.
.SỐ 16 -15 THÁNG 5, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
 
SỐ 16-THÁNG 5, 2006

 

 


ĐẠO PHẬT TRONG ĐỜI SỐNG 

LTS: Tôn giáo là vấn đề cá nhân. Mỗi người có một cảm thức tôn giáo của chính mình. Nhân kính mừng ngày Đức Phật đản sinh, VHPG  đã đặt một số câu hỏi, mỗi bạn đọc cùng chia sẻ với cảm thức ấy.

Thích Giác Đạo
(Sinh năm 1979, cựu Tăng sinh Trường Cao đẳng Phật học TP. HCM)

- Là một Tăng sĩ trẻ, Đại đức thấy Phật giáo trong nước có đáp ứng được nhu cầu của giới trẻ?

Tôi nghĩ giới trẻ đang rất mong chờ những tín hiệu mới từ Phật giáo, bởi hiện nay đời sống vật chất tuy phát triển nhưng đạo đức lối sống lại đi xuống. Riêng tôi thấy, Phật giáo vẫn chưa vận hành một cách nhịp nhàng vơi xã hội hiện đại. Được biết, Phật giáo đang là chọn lựa mới của người phương Tây, đặc biệt là giới trẻ, thế nhưng ở trong nước, Phật giáo vẫn chưa làm gì nhiều hơn cho họ. Hình như chúng ta vẫn chưa đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: “Sẽ làm gì, và làm như thế nào cho giới trẻ?”. Tôi vẫn mong chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội có chính sách khuyến khích những Tăng Ni trẻ chúng tôi mạnh dạn dấn thân và sáng tạo trong con đường phụng sự. Trước mắt, cần phải có một mô hình sinh hoạt phù hợp cho giới trẻ, để ở đó họ có thể phát biểu những tâm tư, suy nghĩ của mình. Hội thanh niên, sinh viên, trí thức Phật giáo nên được tái thành lập để tránh sự phát triển tự phát. Theo tôi, xây dựng một lối sống chân thực và sáng tạo nơi giới trẻ là điều cần thiết hơn cả những bài học giáo lý nặng tính triết học… Cần ưu tiên cho họ tự trả lời những vấn đề mà xã hội hiện đại đang đặt ra.

Trần Thị Thúy
(Sinh năm 1952, Vietcombank, Q. 1, TP. HCM)

- Cô đã đưa tinh thần Phật giáo vào trong cuộc sống gia đình như thế nào?
- Tôi nghĩ rằng, mọi người Phật tử đều nên ý thức về điều này, vì gia đình là tổ ấm của mình. Đức Phật đã dạy nhiều về trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái và của con cái đối với cha mẹ. Chính vì thế, tôi phát nguyện quy y và thọ nhận 5 học giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không sử dụng các chất gây say, gây nghiện, một cách nhẹ nhàng. Tôi luôn nhắc nhở mình là phải làm gương, bởi cha mẹ luôn là tấm gương phản chiếu đối với con cái. Cha mẹ nên dạy con bằng chính hành động của mình. Đơn giản, nếu muốn con mình không nói dối thì mình phải không nói dối. Lời nói dối làm mất lòng tin, mà mất cái gì thì có thể lấy lại được chứ mất lòng tin thì rất khó có thể lấy lại được. Cũng như rượu và chất gây nghiện là nguyên nhân của nhiều sự đổ vỡ. Tôi nghĩ, bất cứ thời đại nào, dù là người có đạo hay không, năm học giới cũng là nền tảng để từ đó xây dựng hạnh phúc cho một gia đình.

Hoàng Đình Thanh
(Sinh năm 1968, Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Minh, Q. Bình Tân, TP. HCM)

- Trong sự bận rộn của kinh doanh, anh có thường dành riêng cho mình một khoảng lặng tâm linh như ngồi thiền, cầu nguyện…?
- Khi bước vào làm ăn, kinh doanh, đương nhiên sẽ gặp rất nhiều những căng thẳng do áp lực công việc mang lại, nên tôi cho rằng, người kinh doanh, tùy theo mức độ ít nhiều, cần phải có một đời sống tâm linh để cân bằng cuộc sống. Tôi thờ Phật không phải để cầu mong sự cứu giúp mà thường thì tôi xin nhận những khó khăn về mình để cho người thân có hạnh phúc. Tôi tin rằng Đức Phật, tổ tiên luôn theo sát bên mình nên mỗi khi làm điều gì sai lầm, tôi rất ngại đến bên bàn thờ. Mặc dù không hiểu nhiều về ý nghĩa của thiền và cầu nguyện, nhưng tôi thấy đời sống tâm linh luôn phải được duy trì. Tôi cho rằng, tập cho mình một nếp sống tâm linh còn có ý nghĩa hơn những lời nói khuôn sáo trong sách vở.

Tô Thanh Tùng
(Sinh năm 1978, Công ty Địa ốc Sài Gòn, Q. 3, TP. HCM)

- Theo anh, làm thế nào để gặp được những người bạn tốt?
- Cái tốt hay xấu ở một người nào đó, nhiều khi nó chỉ là một cách nhìn, chưa hẳn đã là chính xác. Bởi nếu có ai đó nhìn một cách thiếu thiện cảm về tôi, tôi cũng sẽ không buồn. Khi chọn bạn, tôi vẫn mong gặp những người có cùng chung quan niệm tôn giáo, nhưng vấn đề còn thuộc về tính cách của họ. Vì vậy, tôi không chọn bạn bằng tiêu chí tôn giáo, bởi có người cùng tôn giáo với tôi, nhưng tôi không ấn tượng gì nhiều về nhân cách của họ. Có những người chưa quy y Tam bảo, nhưng nếp sống của họ là nếp sống Phật giáo. Tôi kính trọng họ. Đối với riêng tôi, nếu cha mẹ, người thân là trái tim của mình thì bạn bè là con mắt của mình. Để có một người bạn thực sự, tôi nghĩ rằng nên mở rộng lòng lắng nghe và quan trọng là hãy biết chia sẻ vui buồn với họ một cách đúng lúc.

Lưu Thị Phương Hạnh
(Sinh năm 1978, giáo viên TTGDTX Chu Văn An, Q. 5, TP. HCM)

Theo chị, thế nào là một ngôi chùa đẹp?
Tôi nghĩ rằng, một ngôi chùa đẹp không nhất thiết phải to lớn mà nên có một kiến trúc hài hòa với cảnh quan và môi trường chung quanh. Ngôi chùa và nếp sống Phật giáo đã đi vào tâm thức người Việt từ bao đời nay, đã trở thành bản sắc văn hóa của dân tộc mà không dễ gì có thể thay thế. Nói thế không có nghĩa rằng hình ảnh ngôi chùa không có những thay đổi trong con mắt mọi người. Xưa kia, ngôi chùa vừa là trường học, trung tâm văn hóa, vừa là nơi nuôi dưỡng đời sống tâm linh và còn mang nhiều ý nghĩa xã khác. Nhưng nay, theo tôi cảm nhận, nó vẫn không đáp ứng gì nhiều hơn vấn đề cầu cúng. Ngôi chùa đẹp, theo tôi là ngôi chùa luôn tạo cho mọi người cảm giác gần gũi, bình an, thân thiện, và hơn hết, nơi ấy luôn có những con người biết tự hoàn thiện mình. 

Nguyễn Văn Mùi
(Sinh năm 1979, giảng viên Trường Đại học Công nghệ Tôn Đức Thắng)

- Theo anh, những khó khăn nào mà bạn trẻ hiện nay gặp phải khi đến với đạo Phật?
- Tôi không muốn nói đến hai chữ “khó khăn”, nhưng vì cũng là một người trẻ, tôi hiểu những vấn đề mà bạn trẻ gặp phải. Đó là giữa các thế hệ vẫn chưa tìm được tiếng nói chung, nên chúng tôi có cảm giác khó hòa nhập. Nhiều lúc nhận thấy việc đến chùa chỉ là để tụng kinh, hoặc để nghe những bài giảng không đi thẳng vào quan tâm của mình. Với những gì chúng tôi được học trong nhà trường và những điều chúng tôi biết về đạo Phật qua sách vở có nhiều khác biệt, thậm chí trái ngược nhau. Tôi và nhiều bạn trẻ khác đều mong muốn Phật giáo cần được “cải cách” hơn nữa để thích nghi với xã hội hiện đại. Đơn cử như 5 giới, chúng tôi hiểu nó như một bài học cơ bản dạy làm người, nhưng không trường học nào dạy. Còn ở trong Phật giáo, chúng tôi phải tiếp cận nó một cách khá “tín ngưỡng”. Tôi rất thích khái niệm “Tự điều chỉnh” gần đây trên Văn Hóa Phật Giáo. 

Phạm Thị Nhẫn
(Sinh năm 1952, số 6 Hồ Xuân Hương, Q. 3, TP. HCM)

- Nếu con cô kết hôn với một người khác đạo và bị buộc phải cải đạo, cô có đồng ý không?
- Đây là một câu hỏi khó vì nó liên quan đến hạnh phúc của con cái mình. Nhưng tôi nghĩ rằng nó không khó bằng việc được gặp Phật pháp, bởi niềm tin vào Phật pháp được xây dựng trên cơ sở chánh tín. Chánh tín thì không luôn cho rằng đạo của mình là lẽ phải duy nhất… Rất khó để tôi đồng ý khi người sẽ là bạn đời của cháu không tôn trọng niềm tin thiêng liêng của cháu, bằng cách bắt ép cháu phải cải đạo, từ bỏ niềm tin tôn giáo mà cháu đang theo. Nhưng tôi cũng sẽ rất mừng nếu đời sống tâm linh của các cháu được hòa hợp trong sự tôn trọng, bởi lẽ tôn trọng người khác cũng chính là tôn trọng mình. Nếu con tôi có một quyết định khác mà khiến cháu có thể có hạnh phúc và không đối lập lại với gia đình, bạn bè, không kỳ thị tôn giáo, khen mình chê người…, tôi cũng sẽ đồng ý. Vì người mẹ nào mà không thương con, và hơn hết vì tinh thần từ bi, không chấp trước của đạo Phật. Tuy nhiên, những điều thực tế mà tôi thường chứng kiến vẫn làm tôi luôn lo lắng, bởi hầu hết những người lâm vào hoàn cảnh như vậy đều rất khó có được hạnh phúc. 

Trương Như Tâm
(Sinh năm, giảng viên Trường Anh ngữ Quốc tế Âu-Mỹ, Q. 10)

- Nếu trong cuộc sống gặp phải chuyện không như ý, bằng tinh thần của một Phật tử, anh sẽ phản ứng như thế nào?
- Trong cuộc sống của mỗi người, theo tôi là không thể tránh khỏi những chuyện không như ý. Những chuyện mà mình thích thì rất ít khi xảy ra, còn những chuyện không như ý thì có nhiều và luôn chờ mình ở phía trước. Nói như vậy không phải để chán nản, buông xuôi. Gặp chuyện không như ý, tất nhiên phải nhận diện xem nó có phải là nguyên nhân đến từ chính bản thân mình hay không. Tôi biết, nhiều những va chạm trong cuộc sống khiến tôi luôn gặp phải những khó khăn, đôi khi làm cho tôi rất mệt mỏi, nhưng nếu không có những thử thách bước đầu đó, rất khó để tôi có được kinh nghiệm và sự thành công như hôm nay. Bởi thế, gặp một khó khăn hay gặp chuyện không như ý cũng là một điều tốt. Điều quan trọng là hãy bình tĩnh giải quyết từng bước một. Tôi nghĩ rằng, khó khăn chỉ thực sự đến với những ai không biết vượt qua khó khăn và vượt qua chính mình.

Nguyễn Thị Ngọc Nhung
(Sinh năm 1983, 115/22 Trần Thủ Độ, Q. Tân Phú, TP. HCM)

- Vào những dịp lễ lớn của Phật giáo, chị chia sẻ không khí ấy như thế nào với người thân?
- Gia đình tôi theo đạo Phật, nên vào những dịp lễ lớn, mọi người đều rất hân hoan, chuẩn bị từ mấy ngày trước để đi lễ chùa. Những ngày như vậy, bàn thờ Phật và bàn thờ tổ tiên luôn được trang hoàng, sạch sẽ, ấm cúng. Khi nhìn thấy mẹ chăm chút cho ngày lễ, hay phát nguyện ăn chay cả tháng, tôi rất thương. Điều tôi thường cầu nguyện là cha mẹ luôn được mạnh khỏe, anh chị em luôn thương yêu nhau. Tôi nghĩ, vào những ngày này, mọi người nên quan tâm đến nhau nhiều hơn, chí ít là qua lời cầu nguyện bình an. Và nếu có lỡ giận trách ai thì nên bỏ qua. Phật đản năm nay tôi sẽ treo cờ, lồng đèn và nấu những món chay mới để mọi người cùng chia sẻ không khí ấm cúng ấy. Đó là những điều làm tôi rất vui.

Nam Thắng thực hiện


Thư gởi các em Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Việt Nam:
Đạo Phật trước sự thách đố 
của khoa học hiện đại
Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn

California, ngày 13 tháng 4 năm 2006

Các Em thân mến,

Như anh đã gợi ý với các em trong thư trước, chúng ta sẽ tiếp tục nói đến đề tài về sự thách thức của thời đại đối với tuổi trẻ Phật tử Việt Nam. Trong giới hạn của một lá thư, anh sẽ tập trung vào đề bài: "Đạo Phật trước sự thách đố của khoa học hiện đại". 

 Trước khi vào nội dung chính, anh xin gởi lời cám ơn về những ý kiến hồi âm nhiệt tình và thân quý của các em.

 Trong số những thư liên lạc của các em làm anh quan tâm suy nghĩ, có thư của một huynh trưởng, anh Trương Văn Cường, gởi đi từ Việt Nam ngày 26 tháng 3 năm 2006, nhận xét về tình hình sinh hoạt của GĐPT tại quê nhà. Để tất cả chúng ta có cơ hội đồng đều đóng góp ý kiến vào những vấn đề chung, anh xin trích lại nguyên văn thư  nội dung bức thư đó như sau:

"Thưa anh,

Em thật xúc động khi được đọc Tạp chí Văn Hoá Phật Giáo và nhất là khi được đọc bài viết "Lá thư hải ngoại" của anh gởi về cho tất cả các em Đoàn sinh áo Lam nơi quê nhà, đó là Việt Nam.

Thưa anh, đã không vào sinh hoạt Gia Đình Phật Tử thì thôi, nhưng khi đã vào sinh hoạt rồi thì không còn điều gì có thể ngăn cản ta đến với tổ chức, đến với Gia Đình Phật Tử Việt Nam.

Nhân dịp năm mới này, em kính chúc anh và gia đình được thân tâm thường an lạc, vạn sự kiết tường.Ở Việt Nam hiện nay, Gia Đình Phật Tử sinh hoạt ngày càng suy yếu dần và đây đang là một vấn đề đang được quan tâm hàng đầu; không chỉ riêng em mà tất cả các anh chị Huynh Trưởng thâm niên, các anh chị Huynh Trưởng có chí với Gia Đình Phật Tử.  Anh có cách gì có thể chèo chống nổi con thuyền này không.  Xin anh hãy cho em một lời khuyên chân thành của người anh cả áo Lam.

 Cuối thư, em kính chúc gia đình anh được dồi dào sức khỏe và thư sau em xin được mạn phép nói lại tình hình sinh hoạt GĐPT tại Việt Nam.

 Kính chào tinh tấn.
 Người em áo Lam
 Huynh Trưởng Cấp I A-Dục, GĐPT Việt Nam
 Thiện Tuấn Trương Văn Cường".

Cho dẫu đây là ý khiến riêng của một huynh trưởng hay đó là ý kiến chung của các em thì nội dung bức thư cũng đang đi vào trọng tâm của vấn đề mà chúng ta đang bàn thảo: Gia Đình Phật Tử Việt Nam, cùng chung với tuổi trẻ toàn đất nước, đương đầu với những thử thách của thời đại như thế nào. 

 Anh đã nêu ý kiến của Huynh trưởng Thiện Tuấn trong một cuộc hội luận “liên lục địa” của nhóm Thân Hữu Cư Sĩ và ban biên tập Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo vào chiều thứ sáu tuần trước (Ô hay, buổi chiều ở Mỹ nhưng là sáng sớm ở Pháp, Đức và là buổi trưa ở Việt Nam!)  Theo ý kiến của một số cư sĩ ở Pháp, Đức và Mỹ thì chưa nói đến số lượng, nhưng chỉ cần thấy được hình ảnh Gia Đình Phật Tử Việt Nam còn hiện diện sinh hoạt - sau bao nhiêu năm thăng trầm theo hoàn cảnh - thì cũng đã là một hiện tượng tích cực, đầy khích lệ và đáng tự hào của thế hệ Phật tử trẻ tại quê nhà rồi. Theo một đạo hữu trong ban biên tập của Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo thì hiện nay có 67.000 huynh trưởng và đoàn sinh chính thức đăng ký sinh hoạt.  Ngoài ra, còn một số lượng khá lớn huynh trưởng và đoàn sinh GĐPTVN có sinh hoạt nhưng không đăng ký. Tuy con số còn khiêm tốn so với dân số 82 triệu người, nhưng sức mạnh tinh thần truyền thống của người Phật tử Việt Nam không nhất thiết nằm ở giới hạn những “số liệu thống kê” đóù.

 Đề tài mà tất cả các thành viên trong cuộc hội luận này đều đồng ý đặt trọng tâm hàng đầu là Đạo Pháp, Dân Tộc và Thời Đại.  Để trang bị một tinh thần “Bi - Trí - Dũng hiện đại hóa” cho thế hệ Phật tử trẻ trước những thách đố của thời đại, chúng ta cần những gì? Đấy là tinh thần khoa học, nhu cầu trẻ trung hóa và ý thức mới. Phải cần đến một nỗ lực tổng hợp mới mong loại bỏ được càng sớm càng tốt não trạng câu chấp hình thức và bảo thủ địa phương để tiến vào địa bàn của toàn đất nước và toàn cầu. 

  Khi nói đến khoa học, chúng ta liên tưởng ngay đến trình độ cao cấp của học vấn. Và trình độ học vấn lại được đo bằng cái thước rất tương đối là bằng cấp, học vị mà ở đó, mảnh bằng “đốc tờ”, mảnh bằng tiến sĩ nằm ở vị trí cao nhất.  Sự đo lường này lắm khi lại phản tác dụng vì có một số xã hội hiện nay đào tạo “tiến sĩ giấy” nhiều hơn là tiến sĩ thật mà cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến ngày xưa đã từng gọi là “Ông Nghè Tháng Tám”: Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi!

 Thế nhưng trong cộng đồng khoa học kỹ thuật, muốn dùng người thì biết căn cứ vào đâu, nếu không dựa vào bằng cấp. Tuy nhiên, bằng cấp xưa nay vẫn là con dao hai lưỡi vì giá trị bằng cấp tùy thuộc chủ yếu vào hệ thống giáo dục và đào tạo của một xã hội, một quốc gia. Như Mỹ hiện nay là “trùm” hoài nghi giá trị đích thực của tất cả các loại bằng cấp nước ngoài. Bởi vậy, hệ thống giáo dục Mỹ đánh giá thực chất kiến thức và tài năng thực tiễn của chuyên viên và trí thức bằng kết quả các kỳ thi trực tiếp hơn là qua các mảnh bằng xanh xanh, đỏ đỏ dù là nội địa hay nhập cảng. Có lẽ tất cả các em cũng như anh đều luôn luôn ước mong xã hội nước ta cần phải thoát ra khỏi tình trạng quá vụ bằng cấp rồi lãng quên quên thực chất mà lâu nay báo chí và môi trường truyền thông ở quê nhà thường xuyên góp ý.

Hiện tượng “mảnh giấy làm nên thân giáp bảng” của xã hội thời Nguyễn Khuyến là biểu hiện tiêu cực của một nền học thuật quốc gia phản tinh thần khoa học. Nó đã làm đã làm cho thế hệ già khệnh khạng ôm những mớ danh xưng học vị thiếu tri thức khoa học và bị dính chùm vào mớ bằng cấp rỗng tuếch thiếu nội dung học thuật. Nó đã làm nản lòng thế hệ trẻ có nhiệt huyết và tài năng muốn xây dựng đất nước bằng thực chất chân chính hơn là hình thức dễ dãi.

 Có một lần tham dự lễ tốt nghiệp của các tân khoa tiến sĩ và bác sĩ tại trường Đại Học Nam California (USC), anh nghe một vị giáo sư, tiến sĩ - bác sĩ Roy Sumpter, phát biểu có một ý rất đáng ghi nhận rằng: “Khi bạn đỗ cử nhân (bachelor), bạn tưởng rằng mình biết tất cả vì bạn chỉ được đào tạo trong một chừng mực hợp lý để có thể ra làm một chuyên viên trong một lĩnh vực giới hạn nào đó. Khi bạn đỗ thạc sĩ (master) bạn biết khá hơn một chút rằng, bạn chỉ học được một phần trong lĩnh vực chuyên môn rất mênh mông của bạn.  Nhưng khi bạn đỗ tiến sĩ (doctor) bạn mới biết rằng, bạn chưa biết gì cả, vì giá trị của bậc giáo dục cao cấp không phải là để truyền thụ vốn kiến thức đã có sẵn trong sách vở mà chủ yếu là đào tạo cho bạn một Phương Pháp Luận (methodology) để bạn sử dụng như một phương tiện tốt mà tìm tòi, khai phá”.

 Các em ạ, anh nghĩ rằng Phương pháp luận mới là yếu tính của khoa học.  Sẽ không có những sản phẩm khoa học kỹ thuật tinh vi và tân tiến như ngày nay nếu lịch sử khoa học thiếu vắng phương pháp tìm tòi, nghiên cứu, kiểm nghiệm để đưa ra những nguyên lý đúng nhằm giải thích hiện tượng và giải quyết vấn đề một cách thỏa đáng, rạch ròi, minh bạch. Đạo Phật được xem là một hệ thống triết lý, tư tưởng khoa học bởi vì đạo Phật dùng một phương pháp luận rất khoa học. Đạo Phật sẽ không tồn tại đến ngày nay nếu đạo Phật tách rời cuộc sống hiện thực của con người để theo đuổi một thế giới viễn mơ, một cứu cánh hoang tưởng. Khoa học nói:“Hỡi thế giới nguyên sơ đầy hùm beo, ta sẽ khai sáng ngươi để đánh tan ù lì và mông muội.  Muốn thế ta phải biết rõ ngươi là gì, là ai, là thế nào, là phải làm sao để biến đổi kẻ dã man thành người tử tế”. Đức Phật dạy trong bài học khai tâm cơ bản đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như trong vườn Lộc Uyển: “Cuộc đời nầy vốn khổ. Vì sao mà khổ. Làm thế nào để khỏi khổ.Ta thấy con đường diệt khổ. Người có muốn hết khổ thì nương theo con đường diệt khổ ấy mà đi”! Cốt lõi của “khổ đế” trong đạo Phật là vô minh. Nguyên nhân của phi khoa học là sự dốt nát. Đường khoa học và chân lý khách quan không thể có được bằng sự áp đặt và hứa hẹn. Trước vấn đề, phải tự chính mình tìm hiểu. Rồi tìm cách giải quyết vấn đề. Cũng thế, khoa học là nắm bắt bằng thực nghiệm, không có bắt buộc hay hứa hẹn vu vơ bằng những điều ngoài chính nó. 

 Khái niệm và chu trình cơ bản nhất của khoa học là đặt vấn đề, quan sát, kiểm nghiệm và chứng minh để tìm ra nguyên lý. Đạo Phật nhìn thấy vấn đề; quán tưởng và suy niệm để thấy rõ nguyên nhân của vấn đề; chính mình thực chứng để tìm ra chân lý giải quyết vấn đề. Tứ Diệu Đế - Khổ, Tập, Diệt, Đạo - là một biện chứng khoa học. Bát Chánh Đạo là một cấu trúc chặt chẽ trong tiến trình nghiên cứu và ứng dụng khoa học. Thập Nhị Nhân Duyên là tác động hỗ tương nhân quả của một quá trình thực nghiệm khoa học. Phật tính trong mỗi chúng sanh trong lời dạy của Đức Phật là những chủng tử nguyên tử tinh yếu nhất nằm sẵn trong lòng vạn vật thiên nhiên mà khoa học thường nhắc đến.

 Giới hạn của một lá thư không cho phép anh em chúng ta luận bàn và phân tích sâu rộng nhãn quan khoa học của Đức Phật trong cả hai lĩnh vực thực nghiệm và tâm linh. Suốt cả thế kỷ 20, nhân loại đã tự mình khai sáng (clarification) và giải huyền (demythologization) để thoát ra khỏi phần nào bóng tối âm u của giáo quyền và tín điều phi khoa học.  Nhân loại đã đề cập đến tinh thần khoa học của đạo Phật dưới hình thức này hay hình thức khác qua nhiều thế kỷ và bởi nhiều trường phái.  Không phải chỉ ở phương Đông mà ở phương Tây, từ Albert Einstein đến Carl Jung, Karen Horney, Erich Fromm, Martin Heidegger, Thomas Merton, Alan Watts... đều ca ngợi và chịu ảnh hưởng tính lô-gích, tính khoa học của Phật giáo trong cách nhìn ngắm và nhận định về thế giới và con người.

 Trong đời sống tâm linh và tri thức, kẻ thù của khoa học là tâm lý tiểu xảo vì sự tiểu xảo là nguyên nhân của cái nhìn chủ quan, méo mó và phiến diện về con người và cuộc đời. Triết lý đạo Phật đã cung cấp nhiều cách nhìn, cách phản ứng khác nhau. Con số thường được nhắc đến như một biểu tượng “hằng hà sa số” của Phật giáo là ý niệm “tám vạn bốn ngàn pháp môn”. Những pháp môn trùng điệp của Phật giáo xứng hợp với khái niệm “không gian vô số chiều” của nền khoa học kỹ thuật hậu E=MC² (Einstein). Thế nhưng, mọi hình tướng, mọi thể tánh nhất thiết sẽ quy về không tánh, về “vạn pháp quy nhất”. Cái vòng Không rất tròn trịa này như như bất động và sẽ “không mất một ly, không đi một mảy” gợi lên khái niệm tương đồng của nguyên lý Bảo Toàn Năng Lượng trong khoa học hiện đại.

 Các em thân mến,

 Khi nói về tính khoa học của Phật giáo, anh không cố ý đem những nguyên lý và dữ kiện khoa học để gán ép cho Phật giáo một cách máy móc, ngô nghê hay ngược lại để giải tỏa “mặc cảm tôn giáo” qua nỗ lực viễn mơ, soi rọi tín lý bằng tia la-de của lý tính. Điều anh muốn nhấn mạnh ở đây là sự nhất quán của Phật giáo. Phật giáo có trong từng cội rễ của hơn 26 bộ phái khác nhau, nhưng từng bộ phái không có chung một bản sắc Phật giáo như nhau. Tương tự như cái tai, cái vòi, cái chân, cái ngà là những bộ phận của một con voi nhưng tách ra từng bộ phận riêng lẻ thì nó không phải là con voi…

 Các em ạ, chúng ta là Phật tử, được suy tư, ngưỡng vọng và tắm gội trong suối nguồn đạo Phật. Đạo Phật, tự thân, là một biển lớn thái hoà, mênh mông và an lạc.  Bởi vậy, trong hướng nhìn tích cực, không có sự phân hóa hay rạn nứt nào có ý nghĩa hoặc có lý do tồn tại trong một đại dương Phật giáo. Nếu có bộ phái, tập đoàn hay cá nhân nào đó cố tình gây ra thế phân hoá thì đấy là một sự vô minh, một lối vọng động  phi Phật giáo. Và, một khi nội dung đã không phải là Phật giáo thì chúng ta quan tâm đến hình thức làm gì. Những khe, những suối, những ao hồ, sông lạch có thể có dòng chảy riêng, nhưng tất cả đều được hoá giải khi chảy về biển mẹ. Những đơn vị Gia Đình Phật Tử Việt Nam đang là những dòng sông thanh tân chảy về biển Phật. 

Tính khoa học của đạo Phật chính là hướng nhìn tích cực, là ngọn đuốc soi đường của một tiến trình tự thân hóa giải. Mỗi thành viên trong đại Gia đình Phật tử VN giữ vững đạo tâm của mình và “củng cố đạo tâm” của người bằng nhiều cách. Cách nào cũng hay, miễn là đang vững vàng tiến bước trên đường Đạo.  Sự chia rẽ, phân hóa đáng sợ nhất đối với người Phật tử là hiện tượng xâu xé nội bộ, khi những người anh em không nhìn rõ hay cố tình không nhìn rõ mặt nhau. Sự suy yếu sẽ bắt nguồn từ đó.

Anh ước mong tất cả các em hãy cố gắng nhìn rõ và nhìn kỹ mặt nhau bằng lăng kính Áo Lam và bằng ánh sáng Đạo Vàng.
Thư đã dài, xin hẹn với các em thư sau. 
 Thương mến chào tất cả các em với lời chúc tinh tấn và an lạc.

Liên lạc: Trankiemdoan.net                                                            Doantran@sbcglobal.net

THIỀN THAY ĐỔI 
CẤU TRÚC CỦA NÃO

 Việc thực hành thiền định thường xuyên được chứng minh là có tạo ra những thay đổi cấu trúc của vùng não liên quan đến quá trình tập trung và xử lý các giác quan. Một nghiên cứu về hình ảnh do các nhà nghiên cứu của Bệnh viện Đa khoa Massachusets (MGH) giữa tháng ba vừa qua  đã chứng minh rằng có một số vùng đặc biệt của võ não, lớp ngoài cùng của não, dày hơn đối với những người thực hành một loại thiền thường được áp dụng ở Hoa Kỳ và một số nuớc phương Tây khác.  Bài nghiên cứu xuất hiện trên Tạp chí NeuroReport (Báo cáo chuyên đề về Thần kinh), số ra ngày 15 tháng 11, và một nghiên cứu khác đang được trình bày tại cuộc họp ngày 14 tháng 11 chuyên về lĩnh vực Khoa học Thần kinh tại Washington, DC.

“Các kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, thiền định có thể tạo ra những thay đổi cấu trúc trên não” - Tiến sĩ Sara Laza, tác giả của Chương trình Nghiên cứu Hình ảnh học trong Thần kinh và Tâm phân học thuộc MGH, phát biểu - “Chúng tôi cũng tìm thấy những bằng chứng cho thấy thiền định có thể làm chậm lại sự suy hóa một số vùng não xảy ra cùng với quá trình lão hóa”.

Các nghiên cứu đã cho thấy thiền định có thể tạo ra những thay đổi trong hoạt động của não, và những người thực hành thiền định đã mô tả sự thay đổi chức năng tư duy vẫn còn tiếp diễn sau khi việc thực tập thiền đã kết thúc. Điều đó chứng tỏ những hiệu quả này mang tính lâu dài. Tuy nhiên, các nghiên cứu này thường được thực hiện trên những tu sĩ Phật giáo thực hành thiền định tập trung, lấy việc thiền định như là một hoạt động ưu tiên trong cuộc sống của mình.

Để điều tra xem thiền định hiện đuợc thực hành ở Hoa Kỳ có thể thực sự thay đổi cấu trúc của não hay không, cuộc nghiên cứu hiện nay được tiến hành trên 20 tu sĩ Phật giáo, những người thực hành Thiền quán, tập trung vào sự “chú tâm” (mindfulness), sự ý thức về các cảm giác, cảm xúc và trạng thái của tâm cụ thể, chuyên biệt và không mang tính phê phán. Trung bình, họ thực hành thiền định trong 9 năm và 6 giờ một tuần. Để so sánh, cuộc nghiên cứu cũng đuợc tiến hành trên 15 người khác không hề thực hành thiền định.

Khi sử dụng Hệ thống MRI chuẩn (Hình ảnh học Cộng hưởng Từ: Magnectic Resonance Imaging - ND), qua những hình ảnh chi tiết cấu trúc não của những người tham gia nghiên cứu, các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng những vùng liên quan đến hoạt động tư duy trong quá trình “thiền quán” dầy hơn so với những người không thực hành thiền quán. Đây là bằng chứng đầu tiên cho thấy sự thay đổi cấu trúc não có thể liên quan đến việc thiền định. Họ còn nhận thấy rằng, ở một vùng liên hệ với sự kết hợp các quá trình nhận thức và cảm xúc, sự khác biệt về độ dày của vỏ não được xác định rõ ràng hơn ở những người lớn tuổi. Điều này cho thấy việc thiền định có thể làm giảm đi sự teo não thường xảy ra với tuổi già.

“Vùng não mà chúng tôi thấy có những khác biệt này là vùng liên quan đến sự điều tiết các chức năng như nhịp tim, nhịp thở và đến sự kết hợp giữa cảm xúc với tư duy và sự hình thành phản ứng.  Đây là trung tâm điều khiển của não”, bà Lazar nói.  Là một giảng viên Tâm lý học tại Đại học Havard, bà cũng nhấn mạnh, giá trị của những kết quả nghiên cứu tầm cỡ nhỏ như thế này cần phải được xác minh bằng những nghiên cứu lớn và lâu dài hơn”.

Tường Nhi dịch


LÀM VIỆC VÀ NGHỈ NGƠI
Nguyễn Thế Đăng

Ngày nay, áp lực công việc luôn đè nặng lên con người hiện đại. Dù là việc làm trí óc, con người phải xử lý một lượng thông tin lớn hơn ngày xưa rất nhiều. Trái với sự tin tưởng của nhiều bộ óc lỗi lạc vào thời kỳ bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ XVIII, rằng khoa học kỹ thuật sẽ làm cho con người được nhàn rỗi hơn (vì đã có máy móc làm thay) và con người sẽ có nhiều thời giờ rảnh rỗi để thưởng thức văn hóa nghệ thuật, vui chơi... Nhưng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, sự cạnh tranh khốc liệt, con người càng bận rộn hơn, làm việc với cường độ cao hơn. Bằng chứng là stress, một sự căng thẳng tinh thần đến mức trở thành bệnh, và chứng bệnh này chỉ có ở những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX. Do đó, nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn càng trở thành cấp thiết.

Làm việc và nghỉ ngơi, ban ngày hoạt động và ban đêm ngủ nghỉ là một quy luật của đời sống mà người xưa cũng như người hiện đại đều phải tuân thủ.

“Tạp chí Fortune liệt kê mười gương mặt lãnh đạo tiêu biểu của nhiều lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá:

Alan Lafley, Chủ tịch tập đoàn Proctor & Jamble làm việc căng trong 1 giờ, sau đó là 15 phút nghỉ ngơi, rảo vòng quanh nơi làm việc. Ông có cách giữ thăng bằng cho trí óc và giữ gìn sức khoẻ là 30 phút thiền mỗi ngày. Bill Cjross, trưởng bộ phận đầu tư của PIMCO, tập Yoga đến 90 phút mỗi ngày. Carlos Jhosn, giám đốc điều hành hai hãng xe hơi hàng đầu là Renault và Nissan chưa bao giờ đem công việc về nhà làm. Jane Friedman, giám đốc nhà sản xuất Harper Collins cũng có suy nghĩ tương tự. Bà luôn luôn biết cách điều tiết công việc hợp lý và cho rằng để cho công việc dồn ép sẽ không có khả năng ra quyết định sáng suốt…” (Tuổi Trẻ tháng 2-2006).

Người ta có thể thư giãn bằng giải trí, du lịch hay ngủ nghỉ. Nhưng sự nghỉ ngơi hiệu quả nhất là thiền định, vì thiền định chiếm thời gian ít nhất và khi đó trí óc được nghỉ ngơi nhiều nhất, nếu không nói đó là sự nghỉ ngơi hoàn toàn, bởi ngay cả khi ngủ, trí óc vẫn hoạt động và tạo thành giấc mơ. Sau một sự nghỉ ngơi tích cực như thế, trí óc sẽ phục hồi sáng suốt hơn, tươi mới hơn. Thiền định làm cho ta đạt đến “sự sáng suốt của buổi ban mai” (chữ của Trang Tử). Nói theo Phật giáo, chính bằng cách khám phá chiều sâu không đáy và bất động của tâm hồn, cái bầu trời rỗng rang vô hạn của tâm thức mà người ta biết ở nơi mình có cái không biến đổi (như hư không), và chính từ đó, người ta có thể ứng xử với sự biến đổi của cuộc đời. Bởi sống và làm việc là một nghệ thuật, một cách sáng tạo và là một cách đem lại hạnh phúc tinh thần.

Không chỉ biết cân bằng giữa làm việc và thiền định nghỉ ngơi, mà dần dần người ta biết cách đưa thiền định, đưa sự nghỉ ngơi sâu xa vào trong đời sống, ngay trong lúc làm việc. Lý tưởng sống của nhiều triết gia Đông cũng như Tây là làm việc như thể giải trí và chơi đùa. Bởi vì, nếu không như thế thì dù không còn bị ai bóc lột, người làm việc vẫn bị công việc bóc lột, vẫn thấy công việc của mình là lao động (hoạt động nhọc nhằn). Khi đưa một trạng thái bình an, một khoảng không gian của tâm hồn làm nền tảng cho hoạt động của thân thể và trí óc, chúng ta sẽ hòa nhập được giữa làm việc và nghỉ ngơi. Với năng lực và niềm hạnh phúc của khoảng không gian đó, làm việc là giải trí, là vui chơi, là sáng tạo.

Mọi đỉnh cao triết học đều đưa đến quan niệm cuộc đời con người và cuộc đời vũ trụ như một trò chơi. Triết gia Ấn Độ Lila nhìn vũ trụ như một trò chơi đùa. Héraclite cho rằng: thời gian là một đứa trẻ chơi cờ trên bãi biển. Trang Tử nói: đời sống là một  cuộc tiêu dao. Khổng Tử cho rằng: “Ta không muốn nói gì cả… Bốn mùa vận hành, vạn vật sinh sôi, trời có nói gì đâu?”. Phật giáo thì quan niệm Bồ tát sống như một trò chơi đùa “du hý tam muội”. Kinh Kim Cương nói về việc “làm mà không làm gì cả”.

Nhìn tới bình diện triết học, bình diện lý tưởng thì có vẻ rắc rối, nhưng trong đời thường vẫn có người đã sống như vậy. Họ làm việc hết mình mà vẫn rảnh rang, nhất là không cố thủ, bám chấp vào thành quả của công việc. Đó không phải là chuyện viễn tưởng hay lý tưởng mơ hồ của người xưa. Chúng ta hãy lấy thí dụ về người giàu nhất thế giới với ngành công nghệ thông tin, kinh tế tri thức và cũng là người đã cống hiến cho nhân loại gần một nửa số gia tài của mình qua những việc công ích trên toàn thế giới là Bill Gates. Mới cách đây mấy hôm, khi nói chuyện với sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, khi được hỏi về những điều quan trọng nhất trong cuộc đời ông, ông trả lời: “Tôi có ba điều may mắn, đó là: gia đình tôi với ba đứa con tuyệt vời. Tiếp theo là công nghệ ở Microsoft, nơi tôi có những công việc thú vị với những con người rất thông minh mà tôi có thể học được những điều mới mẻ. Điều quan trọng thứ ba là số tiền mà tôi kiếm được. Trong tương lai, số tiền đó sẽ quay lại với thế giới theo những cách có ý nghĩa nhất và hiệu quả nhất”.

Hạnh phúc, phải chăng là thái độ không cố chấp vào kết quả của công việc (tiền bạc, danh vọng, quyền lực…) và xem cuộc đời mình như một trò chơi cao cả nhất của phận người?


NÓI KHÔNG ĐƯỢC
BS. Đỗ Hồng Ngọc

Đọc Kim Dung, thấy có một nhân vật Hòa thượng tên là "Nói Không Được" rất thú vị. Thú vị không vì tính cách của ông mà vì cái tên của ông. Thật ra, trong nguyên bản gọi là Hòa thượng Bất Khả Thuyết. "Bất Khả Thuyết" hay "Nói Không Được" ta đã gặp nhiều khi học Phật, không chỉ là Bất khả thuyết mà còn Bất khả tư nghì, Bất khả đắc, Bất khả … 

Đã biết là "bất khả" mà vẫn cứ tò mò truy tìm mọi ngóc ngách, đó là cái nghiệp của chúng sinh, nhất là người làm khoa học, không dễ tin nếu chưa được “chứng minh”. Điều này quả thật hợp ý Phật. Phật đã chẳng luôn nhắc nhở ta đừng vội tin, phải thể nghiệm đi cái đã, phải trực tiếp lấy thân tâm mình làm cái “labo” để mà quan sát ngắm nghía cho thật thấu đáo đó ư? Phật đã chẳng luôn nhắc nhở ta phải tinh cần, tinh tấn, phải thực hành, không được lơ là, chểnh mảng đó ư? Thú vị là, khi còn có thể “thuyết” được thì chỉ mới tới được cái vỏ ngoài, còn tới được chỗ thâm sâu, cốt lõi bên trong hẳn là phải im lặng, phải ú ớ, phải hỏi một đằng trả lời một nẻo, hoặc tốt hơn cả là phải “tu rị, tu rị…”. Tóm lại là nói không được, là bất khả thuyết! 

Khi Phật phát hiện ra con đường, chính Ngài cũng ngại ngùng không muốn tiết lộ, không muốn bày tỏ, vì con đường qủa thật là tuyệt diệu nhưng lạ lùng qúa, ngược đời qúa, khó có ai tin, có khi còn gây phản ứng ngược. Mãi sau ngài mới chịu nói ra và dĩ nhiên rất đắn đo, nói từng phần, với mỗi người một cách khác nhau, tùy đối tượng. Thường khi chứng ngộ rồi, các Thiền sư mới chịu chọn một vài học trò để truyền đạt, mà cũng ít chịu truyền, vì truyền không dễ, bởi nhiều điều “nói không được”, phải quan sát trực tiếp ở thầy và phải thực hành miên mật. có học trò uyên thâm mà không tới cả, loay hoay không thoát; có học trò giã gạo, nấu cơm, không biết chữ mà ngộ. Học giả trí thức, có bằng cấp cao cũng chẳng đến đâu, còm có người hàng thịt, một hôm buông dao thành Phật. cho nên tin không dễ

Trong kinh Kim Cang, Phật và Tu Bồ Đề, hai thầy trò đối đáp như kiểu “role play”, sắm vai để giảng dạy thật hấp dẫn - trước đó, Phật đã lặng lẽ trình diễn “demonstration” một màn rất ấn tượng nhưng không phải ai trong hội chúng cũng nhìn ra. Có lúc, hình như người học trò Tu Bồ Đề giả bộ hoang mang, không tin người đời sau có thể hiểu nổi và thực hành được những lời Phật dạy thì Phật quở: “Chớ nói vậy! Ông chớ nói vậy!” Người đời sau còn “thông minh” hơn, còn nhiều điều kiện hơn, dĩ nhiên là con nhiều khổ đau hơn để mà hiểu Phật. Lạ lùng là nhiều người trẻ ngày nay hiểu Phật rất nhanh, tin Phật nữa - không phải là cái tin di đoan mê tín đâu, mà tin một cách khoa học - như là một phương thuốc chữa bệnh tâm thần cho thời đại, giúp cho con người không dấn mình thêm vào những nỗi khổ đau, ưu phiền, sợ hãi; giúp con người hạnh phúc hơn; tạo một môi trường xã hội tốt đẹp hơn và môi trường thiên nhiên an lành hơn. Những người trẻ thậm chí mới đôi mươi, đặc biệt ở phương Tây ngày nay có vẻ hiểu Phật, thấm phật và hành Phật hơn cả ở phương Đông.

Nỗi khổ đau của kiếp người thật vô vàn, và dĩ nhiên hạnh phúc cũng vô vàn không kém, thấn chí cái chuyện được làm người trên cõi đời này cũng đã là chuyện hi hữu, thế mà lạ thay, chúng ta chỉ thấy những khổ đau, chỉ nguyền rủa cuộc đời, cay đắng với bản thân mình, và có vẻ như rất khoái gặm nhấm những nỗi hkổ đau kia, mà quên đi, lờ đi những niềm hạnh phúc: “Rồi bị thương người ta giữ gươm đau/ Không muốn chữa không chịu lành thú độc” (Xuân Diệu). Cái “thú độc” đó có khi còn gọi là “thú đau thương”, được con người ca tụng, nâng niu, vun vén, hưởng thụ đã bao đời.

Cứ hỏi một người đi, hỏi anh ta có hạnh phúc không, anh ta sẽ sung sướng kể cho nghe triền miên những điều bất hạnh. Còn nếu hỏi anh ta những điều bất hạnh, anh ta sẽ sung sướng kể cho nghe biết bao nỗi khổ đau. Con người sống trong cái hkổ như vậy, loay hoay với cái khổ như vậy, thoát ra không dễ. Một số không nhiều “ngộ” được cái khổ đau kia chính là mấm sống của hạnh phúc, phiền não kia là “nguồn lực” của Bồ đề. Cho nên, có người tìm được con đường, vạch ra con đường, chỉ ra con đường, làm sao không cảm kích. Mà thú vị, con đường đó không ở đâu xa, có sặn đó rồi ở trong ta thôi. Cho nên, người chỉ đường nói, nhả có pháp gì đâu mà bày vẽ, chả có cái gì giành được, lấy được, chiếm được để mà khoe khoang. Conngười đó mới thật dễ thương làm sao. Con người đó bỏ vương quyền, bỏ nhà bỏ cửa lên rừng, lội suối trèo đèo, nhịn đói nhịn khát, có lúc chỉ còn xương bọc da, sờ bụng thì đụng xương sống, có lúc sống trong nghĩa địa, để bọn trẻ chăn trâu nhổ vào mặt (…), rồi ngộ ra một điều thú vị, sảng khoái, thấy con người đáng sống, đáng hạnh phúc. Con người đó đã biết từ bỏ, dám buông bỏ, đã kiên trì, đã kham nhẫn, đã thiền định, đã vượt thoát bằng con đường trí tuệ, và điều quan trọng là không giữ cho riêng mình mà chia sẻ cho tất cả chúng ta, chẳng đáng quý ư? Thấm chí, có lúc không thể nói lên được bằng lời thì Ngài đưa lên một cành hoa và im lặng. Cái sự trao truyền trong im lặng này mới thật là tuyệt diệu, nó làm cho ta được tự do khám phá. Khám phá không ra thì ta…ú ớ, khám phá ra rồi thì ta càng ú ớ, càng nói không được.

 “Quán Tự tại Bồ tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách…”. 

Toàn bộ “bí mật” nằm trong mấy chữ “hành thâm Bát nhã Ba la mật” đó mà không dễ tìm ra. Bát nhã Ba la mật là dịch âm của Prajna paramita. Rõ ràng không phải để đọc tụng. Hành cái gì? Hành cách nào? Câu hỏi đặt ra. Và câu trả lời có thể đơn giản: hành cái “prajna”, theo cách “paramita”. Không thể dựa vào chữ mà cũng không thể không dựa vào chữ. Sai một ly đi một dặm. Nói vậy mà không phải vậy. Không phải vậy mà vậy. Nó cho ta hoàn toàn tự do, và nó đòi ta phải tự thể nghiệm. Không ai có thể “hành” giùm người khác. Bát nhã chỉ là một từ dich âm của Prajna, có nghĩa là Khí, là Thở, là Hô hấp. Thế nhưng bằng cách nào chuyện Thở, chuyện Khí, chuyện Hô hấp rất vật chất kia được chuyển thành cái “Trí”, Trí Bát Nhã, Không, Vô Ngã… Đó là một hành trình không đơn giản, một khám phá tự thân, và với một kết quả hình như cũng “nói không được”. Thưc ra, Phật cũng đã chịu khó nói, chịu khó giảng giải rồi đó trong Tứ Niệm Xứ, trong Anapanasati, chỉ có điều ta chưa “hành thâm” tới nơi tới chốn thôi: “Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí….”. 

Và như thế, Khí, Hô hấp, Prajna kia đã tự vượt qua lúc nào để trở thành Không, Vô Ngã bên trong Quán Tự Tại mà cũng sẽ là bên trong của tất cả chúng ta khi thực sự “hành thâm”? Cái đó nói không được, bất khả thuyết chăng?


VẼ CÂY, VẼ CHIM
Cao Huy Thuần

Tôi nghe tin nhà văn Nguyễn Ngọc Tư bị kiểm điểm cứ tưởng như chuyện đùa. Nhà văn này, và tác phẩm của cô, đôn hậu, trong sáng như một khung trời xanh. Ai tưởng tượng được sấm sét có thể nổ trên bầu trời thanh bình đó? Cô bị đánh mà ai cũng thấy đau. Cây viết trên bàn như cũng rùng mình. Kim đồng hồ quặn một phút mặc niệm. Cho văn chương.

Từ khi đọc "Cánh đồng bất tận" tôi đã muốn viết một thư cho tác giả mà chưa có dịp. Bỗng nhiên đây là dịp tốt. Không phải tôi định viết về cả tác phẩm : chỉ về một trang trong đó thôi. Không ngờ trang đó bây giờ ăn khớp với thời sự văn chương, cho phép tôi vừa gởi lòng đến tác giả, vừa mặc niệm với kim đồng hồ. Đó là mấy câu mở đầu cho truyện "Cánh đồng bất tận" :

"Tôi hiểu biết về Phật giáo không nhiều, vớ được quyển sách nào thì đọc cái ấy. Cũng có điều hiểu được, học được, làm được, nhưng nhiều điều buộc phải "bó tay". Ví dụ như mấy lời này: "Khi nào bạn bực tức, giận dữ, hãy bất động! Ngay tại đó! Đừng cử động! Đừng làm gì cả! Đừng nói gì – dù chỉ một lời. Hãy yên lặng và bất động hoàn toàn. Tuyệt đối không biết gì đến kẻ hoặc sự việc làm cho mình giận dữ (Hạn chế sân hận, trải rộng tình thương - Tỳ kheo Visuddacaraz). Trời ơi, mình giận muốn chết, muốn gào thét, muốn cào cấu, muốn đập phá mà không cho mình nhúc nhích, sao có thể hả hê? Đạt được đạo mới khó làm sao ...”

Đọc lại những hàng trên trong hoàn cảnh mới, tôi có cảm tưởng bây giờ tác giả đã ... đạt đạo. Chắc chắn cô đã không đập phá, cào cấu. Chắc chắn cô đã cần một sự yên lặng "tuyệt đối" để suy nghĩ, để hành động sao cho đúng. Nhà sư kia cũng chỉ nói bấy nhiêu thôi, nhưng lời nói hùng hồn quá và đã đến không đúng lúc. Giận là chuyện thường ngày. Nhiều khi là cần thiết, là hay, nếu đó là giận bất công, giận áp bức, giận cái xấu. Vấn đề là mình phản ứng thế nào, có muốn làm Trương Phi hay không, có muốn đốt nhà hay không khi giận con chuột. Cô Tư đã đem chuyện giận ra để mở đầu, tôi cũng bắt chước cô đi vào chuyện giận trước. Không chừng giữa cái giận và cái hứng sáng tạo của nhà văn có một khoảng trống yên lặng nào đó giống nhau chăng.

Kinh nghiệm của tôi về cái giận là tôi rất khổ mỗi khi giận. Tôi rất khổ và khổ rất lâu mỗi khi cãi cọ với ai. Biết như thế nhưng vẫn giận, vẫn cãi. Vậy thì làm sao vẫn cãi, vẫn giận, mà đừng khổ? Chiến lược thì rất rõ: đừng để cái giận nó kéo mình đi. Nhưng chiến thuật là thế nào? Kinh nghiệm riêng của tôi là thế này: làm bất cứ một hành động gì, cử chỉ gì, ý nghĩ gì không có chút liên quan nào với cơn giận đang bốc. Rót một ly nước. Uống một ngụm. Nhìn chậu hoa đang héo và nghĩ : hôm qua quên tưới nước cho nó. Sắp lại một quyển sách vào kệ. Nhìn hai con ngựa đang đùa với nhau trong bức tranh trên tường. Nghe theo tiếng xe đang chạy ngoài đường. Tiếng nói chuyện của trẻ con đi học về. Trong khi cơn giận đang kéo mình đi, nghĩ đến bất cứ một cái gì khác là để cắt đứt nó. Một hình ảnh đẹp. Một người thân. Một câu thơ. Một câu kinh. Nghĩ đến thôi, không cần đọc, nghĩ chớp một cái, rồi nếu bám theo được một chữ thì cố bám. Câu kinh nằm lòng của tôi là:
 

Chận được cơn giận
Khi đang bùng lên
Như thể hãm được
Xe chạy có đà
Thì người như vậy
Như Lai gọi là
Người lái xe giỏi
Còn những người khác
Chỉ cầm cương hờ.
 

Nghĩ như vậy để làm gì? Để tạo khoảng trống giữa cơn giận và thân miệng. Để tay chân đừng làm bậy, miệng đừng nói bậy. Làm một cái gì, nói một câu gì trong khi giận là thêm cũi cho lửa. Tất nhiên, không phải lúc nào tôi cũng thành công; nhưng càng ngày tôi càng bớt thất bại. 

Nếu tôi giận quá, không nghĩ gì khác được, thì chiến thuật thứ hai được đem ra: nhìn cơn giận. Nhìn nó đến, nhìn nó đang hành hạ mình, nhìn nó bốc lửa, nhìn nó thiêu đốt, cứ để nó thiêu đốt, nhìn nó hạ lửa, nhìn than hồng... Cơn giận đang muốn cuốn tôi theo nó ; tôi hãm nó lại không được thì tôi nhìn nó đi. Vấn đề không phải là cố làm mất nó : sức mấy mà nó mất. Vấn đề là phải ý thức về nó, đừng để mất ý thức. Cơn giận không muốn gì hơn là mình đổ nó lên đầu người khác. Mình nhìn theo nó thì mình tránh được chuyện đó, tránh làm nô lệ. Nhìn theo nó cũng là để tạo khoảng trống trước bước chân nó đi. 

Hai chiến thuật đó được hỗ trợ thêm bằng một suy nghĩ căn bản: phải biết phân biệt con người và hành động, có hành động ác nhưng không có con người ác. Nếu giận, hãy giận cái hành động, đừng giận con người. Người gây cái ác cũng chỉ là nạn nhân của hàng trăm yếu tố bên ngoài; họ đáng thương hơn là đáng giận và nên thương họ. Hơn ai hết, chắc bây giờ cô Tư đang thấm điều này. Chung quanh tôi ở đây, chung quanh cô Tư ở bên nhà, dường như ai cũng biết gởi cái giận của mình vào đâu cho đúng chỗ. Dường như ai cũng biết giận và biết thương, biết giận cái gì, biết thương ai. Giận cái hành động chứ không giận người thì không đổ giận lên đầu người khác bằng thân, bằng miệng. Tức là tạo khoảng trống đó thôi!

Tôi học được câu chuyện này trong sách. Hãy tưởng tượng ta đang chèo thuyền dạo chơi êm ả trên sông một buổi chiều sương mù. Thuyền đang nhẹ trôi như vậy thì, ô hay, bỗng hiện ra từ trong mù sương một chiếc thuyền của ai cứ nhắm thẳng vào thuyền ta mà xông tới. Choảng! Nó đâm vào ta rồi. Giận quá, ta muốn la lối, chửi mắng một trận nên thân, nhưng nhìn lại thì thuyền kia trống trơn, chẳng có ai trong đó. Làm gì bây giờ? Chửi đổng trời đất một tiếng rồi cũng im thôi. Nhưng ví thử bây giờ thuyền kia không trống mà có người chèo, chuyện gì sẽ xảy ra? Trời đất sụp đổ, xô xát, không chừng đổ máu. Cái gì làm hai tình trạng khác nhau? Chỉ thế thôi: một bên có người khác để ta trút cơn giận, một bên chẳng có ai nên cơn giận tự tiêu. Vậy thì phải chăng hãy suy nghĩ về cái trống thì mình làm chủ được cơn giận? 

Cho nên các người học thiền phải học ngồi. Học thở. Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra. Thở như vậy để làm gì? Để chú tâm? Không hẳn. Để rốt cuộc chỉ còn hơi thở mà không còn người thở. Chỉ còn thở vào, chỉ còn thở ra, như gió thổi qua cửa trống. Cái gì bên ngoài cũng vào ra như vậy. Con chim hót trên mái nhà? Thì tiếng chim đi vào, tiếng chim đi ra. Không có người để thích thú : chà, con chim mùa xuân đã về. Cũng không có người để bực dọc: chà, con chim làm ồn quá không để cho người ta thở. Cái gì trống thì không vướng mắc. Cơn giận cũng thế. Cơn giận đi vào, cơn giận đi ra, như tiếng chim. Học thiền là học mở cửa. Mở cửa cho tất cả đi vào, kể cả cơn giận. Mở cửa cho tất cả đi ra, kể cả chính mình. Quên mình đi là cứu cánh của học thiền. Bởi vì quên mình thì mới có tất cả. Cái vỏ lúa không quên mình, không làm trống mình đi, thì cây lúa không mọc được. Khúc củi không quên mình đi thì lửa không rực bốc. Có nhiều khi khúc củi không chịu quên mình: khi đó thì không có lửa, chỉ khói cay mắt. Lửa bốc lên không phải từ gỗ, mà từ cái trống của gỗ. Cô Tư đâu có cần theo đạo Phật, nhưng cô Tư biết trống hơn bao nhiêu người học thiền. Có người phỏng vấn cô về chuyện nhà văn thế này thế kia, cô trả lời: "tôi vẫn không nghĩ mình là nhà này nhà nọ". Cô trống như vậy thì khó đánh cô lắm. Đánh vào khoảng trống thì tự mình mất đà, đã không trúng ai mà còn ngã chúi. Hơn thế nữa, cô biết cô trống thì cô nhìn ai mà chẳng thấy người đó cũng trống? Cô sẽ nghĩ: đâu có ai đánh mình! Ấy là một mớ thành kiến, một mớ mê muội đang biểu diễn mấy đường quyền đó thôi, có con cá nào đâu mà chém cái thớt! 

Thế là từ chuyện giận của cô Tư tôi đã đi qua chuyện trống của thiền mất rồi. Nhưng thiền và sáng tạo nghệ thuật thì có gì khác nhau đâu! Cả hai bên đều nhắm vào cái chỗ trống ấy! Đây, tôi kể chuyện nghệ thuật. Đời xưa, có người thợ mộc vâng lệnh vua đẽo một cái giá chuông. Ông đẽo tài tình thế nào mà khi chuông đánh lên, tiếng ngân nga như đi vào tận tâm can của cả thiên hạ. Hỏi ông bí quyết, ông bảo: có gì đâu, tôi ăn chay nằm đất cho lòng thanh tịnh, rồi tôi quên mất lợi lộc vua ban, quên mất thưởng phạt, quên cả triều đình chức tước, quên luôn thân thể tứ chi của tôi, cứ thế tôi đi vào rừng, tôi ngắm thân cây, ngắm thiên nhiên hiển lộ trong thân cây, lựa cây nào tràn đầy thiên nhiên nhất, rồi sau đó, sau đó, chỉ sau đó thôi, tôi mới mường tượng ra cái giá chuông sẽ đẽo. Ông thợ mộc vứt hết ; ông vứt hết thì ông mới có tất cả, có tất cả thiên nhiên trong ông. Thiên nhiên đó bắt gặp thiên nhiên cuồn cuộn trong thân cây, làm sao chuông không ngân nga tiếng thần? Ông vứt hết, vứt luôn ra khỏi đầu cái định kiến, cái chấp trước về giá chuông; với cái đầu trống trơn như vậy, giá chuông ông đẽo làm sao không khác giá chuông của cả thiên hạ từ xưa đến nay? Chuyện ấy, tôi kể lại từ ông Trang Tử. 

Cùng nói chuyện nghệ thuật cả thì đời nay cũng vậy, bên Tây cũng vậy thôi. Ai cũng biết những tranh vẽ cây nổi tiếng của Matisse. Nhà danh họa ấy đã vẽ cây như thế nào? Ông thú thực: bao nhiêu lần ông đã vẽ cây nhưng chẳng lần nào thành công. Lúc đầu, ông bê cả cái cây vào tranh, nghĩa là cái cây thế nào thì ông vẽ thế ấy. Kết quả làm ông nản, vì ông thấy tranh không có hồn, chẳng nói được gì về mối cảm xúc của ông về cây. Tiếp theo, ông cố đưa vào tranh chỉ tình cảm, xúc động của ông mà thôi, nhưng ông lại bị choáng ngợp trước vẽ đẹp của thân cây, trước sức vóc lực lưỡng của thân ấy và bí ẩn chứa đựng trong đó, đến nỗi ông chỉ vẽ thêm được một hai cành thôi rồi ngưng nửa chừng. Vậy mà, lạ thật, khi ông nhìn cây trong lúc không có ý định vẽ thì lại thấy toàn thể cây từ thấp lên cao. Cứ thế, dù cảm nhận được cây từ gốc đến ngọn, hễ cầm cọ vẽ là ông bị thân cây chiếm trọn đầu óc. Vẽ thân cây xong, đến khi thêm cành lá, lá cành tuồng như chỉ để cắt nghĩa đây là cái cây, chẳng đem lại chút rung động nào. Mãi hoài như vậy, rất lâu, hễ động đến cành lá là y như ông bị dội lui, rất khổ sở. Cho đến một hôm, không có ý định gì trước, ông vớ tập giấy viết thư và thử vẽ cành lá bằng cách đơn giản nhất : mỗi lúc cây từ từ hiện ra dưới ngòi bút, ông lại thấy lá cành mọc ra.

Đó là đoạn thư ông viết cho người bạn tâm giao. Ông vẽ cảnh không được vì vướng tình, tình quá đầy. Ông vẽ tình cũng không được vì vướng cảnh, cảnh rào rạc thần hồn. Đầy ắp tình, đầy ắp cảnh, đầu ông lại còn đầy ắp cái ý định vẽ. Chưa vẽ mà đầu đã bị đóng khung trong ý định, làm sao bức tranh vọt ra? Phải mở cửa cho nó! Phải làm trống cái đầu ! Cho nên Matisse chỉ vẽ được cây khi không có ý định gì trước.

Ông viết rõ trong bức thư: "Tôi nghe nói các ông thầy dạy vẽ bên Tàu dặn học trò: vẽ cây, hãy có cái cảm giác trèo lên với nó khi bắt đầu vẽ từ gốc". Làm sao trèo lên dần dần với cây trong tranh nếu không sống trọn vẹn với nó và chỉ với nó mà thôi? Làm sao sống trọn vẹn với chỉ một mình nó nếu không vứt bỏ hết tất cả ra khỏi đầu, nếu không làm trống cái đầu? 

Matisse viết thêm trong một thư khác: để vẽ cây thực sự, đừng bao giờ có "một hình ảnh đã tạo ra trước". Ông giải thích: "Tôi không lý luận khi tôi vẽ : các họa sư Trung Quôc bảo rằng khi vẽ cây phải trèo lên với nó. Tôi cũng làm như vậy. Nhưng đừng nói trong khi vẽ : tôi đang trèo lên với nó đây và lý luận trên đó. Khi tôi làm một việc gì, tôi không tìm kiếm, tôi chỉ cho". Matisse nói: chỉ cho. Có khác gì các ông thiền sư đâu: chỉ làm, chỉ ngồi, chỉ thở. Cho, làm, ngồi, thở là có. Còn tất cả là không. Từ đâu thổi tới phơi phới ngọn gió trong tranh Matisse? Từ cái trống đó. Ông thổ lộ: "Hình như nỗi vui toát ra trong tranh của tôi bây giờ nhiều hơn trước; đó thực là điều mà tôi đã thử làm cách đây năm mươi năm. Phải trải qua bấy nhiêu năm tôi mới đạt được trình độ cho phép tôi nói được điều tôi muốn nói".

Diễn tả một cách khác, cụ thể hơn, nhưng cùng trên một ý phải biết vứt bỏ trong khi sáng tạo nghệ thuật, Picasso viết: "Ai cũng có một dự trữ như nhau về năng lượng. Người trung bình phung phí năng lượng của họ bằng trăm nghìn cách. Tôi, tôi dồn tất cả sức lực của tôi vào một hướng mà thôi: vẽ. Và tôi hy sinh tất cả mọi chuyện khác vì nó: hy sinh anh, hy sinh tất cả mọi người, kể cả tôi". Kể cả tôi! Chỉ còn vẽ thôi. Người vẽ cũng không còn. Cũng trống trơn. Vì không còn người đứng vẽ nữa cho nên Picasso có thể vẽ ba bốn giờ liên tục, không làm một cử chỉ nào thừa. Có người hỏi ông đứng lâu như thế có mệt không, ông lắc đầu: "Không. Khi tôi làm việc, tôi để cái thân của tôi ngoài cửa, như các người hồi giáo cất bỏ giày dép trước khi vào giáo đường. Trong tình trạng đó, cái thân chỉ nguyên vẹn hiện hữu dưới dạng cây cỏ, và chính vì vậy mà giới họa sĩ chúng tôi thường sống rất lâu". 

Giống hệt như thiền, bí quyết của sáng tạo nghệ thuật là trở về lại với cái đầu trống trơn, cái đầu của đứa bé, cái sơ tâm, cái đầu chưa hề bị ảnh hưởng về bất cứ cái gì khác. Viết một câu văn cũng vậy, một câu thôi, không người cầm bút nào nảy ra được một ý hay, một tứ mới, nếu không vứt bỏ đi hết những gì đã học, đã đọc. Vậy thì cô Tư giận gì, giận ai, nếu người nào đó đổ tràn vào đầu cô một trăm cái chữ "phải": phải thế này, phải thế nọ? Người đó nói cái chuyện gì đâu đâu, nào có liên quan gì đến chuyện viết văn? 

Trên kia, tôi nói: khi cơn giận nổi lên, tôi cố cắt đứt nó bằng một cử chỉ, một hình ảnh, một ý nghĩ, một câu thơ, một câu kinh... Bây giờ, giận chuyện cô Tư, tôi cũng cắt đứt bằng một bài thơ, bài thơ mà tôi vốn thích từ ngày còn đi học, của Jacques Prévert, "Để vẽ chân dung một con chim” :
 

Trước hết vẽ một cái lồng
với cánh cửa mở
sau đó vẽ
một cái gì xinh
một cái gì đơn sơ
một cái gì đẹp
một cái gì ích lợi
cho con chim.
Rồi đặt khung vải cạnh thân cây
trong vườn
trong rừng non
trong rừng già.
Nấp sau cây
không nói
không cử động ...
Đôi khi chim đến nhanh
nhưng cũng có khi hàng năm đằng đẵng
mới quyết định đến. 
Đừng nản.
Chờ.
Chờ hàng năm cũng chẳng sao.
Chim đến nhanh hay chậm 
chẳng liên hệ gì 
với thành công của tác phẩm.
Khi chim đến
nếu nó đến
hãy im lặng thật sâu
chờ chim vào lồng
và khi chim vào rồi
nhè nhẹ đóng cửa lồng bằng bút vẽ.
Rồi
xóa hết nan lồng từng cái một
mà cố tránh đừng động đến lông chim.
Sau đó vẽ cây
chọn cành nào đẹp nhất để vẽ
cho chim.
Cũng vẽ lá cây xanh và hơi mát của gió
bụi mặt trời
tiếng côn trùng tỉ tê trong cỏ nóng bỏng mùa hạ. 
Rồi chờ chim quyết định hót.
Nếu chim không hót
thế là điềm chẳng lành
dấu hiệu bức tranh vẽ xấu.
Nhưng nếu chim hót thì đó là điềm tốt
dấu hiệu bạn có thể ký tên.
Khi đó bạn nhẹ nhàng rất nhẹ nhàng
nhổ một lông chim
và viết tên bạn trên tranh nơi góc.
 

Tôi cam đoan với cô Tư, khi nào cô Tư "giận muốn chết", cô Tư hãy nghĩ đến con chim trong bài thơ, cơn giận sẽ đi qua. Cô Tư nhớ nghen: vẽ một cái lồng chim với cánh cửa mở; đặt cái lồng giữa thiên nhiên; con chim là thiên nhiên thì mình cũng phải thiên nhiên như nó; như vậy thì nó đang là mình và mình đang là nó, cả hai là một; chỉ lúc đó và chỉ lúc đó mới vẽ; và vẽ là mở cửa lồng ra, làm biến nó mất, như chính mình cũng mất; giữa thiên nhiên chỉ còn lồng lộng con chim, không biết chim trong tranh hay chim ngoài trời, tranh vẽ hay chính thiên nhiên tràn trề sức sống  đang hót với chim, nồng với nắng hạ, xanh với lá non, tỉ tê với cỏ... Mình nói chuyện sống trong sáng tạo nghệ thuật. Người kia nói chuyện chết. Hai chuyện có ăn nhậu gì với nhau đâu mà giận? 

19-4-2006 

Chú thích : 
1.Về Matisse : "Lettre à André Rouveyre sur le dessin de l'arbre", Ecrits et propos sur l'art, H. Matisse et D. Fourcade, Paris, Hermann, 1991. Xem thêm : Cynthia Fleury, La joie de peindre, http://humanite.fr/journal2005-04-27/2005-04-27-633266
2.Về Picasso : François Jullien, Nourrir sa vie, Seuil, 2005, trang 164.


Tưởng niệm Quách Thị Trang
Phước Cảnh

Tại vòng xoay trước cổng chợ Bến Thành, một điểm giao lộ của nhiều trục đường chính trong thành phố, nơi nữ sinh Phật tử Quách Thị Trang đã ngã xuống cách đây gần nửa thế kỷ trong cuộc biểu tình phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, từ năm 1964, Hội Sinh viên Học sinh Sài Gòn đã đứng ra vận động và dựng tại đây một đài tưởng niệm Quách Thị Trang, theo mẫu thiết kế của Họa sĩ Mai Ẩn. Và kể từ đó, người dân Sài Gòn quen gọi nơi này là Công trường Quách Thị Trang...

Quách Thị Trang sinh năm 1948, tại làng Cổ Khúc, huyện Tiên Hưng, tỉnh Thái Bình, trong một gia đình có truyền thống Phật giáo. Năm 1954, sáu anh chị em Trang đã cùng mẹ vào Nam, sống ở vùng Chí Hòa, mẹ Trang sớm hôm tần tảo buôn bán để nuôi các con ăn học. Trang là một cô bé ngoan hiền, hồn nhiên, từ nhỏ đã theo sinh hoạt trong Đoàn Oanh Vũ của Gia đình Phật tử Minh Tâm. 

Mùa Phật Đản năm 1963, khi vừa tròn 15 tuổi, là một nữ sinh lớp đệ nhị trường Trung học Trường Sơn, nghe tin tám em Đoàn sinh Phật tử đã ngã xuống trước Đài phát thanh Huế để bảo vệ lá cờ thiêng liêng của Phật giáo, nhất là từ sau đêm 20 tháng 8, khi chùa Xá Lợi bị tấn công, quý thầy bị bắt bớ tra khảo, Trang đã khóc nức nở nói cùng các anh chị Đoàn sinh: "các thầy đã chết hết rồi...", "nếu Phật giáo chết thì em cũng chết...". Vậy là Trang cùng các anh chị tham gia tuyệt thực, biểu tình, đấu tranh chống lại chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô đình Diệm. 

Sáng ngày 25 tháng 8 năm 1963, khi hay tin sẽ có một cuộc biểu tình với quy mô lớn của Đoàn Sinh viên Học sinh Phật tử được phát động ngay trước chợ Bến Thành, Trang đã thức dậy từ sớm, cùng các bạn đến đợi sẵn tại cổng chợ, rồi hòa vào đoàn biểu tình. Bỗng có tiếng súng gầm lên, mọi người quay lại thì Trang đã lẫm liệt ngã xuống, máu nhuộm đỏ tà áo dài nữ sinh. Trang ngã xuống khi bên tai vẫn còn nghe vọng lại những tiếng hô vang: "Hãy giết chúng tôi đi, vì chúng tôi là con Phật". Rồi những viên cảnh sát mặt đằng đằng sát khí ôm súng xông vào, cướp xác Trang đi, đem về chôn trong nghĩa trang Tổng tham mưu, nhằm ém nhẹm cái chết của Trang. Nhưng chỉ sau một ngày, ngày 26 tháng 8 năm 1963, báo chí quốc tế đã đồng loạt lên án hành động dã man đó. Từ Bruselles, Hội Thanh niên thế giới đã có công điện gửi về để phản đối và lên án chính phủ Ngô Đình Diệm là đã tước bỏ quyền tự do, dân chủ của sinh viên và học sinh Việt Nam.

Sau ngày chế độ Diệm sụp đổ, các anh chị Đoàn sinh Phật tử cùng người thân đã cải táng mộ phần của Trang, đưa về chôn trong khuôn viên chùa Phổ Quang, một ngôi chùa cổ nằm trên địa bàn quận Tân Bình. Mộ phần của Trang quanh năm nghi ngút trầm hương, vì luôn được các em Đoàn sinh Phật tử ở đây chăm sóc, hương khói, và ấm cúng nhất là vào những mùa Phật Đản. 

Cho đến hôm nay, mặc dù đã gần nửa thế kỷ qua đi kể từ ngày nữ sinh Phật tử Quách Thị Trang ngã xuống trước cổng chợ Bến Thành để đấu tranh chống lại chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, nhưng mỗi mùa Phật Đản trở về, mỗi khi nghe lại ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Hiền viết về Trang, lòng tôi vẫn thấy bồi hồi một niềm xúc cảm thật khó tả: Trang hỡi Trang, em là vì sao sáng/ Giữa khung trời mây trắng với trăng thanh.../ Hình hài mất, nét tinh anh còn đây/ Giữa muôn tim Trang còn mãi không phai...
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 16-15 THÁNG 5 2006


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)