NGỌN
LỬA THÍCH QUẢNG ĐỨC
DẤU SON TRONG
NỀN VĂN HÓA VIỆT
Trí
Nguyên
Vừa
qua, Trung ương GHPGVN và Tổ đình Quán Thế Âm, di tích cuối
cùng mà Bồ tát Thích Quảng Đức lưu dấu trước khi tự
thiêu nhằm thức tĩnh lương tri của những người cầm quyền
chủ trương đàn áp Phật giáo năm 1963, đã tổ chức lễ
tưởng niệm sự kiện tự thiêu của ngài và các vi Thánh
tử đạo.
Cuộc
vận động năm 1963 của Phật giáo nhằm phản đối chính
sách kỳ thị tôn giáo, đàn áp Phật giáo của chính quyền
Ngô Đình Diêm đã đi vào lịch sử không chỉ của Phật giáo
mà cả của dân tộc. Những tư liệu quan trọng liên quan dần
dần được công bố và bài học lịch sử cũng đã bước
đầu đặt ra.
Cuộc
vận động này cũng là đề tài của nhiều luận án tiến
sĩ, ở trong nước cũng như ở nước ngoài, nó thực sự thu
hút sự quan tâm của giới nghiên cứu về chính trị và các
hình thức vận động thích nghi với lịch sử của Phật giáo.
Có những hội thảo chuyên đề, bước đầu nhìn lại một
cách toàn diện và đúc kết bài học lịch sử về cuộc đấu
tranh trên, mà biểu tượng đỉnh cao là sự kiện tự thiêu
của Bồ tát Thích Quảng Đức.
Một
con người bằng xương bằng thịt an nhiên giữa lửa đỏ
cao ngất, tay vẫn giữ ấn quyết Thiền định là hình ảnh
phi thường, ngoài sự tưởng tượng của trí óc thường tình.
Xác thân cháy, xương thịt cháy nhưng trái tim vẫn còn nguyên
trong trong lửa thiêu 4000 độ, lại là một hình ảnh phi thường,
làm đảo lộn suy luận của con người về thế giới. Tuy
nhiên, điều đó là bình thường, nếu đọc lại lời Phật
dạy: thân thể con người giới hạn chừng này, nhưng tâm
thì có năng lực vô biên, nếu chúng ta có được cách để
khai mở, và chìa khóa để mở cánh cửa tâm, để khơi dòng
chảy vô tận của tâm, để làm tâm trong sáng, đó là thiền
định.
Thái
độ an nhiên trong tư thế thiền định của Bồ tát Quảng
Đức thực ra chỉ nhắc nhở điều đó, về lời dạy của
Đức Phật từ hơn hai ngàn năm trước.
Với
con người trong thời đại này, giữa những xung đột văn
hóa, mà căn bản là xung đột tôn giáo đưa đến bạo lực,
giết hại sinh mạng lẫn nhau, coi thường giá trị con người,
thì lời Phật dạy, sự nhắc nhở qua hình tượng Bồ tát
Thích Quảng Đức, qua hình thức đấu tranh bất bạo động
của Phật giáo Việt Nam năm 1963 cho đến hôm nay vẫn còn
hết sức ý nghĩa, cần được cổ xúy và phổ cập trong nhận
thức của số đông.
Với
cách nhìn về tôn giáo, một yếu tố không thể thiếu của
đời sống xã hội, đời sống con người, có những biến
chuyển, cách đây vài năm, UBND TP HCM đã quyết định xây
dựng tượng đài tưởng niệm Bồ tát Thích Quảng Đức,
tại nơi mà ngài đã đốt thân mình làm ngọn đuốc đánh
thức lương tri của thế giới, soi sáng để con người nhận
ra chính nghĩa, nhận ra những giá trị tinh thần bền vững
và sức mạnh của tâm linh. quyết định của UBND TP HCM đã
đem đến niềm vui cho nhiều người. Tuy nhiên, quyết định
đã đưa ra mấy năm rồi, việc di dời trạm xăng bán lẻ
tại đây để sử dụng mặt bằng cho khu tưởng niệm và
dựng tượng đài cũng đã ra, nhưng trạm xăng vẫn còn đó,
cho đến nay vẫn chưa có động tĩnh gì. Người dân bắt đầu
tự hỏi: không biết đến bao giờ khu tượng đài tưởng
niệm Bồ tát Thích Quảng Đức mới thành hiện thực?
Liên
quan đến sự kiện Bồ tát Thích Quảng Đức, bấy lâu nay,
rất nhiều người cũng đã đặt câu hỏi: Trái tim bồ tát
hiện ở đâu? Được bảo quản như thế nào? Hiện trạng
của bảo vật này như thế nào?
Ý
kiến về nơi gìn giữ trái tim bồ tát Quảng Đức hiện có
nhiều nguồn khác nhau. Theo một nguồn thông tin, trái tim của
Bồ tát hiện đang được giữ trong một ngân hàng Nhà nước.
Theo như chúng tôi được biết, những người tận mắt thấy
được trái tim bất diệt của Bồ tát hiện vẫn còn, nhưng
từ sau năm 1991, khi được hỏi thì không ai còn tận mắt
chứng kiến nữa.
Trái
tim bất diệt của Bồ tát Thích Quảng Đức là một bảo
vật thiêng liêng không chỉ của Phật giáo mà của cả đất
nước, của Phật giáo thế giới. Trái tim bất diệt là vô
giá, được chiêm ngưỡng là điều mà không chỉ người Phật
tử mà của đông đảo người dân mong ước. Tuy nhiên, hiện
nay không có một thông tin chính thức nào về trái tim của
Bồ tát, về tình trạng và nơi bảo quản, phương thức bảo
quản như thế nào, bao giờ người dân được tân mắt chiêm
ngưỡng...
Văn
hóa là nền tảng cho mọi phát triển. Tôn giáo là một trong
những yếu tố căn bản của văn hóa. Ngọn lửa Thích Quảng
Đức là một dấu son trong nền văn hóa Việt mà cả thế
giới kính trọng. Trái tim Bồ tát là hiện vật thiêng liêng,
vô giá của kho tàng văn hóa Việt cần được gìn giữ, bảo
quản và giới thiệu cho công chúng, nhằm khơi dậy niềm tin,
khơi mở nhận thức về giá trị thiêng liêng của đời sống
để hướng dẫn con người sống tốt, tốt với chính bản
thân, với cộng đồng hơn.
Một
con người bằng xương bằng thịt an nhiên giữa lửa đỏ
cao ngất, tay vẫn giữ ấn quyết Thiền định là hình ảnh
phi thường, ngoài sức tưởng tượng của trí óc thường
tình. Xương thịt cháy nhưng trái tim vẫn còn nguyên trong trong
lửa thiêu 4000 độ, lại là một hình ảnh phi thường, làm
đảo lộn suy luận của con người về thế giới. Tuy nhiên,
điều đó là bình thường, nếu đọc lại lời Phật dạy:
thân thể con người giới hạn chừng này, nhưng tâm thì có
năng lực vô biên, nếu chúng ta có được cách để khai mở,
và chìa khóa để mở cánh cửa tâm, để khơi dòng chảy vô
tận của tâm, để làm tâm trong sáng, đó là thiền định.
Căn
bản hành trì (Tỳ kheo Thích Trí Quang)
Những
nguy hiểm trong lúc tập thiền (Thiền sư Khantipalo - Mỹ Thanh
dịch)
Đức Phật
của tôi:
Ý
NGHĨA ẤY THẬT DIỆU KỲ
Nguyễn
Minh Hiển
Đức
Phật của tôi là những điều thuộc về con người. Nói thế
sẽ có không ít người cho rằng, tôi đang kéo Đức Phật
ở đâu đó xuống cuộc sống trần gian này. Nhưng nếu ai
đó có thể gán cho Đức Phật một định nghĩa thì những
mâu thuẫn từ các cuộc tranh luận về ngài sẽ hoán vị cho
nhau. Tôi nghĩ, trí tuệ và phương tiện truyền giảng của
Đức Phật không phải là một cái cớ để các tư tưởng
trái nghịch nhau lấy đó làm bức bình phong cho riêng mình:
về kinh điển, về lý luận và giới luật. Tôi không hề
lấy Đức Phật để bào chữa cho những hành vi, thái độ
mang tính con người của mình, bởi làm sao có thể lấy một
người khác để bào chữa cho mình. Tôi không cố tình tư
duy theo chiều hướng phức tạp, vì tôi biết, tất cả những
ai muốn cố thuyết phục người khác phải theo chân lý của
mình thì đó mới chính là người đang bỏ quên hai từ “con
người”, đang biến chân lý đó trở thành giáo điều, trở
thành sự bao cấp tư tưởng, đàn áp tinh thần… Tôi biết
Đức Phật là người không giáo điều vì ngài đã luôn khuyên
người khác đừng vội tin những điều ngài nói. Tôi biết
Đức Phật muốn tránh xa sự tranh cãi về chân lý nên ngài
cho rằng mình chưa từng nói một điều gì cả…
Đức
Phật của tôi là một con người. Chính vì thế tôi nói về
Đức Phật của mình không phải để bàn luận về sự toàn
thiện hay không, bởi tôi không đủ tư cách để làm điều
đó. Tôi chỉ biết Đức Phật của tôi đã từng là một
con người yêu thương chúng sinh hơn cả chính mình, một con
người chưa bao giờ nói lên một câu làm tổn hại người
khác, một con người luôn mong mỏi chúng sinh phá tan được
vòng vô minh, si ám... Và như vậy, tôi không sợ trở thành
kẻ ngoại đạo trong con mắt của những người muốn đặt
một nền móng: chính trị, đạo đức, nghệ thuật, tư tưởng,
cách mạng, khoa học… hay bất cứ điều gì khác cho Đức
Phật.
Như
tôi đã nói ở trên: Đức Phật của tôi thuộc về con người,
và tất cả những điều ngài nói ra đều nâng đỡ con người,
khẳng định vị trí trung tâm của con người. Khi chưa đến
với đạo Phật, tôi cũng đã từng lập ra cho chính mình,
cho người thân yêu chung quanh mình, cho học trò của mình một
trật tự phân cách: nhà khoa học và kẻ ngu si; người đạo
đức và tên đốn mạt…, và làm người thì chỉ được
phép yêu thương cái tốt, dĩ nhiên “cái tốt” ấy cũng
phải theo tiêu chuẩn riêng của tôi. Tôi không còn chỗ trống
nào khác trong tinh thần để nghĩ về cuộc sống của những
sự nhàm chán và đau khổ, của những dằn vặt tội lỗi,
của những kiểu cách giả tạo, của sự phục tùng một tinh
thần phiến diện, của sự thao túng chân lý…, mà cứ để
những vinh quang quyền lực, vật chất cuốn tôi đi. Tôi có
thể hùng hồn thuyết giảng về chủ nghĩa duy này, duy kia…
nhưng tôi lại lơ là với trái tim và hơi thở của chính mình.
Và mặc dù tôi vẫn biết, mọi khám phá khoa học, chỉ có
ý nghĩa khi nó gắn với hai từ “con người”, nhưng có lúc
tôi lại “khủng bố” danh xưng ấy bằng lòng đố kỵ,
thói ích kỷ, độc đoán, hờn ghen và sự trả thù…
Đức
Phật của tôi đã nói lên những điều mà khoa học chưa biết
đến, nhưng đừng ai biến Đức Phật của tôi trở thành
nhà khoa học, bởi Đức Phật của tôi không phải là người
có tham vọng lập nên một trật tự chân lý. Phật pháp không
tách rời cuộc sống con người mà có. Phật pháp chỉ có
ý nghĩa khi gắn với hai từ “con người”, mà con người
thì phải có nội hàm lớn hơn con người giai cấp; lớn hơn
vật chất, khoa học, Thượng đế…, vì tất cả những thứ
có vẻ như cao siêu ấy đều chỉ là sản phẩm còn nhiều
vụng về của con người. Không thể đàn áp tinh thần con
người để lập nên một thiên đường hay một nền chính
trị xã hội được cho là tối ưu nào đó.
Đức
Phật của tôi là một con người. Ý nghĩa ấy thật diệu
kỳ. Và tôi đã được nghe ý nghĩa ấy từ tâm từ của một
vị Bồ tát: nói lỗi người không có lỗi, tội ấy còn nhẹ;
nói lỗi người có lỗi, tội ấy nặng hơn. Bởi người không
làm việc tội lỗi thường có bản lĩnh, có sức đề kháng
đối với những điều không mong muốn, những điều bị người
khác cố tình đổ cho. Còn người làm việc tội lỗi sẽ
dễ dàng bị tội lỗi làm lún sâu hơn nếu người khác luôn
nói lỗi của họ, cô lập và vùi dập họ. Tôi không lấy
thí dụ trên để cổ vũ cho những người luôn gièm pha người
khác, bởi gièm pha đã là một cái tội không nhỏ, nhưng tôi
tự biết phải học lại cách yêu thương của mình, bởi trong
quá khứ, tôi đã từng nói những lời chia rẽ và hận thù.
Tôi phải ngừng phân chia con người thành tuyến, thành hệ
thống, bởi nếu phân chia như thế, làm sao tôi có thể nhớ
mẹ thật nhiều trong những đêm không ngủ. Mẹ tôi không
có chung quan điểm khoa học, chính trị, cách mạng như tôi,
nhưng mẹ tôi vẫn là mẹ tôi, và tôi không có lý do gì để
tự biến mình thành một đứa con phân tuyến ngay cả với
cha mẹ mình… Và tôi biết rằng, tôi cần phải nỗ lực
để có thể gần gũi và thương yêu được những người
mình ghét và cả những người ghét mình. Và tôi cũng hiểu,
mình phải biết cảm thông, tha thứ với những người đang
phải đấu tranh với cái xấu và bị cái xấu hấp dẫn, lôi
cuốn…
Qua
Đức Phật của tôi, tôi thấy trong ánh mắt của những người
tôi thương và tôi ghét có những điều long lanh chưa được
viết ra. Nhưng có điều giản dị mà ý nghĩa hơn cả những
điều chưa được viết ra ấy, đó chính là hình hài của
một con người. Chỉ một hình hài hiện hữu thôi cũng đủ
để cho tôi thêm yêu Đức Phật của tôi. Và cũng chỉ một
Đức Phật hiện hữu thôi cũng đủ cho tôi niềm tin: tất
cả chúng sinh là Phật sẽ thành.
Đức
Phật của tôi đang từng giây phút tái sinh trong mọi hình
hài…
“Phật”
nghĩa là giác ngộ, nhưng đây không phải là một danh từ
riêng mà là tôn hiệu được dùng để chỉ một vị đã đạt
đến tột đỉnh của trí tuệ bằng sự tu tập 10 Ba-la-mật
suốt trong vô số kiếp sống. Một vị Phật không phải là
một con người bình thường mà là một nhân cách được hình
thành do sự tích tập các đức tính tâm linh. Những sức mạnh
cứ tăng trưởng mãi của đức hạnh và các Ba-la-mật cuối
cùng đã tạo thành một vị Phật, một vĩ nhân trong đời.
Dù Đức Phật không phải là một con người theo nghĩa thông
thường, tính chất người của ngài vẫn quá hiển nhiên đến
nỗi, ngài đang là một người bạn, một triết gia và người
dẫn đạo chân thật của nhân loại. Ngài là một người
đã tìm thấy con đường, một nhà khám phá con đường giải
thoát, giải phóng con người khỏi những khổ đau của luân
hồi vô tận.
Kenneth
W. Morgan
(The
path of the Buddha)
Sau
cơn bão Chanchu
(Ảnh:
Thế Phong)
"Mẹ
chờ con ra ngồi cầu Ái tử; Vợ trông chồng lên đứng núi
Vọng phu" - lời hát ru từ thuở nào lắng đọng trong ký ức
tuổi thơ những người con miền Trung, giờ đây lại vọng
về, làm quặn thắt lòng người, khi cơn bão Chanchu giữa khuya
13 tháng trước nổi lên, lấy đi sinh mạng của hơn 300 ngư
dân vùng duyên hải miền Trung. Trong số họ, có người đã
ngoại lục tuần, nhưng có người vẫn chưa tròn đôi mươi.
Những hương án thờ vọng được dựng lên, những người
mẹ, người vợ nước mắt nhạt nhòa, tuyệt vọng, đêm ngày
ngồi trông ra biển để chờ chồng, đợi con...
Đã
gần một tháng trôi qua, biển miền Trung cũng đã bình yên
trở lại, nhưng nỗi đau mất mát vẫn chưa nguôi trong lòng
những người thân còn ở lại, những người vợ góa, con
côi đang phải tự lèo lái gia đình giữa giông tố cuộc đời...
Động
viên, an ủi cũng như sự chia sẻ về vật chất của bà con
trong nước và ở nước ngoài trong lúc này là rất cần thiết,
nhằm xoa dịu phần nào nỗi đau thương, mất mát cũng như
những khó khăn trước mắt mà các gia đình nạn nhân đang
phải đối mặt.
Văn
Hóa Phật Giáo kỳ này xin gửi đến bạn đọc một số hình
ảnh sau cơn bão Chanchu do Thế Phong thực hiện, như một nén
tâm hương tưởng niệm các nạn nhân xấu số trong cơn bão
vừa qua, để quý bạn đọc cùng chia sẻ...
Tượng
Phật trong dòng chảy văn hóa (Chu Minh Khôi)
Nhân
ngày Hội lớn của Nhân loại,
nhớ
về tập Ngũ Đai Thư
của
Thiền sư Kiếm sĩ Musashi
Trí
Tánh Đỗ Hữu Tài
Viết,
nhân được nghe Bát Nhã Tâm Kinh tụng bằng 12 thứ tiếng
khác nhau tại Hội nghị Phật giáo Quốc tế về ngày Phật
Đản của Liên Hiệp Quốc (International Buddhist Conference on
the United Nations Day of Vesak – Bangkok, 10-5-2006)
Cứ
từ từ mà thấm nên tôi không biết mình trở thành một Phật
tử, theo cái nghĩa thông thường nhất, từ lúc nào. Và vì
“Phật tử” là một tiến trình đang thành, trải qua bao
A tăng kỳ kiếp, chứ không phải có Hữu có Vô có Chung có
Thủy, có một hình thái lễ nghi thế tục để bắt đầu
hay chấm dứt... Nhưng cho đến giờ này, trong sự nhiệm mầu
lãng đãng của một ngày lễ Phật Đản trên đất Thái Lan
xa xôi, tôi vẫn thấy mình đang lang bạt đâu đó trên con
đường tìm Đạo, lo nhìn mây bay nước chảy, thích nghe câu
tranh cãi tiếng biện luận, và nhất là quan tâm đến cái
"Mình to, Ta đẹp" hơn là xả tâm để đi vào sự tĩnh mặc
huyền diệu của con đường dài chứng ngộ trước mắt.
Cho
nên, trong ngày Hội lớn, rất lớn này của nhân loại, ngày
mà cách đây hơn 25 thế kỷ, có một con người bình thường
ra đời, đã đứng dậy, giác ngộ, chỉ ra những vọng thức
bụi bặm của nhân thế, để xây dựng con đường chánh đạo
giải thoát, tôi bỗng thấy mình như vượt thoát ra được
khỏi cơn hôn mê trầm ám để nhất định dành một ngày,
dù chỉ một ngày ngắn ngủi trong một năm dài bôn ba, để,
nói như một vị Thiền sư, “lần dỡ kinh xưa sách củ mà
đuổi bóng ra khỏi hình”. Người có câu nói như nghịch
lý với khoa học, nhưng rất đạo học đó chính là Thiền
sư Kiếm sĩ Miyamoto Musashi, đệ nhất kiếm khách Nhật Bản
của thế kỷ thứ 16. Và kinh xưa sách củ là tập Ngũ đai
thư của vị Phật tử lạ lùng này.
Chuyện
của vị Thiền sư này thì hoang đường và bí ẩn như một
huyền thoại, dù ông chỉ sống cách chúng ta hơn 400 năm. Miyamoto
Musashi ra đời vào năm 1584 tại tỉnh Mimasaka, cách Đông Kinh
40 dặm về phía Tây Nam. Thân phụ của ông vốn là một lãnh
chúa ngang tàng, đầu đội trời chân đạp đất, “biên thùy
một cõi” trên hòn đảo lớn Kyushu, dưới triều đại của
Shogun Nobunaga. Musashi mồ côi cả cha lẫn mẹ năm mới lên
bảy tuổi và được người cậu ruột là một vị Hòa thượng
mang vào chùa nuôi nấng dạy dỗ. Cuộc đời của Musashi cũng
gần giống như Lý Công Uẩn của nước ta, người sống cách
ông 600 năm trước đó.
Vì
cơ chế nghiệp lực đã vận hành kỳ ảo mà khiến cho con
đường tu chứng của Musashi phải kinh qua một trở ngại lớn,
một thử thách dài trong thời đại loạn lạc bấy giờ, đó
là phải trở thành kiếm khách số một trong số hơn tám vạn
Samurai đang tranh nhau thư hùng. Nghĩa là trở thành một Độc
cô
cầu bại, cô đơn vác kiếm đi lang thang khắp xứ Phù Tang,
thành tâm mong tìm được một đối thủ đánh bại được
mình!
Cho
nên, tuy chỉ tự học trong sân chùa vào những đêm thanh vắng
từ lúc mới 13 tuổi, ông đã xẻ đôi thân xác Kihei, đệ
nhất dũng sĩ của quân trường Shinto Ryu. Năm 16 tuổi, ông
đánh bại Akiyama, trưởng tràng của kiếm phái Tadashima. Sau
ngày đó, với nghịch giới sát sinh vần vũ trên đầu, ông
bỏ chùa, lưng mang kiếm gỗ, một thân một bóng lên đường
thực hiện cuộc hành trình chứng ngộ của một Võ sĩ đạo
thời chinh chiến. Cuộc hành trình bi hùng tuyệt đẹp này
sẽ mở lối khai đường cho kiếm pháp Nhật Bản, nâng kiếm
thuật lên đỉnh cao kiếm đạo, và giúp Kiếm sĩ hóa thân
thành Thiền sư.
Không
vợ con, không hành lý, cũng không sợ hãi, không giận hờn,
chỉ với hai bộ quần áo tả tơi dưới chiếc nón rộng vành,
và một thanh kiếm gỗ đã săn cứng lại vì gió sương chiến
trận, ông đã lang bạt trong núi cao hang sâu của miền Hokkaido
băng giá, trong rừng dày bảo dữ của vịnh Kyushu, trong cung
cấm nghiêm mật lòe ánh thép của các lãnh chúa, và đọ kiếm
129 trận không một lần chiến bại. Lần duy nhất đã làm
ông ngẩn ngơ trong thoáng chốc là khi dùng kiếm gỗ chèo thuyền
ra đảo Ogura, ông đã phải nhờ đến ánh nắng quái chiều
tà và tiếng sóng đập vào ghềnh đá để phân tâm đối
thủ và giúp ông đánh bại được Kojiro, chưởng môn lừng
lẫy của kiếm phái Tadaoki. Đó là lần duy nhất ông phải
vận dụng thiên nhiên để cho đường kiếm của mình phá
được thế thủ vững chắc và kín đáo của một kỳ phùng
địch thủ.
Năm
đó ông 29 tuổi, và từ đó ông được giới kiếm sĩ Nhật
Bản tôn xưng là Kiếm Thánh. Nhưng cũng từ đó, ông bẻ kiếm
và suy nghiệm về kiếm như một cá thể hữu tình, việc múa
kiếm như một con đường tĩnh thức để tự giải thoát mình
ra khỏi xao động của cuộc đời. Ông để ra 30 năm trời
để suy nghiệm, sống âm thầm vô danh trong một làng đánh
cá hẻo lánh, hành xử như một lão già khật khùng. Và đến
năm 59 tuổi thì ông bỏ làng vào động đá Reigendo để bắt
đầu viết tác phẩm duy nhất của đời ông. Tác phẩm dày
chỉ 10 trang giấy bổn mà ông phải mất hai năm trời mới
hoàn thành. Một tuần sau đó, ông từ giã cõi đời, ung dung
và tự tại giải nghiệp để tan biến vào trời đất. Đó
là năm 1645.
Cuốn
sách ông viết có tựa đề là "Ngũ đai thư" (Go Rin No Sho -
nói về Năm vòng đai), gồm 5 chương: Thổ, Thủy, Hỏa, Phong
và Hư Vô. Trong phần mở đầu, ông viết vài dòng ngắn ngủi
và khiêm cung về cuộc đời và thân phận của ông rồi tự
thú rằng: “Tất cả chiến thắng của tôi từ trước đến
nay có lẽ nhờ trời cho, hoặc nhờ tôi khéo tay, vì mãi cho
đến
năm 50 tuổi tôi mới chứng ngộ được kiếm đạo chân thực...
Tôi viết cuốn này mà không nhớ đến bất kỳ một chiêu
thức kiếm pháp nào... Tôi chỉ quy chiếu vào Tâm mà viết”.
Trong
bốn chương đầu (Thổ, Thủy, Hỏa và Phong), ông nhận định
về thanh kiếm như một ngoại vật vô thường, có đó nhưng
không đó; về người múa kiếm như một tha nhân vô ngã, vừa
có thật vừa không có thật; về kiếm thuật như một nghệ
thuật vô hình vô tướng; và về các kiếm phái khác như cõi
ta bà chứa đầy mộng ảo bào ảnh. Cũng trong bốn chương
nầy, ông luận về các sách lược đấu kiếm thông qua hai
phạm trù diệu hữu và chân không, cho rằng trong vọng tâm,
kiếm và kiếm sĩ đều có thật, nhưng không thật có vì giả
hợp. Cho nên có đấu kiếm mà vẫn không có kiếm đấu.
Riêng
chương thứ năm (Hư Vô) và cũng là chương cuối cùng, chỉ
dài có nửa trang giấy, ông đề cập đến Kiếm Đạo như
một con đường giải thoát, rồi ông kết thúc cuốn sách
như sau: “Biết rằng cái gì Có chính là Không Có, mà cái
Không Có chính là Có, tức là biết được Đạo vậy. Nhưng
lúc biết được chính cái Đạo cũng không có nốt thì mới
hoàn toàn chứng ngộ”.
Chưa
hề đọc Bát Nhã Tâm Kinh, chỉ múa kiếm để giết người
rồi buông kiếm để quán chiếu, thế là “đồ tể” Kiếm
Thánh Musashi bỗng trở thành Thiền sư Musashi. Cho nên, khi ông
buông bút chấm dứt cuốn sách trong động đá quạnh hiu, 129
nhát kiếm oan nghiệt chém chết 129 mạng người bỗng chỉ
còn là những nghiệp chướng nhân quả lồng lộng. Mười
sáu năm tung hoành trong chốn gió tanh mưa máu bỗng trở thành
mười sáu năm trùng trùng duyên khởi. Ông đã đứng dậy,
thanh thoát nhẹ tay phủi đám bụi hồng: Cho Tâm trong Tâm tĩnh,
Cho Tâm không còn là Tâm.
Cuốn
Ngũ đai thư, từ đó trở thành sách gối đầu cả trong tự
viện của Tăng sĩ lẫn trong cung điện của quân vương;
trở thành cẩm nang không thể thiếu của các nhà lãnh đạo
chính trị cũng như kinh tế tài chánh của Nhật Bản trong
suốt bốn thế kỷ qua. Gần đây hơn, khi xuất hiện tại
phương Tây (A Book of Five Rings - The Overlook Press, Woodstock, New
York), tác phẩm của ông được giới doanh nhân Mỹ gọi là
Japan’s Answer to the Harvard MBA (Câu trả lời của Nhật Bản
cho bằng MBA của đại học Harvard). Và tạp chí Time đã ví
von rằng: On Wall Street, when Musashi talks, people listen (trên con
đường có thị trường chứng khoán Mỹ, khi Musashi cất tiếng
thì mọi người phải im lặng lắng nghe).
“Tội
nghiệp” cho thiền sư Musashi: con người Tây phương duy lý
và độc thần chỉ hiểu và vận dụng được phần Thuật
hời hợt trong bốn chương đầu của cuốn sách để tranh
nhau chiếm ưu thế quyền lợi và quyền lực mà không hiểu
được phần Đạo tinh túy ở trong đó, nói gì đến chương
thứ Năm, một chương khẳng định với Wall Street rằng: “Có
tiền mà không có tiền mới thật có tiền. Có quyền mà không
có quyền mới thật có quyền”.
Kiếm
sĩ Musashi đã chém chết 129 người và suy nghiệm 30 năm mới
trở thành Phật tử Musashi. Tôi nhất định không tin rằng
con đường tìm Đạo thì luôn luôn truân chuyên như thế. Tám
vạn bốn ngàn pháp môn trùng trùng điệp điệp mà điểm
đi cũng như điểm đến đều khởi tại Tâm, thì khó hay dễ,
thành hay bại có lẽ là do chính tại mình.
Cho
nên trong ngày Hội lớn, rất lớn, này của nhân loại, tôi
muốn kéo 400 năm về dồn lại trong một ngày vui hôm nay, bá
cổ quàng vai Phật tử Musashi mà cùng nhau cười ha hả dưới
ánh trăng rằm vằng vặc của mùa Phật ra đời. Để cùng
ông chuếnh choáng “đồng ca” điệp khúc Gate, Gate, Paragate,
Parasamgate, Bodhi Svaha ...
Nói
không được (viết tiếp kỳ trước - BS. Đỗ Hồng Ngọc)