AI
NÓI CƯỜI TRONG MÂY BIẾC
Nhật
Chiêu
Dường
như vũ trụ thức giấc trong đôi mắt của thi ca. Dường như
biển xanh đang trải mình trong đôi mắt phóng màu xanh vô tận.
Đó là đôi mắt đang ôm choàng thế giới, ôm choàng ánh sáng.
Và thấp thoáng trong gió mây Yên Tử là trăng sao, là mặt
trời, là thiền sư, là thi sĩ, là rừng trúc, là hồn hoa,
là tiếng chim, là tiếng suối… Có tiếng cười trong mây
biếc…
Thấp
thoáng trong gió mây Yên Tử, vầng trăng khuyết vẫn óng ánh,
như một nụ cười trôi.
Đêm
trên chùa Hoa Yên. Đêm thiêng. Tiếng suối Ngự Dội rì rầm.
Hơi thở của rừng ngan ngát hương. Ngàn trúc lao xao gió.
Cây
đại cổ xưa ngàn năm tuổi vẫn còn đứng bên vách núi,
vẫn nở những chùm hoa trắng, vẫn nhớ mong cánh hạc vừa
bay qua trong ánh hoàng hôn.
Đêm
thiêng Yên Tử. Tôi nhớ người xưa quá. Nhân Tông, Anh Tông,
Huyền Quang, Nguyễn Trãi…
Đi
trong rừng trúc, thương nhớ người xưa. Cảnh đêm Yên Tử
thiền vị và thi vị.
Tôi
nhớ cuộc leo núi ban ngày và tôi chờ ban mai. Trong khuất tịch
non cao, tiếng chim đêm kêu như rót thơ và hồn hoa như bay
lượn trong gió.
Đêm
nay tôi hiểu ra rằng tại sao Hải Lượng Thiền sư Ngô Thời
Nhiệm bảo hồn hoa không phải là hoa cũng như thân chim chẳng
phải là chim (Điểu thân phi điểu, hoa hồn phi hoa).
Đêm
nay, trên Yên Tử, tôi nhìn thấy cái vô hình là hữu hình,
vĩnh cửu là phù vân.
Tôi
nghe rõ tiếng cười nói của những bậc thầy tôi yêu. Ôi
Trúc Lâm! Ôi Ức Trai! Tiếng cười của họ vang trong mây gió.
Đợi
trời ửng hồng, tôi trèo lên một bờ đá phẳng, nhìn xuống
biển xa xanh.
Một
cây lau trắng đơn độc đứng đó trước tôi và đứng cao
hơn tôi, đong đưa trong gió tinh mơ.
Mây
trắng và sương mờ dìu nhau bay trong không gian phớt hồng
hư ảo, thấm ướt những giọt ánh sáng li ti.
Những
đỉnh núi xa từ từ hiện lên, chập chờn biêng biếc.
Những
áng thơ xưa in bóng Yên Tử cũng bay về. Nguyễn Trãi từng
qua đây và đề thơ chùa Hoa Yên:
Yên
Sơn sơn thượng tối cao phong
Tài
ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vũ
trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Tiếu
đàm nhân tại bích vân trung…
(Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự)
Nắng
lên. Không gian như nở ra ánh sáng. Dường như, trên Yên Tử
bạn có thể nhìn thấy toàn thể vũ trụ, nhìn thấy tận
cùng vụ trụ. Trời hồng hồng, biển xanh lấp lánh bạc.
Có nghe thấy tiếng gì trong mây biếc kia không? Tiếng ai cười
nói đấy?
Hay
tiếng cười của chính Ức Trai?
Trong
nắng ban mai, tôi táo bạo chuyển ngữ vần thơ của người:
Nơi
đỉnh non Yên cao ngất
Mới
tinh mơ đã ửng trời
Mắt
nhìn vũ trụ xanh khơi
Có
tiếng cười trong mây biếc…
Yên
Sơn sơn thượng tối cao phong
Trên
núi Yên Tử nơi đỉnh cao nhất. Yên Tử linh thiêng không phải
vì là đỉnh núi tuyệt cao.
Dù
rất ngoạn mục, núi cũng chỉ có độ cao hơn một ngàn thước
(1.068m).
Cái
cao ngất của núi Yên Tử là độ cao không nơi nào có, là
độ cao của “Núi vua hóa Phật”.
Đó
là độ cao tâm linh.
Đó
là độ cao mà Trúc Lâm (vua Trần Nhân Tông) nói tới trong
bài ca Được Thú Lâm Tuyền Thành Đạo:
Khuất
tịch non cao
Náu
mình sơn dã…
Thanh
nhàn vô sự
Quét
tước đài hoa…
Niềm
lòng vằng vặc
Giác
tánh quang quang
Trần
duyên rũ hết
Thị
phi chẳng hề…
Vì
vậy ai cũng có một đỉnh non Yên, một đỉnh non Thiêng để
mà lên.
Trong
bài Vân Tiêu Am, vua Trần Nhân Tông miêu tả núi Yên như sau:
Đình
đình bảo cái cao ma vân
Kim
tiên cung khuyết vô phàm trần…
(Lộng
cao sừng sững chạm mây
Cung
tiên kỳ diệu nào dây bụi trần…)
Núi
Yên, đó lá cõi ánh sáng, là nơi tâm vằng vặc, là nơi tánh
sáng ngời.
Tài
ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vừa
mới canh năm trời đã ửng hồng. Aùnh sáng vừa mới
toả đã lập tức chạm vào Yên Tử. Như thể mặt trời mọc
là mọc từ núi thiêng, là mọc cho núi thiêng.
Nhật
nguyệt như thay nhau soi chiếu Yên Tử.
Cũng
trong bài Vân Tiêu Am, Nhân Tông đã hình dung ba điều kỳ tuyệt:
Thanh
phong táp địa vô hưu yết
Minh
nguyệt đương không kiểu băng tuyết
Thử
phong, thử nguyệt dữ thử nhân
Hợp
thành thiên hạ tam kỳ tuyệt.
(Gió
bay trên đất vô ngần
Trăng
lơ lững sáng một vừng tuyết phơi
Gió,
trăng cùng ở bên người
Hợp
nên tam tuyệt dưới trời là đây).
Có
thể hiểu rộng ra, ba điều kỳ tuyệt ở dưới trời là
ánh sáng, gió và con người đều đầy đủ ở đây.
Ba
điều kỳ tuyệt cũng là ba điều thiêng liêng: sự soi chiếu
của ánh sáng, cái tự do của gió và cái tâm tỏ ngộ của
con người.
Yên
Tử được bọc trong ánh sáng của Mặt Trời Phật và Mặt
Trăng Phật, trong ánh bạc lung linh của trăng và ánh hồng
óng ả của mặt trời.
Đấy
cũng là ngày đối diện Phật, đêm đối diện Phật.
Đấy
là ánh sáng của bất sinh bất diệt, ánh sáng của chư Phật
hiện tiền.
Còn
nhớ câu chuyện Trúc Lâm thị tịch ở am Ngọa Vân. Khi Bảo
Sát đến am, Nhân Tông mỉm cười mà bảo:
-
Sao đến muộn thế, ta sắp đi đây. Pháp gì chưa rõ thì hỏi
đi.
Bảo
Sát bèn hỏi:
-
Khi Mã Tổ bệnh, vị viện chủ mới hỏi rằng: “Gần đây
Tôn đức thế nào?” và Mã Tổ đã đáp “Ngày đối diện
Phật, đêm đối diện Phật”. Là ý thế nào?
Trúc
Lâm lớn tiếng đáp:
-
Ngũ đế, Tam hoàng là vật gì?
Sau
đó, đến ngày mùng một tháng mười một, vào nửa đêm,
trời trong sao sáng, Trúc Lâm nói:
-
Đến giờ ta đi
Bảo
Sát hỏi:
-
Tôn đức đi đâu bây giờ?
Trúc
Lâm nói:
-
… Chư Phật thường hiện tiền,
Nào có đi hay đến.
Rồi
người ngồi theo kiểu sư tử tọa mà hóa.
Trúc
Lâm lặng lẽ ra đi trong ánh sao mai sáng rực, trong ánh hồng
đang tỏa lan trên đỉnh non Yên.
Đó
chính là ánh hồng mà nguyễn Trãi nhìn thấy khi đứng trên
Yên Tử. Mới tinh mơ đã ửng trời.
Aùnh
hồng mọc trên núi thiêng. Một cảnh tượng siêu phàm như
thể chỉ có ở cung Tiên.
Và
bắt chước người xưa, tôi cũng đứng trên non Yên mà ngắm
bầu trời đang ửng sắc hồng.
Giữa
khuất tịch non cao, tôi cảm thấy từng tia sáng mát lạnh
kỳ diệu chạm vào người.
Vũ
trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Ta
nhìn vũ trụ đến tận cùng biển xanh. Đôi mắt Ức Trai như
bao trùm vũ trụ. Dường như vũ trụ thức giấc trong đôi
mắt của thi ca. Dường như biển xanh đang trải mình trong
mắt xanh, trong đôi mắt phóng màu xanh vô tận.
Đó
là đôi mắt đang ôm choàng thế giới, ôm choàng ánh sáng.
Thi
hào Bashô Nhật Bản cũng nhìn biển như thế:
Ôi
biển hoang vu
Ngân
hà vươn trải
Trên
đảo Sado.
(Ara
umi ya
Sado
ni yokotau
Ama
no gawa).
Bashô
miêu tả: “Trước mắt tôi là biển động hoang vu, muôn trùng
sóng gió, bên trời xa kia là đảo Sado. Giải ngân hà óng ánh
sẽ nối liền đảo với bầu trời đêm…”.
Cứ
thế, đôi mắt người và biển và trời nối liền nhau. Không
có trong và ngoài. Không có hữu hạn và vô hạn.
Biển,
ngân hà và đảo Sado của Bashô.
Biển,
mặt trời và núi Yên Tử của Nguyễn Trãi.
Cả
hai đều là thi ca trong ý nghĩa sâu thẳm nhất: ôm cả thế
giới vào lòng, vào cái tâm của ánh sáng. Mắt nhìn vũ trụ
xanh khơi.
Tiếu
đàm nhân tại bích vân trung
Trong
làn mây biếc có tiếng người cười nói. Câu thơ lạ thường
này kéo mây biếc vào cõi nhân gian.
Trong
mây biếc có “người” (nhân) chứ không phải thần tiên
nào.
Tiếng
nói cười của người vang lừng trong mây biếc. Mây bay trên
núi Yên như bay bên cạnh con người. Con người đi trong mây
nói cười tự tại.
Như
Nguyễn Khuyến nói:
Chùa
xưa ở lẫn cùng cây đá
Sư
cụ nằm chung với khói mây…
Người
và mây cùng nằm, cùng trôi, cùng nói cười trong một thế
giới vô sai biệt.
Thấp
thoáng trong gió mây Yên Tử là trăng sao, là mặt trời, là
thiền sư, là thi sĩ, là rừng trúc, là hồn hoa, là tiếng
chim, là tiếng suối… Là tiếng nói cười xôn xao mà cũng
là niềm tịch lặng linh thiêng.
Có
tiếng cười trong mây biếc. Đó chính là tiếng cười trong
mắt xanh ta, tiếng cười trong cõi vô tâm.
THƠ
Thu Nguyệt
Quen
Núi
xa rừng lại càng xa
Chỉ
còn có phố và ta rất quèn.
Nỗi
buồn lẩn quẩn rất quen
Nụ
cười lạ hoắc bon chen đầy đường
Ngày
dài suông thiệt là suông
Đêm
dài trắng vậy mà dường như đen.
Nhón
tay khêu lại chút đèn
Tàn
tro rớt xuống thấy quen lạ lùng!
Rõ
rồi cát bụi hư không
Biết
rồi mà lối đi vòng vẫn đi.
Giật
mình
Hình
như nhân loại quá buồn
Ai
cũng tiến tới mà luôn thụt lùi.
Hay
cười trước cái không vui
Luôn
thấy lợi trước thiệt thòi người dưng
Đảo
điên vì thứ không cần
Tự
tin đánh mất dần dần niềm tin
Cái
TÔI ảo tưởng tôn vinh
Chữ
Nhân mỏng dính, chữ Tình rỗng suông.
Hình
như thiên hạ quá buồn
Ai
cũng tiến tới mà luôn thụt lùi.
!
Ta
sống thật mà buồn như sống giả
Tim
đập gần mà máu chảy đâu xa
Lòng
như thể đám mây vừa rớt sạch
Mà
gió còn tầm tã quất quanh ta!
Tản
mạn về
NỤ
CƯỜI CỦA CÁC THIỀN SƯ
Thích
Phước Đạt
Hạnh
phúc thường được biểu lộ bằng nụ cười. Trong cuộc
sống đầy biến động này, con nguời luôn khát khao hạnh
phúc sẽ đến với chính mình, với mọi người. Cũng vậy,
các thiền sư trong quá trình học đạo, hành đạo, chứng
đạo đã từng mỉm cười để biểu đạt sự hỷ lạc, đó
là nụ cười được xuất phát từ trong nội tâm khi các ngài
đã an trú và liễu ngộ các pháp.
Thực
tế, mọi người cũng từng có nhiều lúc nở nụ cười, nhưng
niềm vui đó không có giá trị bền vững, dài lâu. Đó là
niềm vui của sự thỏa mãn lòng ham muốn khi sáu căn tiếp
xúc sáu trần. Đức Phật dạy: “Các dục vui ít, khổ nhiều,
và làm cho nguy hiểm càng nhiều hơn”.
Chính
lẽ đó, trong hội Linh Sơn khi Đức Phật đưa một nhánh hoa
đưa lên trước đại chúng, mọi người đều im lặng, chỉ
có tôn giả Ca Diếp mỉm cười. Nụ cười này đã làm hoan
hỷ toàn thể Pháp hội, và Đức Thế Tôn đã hoan hỷ trao
lời phó chúc: “Ta có Chánh pháp nhãn tạng, Niết bàn diệu
tâm, thực tướng vô tướng, pháp môn vi diệu, chẳng lập
văn tự, truyền riêng ngoài giáo, nay trao truyền cho Ma ha Ca
Diếp”.
Âm
vang nụ cười ấy đã đi vào lịch sử, và các Thiền sư
sau này cũng đã thể nghiệm nụ cười sâu lắng ở khắp
nơi, từ thiền đường trang nghiêm cho đến đồng hoang cỏ
nội, hay thành thị huyến náo trước cuộc hành trình dạo
chơi sinh tử.
Tương
truyền, sư Thủy Lạo đến tham vấn Mã Tổ (709 – 788), vừa
hỏi về ý nghĩa đông du của Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma liền
bị Mã Tổ giáng cho một đạp khiến sư té nhào. Đang từ
từ bò dậy, sư hoát nhiên đại ngộ, vỗ tay cười ha hả.
Từ đó về sau, sư thường khoe:“Từ khi ăn cái đạp của
Mã Tổ về sau lão tăng cứ cười mãi không thôi”. Chưa hết,
chúng ta còn được tiếp nhận nụ cười giác ngộ của sư
Bách Trượng Hòai Hải (724 – 814) khi theo hầu sư Mã Tổ,
giữa không gian bao la chợt gặp bầy vịt trời bay ngang, Mã
Tổ hỏi:
- Có
cái gì vậy?
-
Thưa, bầy vịt trời.
-
Đi đâu vậy?
-
Thưa bay qua!
Mã
Tổ quay đầu lại, nắm mũi sư vặn mạnh. Đau quá, sư la
lên. Tổ nói:
-
Sao không nói bay qua nữa đi!
Sư
bèn tỉnh ngộ và khóc nức nở. Huynh đệ dỗ dành mãi, nhưng
sư không nín. Có người trình Mã Tổ:
-
Hoài Hải chẳng rõ vì sao đi dạo và cứ nằm khóc mãi?
Mã
Tổ đáp:
-
Hắn ta ngộ rồi đó!
Người
huynh đệ trở về phòng thuật lại lời Tổ cho sư hay, sư
bật cười ha hả. Mọi người ngạc nhiên, sư bình thản trả
lời: “Hồi nãy khóc, bây giờ thì cười”.
Rõ
ràng, các thiền sư đã hoát nhiên đại ngộ và biểu lộ
sự chứng đạt với niềm vui hỷ lạc vô tận bằng những
tiếng cười sảng khoái, vô tư, tự tại bất hủ giữa trời
xanh, giữa chim bay cá lặn và hoa nở bên đường. Thú vị
hơn nữa là chính các thiền sư còn “ngẫu hứng qua cầu”
dùng tiếng cười thay cho lời thuyết giảng để khai thị
tâm thức cho các thiền sinh. Thiền sư Phương Hội (? – 1054)
ở Dương Kỳ là thí dụ điển hình. Một hôm sư thượng
đường và ngồi lặng thinh. Giây lâu, sư phá lên cười ha
hả. Tăng chúng ngạc nhiên, sư bảo: “Cái gì vậy? Thôi trở
về trai đường uống trà đi”. Thiền sư Tùng
Thẩm
(778 – 897) ở Triệu Châu lại thường dùng tiếng cười để
thay cho lời đáp mỗi khi có môn đồ đến hỏi. Một hôm
có ni cô đến hỏi:
-
Lìa hết những những gì đã nói từ trước đến nay, xin
Hòa thượng chỉ dạy, sư hét lớn:
-
Nướng hư cái bình sắt của người ta!
Ni
cô đem bình sắt đi châm nước xong, thưa:
-
Thỉnh Hòa thượng đáp câu hỏi. Sư bật cười.
Dạo
khác, có vị tăng đến hỏi:
-
Pháp thân vô vi, không rơi vào các lòai, lại cho nói hay không?
-
Làm sao nói.
-
Tức là không nói.
Sư
cũng bật cười. Thiền sư là thế. Bất cứ điều gì, kể
cả nụ cười cũng khai thị được tâm thức người học
trò. Thậm chí ngay cả trước bến bờ sinh tử, các thiền
sư vẫn nở nụ cười, vẫn rong chơi giữa cuộc đời với
lòng an nhiên tự tại. Theo thiền sử ghi lại thì vua Đường
Hiển Tông rất ngưỡng mộ danh sư Vô Nghiệp (760-821) đã
cử sứ giả nhiều lần đến thỉnh sư, nhưng lần nào sư
cũng cáo bệnh từ chối. Lần cuối, sứ giả nài nỉ mãi,
sư biết không thể từ chối nên sư mỉm cười bảo:
- Lão
tăng đức độ gì mà làm phiền thí chủ thế. Thôi quý vị
về trước, lão tăng sẽ đi đường riêng!
Sứ
giả hớn hở quay về báo tin. Sư liền đi tắm gội, từ biệt
đồ chúng an nhiên thị tịch. Thiền sư Phật án (?-1908) cũng
thế, trong lúc cùng khách đàm đạo, chợt nghe tin có người
ngộ đạo, thiền sư liền cười một cái rồi thị tịch.
Thiền sư Giới Không thời Lý Thần Tông (1128-1138) sau khi nói
bài kệ dạy đồ chúng xong liền cười lớn một tiếng và
thị tịch. Xem ra, chuyện sinh tử đối với các ngài chẳng
có nghĩa lý gìõ: “Sinh tử chỉ là được mất/ Nếu cho
sinh tử khác đường/ Lừa cả Thích Ca, Di Lặc/ Nếu biết
sinh tử, sinh tử/ Mới hiểu lão tăng chỗ nào” (Sinh tử
chỉ thị đắc thất, Nhược ngôn sinh tử di đồ, Trám khước
Thích Ca Di Lặc, Nhược tri sinh tử sinh tử, Phương hội lão
tăng xứ nặc). Tuệ Trung Thượng sĩ cũng xem sinh tử là chuyện
nhàn "sinh tử nhàn nhi nhĩ”. Có gì phải nói đâu chứ, cười
cũng là đủ rồi. Vấn đề là làm thế nào thoát ly sinh tử,
tự tại ngay trong cõi đời đầy những mối ràng buộc này.
Một
vòng hành hương
Trần
Bỉ Ngạn
Hà
Nội
Cội
nguồn đâu, một Thăng Long
Mùi
hương trong phố ngàn năm xưa về.
Quảng
Trị
Năm
nao nổi sóng đất bằng
Xô
vào lịch sử cội nguồn muôn sau.
Huế
Núi
xanh mơ tới mấy trời
Sông
Hương vẫn chảy một ngày thiên thu.
Nha
Trang
Mưa
ngoài biển Bắc đêm qua
Sáng
nay phố thị sáng lòa Nha Trang.
Đà
Lạt
Mộng
đầu ủ nắng trong cây
Ủ
mây trong nước cho ngày rộng thênh.
Sài
Gòn
Trăm
đường đổ lại Sài Gòn
Mở
ra lòng Thái Bình Dương muôn bề.
Miền
Đông
Chôm
chôm, măng cụt, sầu riêng...
Món
quà của đất lấp miền hồng hoang.
Miền
Tây
Về
đây đất mở bao la
Hồn
Tây Tạng hóa phù sa tặng người...
Hoa
cỏ gởi đến bạn
Bạn
thân mến,
Cuộc
sống phần nhiều là không như ý. Ngày xưa tôi đã không tin
vào điều đó. Gần đây tôi mới ngẫm ra và nhận thấy điều
đó với cái thấy của mình. Đôi khi thôi. Thì ra, chân
lý và cuộc sống thường đơn giản. Lời dạy của các bậc
Thầy cũng thường giản dị, nhưng chính mình đã cố ném
những điều giản dị ấy vào nhưng mê cung, ma trận của
lý luận. Có khi choàng lên nó những chiếc áo, cả chiếc
hoàng bào, để cho sang. Nói chung, sống thì giản dị mà lý
luận thì đa đoan trăm bề. Khi chúng ta lấy lý luận để
mà đối xử nhau thì buồn lắm. Tôi cũng đã tự đặt nhiều
câu hỏi cho mình, nhưng chẳng có một câu trả lời nào là
của tôi cả.
Tôi
trả lời theo, theo nhiều cách khác nhau.
Luân
hồi là thế.
Nhiều
lúc tôi vẫn nghĩ, cũng là nghĩ theo mà thôi, quá nhiều bất
trắc trong các cuộc hành trình. Tôi cũng đã từng băn khoăn,
nhưng rồi điều giản dị nhất mà tôi nhận ra là mình chấp
nhận cuộc sống, nhìn nhận và cố gắng nhìn nhận nó, qua
thân và tâm mình trước hết, qua những tâm niệm đầy tính
lắt léo và lươn lẹo mà động cơ là từ cái tham, cái sân,
cái si; và không phải lúc nào tôi cũng có thể thành thực
với tôi, thành thực chấp nhận hành động đó là do tham,
do sân...
Bạn
ơi,
Từ
lúc tập nhìn mình như thế, thực ra là không phải nhìn một
cái mình nào đâu, mà nhìn những niệm điêu ngoa và lắm lời
lươn lẹo hiện hữu, tôi cũng thấy mình đỡ lý luận và
dễ chịu hơn, bớt sự vùng vằng hơn, tôi nghĩ cũng giảm
đi cái sự ác... Ít ra là tôi thấy tôi dễ thở hơn rất
nhiều.
Bạn
thân mến,
Cuộc
sống không cắt nghĩa được. Chúng ta chỉ cắt nghĩa (qua
lý luận) cái nghiệp chung của chúng ta. Cái mà chúng ta nên
làm, theo tôi nghĩ thôi, cũng chính là việc làm với cái gọi
là bản thân mình, ngày đêm, vì ta chung đụng với nó nhiều
nhất. Còn những chuyện khác, tự khắc sẽ như thế, như
thế, theo một cơ chế tự điều chỉnh...
Nói
vậy không phải là phó mặc mọi sự. Ta vẫn làm một cách
sống chết đó thôi, nhưng được cái, mọi sự cũng có phần
qua đi mỗi khi có được sự thành, bại, được, mất...
Một
chút hoa cỏ gởi đến bạn. Mong bạn luôn vui tươi!
Vi
Thảo
Nghĩ
về người thầy giáo
trong
sự nghiệp chấn hưng giáo dục ở nước ta
Trần
Chung Ngọc
Đức
Phật đã dạy một người dân thường tên là Dighajanu rằng
có bốn điều kiện đưa đến hạnh phúc cho con người ở
trên cõi đời: Thứ nhất: chăm chỉ, cố gắng đạt tới
"nhất nghệ tinh nhất thân vinh"; Thứ nhì : phải bảo vệ
tài sản kiếm được một cách chính đáng bằng mồ hôi,
nước mắt; Thứ ba: kết bạn với các thiện tri thức, nghĩa
là những người đạo đức, học rộng biết nhiều, phóng
khoáng và thông minh, để giúp mình tiến bộ trên Chánh đạo,
xa lánh ác nghiệp; và Thứ tư: tiêu pha trong khả năng và dành
một phần cho những việc thiện, không bần tiện mà cũng
không hoang phí.
Sau
đó Đức Phật nêu ra 4 đức tính đưa đến hạnh phúc trong
tương lai của con người, và đây mới là những mối "phúc
thật" chính tông:
(l)
Phải có lòng tin vào những giá trị đạo đức, tinh thần
và trí thức (Saddha);
(2)
Phải giữ năm giới căn bản của Phật tử (Sila);
(3)
Thực hành hạnh bố thí, lòng quảng đại, không bám chặt
vào của cải (Caga); (4) Phát triển trí tuệ trên con đường
diệt khổ, nhằm cứu cánh Niết Bàn (Panna).
Chúng
ta thấy rằng, giáo lý của Đức Phật nhằm tạo ra sự ổn
định kinh tế gia đình và từ đó, đưa đến sự ổn định
và phát triển kinh tế quốc gia, mang lại hạnh phúc cho dân
chúng. Song song với việc mở mang dân trí là việc giáo dục
quần chúng. Không ai có thể phủ nhận giáo dục là căn bản
của sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Theo truyền thống
Việt Nam, giáo dục còn đóng một vai trò quan trọng trong việc
xây dựng đạo đức xã hội. Vì thế ngày xưa vị trí của
người thầy giáo được đặt lên trên cha mẹ. Trong các nước
tân tiến ở Âu Mỹ, nghề dạy học phần lớn cũng giống
như mọi nghề khác, người thầy làm hết bổn phận dạy
ở học đường là xong, không còn ràng buộc tinh thần đối
với học trò. Sau giờ dạy, ông thầy có thể la cà nơi tửu
quán, ăn chơi đàng điếm v.v... mà không ai có quyền nói gì
về đời tư của mình. Ông thầy, về đạo đức xã hội,
không có bổn phận phải làm gương cho học trò.
Ở
Việt Nam, truyền thống xã hội không cho phép các người thầy
giáo tự do muốn làm gì thì làm. Ngoài việc dạy văn hóa,
chuyên môn trong các trường, người thầy giáo còn là những
tấm gương về tác phong và đạo đức để cho các học trò
soi vào. Một cô giáo không thể ngồi ở đầu đường ăn
quà vặt, không thể ăn mặc lôi thôi hay màu sắc sặc sỡ,
lố lăng. Một ông thầy không thể rượu chè be bét, không
thể ăn chơi trác táng, đầu tóc bù xù.v... Nghề giáo bao
giờ cũng là nghề khiêm tốn về đồng lương nhưng cũng là
nghề cao quý nhất trong xã hội, vì các thầy cô, ngoài việc
truyền bá kiến thức còn dạy giỗ đàn em nhỏ trong vấn
đề đạo đức và luân lý qua tác phong và đạo đức của
chính bản thân. Cho nên một chính sách khôi phục truyền thống
học đường, nghiêm giữ kỷ luật học đường, song song với
chính sách đãi ngộ giáo chức cho xứng đáng phải là một
ưu tiên trong những quốc sách quan trọng và cấp thời nhất.
Vai
trò của giáo chức trong xã hội Việt Nam rất quan trọng,
có ảnh hưởng đến tương lai dân tộc cho nên một sự suy
sụp đạo đức trong giới giáo chức là một điều bất hạnh
nhất cho dân tộc. Một nền giáo dục có phẩm chất tùy thuộc
hoàn toàn vào giáo giới với sự cộng tác của gia đình học
sinh, sinh viên. Cho nên, muốn cải tiến hay sửa chữa một
nền giáo dục; chúng ta phải chữa ở gốc chứ không chỉ
để ý đến ngọn. Chúng ta phải để ý đến đời sống
kinh tế của giáo chức sao cho họ có một mức sống đủ
để họ không còn phải lo nghĩ đến chuyện kiếm thêm tiền
sao cho đủ sống và nuôi gia đình. Một cái cây mà gốc èo
ọp thì không có hi vọng gì tạo ra cành lá xum xuê, khỏe
mạnh tươi tốt. Trong các nước tân tiến, sự mở mang đầu
óc và phát triển giáo dục quần chúng luôn luôn dựa vào
hai yếu tố: khả năng và đời sống kinh tế của giáo chức,
và thư viện đầy đủ sách vở. Muốn cho đầu óc lớp trẻ
mở mang, không gì bằng đầu tư vào sách vở trong thư viện
các trường cũng như các thư viện công cộng, song song với
một chương trình giáo dục đặt nặng vào sự suy cứu tìm
tòi của học sinh, bỏ lối học từ chương.
Các
sách vở thuộc loại nghiên cứu với đầy đủ tài liệu,
dù có đụng chạm đến vấn đề tế nhị tôn giáo, tín ngưỡng,
cũng phải để cho tự do phổ biến. Chỉ có như vậy người
Việt mới có thể nhìn thấy rõ sự thực, rút ra những kinh
nghiệm lịch sử, củng cố lòng yêu nước và tinh thần dân
tộc. Trong một nền giáo dục mà tài liệu phong phú, cập
nhật hóa sáng kiến mới nẩy nở để có thể đưa nước
nhà tới chỗ giàu, mạnh.
Mặt
khác, giáo dục học đường không thôi thì chưa đủ, vì thời
gian các em ở học đường quá ít và các thầy, cô nếu làm
tròn nhiệm vụ hàng ngày của giáo chức cũng đủ mệt rồi.
Cho nên, giáo dục gia đình cũng là một phần quan trọng trong
vấn đề giáo dục toàn bộ con người. Trong lĩnh vực này,
Phật tử có thể đóng góp rất nhiều. Đại cương thì các
bậc cha mẹ, anh chị trong gia đình phải kiểm soát đời sống
của các em nhỏ để kịp thời ngăn chặn những ảnh hưởng
xấu do những người vô lương kiếm lợi bằng cách làm ô
nhiễm đầu óc lớp trẻ qua sách báo, phim ảnh đồi trụy,
hoặc đầu độc các em bằng ma túy, thuốc lá hay rượu. Phụ
huynh học sinh cần đòi hỏi chính quyền ra những đạo luật
nghiêm trị những kẻ phạm pháp trong lĩnh vực đầu độc
đầu óc và thân thể lớp trẻ này. Phụ huynh học sinh cũng
phải đòi hỏi chính quyền ra những đạo luật ngăn cấm
trẻ em vị thành niên uống rượu, hút thuốc lá, lái xe hơi,
xe gắn máy.v.v... và đưa ra những chính sách lành mạnh hóa
xã hội, cấm nhập cảng phim ảnh, sách báo mà nội dung có
tính cách bạo tàn hay khiêu dâm.
Phụ
huynh cũng phải tự mình làm gương cho con em qua một lối sống
lành mạnh và đạo đức, khuyến khích con em học những ngành
hữu dụng, gia nhập những đoàn thể để có những sinh hoạt
tập thể lành mạnh. Phụ huynh cũng nên góp ý cùng chính quyền
và đóng góp vào việc thành hình một chương trình giáo dục
hợp lý. Chương trình giáo dục này phải phù hợp với hoàn
cảnh lịch sử, địa lý, kinh tế của đất nước.
Việt
Nam nặng về nông nghiệp và ngư nghiệp, cho nên mọi chính
sách kinh tế không thể bỏ qua hai lĩnh vực này. Sự phát
triển kinh tế phải đồng đều : phát triển thành thị song
song với cải tiến và phát triển nông thôn đề hố cách
biệt giữa nông thôn và thành thị không quá sâu và quá xa,
dễ đưa đến sự bất mãn so bì và hiện tượng nông thôn
đổ lên thành thị, làm suy yếu nền tảng hạ tầng cơ sở
xã hội và gây nên nhưng vấn đề xã hội nơi thành thị.
Vấn
đề mở mang dân trí, giáo dục quần chúng, và xây dựng đất
nước là một vấn đề rộng lớn. Đường hướng giáo dục,
bất kể theo sách lược nào, đều nên hướng về mục tiêu
bảo vệ và phát huy nền văn hóa dân tộc, cũng là nền văn
hóa Phật giáo.
(Trích
theo ĐÔI ĐIỀU NHẬN XÉT & GÓP Ý XUNG QUANH:
“BẢN
DỰ THẢO BÁO CÁO CHÍNH TRỊ ĐẠI HỘI X, giaodiem.com)
Tạp bút Nguyễn
Thanh Thảo
HOA
TRÊN MỘ…
Những
bông hoa vàng nở trên khu mộ ngoài vườn khiến tôi có cảm
giác sửng sốt vì hạnh phúc. Những bông hoa mới kiêu hãnh
và đẹp đẽ làm sao. Hoa nở trên những đụn cát nhỏ, hoa
nở trên thành bia mộ, hoa nở trên những mảng gạch đã nhuốm
màu thời gian, hoa nở trong cảm giác khắc khoải hồi tưởng
về những người đã khuất, những người vĩnh viễn nằm
yên trong lòng đất mẹ.
Hoa
gieo trên mộ, tại sao không? Chúng ta đã từng có biết bao
ý tưởng về căn nhà thứ hai của cuộc đời với đầy ắp
những điều tươi đẹp. Tôi yêu mến Trịnh Công Sơn bởi
cái ý tưởng muốn biến những nghĩa trang, những khu mộ phần
thành những khu công viên thật nhiều cây xanh và hoa trái để
trẻ con có thể đến thả diều nơi đó, người lớn có thể
đi tản bộ ở nơi đó mà không cảm thấy có sự cách biệt
giữ “thế giới này” và “thế giới kia”, giữa cõi người
ta và một cõi đi về…
Cha
tôi gieo trên khu mộ tổ tiên chỉ một loài cúc tần có vị
thảo dược thơm thơm dịu dịu. Trong một quán cà phê ở
Huế cũng trồng nhiều loại hoa này trên tường thành dọc
lối đi. Và nơi nào hoa cũng như hoa, nở tự nhiên quấn quýt,
hồn nhiên như không biết gió sương mưa móc, không biết mùa
đi mùa về, không biết những ai đi qua đã dừng lại nhìn
ngắm hay lãng quên…
Cha
tôi gieo hạt đầu mùa thu, đến cuối mùa thì hoa đã nở
những bông đầu tiên bình yên trên cát, ở nơi tưởng chừng
như chỉ có sự im lặng. Mỗi ngày, cha tôi thăm khu mộ hai
lần, có khi hơn, một lần tưới nước cho hoa còn một hoặc
nhiều hơn đến ngắm nhìn và trò chuyện. Những câu chuyện
hằng ngày trong cuộc sống của một người nông phu về nương
chè, rẫy sắn, về thửa ruộng mới vừa xanh lá hay đến
vụ trổ đòng. Và biết bao điều thầm kín của nhân sinh
mà cha không thể nói với chúng tôi, không thể… Những lúc
như vậy, hoa như một sự mường tượng của hình ảnh tổ
tiên; hoa trở nên thân thiết và gần gũi như một người
bạn, chia xẻ, cảm thông, an ủi một cách chân thành bằng
cách nở những màu tươi mới.
Hoa
vẫn nở trên mộ mỗi ngày, hoa vẫn sống bằng sức sống
của thiên nhiên quyện mình trong sự không ngăn cách trên những
con đường sinh tử. Hoa cho tôi biết yêu mến và bình an bằng
chữ tâm bình thường của một con người đang sống cùng
những điều kỳ diệu có thật của cuộc đời.
NTT.
BÌNH
YÊN và DỊU DÀNG
Nguyễn
Anh Thi
Tôi
dường như không thể nào viết được về các con của
tôi, không thể nào viết về những gì mà tôi yêu quý nhất,
vì với tôi, đó là một thứ tình cảm thật khó giải thích...
Hằng
ngày, bất cứ lúc nào tôi cũng đều nghĩ về các con của
tôi, lắng nghe mọi âm thanh từ các con tôi, từ giọng nói,
hơi thở và kể cả sự im lặng. Và tôi tận hưởng không
khí thanh bình vào mỗi tối, khi các con ở bên tôi và vui đùa
tươi tắn trong căn phòng nhỏ có những giỏ hoa Phong lữ thảo
đu đưa trước gió, với những chú cá vàng đang quẫy đuôi
dưới lớp bèo lấm tấm xanh. Rồi tôi lặng lẽ vuốt tóc
chúng khi chúng ngủ và sau đó, tôi cũng có thể chìm vào một
giấc ngủ hiền hòa.
Tôi
luôn tin rằng, cuộc đời của tôi là hàng ngàn hàng vạn
cuộc đời khác hòa trộn lại trong từng khoảng khắc. Và
với mỗi đứa con của tôi, ngay khi chúng sinh ra, chúng giúp
cho tôi sống với một cuộc đời mới. Chúng làm cho cuộc
sống của tôi tươi mới với những nỗi buồn, niềm vui và
nỗi đau đớn khác nhau, với một sự ràng buộc khác nhau
và cũng là sự độc lập giữa hai con người khác nhau.
Bà
tôi thường kể về những lần bà mang thai, bà có 10 người
con. Mẹ tôi cũng kể lần lượt về những lần mang thai, mẹ
có 5 đứa con. Và sau đó là đến lượt tôi.
Khi
mới mang thai, cảm giác đầu tiên là tôi cảm thấy có một
sự gắn bó giữa tôi và con tôi, và chúng tôi tập làm quen
với nhau. Con tôi thì lớn dần trong bụng từng ngày, còn tôi
ốm nghén ngả nghiêng suốt 3 tháng ròng. Tôi cố gắng chịu
đựng mọi cảm giác khó chịu. Mọi người mẹ trên đời
đều làm như tôi để nuôi nấng một bào thai. Có lẽ trong
bụng của tôi, con cũng khó chịu lắm, vì nó đang phải làm
quen với tôi. Dần dà, chúng tôi hòa hợp với nhau. Tôi lắng
nghe tiếng máy thai như tiếng cá quẫy trong người tôi. Tôi
lắng nghe tiếng tim thai đập như vó của một chú ngựa bé
nhỏ khoẻ mạnh, lắng nghe từng tiếng đạp của con, đôi
khi tôi sờ thấy cả cái đầu gối tròn vo của con. Và tôi
cảm nhận được rằng, con tôi cũng thấy thích thú khi được
ở bên trong tôi một cách bình yên và dịu dàng.
Cho
đến khi đủ 9 tháng 10 ngày, cũng như mọi người mẹ khác,
tôi bắt đầu hiểu được nỗi đau. Không một người mẹ
nào lại không sợ hãi nỗi đau đớn khi sinh con. Tôi nghĩ,
trong bốn nỗi đau lớn nhất của đời người mà Đức Thích
Ca Mâu Ni chỉ ra: Sinh, Lão, Bệnh, Tử..., thì chính những người
đàn bà là những người trước tiên tiếp cận với một
trong bốn nỗi khổ đau ấy - nỗi đau của sinh nở - một
khía cạnh của cuộc sống.
Nhưng
mỗi khi nhớ lại nỗi đau vượt cạn, tôi đều thầm cám
ơn cuộc sống cho tôi hạnh phúc làm mẹ. Trong cơn đau đớn
điên cuồng, mặt mũi méo mó, nước mắt giàn dụa và người
lấm lem máu, nhưng khi con tôi lọt lòng cất tiếng khóc chào
đời thì đó là khoảnh khắc kỳ diệu nhất của sự sống.
Tôi không thể nói gì được về cái khoảnh khắc đó, chỉ
cảm nhận mà thôi.
Cũng
như mọi phụ nữ khác, khi còn trẻ, tôi thường nghĩ đơn
giản rằng nếu sống độc thân thì sẽ cô đơn, còn nếu
sống trong gia đình, có chồng có con thì sẽ hết cô đơn.
Tuy nhiên, càng ngày, tôi càng hiểu rằng thực sự, ngay cả
khi một người phụ nữ có gia đình, có con thì mỗi người
vẫn là một người. Và mỗi người, tuy hòa hợp trong một
cộng đồng thân ái thì vẫn phải sống độc lập. Điều
duy nhất mà tôi đem lại về mặt thân xác cho các con tôi
là gen di truyền của một người mẹ. Và điều tối đa mà
tôi có thể cố gắng, đó là mang lại cho các con tinh thần
của tôi.
Tôi
buộc phải suy nghĩ rất nhiều về tinh thần của cá nhân.
Tôi mong muốn là một người tự do trong tư tưởng và mọi
suy nghĩ. Tôi mong muốn là một người mẹ dịu dàng và âm
yếm các con. Tôi mong muốn là một người mẹ hiểu biết
có thể giúp các con tôi vượt qua mọi khó khăn và thử thách
trong cuộc sống với một tinh thần vô uý. Tôi mong muốn là
một người bạn đời dài lâu của các con tôi, ngay cả khi
tôi đang còn sống cũng như khi tôi đi qua cuộc đời này.
Và tôi muốn tinh thần của tôi được các con tôi hoan hỷ
đón nhận. Tôi cũng mong muốn chúng tha thứ cho tôi những
giây phút nóng giận và bất công mà vô tình tôi đã làm ảnh
hưởng đến chúng. Tôi cũng mong muốn các con tôi được sống
và lớn lên trong sự hiểu biết, tình yêu thương, sự trân
trọng cái đẹp của cuộc sống và quan trọng nhất là chúng
tự do. Để chúng được tự do, có thể tôi phải hy sinh những
lợi ích của một người mẹ. Nhưng tôi vẫn mong muốn các
con tôi phải tự do và làm những điều chúng mơ ước, chúng
thích thú (tất nhiên ngoại trừ những điều sai và xấu).
Để làm được tất cả những điều này thật gian nan biết
bao!
Tôi
vốn là một phụ nữ yếu đuối, hay lo âu và sợ hãi, đối
với tôi, tất cả các mong muốn nêu trên đều không đơn
giản. Đôi khi tôi thường khóc rất nhiều và lo nghĩ: nếu
tôi có bề gì thì các con tôi sẽ ra sao. Đó là khoảng thời
gian rất khó khăn trong cuộc sống của tôi, khi tôi ốm đau
nhiều, suy sụp tinh thần và thể chất. Và những biến cố
tai hại của cuộc sống đến rất nhiều với gia đình tôi.
Đôi khi tôi bị rơi vào một tình trạng thật tồi tệ, cảm
giác như mình sẽ mất tất cả, từ cuộc sống, gia đình,
nhà cửa, và quan trọng nhất là các con của tôi. Bị day dứt
và giày vò, tôi thường khóc rất nhiều, nhất là vào ban
đêm, khi các con ngủ.
Vào
một đêm, khi tôi đang khóc, con trai bé nhỏ của tôi nằm
cạnh mẹ, rờ tay lên gối thấy đầm đìa nước mắt, cháu
ngồi dậy và nói: "Mẹ hãy nín đi, khóc chẳng giải quyết
được gì cả, chính mẹ hay nói với con như thế mà" (tôi
thường dỗ các con như vậy khi chúng buồn và khóc). Và lần
thứ hai cháu làm tôi giật mình là một buổi chiều đón cháu
đi học về, ngồi sau lưng mẹ trên xe máy cháu nhất định
không chịu ôm mẹ, và nói: "Mẹ yên tâm, con tự xoay sở được
mà. Con đã vào học kỳ hai của lớp 1 rồi, con không còn
là em bé nữa đâu”... Câu nói của cháu, tuy rất ngây thơ,
nhưng giúp tôi hiểu rằng thực sự các con tôi hoàn toàn có
thể sống được, cho dù không may nếu tôi chẳng còn ở trên
đời này nữa. Nếu không có mẹ, chúng có thể vất vả,
khổ sở, nhưng bù lại, chúng sẽ có can đảm để sống một
cách tự lập.
Thật
bất ngờ, chính điều này làm tôi vượt qua bệnh tật và
những hoàn cảnh khó khăn nhất của cuộc sống. Để làm
được những điều mà tôi mong muốn, nghĩa là làm cho tinh
thần của tôi đến được với các con tôi, mỗi ngày, tôi
đang nỗ lực trong việc rèn luyện tinh thần. Và bằng cuộc
sống và những khó khăn của một người mẹ, tôi nhìn thấy
rõ nỗi đau buồn và niềm vui của bà tôi, của mẹ tôi và
của cả những người mẹ quanh tôi. Nhờ đó mà tôi có thể
cảm thông với con tôi, với mọi người xung quanh và cảm
thấy một tình yêu thương lớn dần lên trong tôi từng ngày...
Lời
cảm ơn cuộc sống
Lần
đầu tiên tôi được đọc Văn Hóa Phật Giáo là lúc ba tôi
lâm trọng bệnh, món quà từ một người bạn. Tôi thực sự
xúc động về những tình cảm sâu sắc mà bạn dành cho tôi,
giúp tôi có thêm niềm tin và nghị lực để cùng với gia
đình lo cho ba tôi.
Nhờ
phước duyên, ba tôi nay đã qua được cơn hiểm nghèo – điều
mà tôi mong ước và cầu nguyện - tuy không còn sức khỏe
như xưa, nhưng ba tôi vẫn còn đó, để mỗi chiều đi làm
về, tôi lại được thấy ba thương kính, đó đã là điều
đáng quý với tôi lắm rồi.
Đã
tám tháng nay, kể từ ngày ba tôi lâm bệnh, tám tháng với
bao lo lắng và sợ hãi, tôi vẫn đều đặn nhận được món
quà của bạn gởi. Tôi đã đọc Văn Hóa Phật Giáo, được
nhắc nhở về tình yêu thương, về sự vi diệu của cuộc
sống được thể hiện qua từng trang viết rất đời và cũng
rất đạo, để rồi sống vị tha, yêu thương và trân trọng
cuộc sống hơn. Tuy bạn và tôi thường bận rộn với những
công việc khác nhau, ít khi gặp mặt nhau, nhưng mỗi khi nhận
được món quà của bạn, tôi cảm thấy hạnh phúc lắm khi
biết bạn vẫn nghĩ đến tôi, chia sẻ với tôi những lúc
khó khăn nhất trong cuộc sống bằng những giá trị tinh thần
cao quý...
Vài
dòng mộc mạc này xin gửi đến bạn thay lời cảm ơn. Ccảm
ơn cuộc đời với nhiều nhân duyên tốt đẹp!
Quảng
Vân (TP.HCM)
vanpham2709@yahoo.com
Bấy
lâu nay tôi tự cho mình là người hiểu biết, người biết
điều trước mọi hoàn cảnh, rằng mình chưa bao giờ
là người vô cảm... Nhưng một hôm, nhờ một nhân duyên,
tôi đã nhận ra rằng mình còn nhiều thiếu sót.
Hôm
ấy, tôi đi trên một chuyến tàu lửa địa phương. Khi bước
chân lên tàu, tôi có ngay một chỗ ngồi yên ổn, nhưng một
lúc sau, hành khách đông hơn, khoan tàu trở nên chật hẹp.
Một người phụ nữ lớn tuổi bước đến cạnh chỗ tôi,
ngỏ lời xin ngồi tạm. Tôi đã lắc đầu từ chối. Không
phải vì chỗ ngồi quá chật chội mà vì tôi thích sự thoải
mái. Bỗng một cậu bé ngồi gần tôi thấy việc đó, cậu
nhanh nhẩu đứng dậy, nói: “Cô ơi, cô ngồi vào chỗ của
cháu cũng được ạ. Cháu đi đi lại lại chơi cũng không
sao!” Người phụ nữ đó ngồi xuống chỗ cậu bé, và mọi
người chung quanh nhích ra đủ chỗ cho cả cậu bé. Cậu bé
trông chừng chưa tới 10 tuổi... Tôi tự cảm thấy thật xấu
hổ. Sau này, mỗi khi nhớ lại, tôi thầm cảm ơn cậu bé.
Nhất định tôi sẽ có những cư xử trong cuộc sống tốt
hơn.
Dương
Thị Hiền
Số
3, kiệt 1, Chế Lan Viên, TP. Huế (ĐT: 054 – 813395)
MÓN
CHAY
Hoàng
Anh - Phú Xuân
Đậu
ngự trộn
với
nấm hương và đậu khuôn
Vật
liệu:
- Đậu
ngự tươi: 500 gr
-
Đậu khuôn: ½ bìa
-
Nấm hương: 100 gr
-
Boa-rô: 1 cây
-
Gia vị: dầu ăn, xì dầu, muối, tiêu
Cách
làm:
- Đậu
ngự: lột vỏ, rửa sạch, nấu chín.
-
Đậu khuôn: cắt từng miếng mỏng, ram vàng.
-
Nấm hương khô: ngâm nước, rửa sạch, để ráo ướp với
boa-rô xắt mỏng và chút tiêu, xì dầu.
Bắt
chảo nóng, cho vào 1 muỗng dầu ăn, cho nấm và đậu khuôn
vào xào chín, thêm một chút nước để sôi một lát cho thấm.
Sau đó cho đậu ngự vào trộn nhẹ tay. Trước khi nhắc xuống
cho vào một ít boa-rô xanh xắt nhỏ vào để món ăn được
thơm và có thêm màu sắc.
Múc
ra dĩa nhỏ, trang trí vài cọng ngò trên mặt cho đẹp.
Canh
đậu ngự
Vật
liệu :
- Đậu
ngự tươi: 500 gr
-
Bí ngô: 100 gr
-
Củ cải trắn:
100 gr
-
Cà rốt: 100gr
-
Nấm hương hoặc nấm rơm khô: 100gr
-
Đậu hủ: 1 bìa
-
Boa-rô: 1 cây
-
Gia vị: dầu ăn, xì dầu, muối, tiêu, đường.
Chế
biến:
-Bí
ngô, củ cải trắng, cà rốt: gọt vỏ, rửa sạch, cắt hình
hạt lựu. Cho vào nồi đổ nhiều nước nấu với lửa
nhẹ.
-Nấm:
ngâm nước, rửa sạch, để ráo, ướp với boa rô xắt lát
mỏng, chút xì dầu và tiêu.
-Đậu
hủ: cắt hình hạt lựu, chiên vàng.
-Bắt
chảo nóng, cho vào một muỗng dầu ăn, cho nấm và đậu khuôn
vào, khi đã chín thấm thì cho vào nồi canh.
-Đậu
ngự: lột vỏ, rửa sạch, cho vào nồi canh tiếp tục nấu
với lửa nhẹ, đến khi đậu chín mềm nhưng vẫn còn nguyên
hạt, nêm chút muối, đường cho vừa ăn.
-Nhấc
xuống múc ra một tô, cho một ít boa rô xắt mỏng trên mặt