ĐẠO
PHẬT TRONG ĐỜI SỐNG
LTS:
Tôn giáo là vấn đề cá nhân. Mỗi người có một cảm thức
tôn giáo của chính mình. Nhân kính mừng ngày Đức Phật đản
sinh, VHPG đã đặt một số câu hỏi, mỗi bạn đọc
cùng chia sẻ với cảm thức ấy.
Thích
Giác Đạo
(Sinh
năm 1979, cựu Tăng sinh Trường Cao đẳng Phật học TP. HCM)
- Là
một Tăng sĩ trẻ, Đại đức thấy Phật giáo trong nước
có đáp ứng được nhu cầu của giới trẻ?
Tôi
nghĩ giới trẻ đang rất mong chờ những tín hiệu mới từ
Phật giáo, bởi hiện nay đời sống vật chất tuy phát triển
nhưng đạo đức lối sống lại đi xuống. Riêng tôi thấy,
Phật giáo vẫn chưa vận hành một cách nhịp nhàng vơi xã
hội hiện đại. Được biết, Phật giáo đang là chọn lựa
mới của người phương Tây, đặc biệt là giới trẻ, thế
nhưng ở trong nước, Phật giáo vẫn chưa làm gì nhiều hơn
cho họ. Hình như chúng ta vẫn chưa đặt ra một câu hỏi nghiêm
túc: “Sẽ làm gì, và làm như thế nào cho giới trẻ?”.
Tôi vẫn mong chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội có chính sách
khuyến khích những Tăng Ni trẻ chúng tôi mạnh dạn dấn thân
và sáng tạo trong con đường phụng sự. Trước mắt, cần
phải có một mô hình sinh hoạt phù hợp cho giới trẻ, để
ở đó họ có thể phát biểu những tâm tư, suy nghĩ của
mình. Hội thanh niên, sinh viên, trí thức Phật giáo nên được
tái thành lập để tránh sự phát triển tự phát. Theo tôi,
xây dựng một lối sống chân thực và sáng tạo nơi giới
trẻ là điều cần thiết hơn cả những bài học giáo lý
nặng tính triết học… Cần ưu tiên cho họ tự trả lời
những vấn đề mà xã hội hiện đại đang đặt ra.
Trần
Thị Thúy
(Sinh
năm 1952, Vietcombank, Q. 1, TP. HCM)
- Cô
đã đưa tinh thần Phật giáo vào trong cuộc sống gia đình
như thế nào?
-
Tôi nghĩ rằng, mọi người Phật tử đều nên ý thức về
điều này, vì gia đình là tổ ấm của mình. Đức Phật đã
dạy nhiều về trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái
và của con cái đối với cha mẹ. Chính vì thế, tôi phát
nguyện quy y và thọ nhận 5 học giới: không sát sinh, không
trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không sử dụng các
chất gây say, gây nghiện, một cách nhẹ nhàng. Tôi luôn nhắc
nhở mình là phải làm gương, bởi cha mẹ luôn là tấm gương
phản chiếu đối với con cái. Cha mẹ nên dạy con bằng chính
hành động của mình. Đơn giản, nếu muốn con mình không
nói dối thì mình phải không nói dối. Lời nói dối làm mất
lòng tin, mà mất cái gì thì có thể lấy lại được chứ
mất lòng tin thì rất khó có thể lấy lại được. Cũng như
rượu và chất gây nghiện là nguyên nhân của nhiều sự đổ
vỡ. Tôi nghĩ, bất cứ thời đại nào, dù là người có đạo
hay không, năm học giới cũng là nền tảng để từ đó xây
dựng hạnh phúc cho một gia đình.
Hoàng
Đình Thanh
(Sinh
năm 1968, Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Minh, Q. Bình Tân, TP. HCM)
- Trong
sự bận rộn của kinh doanh, anh có thường dành riêng cho mình
một khoảng lặng tâm linh như ngồi thiền, cầu nguyện…?
-
Khi bước vào làm ăn, kinh doanh, đương nhiên sẽ gặp rất
nhiều những căng thẳng do áp lực công việc mang lại, nên
tôi cho rằng, người kinh doanh, tùy theo mức độ ít nhiều,
cần phải có một đời sống tâm linh để cân bằng cuộc
sống. Tôi thờ Phật không phải để cầu mong sự cứu giúp
mà thường thì tôi xin nhận những khó khăn về mình để
cho người thân có hạnh phúc. Tôi tin rằng Đức Phật, tổ
tiên luôn theo sát bên mình nên mỗi khi làm điều gì sai lầm,
tôi rất ngại đến bên bàn thờ. Mặc dù không hiểu nhiều
về ý nghĩa của thiền và cầu nguyện, nhưng tôi thấy đời
sống tâm linh luôn phải được duy trì. Tôi cho rằng, tập
cho mình một nếp sống tâm linh còn có ý nghĩa hơn những
lời nói khuôn sáo trong sách vở.
Tô
Thanh Tùng
(Sinh
năm 1978, Công ty Địa ốc Sài Gòn, Q. 3, TP. HCM)
- Theo
anh, làm thế nào để gặp được những người bạn tốt?
-
Cái tốt hay xấu ở một người nào đó, nhiều khi nó chỉ
là một cách nhìn, chưa hẳn đã là chính xác. Bởi nếu có
ai đó nhìn một cách thiếu thiện cảm về tôi, tôi cũng sẽ
không buồn. Khi chọn bạn, tôi vẫn mong gặp những người
có cùng chung quan niệm tôn giáo, nhưng vấn đề còn thuộc
về tính cách của họ. Vì vậy, tôi không chọn bạn bằng
tiêu chí tôn giáo, bởi có người cùng tôn giáo với tôi,
nhưng tôi không ấn tượng gì nhiều về nhân cách của họ.
Có những người chưa quy y Tam bảo, nhưng nếp sống của họ
là nếp sống Phật giáo. Tôi kính trọng họ. Đối với riêng
tôi, nếu cha mẹ, người thân là trái tim của mình thì bạn
bè là con mắt của mình. Để có một người bạn thực sự,
tôi nghĩ rằng nên mở rộng lòng lắng nghe và quan trọng là
hãy biết chia sẻ vui buồn với họ một cách đúng lúc.
Lưu
Thị Phương Hạnh
(Sinh
năm 1978, giáo viên TTGDTX Chu Văn An, Q. 5, TP. HCM)
Theo
chị, thế nào là một ngôi chùa đẹp?
Tôi
nghĩ rằng, một ngôi chùa đẹp không nhất thiết phải to
lớn mà nên có một kiến trúc hài hòa với cảnh quan và môi
trường chung quanh. Ngôi chùa và nếp sống Phật giáo đã đi
vào tâm thức người Việt từ bao đời nay, đã trở thành
bản sắc văn hóa của dân tộc mà không dễ gì có thể thay
thế. Nói thế không có nghĩa rằng hình ảnh ngôi chùa không
có những thay đổi trong con mắt mọi người. Xưa kia, ngôi
chùa vừa là trường học, trung tâm văn hóa, vừa là nơi nuôi
dưỡng đời sống tâm linh và còn mang nhiều ý nghĩa xã khác.
Nhưng nay, theo tôi cảm nhận, nó vẫn không đáp ứng gì nhiều
hơn vấn đề cầu cúng. Ngôi chùa đẹp, theo tôi là ngôi chùa
luôn tạo cho mọi người cảm giác gần gũi, bình an, thân
thiện, và hơn hết, nơi ấy luôn có những con người biết
tự hoàn thiện mình.
Nguyễn
Văn Mùi
(Sinh
năm 1979, giảng viên Trường Đại học Công nghệ Tôn Đức
Thắng)
- Theo
anh, những khó khăn nào mà bạn trẻ hiện nay gặp phải khi
đến với đạo Phật?
-
Tôi không muốn nói đến hai chữ “khó khăn”, nhưng vì cũng
là một người trẻ, tôi hiểu những vấn đề mà bạn trẻ
gặp phải. Đó là giữa các thế hệ vẫn chưa tìm được
tiếng nói chung, nên chúng tôi có cảm giác khó hòa nhập.
Nhiều lúc nhận thấy việc đến chùa chỉ là để tụng kinh,
hoặc để nghe những bài giảng không đi thẳng vào quan tâm
của mình. Với những gì chúng tôi được học trong nhà trường
và những điều chúng tôi biết về đạo Phật qua sách vở
có nhiều khác biệt, thậm chí trái ngược nhau. Tôi và nhiều
bạn trẻ khác đều mong muốn Phật giáo cần được “cải
cách” hơn nữa để thích nghi với xã hội hiện đại. Đơn
cử như 5 giới, chúng tôi hiểu nó như một bài học cơ bản
dạy làm người, nhưng không trường học nào dạy. Còn ở
trong Phật giáo, chúng tôi phải tiếp cận nó một cách khá
“tín ngưỡng”. Tôi rất thích khái niệm “Tự điều chỉnh”
gần đây trên Văn Hóa Phật Giáo.
Phạm
Thị Nhẫn
(Sinh
năm 1952, số 6 Hồ Xuân Hương, Q. 3, TP. HCM)
- Nếu
con cô kết hôn với một người khác đạo và bị buộc phải
cải đạo, cô có đồng ý không?
-
Đây là một câu hỏi khó vì nó liên quan đến hạnh phúc
của con cái mình. Nhưng tôi nghĩ rằng nó không khó bằng việc
được gặp Phật pháp, bởi niềm tin vào Phật pháp được
xây dựng trên cơ sở chánh tín. Chánh tín thì không luôn cho
rằng đạo của mình là lẽ phải duy nhất… Rất khó để
tôi đồng ý khi người sẽ là bạn đời của cháu không tôn
trọng niềm tin thiêng liêng của cháu, bằng cách bắt ép cháu
phải cải đạo, từ bỏ niềm tin tôn giáo mà cháu đang theo.
Nhưng tôi cũng sẽ rất mừng nếu đời sống tâm linh của
các cháu được hòa hợp trong sự tôn trọng, bởi lẽ tôn
trọng người khác cũng chính là tôn trọng mình. Nếu con tôi
có một quyết định khác mà khiến cháu có thể có hạnh
phúc và không đối lập lại với gia đình, bạn bè, không
kỳ thị tôn giáo, khen mình chê người…, tôi cũng sẽ đồng
ý. Vì người mẹ nào mà không thương con, và hơn hết vì
tinh thần từ bi, không chấp trước của đạo Phật. Tuy nhiên,
những điều thực tế mà tôi thường chứng kiến vẫn làm
tôi luôn lo lắng, bởi hầu hết những người lâm vào hoàn
cảnh như vậy đều rất khó có được hạnh phúc.
Trương
Như Tâm
(Sinh
năm, giảng viên Trường Anh ngữ Quốc tế Âu-Mỹ, Q. 10)
- Nếu
trong cuộc sống gặp phải chuyện không như ý, bằng tinh thần
của một Phật tử, anh sẽ phản ứng như thế nào?
-
Trong cuộc sống của mỗi người, theo tôi là không thể tránh
khỏi những chuyện không như ý. Những chuyện mà mình thích
thì rất ít khi xảy ra, còn những chuyện không như ý thì
có nhiều và luôn chờ mình ở phía trước. Nói như vậy không
phải để chán nản, buông xuôi. Gặp chuyện không như ý,
tất nhiên phải nhận diện xem nó có phải là nguyên nhân
đến từ chính bản thân mình hay không. Tôi biết, nhiều những
va chạm trong cuộc sống khiến tôi luôn gặp phải những khó
khăn, đôi khi làm cho tôi rất mệt mỏi, nhưng nếu không có
những thử thách bước đầu đó, rất khó để tôi có được
kinh nghiệm và sự thành công như hôm nay. Bởi thế, gặp một
khó khăn hay gặp chuyện không như ý cũng là một điều tốt.
Điều quan trọng là hãy bình tĩnh giải quyết từng bước
một. Tôi nghĩ rằng, khó khăn chỉ thực sự đến với những
ai không biết vượt qua khó khăn và vượt qua chính mình.
Nguyễn
Thị Ngọc Nhung
(Sinh
năm 1983, 115/22 Trần Thủ Độ, Q. Tân Phú, TP. HCM)
- Vào
những dịp lễ lớn của Phật giáo, chị chia sẻ không khí
ấy như thế nào với người thân?
-
Gia đình tôi theo đạo Phật, nên vào những dịp lễ lớn,
mọi người đều rất hân hoan, chuẩn bị từ mấy ngày trước
để đi lễ chùa. Những ngày như vậy, bàn thờ Phật và bàn
thờ tổ tiên luôn được trang hoàng, sạch sẽ, ấm cúng.
Khi nhìn thấy mẹ chăm chút cho ngày lễ, hay phát nguyện ăn
chay cả tháng, tôi rất thương. Điều tôi thường cầu nguyện
là cha mẹ luôn được mạnh khỏe, anh chị em luôn thương
yêu nhau. Tôi nghĩ, vào những ngày này, mọi người nên quan
tâm đến nhau nhiều hơn, chí ít là qua lời cầu nguyện bình
an. Và nếu có lỡ giận trách ai thì nên bỏ qua. Phật đản
năm nay tôi sẽ treo cờ, lồng đèn và nấu những món chay
mới để mọi người cùng chia sẻ không khí ấm cúng ấy.
Đó là những điều làm tôi rất vui.
Nam
Thắng thực hiện
Thư
gởi các em Đoàn sinh Gia Đình Phật Tử Việt Nam:
Đạo
Phật trước sự thách đố
của
khoa học hiện đại
Nguyên
Thọ Trần Kiêm Đoàn
California,
ngày 13 tháng 4 năm 2006
Các
Em thân mến,
Như
anh đã gợi ý với các em trong thư trước, chúng ta sẽ tiếp
tục nói đến đề tài về sự thách thức của thời đại
đối với tuổi trẻ Phật tử Việt Nam. Trong giới hạn của
một lá thư, anh sẽ tập trung vào đề bài: "Đạo Phật trước
sự thách đố của khoa học hiện đại".
Trước
khi vào nội dung chính, anh xin gởi lời cám ơn về những ý
kiến hồi âm nhiệt tình và thân quý của các em.
Trong
số những thư liên lạc của các em làm anh quan tâm suy nghĩ,
có thư của một huynh trưởng, anh Trương Văn Cường, gởi
đi từ Việt Nam ngày 26 tháng 3 năm 2006, nhận xét về tình
hình sinh hoạt của GĐPT tại quê nhà. Để tất cả chúng
ta có cơ hội đồng đều đóng góp ý kiến vào những vấn
đề chung, anh xin trích lại nguyên văn thư nội dung bức
thư đó như sau:
"Thưa
anh,
Em
thật xúc động khi được đọc Tạp chí Văn Hoá Phật Giáo
và nhất là khi được đọc bài viết "Lá thư hải ngoại"
của anh gởi về cho tất cả các em Đoàn sinh áo Lam nơi quê
nhà, đó là Việt Nam.
Thưa
anh, đã không vào sinh hoạt Gia Đình Phật Tử thì thôi, nhưng
khi đã vào sinh hoạt rồi thì không còn điều gì có thể
ngăn cản ta đến với tổ chức, đến với Gia Đình Phật
Tử Việt Nam.
Nhân
dịp năm mới này, em kính chúc anh và gia đình được thân
tâm thường an lạc, vạn sự kiết tường.Ở Việt Nam hiện
nay, Gia Đình Phật Tử sinh hoạt ngày càng suy yếu dần và
đây đang là một vấn đề đang được quan tâm hàng đầu;
không chỉ riêng em mà tất cả các anh chị Huynh Trưởng thâm
niên, các anh chị Huynh Trưởng có chí với Gia Đình Phật
Tử. Anh có cách gì có thể chèo chống nổi con thuyền
này không. Xin anh hãy cho em một lời khuyên chân thành
của người anh cả áo Lam.
Cuối
thư, em kính chúc gia đình anh được dồi dào sức khỏe và
thư sau em xin được mạn phép nói lại tình hình sinh hoạt
GĐPT tại Việt Nam.
Kính
chào tinh tấn.
Người
em áo Lam
Huynh
Trưởng Cấp I A-Dục, GĐPT Việt Nam
Thiện
Tuấn Trương Văn Cường".
Cho
dẫu đây là ý khiến riêng của một huynh trưởng hay đó
là ý kiến chung của các em thì nội dung bức thư cũng đang
đi vào trọng tâm của vấn đề mà chúng ta đang bàn thảo:
Gia Đình Phật Tử Việt Nam, cùng chung với tuổi trẻ toàn
đất nước, đương đầu với những thử thách của thời
đại như thế nào.
Anh
đã nêu ý kiến của Huynh trưởng Thiện Tuấn trong một cuộc
hội luận “liên lục địa” của nhóm Thân Hữu Cư Sĩ và
ban biên tập Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo vào chiều thứ sáu
tuần trước (Ô hay, buổi chiều ở Mỹ nhưng là sáng sớm
ở Pháp, Đức và là buổi trưa ở Việt Nam!) Theo ý kiến
của một số cư sĩ ở Pháp, Đức và Mỹ thì chưa nói đến
số lượng, nhưng chỉ cần thấy được hình ảnh Gia Đình
Phật Tử Việt Nam còn hiện diện sinh hoạt - sau bao nhiêu
năm thăng trầm theo hoàn cảnh - thì cũng đã là một hiện
tượng tích cực, đầy khích lệ và đáng tự hào của thế
hệ Phật tử trẻ tại quê nhà rồi. Theo một đạo hữu trong
ban biên tập của Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo thì hiện nay
có 67.000 huynh trưởng và đoàn sinh chính thức đăng ký sinh
hoạt. Ngoài ra, còn một số lượng khá lớn huynh trưởng
và đoàn sinh GĐPTVN có sinh hoạt nhưng không đăng ký. Tuy con
số còn khiêm tốn so với dân số 82 triệu người, nhưng sức
mạnh tinh thần truyền thống của người Phật tử Việt Nam
không nhất thiết nằm ở giới hạn những “số liệu thống
kê” đóù.
Đề
tài mà tất cả các thành viên trong cuộc hội luận này đều
đồng ý đặt trọng tâm hàng đầu là Đạo Pháp, Dân Tộc
và Thời Đại. Để trang bị một tinh thần “Bi - Trí
- Dũng hiện đại hóa” cho thế hệ Phật tử trẻ trước
những thách đố của thời đại, chúng ta cần những gì?
Đấy là tinh thần khoa học, nhu cầu trẻ trung hóa và ý thức
mới. Phải cần đến một nỗ lực tổng hợp mới mong loại
bỏ được càng sớm càng tốt não trạng câu chấp hình thức
và bảo thủ địa phương để tiến vào địa bàn của toàn
đất nước và toàn cầu.
Khi nói đến khoa học, chúng ta liên tưởng ngay đến trình
độ cao cấp của học vấn. Và trình độ học vấn lại được
đo bằng cái thước rất tương đối là bằng cấp, học vị
mà ở đó, mảnh bằng “đốc tờ”, mảnh bằng tiến sĩ
nằm ở vị trí cao nhất. Sự đo lường này lắm khi
lại phản tác dụng vì có một số xã hội hiện nay đào
tạo “tiến sĩ giấy” nhiều hơn là tiến sĩ thật mà cụ
Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến ngày xưa đã từng gọi là
“Ông Nghè Tháng Tám”: Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi!
Thế
nhưng trong cộng đồng khoa học kỹ thuật, muốn dùng người
thì biết căn cứ vào đâu, nếu không dựa vào bằng cấp.
Tuy nhiên, bằng cấp xưa nay vẫn là con dao hai lưỡi vì giá
trị bằng cấp tùy thuộc chủ yếu vào hệ thống giáo dục
và đào tạo của một xã hội, một quốc gia. Như Mỹ hiện
nay là “trùm” hoài nghi giá trị đích thực của tất cả
các loại bằng cấp nước ngoài. Bởi vậy, hệ thống giáo
dục Mỹ đánh giá thực chất kiến thức và tài năng thực
tiễn của chuyên viên và trí thức bằng kết quả các kỳ
thi trực tiếp hơn là qua các mảnh bằng xanh xanh, đỏ đỏ
dù là nội địa hay nhập cảng. Có lẽ tất cả các em cũng
như anh đều luôn luôn ước mong xã hội nước ta cần phải
thoát ra khỏi tình trạng quá vụ bằng cấp rồi lãng quên
quên thực chất mà lâu nay báo chí và môi trường truyền
thông ở quê nhà thường xuyên góp ý.
Hiện
tượng “mảnh giấy làm nên thân giáp bảng” của xã hội
thời Nguyễn Khuyến là biểu hiện tiêu cực của một nền
học thuật quốc gia phản tinh thần khoa học. Nó đã làm đã
làm cho thế hệ già khệnh khạng ôm những mớ danh xưng học
vị thiếu tri thức khoa học và bị dính chùm vào mớ bằng
cấp rỗng tuếch thiếu nội dung học thuật. Nó đã làm nản
lòng thế hệ trẻ có nhiệt huyết và tài năng muốn xây dựng
đất nước bằng thực chất chân chính hơn là hình thức
dễ dãi.
Có
một lần tham dự lễ tốt nghiệp của các tân khoa tiến sĩ
và bác sĩ tại trường Đại Học Nam California (USC), anh nghe
một vị giáo sư, tiến sĩ - bác sĩ Roy Sumpter, phát biểu có
một ý rất đáng ghi nhận rằng: “Khi bạn đỗ cử nhân
(bachelor), bạn tưởng rằng mình biết tất cả vì bạn chỉ
được đào tạo trong một chừng mực hợp lý để có thể
ra làm một chuyên viên trong một lĩnh vực giới hạn nào đó.
Khi bạn đỗ thạc sĩ (master) bạn biết khá hơn một chút
rằng, bạn chỉ học được một phần trong lĩnh vực chuyên
môn rất mênh mông của bạn. Nhưng khi bạn đỗ tiến
sĩ (doctor) bạn mới biết rằng, bạn chưa biết gì cả, vì
giá trị của bậc giáo dục cao cấp không phải là để truyền
thụ vốn kiến thức đã có sẵn trong sách vở mà chủ yếu
là đào tạo cho bạn một Phương Pháp Luận (methodology) để
bạn sử dụng như một phương tiện tốt mà tìm tòi, khai
phá”.
Các
em ạ, anh nghĩ rằng Phương pháp luận mới là yếu tính của
khoa học. Sẽ không có những sản phẩm khoa học kỹ
thuật tinh vi và tân tiến như ngày nay nếu lịch sử khoa học
thiếu vắng phương pháp tìm tòi, nghiên cứu, kiểm nghiệm
để đưa ra những nguyên lý đúng nhằm giải thích hiện tượng
và giải quyết vấn đề một cách thỏa đáng, rạch ròi,
minh bạch. Đạo Phật được xem là một hệ thống triết
lý, tư tưởng khoa học bởi vì đạo Phật dùng một phương
pháp luận rất khoa học. Đạo Phật sẽ không tồn tại đến
ngày nay nếu đạo Phật tách rời cuộc sống hiện thực của
con người để theo đuổi một thế giới viễn mơ, một cứu
cánh hoang tưởng. Khoa học nói:“Hỡi thế giới nguyên sơ
đầy hùm beo, ta sẽ khai sáng ngươi để đánh tan ù lì và
mông muội. Muốn thế ta phải biết rõ ngươi là gì,
là ai, là thế nào, là phải làm sao để biến đổi kẻ dã
man thành người tử tế”. Đức Phật dạy trong bài học
khai tâm cơ bản đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như trong
vườn Lộc Uyển: “Cuộc đời nầy vốn khổ. Vì sao mà khổ.
Làm thế nào để khỏi khổ.Ta thấy con đường diệt khổ.
Người có muốn hết khổ thì nương theo con đường diệt
khổ ấy mà đi”! Cốt lõi của “khổ đế” trong đạo
Phật là vô minh. Nguyên nhân của phi khoa học là sự dốt
nát. Đường khoa học và chân lý khách quan không thể có được
bằng sự áp đặt và hứa hẹn. Trước vấn đề, phải tự
chính mình tìm hiểu. Rồi tìm cách giải quyết vấn đề.
Cũng thế, khoa học là nắm bắt bằng thực nghiệm, không
có bắt buộc hay hứa hẹn vu vơ bằng những điều ngoài chính
nó.
Khái
niệm và chu trình cơ bản nhất của khoa học là đặt vấn
đề, quan sát, kiểm nghiệm và chứng minh để tìm ra nguyên
lý. Đạo Phật nhìn thấy vấn đề; quán tưởng và suy niệm
để thấy rõ nguyên nhân của vấn đề; chính mình thực chứng
để tìm ra chân lý giải quyết vấn đề. Tứ Diệu Đế -
Khổ, Tập, Diệt, Đạo - là một biện chứng khoa học. Bát
Chánh Đạo là một cấu trúc chặt chẽ trong tiến trình nghiên
cứu và ứng dụng khoa học. Thập Nhị Nhân Duyên là tác động
hỗ tương nhân quả của một quá trình thực nghiệm khoa học.
Phật tính trong mỗi chúng sanh trong lời dạy của Đức Phật
là những chủng tử nguyên tử tinh yếu nhất nằm sẵn trong
lòng vạn vật thiên nhiên mà khoa học thường nhắc đến.
Giới
hạn của một lá thư không cho phép anh em chúng ta luận bàn
và phân tích sâu rộng nhãn quan khoa học của Đức Phật trong
cả hai lĩnh vực thực nghiệm và tâm linh. Suốt cả thế kỷ
20, nhân loại đã tự mình khai sáng (clarification) và giải
huyền (demythologization) để thoát ra khỏi phần nào bóng tối
âm u của giáo quyền và tín điều phi khoa học. Nhân
loại đã đề cập đến tinh thần khoa học của đạo Phật
dưới hình thức này hay hình thức khác qua nhiều thế kỷ
và bởi nhiều trường phái. Không phải chỉ ở phương
Đông mà ở phương Tây, từ Albert Einstein đến Carl Jung, Karen
Horney, Erich Fromm, Martin Heidegger, Thomas Merton, Alan Watts... đều
ca ngợi và chịu ảnh hưởng tính lô-gích, tính khoa học của
Phật giáo trong cách nhìn ngắm và nhận định về thế giới
và con người.
Trong
đời sống tâm linh và tri thức, kẻ thù của khoa học là
tâm lý tiểu xảo vì sự tiểu xảo là nguyên nhân của cái
nhìn chủ quan, méo mó và phiến diện về con người và cuộc
đời. Triết lý đạo Phật đã cung cấp nhiều cách nhìn,
cách phản ứng khác nhau. Con số thường được nhắc đến
như một biểu tượng “hằng hà sa số” của Phật giáo
là ý niệm “tám vạn bốn ngàn pháp môn”. Những pháp môn
trùng điệp của Phật giáo xứng hợp với khái niệm “không
gian vô số chiều” của nền khoa học kỹ thuật hậu E=MC²
(Einstein). Thế nhưng, mọi hình tướng, mọi thể tánh nhất
thiết sẽ quy về không tánh, về “vạn pháp quy nhất”.
Cái vòng Không rất tròn trịa này như như bất động và sẽ
“không mất một ly, không đi một mảy” gợi lên khái niệm
tương đồng của nguyên lý Bảo Toàn Năng Lượng trong khoa
học hiện đại.
Các
em thân mến,
Khi
nói về tính khoa học của Phật giáo, anh không cố ý đem
những nguyên lý và dữ kiện khoa học để gán ép cho Phật
giáo một cách máy móc, ngô nghê hay ngược lại để giải
tỏa “mặc cảm tôn giáo” qua nỗ lực viễn mơ, soi rọi
tín lý bằng tia la-de của lý tính. Điều anh muốn nhấn mạnh
ở đây là sự nhất quán của Phật giáo. Phật giáo có trong
từng cội rễ của hơn 26 bộ phái khác nhau, nhưng từng bộ
phái không có chung một bản sắc Phật giáo như nhau. Tương
tự như cái tai, cái vòi, cái chân, cái ngà là những bộ phận
của một con voi nhưng tách ra từng bộ phận riêng lẻ thì
nó không phải là con voi…
Các
em ạ, chúng ta là Phật tử, được suy tư, ngưỡng vọng và
tắm gội trong suối nguồn đạo Phật. Đạo Phật, tự thân,
là một biển lớn thái hoà, mênh mông và an lạc. Bởi
vậy, trong hướng nhìn tích cực, không có sự phân hóa hay
rạn nứt nào có ý nghĩa hoặc có lý do tồn tại trong một
đại dương Phật giáo. Nếu có bộ phái, tập đoàn hay cá
nhân nào đó cố tình gây ra thế phân hoá thì đấy là một
sự vô minh, một lối vọng động phi Phật giáo. Và,
một khi nội dung đã không phải là Phật giáo thì chúng ta
quan tâm đến hình thức làm gì. Những khe, những suối, những
ao hồ, sông lạch có thể có dòng chảy riêng, nhưng tất cả
đều được hoá giải khi chảy về biển mẹ. Những đơn
vị Gia Đình Phật Tử Việt Nam đang là những dòng sông thanh
tân chảy về biển Phật.
Tính
khoa học của đạo Phật chính là hướng nhìn tích cực, là
ngọn đuốc soi đường của một tiến trình tự thân hóa
giải. Mỗi thành viên trong đại Gia đình Phật tử VN giữ
vững đạo tâm của mình và “củng cố đạo tâm” của
người bằng nhiều cách. Cách nào cũng hay, miễn là đang vững
vàng tiến bước trên đường Đạo. Sự chia rẽ, phân
hóa đáng sợ nhất đối với người Phật tử là hiện tượng
xâu xé nội bộ, khi những người anh em không nhìn rõ hay cố
tình không nhìn rõ mặt nhau. Sự suy yếu sẽ bắt nguồn từ
đó.
Anh
ước mong tất cả các em hãy cố gắng nhìn rõ và nhìn kỹ
mặt nhau bằng lăng kính Áo Lam và bằng ánh sáng Đạo Vàng.
Thư
đã dài, xin hẹn với các em thư sau.
Thương
mến chào tất cả các em với lời chúc tinh tấn và an lạc.
Liên
lạc: Trankiemdoan.net
Doantran@sbcglobal.net
THIỀN
THAY ĐỔI
CẤU
TRÚC CỦA NÃO
Việc
thực hành thiền định thường xuyên được chứng minh là
có tạo ra những thay đổi cấu trúc của vùng não liên quan
đến quá trình tập trung và xử lý các giác quan. Một nghiên
cứu về hình ảnh do các nhà nghiên cứu của Bệnh viện Đa
khoa Massachusets (MGH) giữa tháng ba vừa qua đã chứng minh
rằng có một số vùng đặc biệt của võ não, lớp ngoài
cùng của não, dày hơn đối với những người thực hành
một loại thiền thường được áp dụng ở Hoa Kỳ và một
số nuớc phương Tây khác. Bài nghiên cứu xuất hiện
trên Tạp chí NeuroReport (Báo cáo chuyên đề về Thần kinh),
số ra ngày 15 tháng 11, và một nghiên cứu khác đang được
trình bày tại cuộc họp ngày 14 tháng 11 chuyên về lĩnh vực
Khoa học Thần kinh tại Washington, DC.
“Các
kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, thiền định
có thể tạo ra những thay đổi cấu trúc trên não” - Tiến
sĩ Sara Laza, tác giả của Chương trình Nghiên cứu Hình ảnh
học trong Thần kinh và Tâm phân học thuộc MGH, phát biểu
- “Chúng tôi cũng tìm thấy những bằng chứng cho thấy thiền
định có thể làm chậm lại sự suy hóa một số vùng não
xảy ra cùng với quá trình lão hóa”.
Các
nghiên cứu đã cho thấy thiền định có thể tạo ra những
thay đổi trong hoạt động của não, và những người thực
hành thiền định đã mô tả sự thay đổi chức năng tư duy
vẫn còn tiếp diễn sau khi việc thực tập thiền đã kết
thúc. Điều đó chứng tỏ những hiệu quả này mang tính lâu
dài. Tuy nhiên, các nghiên cứu này thường được thực hiện
trên những tu sĩ Phật giáo thực hành thiền định tập trung,
lấy việc thiền định như là một hoạt động ưu tiên trong
cuộc sống của mình.
Để
điều tra xem thiền định hiện đuợc thực hành ở Hoa Kỳ
có thể thực sự thay đổi cấu trúc của não hay không, cuộc
nghiên cứu hiện nay được tiến hành trên 20 tu sĩ Phật giáo,
những người thực hành Thiền quán, tập trung vào sự “chú
tâm” (mindfulness), sự ý thức về các cảm giác, cảm xúc
và trạng thái của tâm cụ thể, chuyên biệt và không mang
tính phê phán. Trung bình, họ thực hành thiền định trong
9 năm và 6 giờ một tuần. Để so sánh, cuộc nghiên cứu cũng
đuợc tiến hành trên 15 người khác không hề thực hành thiền
định.
Khi
sử dụng Hệ thống MRI chuẩn (Hình ảnh học Cộng hưởng
Từ: Magnectic Resonance Imaging - ND), qua những hình ảnh chi tiết
cấu trúc não của những người tham gia nghiên cứu, các nhà
nghiên cứu tìm thấy rằng những vùng liên quan đến hoạt
động tư duy trong quá trình “thiền quán” dầy hơn so với
những người không thực hành thiền quán. Đây là bằng chứng
đầu tiên cho thấy sự thay đổi cấu trúc não có thể liên
quan đến việc thiền định. Họ còn nhận thấy rằng, ở
một vùng liên hệ với sự kết hợp các quá trình nhận thức
và cảm xúc, sự khác biệt về độ dày của vỏ não được
xác định rõ ràng hơn ở những người lớn tuổi. Điều
này cho thấy việc thiền định có thể làm giảm đi sự teo
não thường xảy ra với tuổi già.
“Vùng
não mà chúng tôi thấy có những khác biệt này là vùng liên
quan đến sự điều tiết các chức năng như nhịp tim, nhịp
thở và đến sự kết hợp giữa cảm xúc với tư duy và sự
hình thành phản ứng. Đây là trung tâm điều khiển của
não”, bà Lazar nói. Là một giảng viên Tâm lý học tại
Đại học Havard, bà cũng nhấn mạnh, giá trị của những
kết quả nghiên cứu tầm cỡ nhỏ như thế này cần phải
được xác minh bằng những nghiên cứu lớn và lâu dài hơn”.
Tường
Nhi dịch
LÀM
VIỆC VÀ NGHỈ NGƠI
Nguyễn
Thế Đăng
Ngày
nay, áp lực công việc luôn đè nặng lên con người hiện
đại. Dù là việc làm trí óc, con người phải xử lý một
lượng thông tin lớn hơn ngày xưa rất nhiều. Trái với sự
tin tưởng của nhiều bộ óc lỗi lạc vào thời kỳ bắt
đầu cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ XVIII, rằng
khoa học kỹ thuật sẽ làm cho con người được nhàn rỗi
hơn (vì đã có máy móc làm thay) và con người sẽ có nhiều
thời giờ rảnh rỗi để thưởng thức văn hóa nghệ thuật,
vui chơi... Nhưng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế,
sự cạnh tranh khốc liệt, con người càng bận rộn hơn, làm
việc với cường độ cao hơn. Bằng chứng là stress, một
sự căng thẳng tinh thần đến mức trở thành bệnh, và chứng
bệnh này chỉ có ở những thập kỷ cuối cùng của thế
kỷ XX. Do đó, nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn càng
trở thành cấp thiết.
Làm
việc và nghỉ ngơi, ban ngày hoạt động và ban đêm ngủ nghỉ
là một quy luật của đời sống mà người xưa cũng như người
hiện đại đều phải tuân thủ.
“Tạp
chí Fortune liệt kê mười gương mặt lãnh đạo tiêu biểu
của nhiều lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá:
Alan
Lafley, Chủ tịch tập đoàn Proctor & Jamble làm việc căng
trong 1 giờ, sau đó là 15 phút nghỉ ngơi, rảo vòng quanh nơi
làm việc. Ông có cách giữ thăng bằng cho trí óc và giữ
gìn sức khoẻ là 30 phút thiền mỗi ngày. Bill Cjross, trưởng
bộ phận đầu tư của PIMCO, tập Yoga đến 90 phút mỗi ngày.
Carlos Jhosn, giám đốc điều hành hai hãng xe hơi hàng đầu
là Renault và Nissan chưa bao giờ đem công việc về nhà làm.
Jane Friedman, giám đốc nhà sản xuất Harper Collins cũng có
suy nghĩ tương tự. Bà luôn luôn biết cách điều tiết công
việc hợp lý và cho rằng để cho công việc dồn ép sẽ không
có khả năng ra quyết định sáng suốt…” (Tuổi Trẻ tháng
2-2006).
Người
ta có thể thư giãn bằng giải trí, du lịch hay ngủ nghỉ.
Nhưng sự nghỉ ngơi hiệu quả nhất là thiền định, vì thiền
định chiếm thời gian ít nhất và khi đó trí óc được nghỉ
ngơi nhiều nhất, nếu không nói đó là sự nghỉ ngơi hoàn
toàn, bởi ngay cả khi ngủ, trí óc vẫn hoạt động và tạo
thành giấc mơ. Sau một sự nghỉ ngơi tích cực như thế,
trí óc sẽ phục hồi sáng suốt hơn, tươi mới hơn. Thiền
định làm cho ta đạt đến “sự sáng suốt của buổi ban
mai” (chữ của Trang Tử). Nói theo Phật giáo, chính bằng
cách khám phá chiều sâu không đáy và bất động của tâm
hồn, cái bầu trời rỗng rang vô hạn của tâm thức mà người
ta biết ở nơi mình có cái không biến đổi (như hư không),
và chính từ đó, người ta có thể ứng xử với sự biến
đổi của cuộc đời. Bởi sống và làm việc là một nghệ
thuật, một cách sáng tạo và là một cách đem lại hạnh
phúc tinh thần.
Không
chỉ biết cân bằng giữa làm việc và thiền định nghỉ
ngơi, mà dần dần người ta biết cách đưa thiền định,
đưa sự nghỉ ngơi sâu xa vào trong đời sống, ngay trong lúc
làm việc. Lý tưởng sống của nhiều triết gia Đông cũng
như Tây là làm việc như thể giải trí và chơi đùa. Bởi
vì, nếu không như thế thì dù không còn bị ai bóc lột, người
làm việc vẫn bị công việc bóc lột, vẫn thấy công việc
của mình là lao động (hoạt động nhọc nhằn). Khi đưa một
trạng thái bình an, một khoảng không gian của tâm hồn làm
nền tảng cho hoạt động của thân thể và trí óc, chúng
ta sẽ hòa nhập được giữa làm việc và nghỉ ngơi. Với
năng lực và niềm hạnh phúc của khoảng không gian đó, làm
việc là giải trí, là vui chơi, là sáng tạo.
Mọi
đỉnh cao triết học đều đưa đến quan niệm cuộc đời
con người và cuộc đời vũ trụ như một trò chơi. Triết
gia Ấn Độ Lila nhìn vũ trụ như một trò chơi đùa. Héraclite
cho rằng: thời gian là một đứa trẻ chơi cờ trên bãi biển.
Trang Tử nói: đời sống là một cuộc tiêu dao. Khổng
Tử cho rằng: “Ta không muốn nói gì cả… Bốn mùa vận
hành, vạn vật sinh sôi, trời có nói gì đâu?”. Phật giáo
thì quan niệm Bồ tát sống như một trò chơi đùa “du hý
tam muội”. Kinh Kim Cương nói về việc “làm mà không làm
gì cả”.
Nhìn
tới bình diện triết học, bình diện lý tưởng thì có vẻ
rắc rối, nhưng trong đời thường vẫn có người đã sống
như vậy. Họ làm việc hết mình mà vẫn rảnh rang, nhất
là không cố thủ, bám chấp vào thành quả của công việc.
Đó không phải là chuyện viễn tưởng hay lý tưởng mơ hồ
của người xưa. Chúng ta hãy lấy thí dụ về người giàu
nhất thế giới với ngành công nghệ thông tin, kinh tế tri
thức và cũng là người đã cống hiến cho nhân loại gần
một nửa số gia tài của mình qua những việc công ích trên
toàn thế giới là Bill Gates. Mới cách đây mấy hôm, khi nói
chuyện với sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, khi được
hỏi về những điều quan trọng nhất trong cuộc đời ông,
ông trả lời: “Tôi có ba điều may mắn, đó là: gia đình
tôi với ba đứa con tuyệt vời. Tiếp theo là công nghệ ở
Microsoft, nơi tôi có những công việc thú vị với những con
người rất thông minh mà tôi có thể học được những điều
mới mẻ. Điều quan trọng thứ ba là số tiền mà tôi kiếm
được. Trong tương lai, số tiền đó sẽ quay lại với thế
giới theo những cách có ý nghĩa nhất và hiệu quả nhất”.
Hạnh
phúc, phải chăng là thái độ không cố chấp vào kết quả
của công việc (tiền bạc, danh vọng, quyền lực…) và xem
cuộc đời mình như một trò chơi cao cả nhất của phận
người?
“NÓI
KHÔNG ĐƯỢC”
BS.
Đỗ Hồng Ngọc
Đọc
Kim Dung, thấy có một nhân vật Hòa thượng tên là "Nói Không
Được" rất thú vị. Thú vị không vì tính cách của ông
mà vì cái tên của ông. Thật ra, trong nguyên bản gọi là
Hòa thượng Bất Khả Thuyết. "Bất Khả Thuyết" hay "Nói Không
Được" ta đã gặp nhiều khi học Phật, không chỉ là Bất
khả thuyết mà còn Bất khả tư nghì, Bất khả đắc, Bất
khả …
Đã
biết là "bất khả" mà vẫn cứ tò mò truy tìm mọi ngóc ngách,
đó là cái nghiệp của chúng sinh, nhất là người làm khoa
học, không dễ tin nếu chưa được “chứng minh”. Điều
này quả thật hợp ý Phật. Phật đã chẳng luôn nhắc nhở
ta đừng vội tin, phải thể nghiệm đi cái đã, phải trực
tiếp lấy thân tâm mình làm cái “labo” để mà quan sát
ngắm nghía cho thật thấu đáo đó ư? Phật đã chẳng luôn
nhắc nhở ta phải tinh cần, tinh tấn, phải thực hành, không
được lơ là, chểnh mảng đó ư? Thú vị là, khi còn có thể
“thuyết” được thì chỉ mới tới được cái vỏ ngoài,
còn tới được chỗ thâm sâu, cốt lõi bên trong hẳn là phải
im lặng, phải ú ớ, phải hỏi một đằng trả lời một
nẻo, hoặc tốt hơn cả là phải “tu rị, tu rị…”. Tóm
lại là nói không được, là bất khả thuyết!
Khi
Phật phát hiện ra con đường, chính Ngài cũng ngại ngùng
không muốn tiết lộ, không muốn bày tỏ, vì con đường qủa
thật là tuyệt diệu nhưng lạ lùng qúa, ngược đời qúa,
khó có ai tin, có khi còn gây phản ứng ngược. Mãi sau ngài
mới chịu nói ra và dĩ nhiên rất đắn đo, nói từng phần,
với mỗi người một cách khác nhau, tùy đối tượng. Thường
khi chứng ngộ rồi, các Thiền sư mới chịu chọn một vài
học trò để truyền đạt, mà cũng ít chịu truyền, vì truyền
không dễ, bởi nhiều điều “nói không được”, phải quan
sát trực tiếp ở thầy và phải thực hành miên mật. có
học trò uyên thâm mà không tới cả, loay hoay không thoát;
có học trò giã gạo, nấu cơm, không biết chữ mà ngộ. Học
giả trí thức, có bằng cấp cao cũng chẳng đến đâu, còm
có người hàng thịt, một hôm buông dao thành Phật. cho nên
tin không dễ
Trong
kinh Kim Cang, Phật và Tu Bồ Đề, hai thầy trò đối đáp như
kiểu “role play”, sắm vai để giảng dạy thật hấp dẫn
- trước đó, Phật đã lặng lẽ trình diễn “demonstration”
một màn rất ấn tượng nhưng không phải ai trong hội chúng
cũng nhìn ra. Có lúc, hình như người học trò Tu Bồ Đề
giả bộ hoang mang, không tin người đời sau có thể hiểu
nổi và thực hành được những lời Phật dạy thì Phật
quở: “Chớ nói vậy! Ông chớ nói vậy!” Người đời sau
còn “thông minh” hơn, còn nhiều điều kiện hơn, dĩ nhiên
là con nhiều khổ đau hơn để mà hiểu Phật. Lạ lùng là
nhiều người trẻ ngày nay hiểu Phật rất nhanh, tin Phật
nữa - không phải là cái tin di đoan mê tín đâu, mà tin một
cách khoa học - như là một phương thuốc chữa bệnh tâm thần
cho thời đại, giúp cho con người không dấn mình thêm vào
những nỗi khổ đau, ưu phiền, sợ hãi; giúp con người hạnh
phúc hơn; tạo một môi trường xã hội tốt đẹp hơn và
môi trường thiên nhiên an lành hơn. Những người trẻ thậm
chí mới đôi mươi, đặc biệt ở phương Tây ngày nay có
vẻ hiểu Phật, thấm phật và hành Phật hơn cả ở phương
Đông.
Nỗi
khổ đau của kiếp người thật vô vàn, và dĩ nhiên hạnh
phúc cũng vô vàn không kém, thấn chí cái chuyện được làm
người trên cõi đời này cũng đã là chuyện hi hữu, thế
mà lạ thay, chúng ta chỉ thấy những khổ đau, chỉ nguyền
rủa cuộc đời, cay đắng với bản thân mình, và có vẻ
như rất khoái gặm nhấm những nỗi hkổ đau kia, mà quên
đi, lờ đi những niềm hạnh phúc: “Rồi bị thương người
ta giữ gươm đau/ Không muốn chữa không chịu lành thú độc”
(Xuân Diệu). Cái “thú độc” đó có khi còn gọi là “thú
đau thương”, được con người ca tụng, nâng niu, vun vén,
hưởng thụ đã bao đời.
Cứ
hỏi một người đi, hỏi anh ta có hạnh phúc không, anh ta
sẽ sung sướng kể cho nghe triền miên những điều bất hạnh.
Còn nếu hỏi anh ta những điều bất hạnh, anh ta sẽ sung
sướng kể cho nghe biết bao nỗi khổ đau. Con người sống
trong cái hkổ như vậy, loay hoay với cái khổ như vậy, thoát
ra không dễ. Một số không nhiều “ngộ” được cái khổ
đau kia chính là mấm sống của hạnh phúc, phiền não kia là
“nguồn lực” của Bồ đề. Cho nên, có người tìm được
con đường, vạch ra con đường, chỉ ra con đường, làm sao
không cảm kích. Mà thú vị, con đường đó không ở đâu
xa, có sặn đó rồi ở trong ta thôi. Cho nên, người chỉ đường
nói, nhả có pháp gì đâu mà bày vẽ, chả có cái gì giành
được, lấy được, chiếm được để mà khoe khoang. Conngười
đó mới thật dễ thương làm sao. Con người đó bỏ vương
quyền, bỏ nhà bỏ cửa lên rừng, lội suối trèo đèo, nhịn
đói nhịn khát, có lúc chỉ còn xương bọc da, sờ bụng thì
đụng xương sống, có lúc sống trong nghĩa địa, để bọn
trẻ chăn trâu nhổ vào mặt (…), rồi ngộ ra một điều
thú vị, sảng khoái, thấy con người đáng sống, đáng hạnh
phúc. Con người đó đã biết từ bỏ, dám buông bỏ, đã
kiên trì, đã kham nhẫn, đã thiền định, đã vượt thoát
bằng con đường trí tuệ, và điều quan trọng là không giữ
cho riêng mình mà chia sẻ cho tất cả chúng ta, chẳng đáng
quý ư? Thấm chí, có lúc không thể nói lên được bằng lời
thì Ngài đưa lên một cành hoa và im lặng. Cái sự trao truyền
trong im lặng này mới thật là tuyệt diệu, nó làm cho ta được
tự do khám phá. Khám phá không ra thì ta…ú ớ, khám phá ra
rồi thì ta càng ú ớ, càng nói không được.
“Quán
Tự tại Bồ tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời chiếu
kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách…”.
Toàn
bộ “bí mật” nằm trong mấy chữ “hành thâm Bát nhã Ba
la mật” đó mà không dễ tìm ra. Bát nhã Ba la mật là dịch
âm của Prajna paramita. Rõ ràng không phải để đọc tụng.
Hành cái gì? Hành cách nào? Câu hỏi đặt ra. Và câu trả
lời có thể đơn giản: hành cái “prajna”, theo cách “paramita”.
Không thể dựa vào chữ mà cũng không thể không dựa vào
chữ. Sai một ly đi một dặm. Nói vậy mà không phải vậy.
Không phải vậy mà vậy. Nó cho ta hoàn toàn tự do, và nó
đòi ta phải tự thể nghiệm. Không ai có thể “hành” giùm
người khác. Bát nhã chỉ là một từ dich âm của Prajna, có
nghĩa là Khí, là Thở, là Hô hấp. Thế nhưng bằng cách nào
chuyện Thở, chuyện Khí, chuyện Hô hấp rất vật chất kia
được chuyển thành cái “Trí”, Trí Bát Nhã, Không, Vô Ngã…
Đó là một hành trình không đơn giản, một khám phá tự
thân, và với một kết quả hình như cũng “nói không được”.
Thưc ra, Phật cũng đã chịu khó nói, chịu khó giảng giải
rồi đó trong Tứ Niệm Xứ, trong Anapanasati, chỉ có điều
ta chưa “hành thâm” tới nơi tới chốn thôi: “Đây là
con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh,
diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí….”.
Và
như thế, Khí, Hô hấp, Prajna kia đã tự vượt qua lúc nào
để trở thành Không, Vô Ngã bên trong Quán Tự Tại mà cũng
sẽ là bên trong của tất cả chúng ta khi thực sự “hành
thâm”? Cái đó nói không được, bất khả thuyết chăng?
VẼ
CÂY, VẼ CHIM
Cao
Huy Thuần
Tôi
nghe tin nhà văn Nguyễn Ngọc Tư bị kiểm điểm cứ tưởng
như chuyện đùa. Nhà văn này, và tác phẩm của cô, đôn hậu,
trong sáng như một khung trời xanh. Ai tưởng tượng được
sấm sét có thể nổ trên bầu trời thanh bình đó? Cô bị
đánh mà ai cũng thấy đau. Cây viết trên bàn như cũng rùng
mình. Kim đồng hồ quặn một phút mặc niệm. Cho văn chương.
Từ
khi đọc "Cánh đồng bất tận" tôi đã muốn viết một thư
cho tác giả mà chưa có dịp. Bỗng nhiên đây là dịp tốt.
Không phải tôi định viết về cả tác phẩm : chỉ về một
trang trong đó thôi. Không ngờ trang đó bây giờ ăn khớp với
thời sự văn chương, cho phép tôi vừa gởi lòng đến tác
giả, vừa mặc niệm với kim đồng hồ. Đó là mấy câu mở
đầu cho truyện "Cánh đồng bất tận" :
"Tôi
hiểu
biết về Phật giáo không nhiều, vớ được quyển sách nào
thì đọc cái ấy. Cũng có điều hiểu được, học được,
làm được, nhưng nhiều điều buộc phải "bó tay". Ví dụ
như mấy lời này: "Khi nào bạn bực tức, giận dữ, hãy bất
động! Ngay tại đó! Đừng cử động! Đừng làm gì cả!
Đừng nói gì – dù chỉ một lời. Hãy yên lặng và bất
động hoàn toàn. Tuyệt đối không biết gì đến kẻ hoặc
sự việc làm cho mình giận dữ (Hạn chế sân hận, trải
rộng tình thương - Tỳ kheo Visuddacaraz). Trời ơi, mình giận
muốn chết, muốn gào thét, muốn cào cấu, muốn đập phá
mà không cho mình nhúc nhích, sao có thể hả hê? Đạt được
đạo mới khó làm sao ...”
Đọc
lại những hàng trên trong hoàn cảnh mới, tôi có cảm tưởng
bây giờ tác giả đã ... đạt đạo. Chắc chắn cô đã không
đập phá, cào cấu. Chắc chắn cô đã cần một sự yên lặng
"tuyệt đối" để suy nghĩ, để hành động sao cho đúng. Nhà
sư kia cũng chỉ nói bấy nhiêu thôi, nhưng lời nói hùng hồn
quá và đã đến không đúng lúc. Giận là chuyện thường
ngày. Nhiều khi là cần thiết, là hay, nếu đó là giận bất
công, giận áp bức, giận cái xấu. Vấn đề là mình phản
ứng thế nào, có muốn làm Trương Phi hay không, có muốn đốt
nhà hay không khi giận con chuột. Cô Tư đã đem chuyện giận
ra để mở đầu, tôi cũng bắt chước cô đi vào chuyện giận
trước. Không chừng giữa cái giận và cái hứng sáng tạo
của nhà văn có một khoảng trống yên lặng nào đó giống
nhau chăng.
Kinh
nghiệm của tôi về cái giận là tôi rất khổ mỗi khi giận.
Tôi rất khổ và khổ rất lâu mỗi khi cãi cọ với ai. Biết
như thế nhưng vẫn giận, vẫn cãi. Vậy thì làm sao vẫn cãi,
vẫn giận, mà đừng khổ? Chiến lược thì rất rõ: đừng
để cái giận nó kéo mình đi. Nhưng chiến thuật là thế
nào? Kinh nghiệm riêng của tôi là thế này: làm bất cứ một
hành động gì, cử chỉ gì, ý nghĩ gì không có chút liên
quan nào với cơn giận đang bốc. Rót một ly nước. Uống
một ngụm. Nhìn chậu hoa đang héo và nghĩ : hôm qua quên tưới
nước cho nó. Sắp lại một quyển sách vào kệ. Nhìn hai con
ngựa đang đùa với nhau trong bức tranh trên tường. Nghe theo
tiếng xe đang chạy ngoài đường. Tiếng nói chuyện của trẻ
con đi học về. Trong khi cơn giận đang kéo mình đi, nghĩ đến
bất cứ một cái gì khác là để cắt đứt nó. Một hình
ảnh đẹp. Một người thân. Một câu thơ. Một câu kinh. Nghĩ
đến thôi, không cần đọc, nghĩ chớp một cái, rồi nếu
bám theo được một chữ thì cố bám. Câu kinh nằm lòng của
tôi là:
Chận
được cơn giận
Khi
đang bùng lên
Như
thể hãm được
Xe
chạy có đà
Thì
người như vậy
Như
Lai gọi là
Người
lái xe giỏi
Còn
những người khác
Chỉ
cầm cương hờ.
Nghĩ
như vậy để làm gì? Để tạo khoảng trống giữa cơn giận
và thân miệng. Để tay chân đừng làm bậy, miệng đừng
nói bậy. Làm một cái gì, nói một câu gì trong khi giận là
thêm cũi cho lửa. Tất nhiên, không phải lúc nào tôi cũng
thành công; nhưng càng ngày tôi càng bớt thất bại.
Nếu
tôi giận quá, không nghĩ gì khác được, thì chiến thuật
thứ hai được đem ra: nhìn cơn giận. Nhìn nó đến, nhìn
nó đang hành hạ mình, nhìn nó bốc lửa, nhìn nó thiêu đốt,
cứ để nó thiêu đốt, nhìn nó hạ lửa, nhìn than hồng...
Cơn giận đang muốn cuốn tôi theo nó ; tôi hãm nó lại không
được thì tôi nhìn nó đi. Vấn đề không phải là cố làm
mất nó : sức mấy mà nó mất. Vấn đề là phải ý thức
về nó, đừng để mất ý thức. Cơn giận không muốn gì
hơn là mình đổ nó lên đầu người khác. Mình nhìn theo nó
thì mình tránh được chuyện đó, tránh làm nô lệ. Nhìn theo
nó cũng là để tạo khoảng trống trước bước chân nó đi.
Hai
chiến thuật đó được hỗ trợ thêm bằng một suy nghĩ căn
bản: phải biết phân biệt con người và hành động, có hành
động ác nhưng không có con người ác. Nếu giận, hãy giận
cái hành động, đừng giận con người. Người gây cái ác
cũng chỉ là nạn nhân của hàng trăm yếu tố bên ngoài; họ
đáng thương hơn là đáng giận và nên thương họ. Hơn ai
hết, chắc bây giờ cô Tư đang thấm điều này. Chung quanh
tôi ở đây, chung quanh cô Tư ở bên nhà, dường như ai cũng
biết gởi cái giận của mình vào đâu cho đúng chỗ. Dường
như ai cũng biết giận và biết thương, biết giận cái gì,
biết thương ai. Giận cái hành động chứ không giận người
thì không đổ giận lên đầu người khác bằng thân, bằng
miệng. Tức là tạo khoảng trống đó thôi!
Tôi
học được câu chuyện này trong sách. Hãy tưởng tượng ta
đang chèo thuyền dạo chơi êm ả trên sông một buổi chiều
sương mù. Thuyền đang nhẹ trôi như vậy thì, ô hay, bỗng
hiện ra từ trong mù sương một chiếc thuyền của ai cứ nhắm
thẳng vào thuyền ta mà xông tới. Choảng! Nó đâm vào ta rồi.
Giận quá, ta muốn la lối, chửi mắng một trận nên thân,
nhưng nhìn lại thì thuyền kia trống trơn, chẳng có ai trong
đó. Làm gì bây giờ? Chửi đổng trời đất một tiếng rồi
cũng im thôi. Nhưng ví thử bây giờ thuyền kia không trống
mà có người chèo, chuyện gì sẽ xảy ra? Trời đất sụp
đổ, xô xát, không chừng đổ máu. Cái gì làm hai tình trạng
khác nhau? Chỉ thế thôi: một bên có người khác để ta trút
cơn giận, một bên chẳng có ai nên cơn giận tự tiêu. Vậy
thì phải chăng hãy suy nghĩ về cái trống thì mình làm chủ
được cơn giận?
Cho
nên các người học thiền phải học ngồi. Học thở. Thở
vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở ra. Thở như
vậy để làm gì? Để chú tâm? Không hẳn. Để rốt cuộc
chỉ còn hơi thở mà không còn người thở. Chỉ còn thở
vào, chỉ còn thở ra, như gió thổi qua cửa trống. Cái gì
bên ngoài cũng vào ra như vậy. Con chim hót trên mái nhà? Thì
tiếng chim đi vào, tiếng chim đi ra. Không có người để thích
thú : chà, con chim mùa xuân đã về. Cũng không có người để
bực dọc: chà, con chim làm ồn quá không để cho người ta
thở. Cái gì trống thì không vướng mắc. Cơn giận cũng thế.
Cơn giận đi vào, cơn giận đi ra, như tiếng chim. Học thiền
là học mở cửa. Mở cửa cho tất cả đi vào, kể cả cơn
giận. Mở cửa cho tất cả đi ra, kể cả chính mình. Quên
mình đi là cứu cánh của học thiền. Bởi vì quên mình thì
mới có tất cả. Cái vỏ lúa không quên mình, không làm trống
mình đi, thì cây lúa không mọc được. Khúc củi không quên
mình đi thì lửa không rực bốc. Có nhiều khi khúc củi không
chịu quên mình: khi đó thì không có lửa, chỉ khói cay mắt.
Lửa bốc lên không phải từ gỗ, mà từ cái trống của gỗ.
Cô Tư đâu có cần theo đạo Phật, nhưng cô Tư biết trống
hơn bao nhiêu người học thiền. Có người phỏng vấn cô
về chuyện nhà văn thế này thế kia, cô trả lời: "tôi vẫn
không nghĩ mình là nhà này nhà nọ". Cô trống như vậy thì
khó đánh cô lắm. Đánh vào khoảng trống thì tự mình mất
đà, đã không trúng ai mà còn ngã chúi. Hơn thế nữa, cô
biết cô trống thì cô nhìn ai mà chẳng thấy người đó cũng
trống? Cô sẽ nghĩ: đâu có ai đánh mình! Ấy là một mớ
thành kiến, một mớ mê muội đang biểu diễn mấy đường
quyền đó thôi, có con cá nào đâu mà chém cái thớt!
Thế
là từ chuyện giận của cô Tư tôi đã đi qua chuyện trống
của thiền mất rồi. Nhưng thiền và sáng tạo nghệ thuật
thì có gì khác nhau đâu! Cả hai bên đều nhắm vào cái chỗ
trống ấy! Đây, tôi kể chuyện nghệ thuật. Đời xưa, có
người thợ mộc vâng lệnh vua đẽo một cái giá chuông. Ông
đẽo tài tình thế nào mà khi chuông đánh lên, tiếng ngân
nga như đi vào tận tâm can của cả thiên hạ. Hỏi ông bí
quyết, ông bảo: có gì đâu, tôi ăn chay nằm đất cho lòng
thanh tịnh, rồi tôi quên mất lợi lộc vua ban, quên mất thưởng
phạt, quên cả triều đình chức tước, quên luôn thân thể
tứ chi của tôi, cứ thế tôi đi vào rừng, tôi ngắm thân
cây, ngắm thiên nhiên hiển lộ trong thân cây, lựa cây nào
tràn đầy thiên nhiên nhất, rồi sau đó, sau đó, chỉ sau
đó thôi, tôi mới mường tượng ra cái giá chuông sẽ đẽo.
Ông thợ mộc vứt hết ; ông vứt hết thì ông mới có tất
cả, có tất cả thiên nhiên trong ông. Thiên nhiên đó bắt
gặp thiên nhiên cuồn cuộn trong thân cây, làm sao chuông không
ngân nga tiếng thần? Ông vứt hết, vứt luôn ra khỏi đầu
cái định kiến, cái chấp trước về giá chuông; với cái
đầu trống trơn như vậy, giá chuông ông đẽo làm sao không
khác giá chuông của cả thiên hạ từ xưa đến nay? Chuyện
ấy, tôi kể lại từ ông Trang Tử.
Cùng
nói chuyện nghệ thuật cả thì đời nay cũng vậy, bên Tây
cũng vậy thôi. Ai cũng biết những tranh vẽ cây nổi tiếng
của Matisse. Nhà danh họa ấy đã vẽ cây như thế nào? Ông
thú thực: bao nhiêu lần ông đã vẽ cây nhưng chẳng lần
nào thành công. Lúc đầu, ông bê cả cái cây vào tranh, nghĩa
là cái cây thế nào thì ông vẽ thế ấy. Kết quả làm ông
nản, vì ông thấy tranh không có hồn, chẳng nói được gì
về mối cảm xúc của ông về cây. Tiếp theo, ông cố đưa
vào tranh chỉ tình cảm, xúc động của ông mà thôi, nhưng
ông lại bị choáng ngợp trước vẽ đẹp của thân cây, trước
sức vóc lực lưỡng của thân ấy và bí ẩn chứa đựng
trong đó, đến nỗi ông chỉ vẽ thêm được một hai cành
thôi rồi ngưng nửa chừng. Vậy mà, lạ thật, khi ông nhìn
cây trong lúc không có ý định vẽ thì lại thấy toàn thể
cây từ thấp lên cao. Cứ thế, dù cảm nhận được cây từ
gốc đến ngọn, hễ cầm cọ vẽ là ông bị thân cây chiếm
trọn đầu óc. Vẽ thân cây xong, đến khi thêm cành lá, lá
cành tuồng như chỉ để cắt nghĩa đây là cái cây, chẳng
đem lại chút rung động nào. Mãi hoài như vậy, rất lâu,
hễ động đến cành lá là y như ông bị dội lui, rất khổ
sở. Cho đến một hôm, không có ý định gì trước, ông vớ
tập giấy viết thư và thử vẽ cành lá bằng cách đơn giản
nhất : mỗi lúc cây từ từ hiện ra dưới ngòi bút, ông lại
thấy lá cành mọc ra.
Đó
là đoạn thư ông viết cho người bạn tâm giao. Ông vẽ cảnh
không được vì vướng tình, tình quá đầy. Ông vẽ tình
cũng không được vì vướng cảnh, cảnh rào rạc thần hồn.
Đầy ắp tình, đầy ắp cảnh, đầu ông lại còn đầy ắp
cái ý định vẽ. Chưa vẽ mà đầu đã bị đóng khung trong
ý định, làm sao bức tranh vọt ra? Phải mở cửa cho nó! Phải
làm trống cái đầu ! Cho nên Matisse chỉ vẽ được cây khi
không có ý định gì trước.
Ông
viết rõ trong bức thư: "Tôi nghe nói các ông thầy dạy vẽ
bên Tàu dặn học trò: vẽ cây, hãy có cái cảm giác trèo
lên với nó khi bắt đầu vẽ từ gốc". Làm sao trèo lên dần
dần với cây trong tranh nếu không sống trọn vẹn với nó
và chỉ với nó mà thôi? Làm sao sống trọn vẹn với chỉ
một mình nó nếu không vứt bỏ hết tất cả ra khỏi đầu,
nếu không làm trống cái đầu?
Matisse
viết thêm trong một thư khác: để vẽ cây thực sự, đừng
bao giờ có "một hình ảnh đã tạo ra trước". Ông giải thích:
"Tôi không lý luận khi tôi vẽ : các họa sư Trung Quôc bảo
rằng khi vẽ cây phải trèo lên với nó. Tôi cũng làm như
vậy. Nhưng đừng nói trong khi vẽ : tôi đang trèo lên với
nó đây và lý luận trên đó. Khi tôi làm một việc gì, tôi
không tìm kiếm, tôi chỉ cho". Matisse nói: chỉ cho. Có khác
gì các ông thiền sư đâu: chỉ làm, chỉ ngồi, chỉ thở.
Cho, làm, ngồi, thở là có. Còn tất cả là không. Từ đâu
thổi tới phơi phới ngọn gió trong tranh Matisse? Từ cái trống
đó. Ông thổ lộ: "Hình như nỗi vui toát ra trong tranh của
tôi bây giờ nhiều hơn trước; đó thực là điều mà tôi
đã thử làm cách đây năm mươi năm. Phải trải qua bấy nhiêu
năm tôi mới đạt được trình độ cho phép tôi nói được
điều tôi muốn nói".
Diễn
tả một cách khác, cụ thể hơn, nhưng cùng trên một ý phải
biết vứt bỏ trong khi sáng tạo nghệ thuật, Picasso viết:
"Ai cũng có một dự trữ như nhau về năng lượng. Người
trung bình phung phí năng lượng của họ bằng trăm nghìn cách.
Tôi, tôi dồn tất cả sức lực của tôi vào một hướng
mà thôi: vẽ. Và tôi hy sinh tất cả mọi chuyện khác vì nó:
hy sinh anh, hy sinh tất cả mọi người, kể cả tôi". Kể cả
tôi! Chỉ còn vẽ thôi. Người vẽ cũng không còn. Cũng trống
trơn. Vì không còn người đứng vẽ nữa cho nên Picasso có
thể vẽ ba bốn giờ liên tục, không làm một cử chỉ nào
thừa. Có người hỏi ông đứng lâu như thế có mệt không,
ông lắc đầu: "Không. Khi tôi làm việc, tôi để cái thân
của tôi ngoài cửa, như các người hồi giáo cất bỏ giày
dép trước khi vào giáo đường. Trong tình trạng đó, cái
thân chỉ nguyên vẹn hiện hữu dưới dạng cây cỏ, và chính
vì vậy mà giới họa sĩ chúng tôi thường sống rất lâu".
Giống
hệt như thiền, bí quyết của sáng tạo nghệ thuật là trở
về lại với cái đầu trống trơn, cái đầu của đứa bé,
cái sơ tâm, cái đầu chưa hề bị ảnh hưởng về bất cứ
cái gì khác. Viết một câu văn cũng vậy, một câu thôi, không
người cầm bút nào nảy ra được một ý hay, một tứ mới,
nếu không vứt bỏ đi hết những gì đã học, đã đọc.
Vậy thì cô Tư giận gì, giận ai, nếu người nào đó đổ
tràn vào đầu cô một trăm cái chữ "phải": phải thế này,
phải thế nọ? Người đó nói cái chuyện gì đâu đâu, nào
có liên quan gì đến chuyện viết văn?
Trên
kia, tôi nói: khi cơn giận nổi lên, tôi cố cắt đứt nó
bằng một cử chỉ, một hình ảnh, một ý nghĩ, một câu
thơ, một câu kinh... Bây giờ, giận chuyện cô Tư, tôi cũng
cắt đứt bằng một bài thơ, bài thơ mà tôi vốn thích từ
ngày còn đi học, của Jacques Prévert, "Để vẽ chân dung một
con chim” :
Trước
hết vẽ một cái lồng
với
cánh cửa mở
sau
đó vẽ
một
cái gì xinh
một
cái gì đơn sơ
một
cái gì đẹp
một
cái gì ích lợi
cho
con chim.
Rồi
đặt khung vải cạnh thân cây
trong
vườn
trong
rừng non
trong
rừng già.
Nấp
sau cây
không
nói
không
cử động ...
Đôi
khi chim đến nhanh
nhưng
cũng có khi hàng năm đằng đẵng
mới
quyết định đến.
Đừng
nản.
Chờ.
Chờ
hàng năm cũng chẳng sao.
Chim
đến nhanh hay chậm
chẳng
liên hệ gì
với
thành công của tác phẩm.
Khi
chim đến
nếu
nó đến
hãy
im lặng thật sâu
chờ
chim vào lồng
và
khi chim vào rồi
nhè
nhẹ đóng cửa lồng bằng bút vẽ.
Rồi
xóa
hết nan lồng từng cái một
mà
cố tránh đừng động đến lông chim.
Sau
đó vẽ cây
chọn
cành nào đẹp nhất để vẽ
cho
chim.
Cũng
vẽ lá cây xanh và hơi mát của gió
bụi
mặt trời
tiếng
côn trùng tỉ tê trong cỏ nóng bỏng mùa hạ.
Rồi
chờ chim quyết định hót.
Nếu
chim không hót
thế
là điềm chẳng lành
dấu
hiệu bức tranh vẽ xấu.
Nhưng
nếu chim hót thì đó là điềm tốt
dấu
hiệu bạn có thể ký tên.
Khi
đó bạn nhẹ nhàng rất nhẹ nhàng
nhổ
một lông chim
và
viết tên bạn trên tranh nơi góc.
Tôi
cam đoan với cô Tư, khi nào cô Tư "giận muốn chết", cô Tư
hãy nghĩ đến con chim trong bài thơ, cơn giận sẽ đi qua. Cô
Tư nhớ nghen: vẽ một cái lồng chim với cánh cửa mở; đặt
cái lồng giữa thiên nhiên; con chim là thiên nhiên thì mình
cũng phải thiên nhiên như nó; như vậy thì nó đang là mình
và mình đang là nó, cả hai là một; chỉ lúc đó và chỉ
lúc đó mới vẽ; và vẽ là mở cửa lồng ra, làm biến nó
mất, như chính mình cũng mất; giữa thiên nhiên chỉ còn lồng
lộng con chim, không biết chim trong tranh hay chim ngoài trời,
tranh vẽ hay chính thiên nhiên tràn trề sức sống đang
hót với chim, nồng với nắng hạ, xanh với lá non, tỉ tê
với cỏ... Mình nói chuyện sống trong sáng tạo nghệ thuật.
Người kia nói chuyện chết. Hai chuyện có ăn nhậu gì với
nhau đâu mà giận?
19-4-2006
Chú
thích :
1.Về
Matisse : "Lettre à André Rouveyre sur le dessin de l'arbre", Ecrits
et propos sur l'art, H. Matisse et D. Fourcade, Paris, Hermann, 1991. Xem
thêm : Cynthia Fleury, La joie de peindre, http://humanite.fr/journal2005-04-27/2005-04-27-633266
2.Về
Picasso : François Jullien, Nourrir sa vie, Seuil, 2005, trang 164.
Tưởng
niệm Quách Thị Trang
Phước
Cảnh
Tại
vòng xoay trước cổng chợ Bến Thành, một điểm giao lộ
của nhiều trục đường chính trong thành phố, nơi nữ sinh
Phật tử Quách Thị Trang đã ngã xuống cách đây gần nửa
thế kỷ trong cuộc biểu tình phản đối chính sách kỳ thị
tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, từ năm 1964, Hội
Sinh viên Học sinh Sài Gòn đã đứng ra vận động và dựng
tại đây một đài tưởng niệm Quách Thị Trang, theo mẫu
thiết kế của Họa sĩ Mai Ẩn. Và kể từ đó, người dân
Sài Gòn quen gọi nơi này là Công trường Quách Thị Trang...
Quách
Thị Trang sinh năm 1948, tại làng Cổ Khúc, huyện Tiên Hưng,
tỉnh Thái Bình, trong một gia đình có truyền thống Phật
giáo. Năm 1954, sáu anh chị em Trang đã cùng mẹ vào Nam, sống
ở vùng Chí Hòa, mẹ Trang sớm hôm tần tảo buôn bán để
nuôi các con ăn học. Trang là một cô bé ngoan hiền, hồn nhiên,
từ nhỏ đã theo sinh hoạt trong Đoàn Oanh Vũ của Gia đình
Phật tử Minh Tâm.
Mùa
Phật Đản năm 1963, khi vừa tròn 15 tuổi, là một nữ sinh
lớp đệ nhị trường Trung học Trường Sơn, nghe tin tám em
Đoàn sinh Phật tử đã ngã xuống trước Đài phát thanh Huế
để bảo vệ lá cờ thiêng liêng của Phật giáo, nhất là
từ sau đêm 20 tháng 8, khi chùa Xá Lợi bị tấn công, quý
thầy bị bắt bớ tra khảo, Trang đã khóc nức nở nói cùng
các anh chị Đoàn sinh: "các thầy đã chết hết rồi...", "nếu
Phật giáo chết thì em cũng chết...". Vậy là Trang cùng các
anh chị tham gia tuyệt thực, biểu tình, đấu tranh chống lại
chính sách kỳ thị tôn giáo của chính quyền Ngô đình Diệm.
Sáng
ngày 25 tháng 8 năm 1963, khi hay tin sẽ có một cuộc biểu tình
với quy mô lớn của Đoàn Sinh viên Học sinh Phật tử được
phát động ngay trước chợ Bến Thành, Trang đã thức dậy
từ sớm, cùng các bạn đến đợi sẵn tại cổng chợ, rồi
hòa vào đoàn biểu tình. Bỗng có tiếng súng gầm lên, mọi
người quay lại thì Trang đã lẫm liệt ngã xuống, máu nhuộm
đỏ tà áo dài nữ sinh. Trang ngã xuống khi bên tai vẫn còn
nghe vọng lại những tiếng hô vang: "Hãy giết chúng tôi đi,
vì chúng tôi là con Phật". Rồi những viên cảnh sát mặt
đằng đằng sát khí ôm súng xông vào, cướp xác Trang đi,
đem về chôn trong nghĩa trang Tổng tham mưu, nhằm ém nhẹm
cái chết của Trang. Nhưng chỉ sau một ngày, ngày 26 tháng
8 năm 1963, báo chí quốc tế đã đồng loạt lên án hành động
dã man đó. Từ Bruselles, Hội Thanh niên thế giới đã có công
điện gửi về để phản đối và lên án chính phủ Ngô Đình
Diệm là đã tước bỏ quyền tự do, dân chủ của sinh viên
và học sinh Việt Nam.
Sau
ngày chế độ Diệm sụp đổ, các anh chị Đoàn sinh Phật
tử cùng người thân đã cải táng mộ phần của Trang, đưa
về chôn trong khuôn viên chùa Phổ Quang, một ngôi chùa cổ
nằm trên địa bàn quận Tân Bình. Mộ phần của Trang quanh
năm nghi ngút trầm hương, vì luôn được các em Đoàn sinh
Phật tử ở đây chăm sóc, hương khói, và ấm cúng nhất
là vào những mùa Phật Đản.
Cho
đến hôm nay, mặc dù đã gần nửa thế kỷ qua đi kể từ
ngày nữ sinh Phật tử Quách Thị Trang ngã xuống trước cổng
chợ Bến Thành để đấu tranh chống lại chính sách kỳ thị
tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, nhưng mỗi mùa Phật
Đản trở về, mỗi khi nghe lại ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn
Hiền viết về Trang, lòng tôi vẫn thấy bồi hồi một niềm
xúc cảm thật khó tả: Trang hỡi Trang, em là vì sao sáng/ Giữa
khung trời mây trắng với trăng thanh.../ Hình hài mất, nét
tinh anh còn đây/ Giữa muôn tim Trang còn mãi không phai...