hàng ngàn hàng vạn cuộc đời khác hòa trộn lại trong từng khoảng khắc. Và với mỗi đứa con của tôi, ngay khi chúng sinh ra, chúng giúp cho tôi sống với một cuộc đời mới. Chúng làm cho cuộc sống của tôi tươi mới với những nỗi buồn, niềm vui và nỗi đau đớn khác nhau, với một sự ràng buộc khác nhau và cũng là sự độc lập giữa hai con người khác nhau.

Bà tôi thường kể về những lần bà mang thai, bà có 10 người con. Mẹ tôi cũng kể lần lượt về những lần mang thai, mẹ có 5 đứa con. Và sau đó là đến lượt tôi.

Khi mới mang thai, cảm giác đầu tiên là tôi cảm thấy có một sự gắn bó giữa tôi và con tôi, và chúng tôi tập làm quen với nhau. Con tôi thì lớn dần trong bụng từng ngày, còn tôi ốm nghén ngả nghiêng suốt 3 tháng ròng. Tôi cố gắng chịu đựng mọi cảm giác khó chịu. Mọi người mẹ trên đời đều làm như tôi để nuôi nấng một bào thai. Có lẽ trong bụng của tôi, con cũng khó chịu lắm, vì nó đang phải làm quen với tôi. Dần dà, chúng tôi hòa hợp với nhau. Tôi lắng nghe tiếng máy thai như tiếng cá quẫy trong người tôi. Tôi lắng nghe tiếng tim thai đập như vó của một chú ngựa bé nhỏ khoẻ mạnh, lắng nghe từng tiếng đạp của con, đôi khi tôi sờ thấy cả cái đầu gối tròn vo của con. Và tôi cảm nhận được rằng, con tôi cũng thấy thích thú khi được ở bên trong tôi một cách bình yên và dịu dàng.

Cho đến khi đủ 9 tháng 10 ngày, cũng như mọi người mẹ khác, tôi bắt đầu hiểu được nỗi đau. Không một người mẹ nào lại không sợ hãi nỗi đau đớn khi sinh con. Tôi nghĩ, trong bốn nỗi đau lớn nhất của đời người mà Đức Thích Ca Mâu Ni chỉ ra: Sinh, Lão, Bệnh, Tử..., thì chính những người đàn bà là những người trước tiên tiếp cận với một trong bốn nỗi khổ đau ấy - nỗi đau của sinh nở - một khía cạnh của cuộc sống.

Nhưng mỗi khi nhớ lại nỗi đau vượt cạn, tôi đều thầm cám ơn cuộc sống cho tôi hạnh phúc làm mẹ. Trong cơn đau đớn điên cuồng, mặt mũi méo mó, nước mắt giàn dụa và người lấm lem máu, nhưng khi con tôi lọt lòng cất tiếng khóc chào đời thì đó là khoảnh khắc kỳ diệu nhất của sự sống. Tôi không thể nói gì được về cái khoảnh khắc đó, chỉ cảm nhận mà thôi.

Cũng như mọi phụ nữ khác, khi còn trẻ, tôi thường nghĩ đơn giản rằng nếu sống độc thân thì sẽ cô đơn, còn nếu sống trong gia đình, có chồng có con thì sẽ hết cô đơn. Tuy nhiên, càng ngày, tôi càng hiểu rằng thực sự, ngay cả khi một người phụ nữ có gia đình, có con thì mỗi người vẫn là một người. Và mỗi người, tuy hòa hợp trong một cộng đồng thân ái thì vẫn phải sống độc lập. Điều duy nhất mà tôi đem lại về mặt thân xác cho các con tôi là gen di truyền của một người mẹ. Và điều tối đa mà tôi có thể cố gắng, đó là mang lại cho các con tinh thần của tôi.

Tôi buộc phải suy nghĩ rất nhiều về tinh thần của cá nhân. Tôi mong muốn là một người tự do trong tư tưởng và mọi suy nghĩ. Tôi mong muốn là một người mẹ dịu dàng và âm yếm các con. Tôi mong muốn là một người mẹ hiểu biết có thể giúp các con tôi vượt qua mọi khó khăn và thử thách trong cuộc sống với một tinh thần vô uý. Tôi mong muốn là một người bạn đời dài lâu của các con tôi, ngay cả khi tôi đang còn sống cũng như khi tôi đi qua cuộc đời này. Và tôi muốn tinh thần của tôi được các con tôi hoan hỷ đón nhận. Tôi cũng mong muốn chúng tha thứ cho tôi những giây phút nóng giận và bất công mà vô tình tôi đã làm ảnh hưởng đến chúng. Tôi cũng mong muốn các con tôi được sống và lớn lên trong sự hiểu biết, tình yêu thương, sự trân trọng cái đẹp của cuộc sống và quan trọng nhất là chúng tự do. Để chúng được tự do, có thể tôi phải hy sinh những lợi ích của một người mẹ. Nhưng tôi vẫn mong muốn các con tôi phải tự do và làm những điều chúng mơ ước, chúng thích thú (tất nhiên ngoại trừ những điều sai và xấu). Để làm được tất cả những điều này thật gian nan biết bao!

Tôi vốn là một phụ nữ yếu đuối, hay lo âu và sợ hãi, đối với tôi, tất cả các mong muốn nêu trên đều không đơn giản. Đôi khi tôi thường khóc rất nhiều và lo nghĩ: nếu tôi có bề gì thì các con tôi sẽ ra sao. Đó là khoảng thời gian rất khó khăn trong cuộc sống của tôi, khi tôi ốm đau nhiều, suy sụp tinh thần và thể chất. Và những biến cố tai hại của cuộc sống đến rất nhiều với gia đình tôi. Đôi khi tôi bị rơi vào một tình trạng thật tồi tệ, cảm giác như mình sẽ mất tất cả, từ cuộc sống, gia đình, nhà cửa, và quan trọng nhất là các con của tôi. Bị day dứt và giày vò, tôi thường khóc rất nhiều, nhất là vào ban đêm, khi các con ngủ.

Vào một đêm, khi tôi đang khóc, con trai bé nhỏ của tôi nằm cạnh mẹ, rờ tay lên gối thấy đầm đìa nước mắt, cháu ngồi dậy và nói: "Mẹ hãy nín đi, khóc chẳng giải quyết được gì cả, chính mẹ hay nói với con như thế mà" (tôi thường dỗ các con như vậy khi chúng buồn và khóc). Và lần thứ hai cháu làm tôi giật mình là một buổi chiều đón cháu đi học về, ngồi sau lưng mẹ trên xe máy cháu nhất định không chịu ôm mẹ, và nói: "Mẹ yên tâm, con tự xoay sở được mà. Con đã vào học kỳ hai của lớp 1 rồi, con không còn là em bé nữa đâu”... Câu nói của cháu, tuy rất ngây thơ, nhưng giúp tôi hiểu rằng thực sự các con tôi hoàn toàn có thể sống được, cho dù không may nếu tôi chẳng còn ở trên đời này nữa. Nếu không có mẹ, chúng có thể vất vả, khổ sở, nhưng bù lại, chúng sẽ có can đảm để sống một cách tự lập.

Thật bất ngờ, chính điều này làm tôi vượt qua bệnh tật và những hoàn cảnh khó khăn nhất của cuộc sống. Để làm được những điều mà tôi mong muốn, nghĩa là làm cho tinh thần của tôi đến được với các con tôi, mỗi ngày, tôi đang nỗ lực trong việc rèn luyện tinh thần. Và bằng cuộc sống và những khó khăn của một người mẹ, tôi nhìn thấy rõ nỗi đau buồn và niềm vui của bà tôi, của mẹ tôi và của cả những người mẹ quanh tôi. Nhờ đó mà tôi có thể cảm thông với con tôi, với mọi người xung quanh và cảm thấy một tình yêu thương lớn dần lên trong tôi từng ngày...


Lời cảm ơn cuộc sống

Lần đầu tiên tôi được đọc Văn Hóa Phật Giáo là lúc ba tôi lâm trọng bệnh, món quà từ một người bạn. Tôi thực sự xúc động về những tình cảm sâu sắc mà bạn dành cho tôi, giúp tôi có thêm niềm tin và nghị lực để cùng với gia đình lo cho ba tôi.

Nhờ phước duyên, ba tôi nay đã qua được cơn hiểm nghèo – điều mà tôi mong ước và cầu nguyện -  tuy không còn sức khỏe như xưa, nhưng ba tôi vẫn còn đó, để mỗi chiều đi làm về, tôi lại được thấy ba thương kính, đó đã là điều đáng quý với tôi lắm rồi.

Đã tám tháng nay, kể từ ngày ba tôi lâm bệnh, tám tháng với bao lo lắng và sợ hãi, tôi vẫn đều đặn nhận được món quà của bạn gởi. Tôi đã đọc Văn Hóa Phật Giáo, được nhắc nhở về tình yêu thương, về sự vi diệu của cuộc sống được thể hiện qua từng trang viết rất đời và cũng rất đạo, để rồi sống vị tha, yêu thương và trân trọng cuộc sống hơn. Tuy bạn và tôi thường bận rộn với những công việc khác nhau, ít khi gặp mặt nhau, nhưng mỗi khi nhận được món quà của bạn, tôi cảm thấy hạnh phúc lắm khi biết bạn vẫn nghĩ đến tôi, chia sẻ với tôi những lúc khó khăn nhất trong cuộc sống bằng những giá trị tinh thần cao quý...

Vài dòng mộc mạc này xin gửi đến bạn thay lời cảm ơn. Ccảm ơn cuộc đời với nhiều nhân duyên tốt đẹp!

Quảng Vân (TP.HCM)
vanpham2709@yahoo.com

Bấy lâu nay tôi tự cho mình là người hiểu biết, người biết điều  trước mọi hoàn cảnh, rằng mình chưa bao giờ là người vô cảm... Nhưng một hôm, nhờ một nhân duyên, tôi đã nhận ra rằng mình còn nhiều thiếu sót.
Hôm ấy, tôi đi trên một chuyến tàu lửa địa phương. Khi bước chân lên tàu, tôi có ngay một chỗ ngồi yên ổn, nhưng một lúc sau, hành khách đông hơn, khoan tàu trở nên chật hẹp. Một người phụ nữ lớn tuổi bước đến cạnh chỗ tôi, ngỏ lời xin ngồi tạm. Tôi đã lắc đầu từ chối. Không phải vì chỗ ngồi quá chật chội mà vì tôi thích sự thoải mái. Bỗng một cậu bé ngồi gần tôi thấy việc đó, cậu nhanh nhẩu đứng dậy, nói: “Cô ơi, cô ngồi vào chỗ của cháu cũng được ạ. Cháu đi đi lại lại chơi cũng không sao!” Người phụ nữ đó ngồi xuống chỗ cậu bé, và mọi người chung quanh nhích ra đủ chỗ cho cả cậu bé. Cậu bé trông chừng chưa tới 10 tuổi... Tôi tự cảm thấy thật xấu hổ. Sau này, mỗi khi nhớ lại, tôi thầm cảm ơn cậu bé. Nhất định tôi sẽ có những cư xử trong cuộc sống tốt hơn.

Dương Thị Hiền
Số 3, kiệt 1, Chế Lan Viên, TP. Huế (ĐT: 054 – 813395)


MÓN CHAY
Hoàng Anh - Phú Xuân

Đậu ngự trộn 
với nấm hương và đậu khuôn 

Vật liệu:

- Đậu ngự tươi:  500 gr
- Đậu khuôn:   ½ bìa
- Nấm hương:  100 gr 
- Boa-rô:   1 cây 
- Gia vị: dầu ăn, xì dầu, muối, tiêu 

Cách làm:

- Đậu ngự: lột vỏ, rửa sạch, nấu chín. 
- Đậu khuôn: cắt từng miếng mỏng, ram vàng. 
- Nấm hương khô: ngâm nước, rửa sạch, để ráo ướp với boa-rô xắt mỏng và chút tiêu, xì dầu.

Bắt chảo nóng, cho vào 1 muỗng dầu ăn, cho nấm và đậu khuôn vào xào chín, thêm một chút nước để sôi một lát cho thấm. Sau đó cho đậu ngự vào trộn nhẹ tay. Trước khi nhắc xuống cho vào một ít boa-rô xanh xắt nhỏ vào để món ăn được thơm và có thêm màu sắc.
Múc ra dĩa nhỏ, trang trí vài cọng ngò trên mặt cho đẹp.

Canh đậu ngự 

Vật liệu :

- Đậu ngự tươi:    500 gr
- Bí ngô:     100 gr
- Củ cải trắn:              100 gr
- Cà rốt:     100gr
- Nấm hương hoặc nấm rơm khô:  100gr
- Đậu hủ:     1 bìa
- Boa-rô:     1 cây
- Gia vị: dầu ăn, xì dầu, muối, tiêu, đường. 

Chế biến:

-Bí ngô, củ cải trắng, cà rốt: gọt vỏ, rửa sạch, cắt hình hạt lựu. Cho vào nồi đổ nhiều nước  nấu với lửa nhẹ.

-Nấm: ngâm nước, rửa sạch, để ráo, ướp với boa rô xắt lát mỏng, chút xì dầu và tiêu.

-Đậu hủ: cắt hình hạt lựu, chiên vàng.

-Bắt chảo nóng, cho vào một muỗng dầu ăn, cho nấm và đậu khuôn vào, khi đã chín thấm thì cho vào nồi canh.

-Đậu ngự: lột vỏ, rửa sạch, cho vào nồi canh tiếp tục nấu với lửa nhẹ, đến khi đậu chín mềm nhưng vẫn còn nguyên hạt, nêm chút muối, đường cho vừa ăn.

-Nhấc xuống múc ra một tô, cho một ít boa rô xắt mỏng trên mặt
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁOSỐ 15 -THÁNG 4 2006


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)