.
.SỐ 17 -15 THÁNG 6, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
 
SỐ 17 THÁNG 6, 2006

 

 


Ðức Phật 2630 năm
Thái Kim Lan

Tháng Tư âm lịch, trăng tròn, sen nở, Phật tử mừng Ðức Phật ra đời, cách đây 2630 năm, một điểm mốc xa xôi cho con người hôm nay, nếu tính về thời gian, nhưng nếu tính về sức sáng, sức đầy, sức lớn có thể đẩy lùi u minh thì vầng trăng tháng Tư vẫn mãi tròn như thế, vành vạnh rỗng thời gian, minh bạch hiện tiền trong đôi mắt nhân gian. Tiếp nối hào quang chói lói của vừng thái dương tháng Năm xứ Ấn, ngày Phật Ðản là ngày mặt trăng nối tiếp mặt trời, là ngày hết đêm, ngày không đêm, kinh Ðại Bổn diễn tả:

 "... Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng thần diệu ấy thắng xa oai lực của chư Thiên…"1. 

Ngày Như Lai đến như thế 

Mặt trời chói lói, nhưng đi xuống, nhường cho đêm. Mặt trời không bao giờ biết đêm, chỉ có trăng mới thao thức với đêm, trăng cải hóa đêm dày, soi đường, làm cho người đi trong đêm tối không còn sợ hãi, ánh trăng thức tỉnh trong lúc mặt trời có thể làm say. Chẳng ai nhìn được mặt trời lâu hơn một giây, còn trăng sáng nhìn rõ mà không lòa. 

"Ánh sáng phát sanh đến Như Lai, rọi rõ những việc trước kia chưa từng được nghe đến"2.

Chẳng phải tình cờ mà ngày trăng tròn tháng Năm được các tông phái Phật giáo đồng ý xác định cho 4 sự kiện trong cuộc đời của Ðức Phật: Ðản sinh, Xuất gia, Thành đạo, Niết Bàn, sự kiện được gọi là 4 nơi làm cho "chấn động" con người. 

Ý niệm thời gian lịch sử hầu như được thu lại trong một vầng trăng tròn sáng. Nơi vòng tròn luân lưu ấy điểm khởi đầu cũng là điểm cuối cùng, trong suốt, nhất quán. Ý niệm lịch sử đường  thẳng được cởi bỏ để chỉ còn ý niệm về chân lý bất tử siêu vượt,  "trỗi mầm nhân vượt qua mọi vầng dương" như một nhà thơ đã ca ngợi Ðức Phật: mặt trời, đỉnh cao rực sáng của vũ trụ cũng có lần khuất núi nhưng hạt nhân của quả lành đã nẩy ra và thực chứng từ khi Phật đến với thế gian, vượt trên mọi vầng dương: 

Như Lai đến thế gian với "thân tối hậu"3, quả hạnh viên mãn, một con người có 32 tướng tốt, một Nhân Phật của tất cả các Đấng Chánh Đẳng giác trong muôn kiếp, với hạnh nguyện và khả năng chấm dứt vòng luân hồi sinh tử mà chính Phật cũng đã trải qua. Vượt luân hồi sinh tử là mục đích tối cao nhất của bước đến Như Lai, đó là ý nghĩa của câu "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, vô lượng sinh tử, ư kim tận hỷ", nói lên hạnh nguyện của Phật đến với nhân loại.

Ngược với mọi khái niệm về nguyên nhân tối thượng, Ðức Phật là vị Phật "duy nhất" lấy sự chấm dứt chuỗi luân hồi sinh tử làm điểm khởi đầu.

Trong kinh Ðại Bổn  Đức Phật tự thuyết về sự đến thế gian của Ngài như sau: 

 "Thánh Ma Gia mộng ứng điềm lành, Vua Tịnh Phạn phước sanh con thảo".
Thuở ấy, cách đây hơn 2550 năm, 1250 vị tỳ Kheo đã ngồi nghe Đức Phật kể về sự rong ruổi trong 91 kiếp với bảy đời Phật Tỳ Bà Thi. Như Lai là vị Phật "tối hậu". Như Lai không phải là người sáng thế, và Như Lai cũng không đưa ra một yêu sách như thế. Như Lai có tiền kiếp và có cha mẹ, nhưng Như Lai là vị Bồ Tát sau rốt có hạnh nguyện duy nhất: chấm dứt khổ não sinh tử luân hồi. Chỉ có Như Lai, vị Phật, vị Bồ tát duy nhất tuyên bố giải phóng ràng buộc sinh tử, hay nói cách khác, sự xuất hiện của Như Lai là sự xuất hiện của hạnh nguyện giải thoát, của ý chí tự do vượt khỏi trói buộc luân hồi:

"Này các Tỷ kheo, phụ vương của Ta tên là Suddhodana (Tịnh Phạn); mẫu hậu của Ta tên là Mãyã (Ma-da); kinh thành tên là Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ).

Này các Tỷ kheo, pháp nhĩ là như vậy. Vị Bồ tát khi sinh ra, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lớn tiếng như ngưu vương, thốt ra lời như sau: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sinh ở đời này nữa" (Trung Bộ Kinh, Kinh Ðại Bổn, 29, Thích Minh Châu dịch) 

Dứt khổ não sinh tử là mục đích mà Ðức Phật đến thế gian với "thân tối hậu", thực hiện giải thoát khổ đau: " trong tấm thân cao 6 trượng, gồm 32 tướng tốt  (ghi thêm của người viết) - với tri giác và ý thức; cả thế giới đều bao hàm trong ấy cùng với sự hình thành và chấm dứt của thế giới và vạch ra con đường dẫn đến đoạn diệt"4. 

Ý nguyện giải thoát luân hồi sinh tử nơi bảy bước đầu tiên đã được Thái tử Tất Ðạt Ða, tên gọi của Đức Phật lịch sử, thực hiện sau nhiều năm khổ công tu luyện. Với tuổi 29, thái tử Gotama Siddhattha rời khỏi thành Ka tì la vệ lên đường "tìm điều lành chữa khổ đau"5 cho nhân loại, bởi vì con người ai ai cũng sợ già, bệnh, chết. Dưới cội bồ đề, theo phương pháp nhập định mà chính Người tìm ra, Thái tử Tất Ðạt Ða giác ngộ thành Phật 6, "Thế Tôn giác ngộ dưới gốc cây assattha (bát- đa-la)"7.

Lời nói đầu tiên Phật thốt ra sau khi chứng quả giác ngộ là: "sự bất tử đã được tìm thấy!". Những chữ ấy tuyên báo cả nội dung giáo lý của Phật Cồ Ðàm. Cũng chính ý nghĩa thực chứng "bất tử" này cho ta hiểu sâu hơn câu tuyên ngôn ý chí tự do, giải thoát sinh tử luân hồi của bảy bước hoa sen. Nếu muốn hiểu giáo lý của Đức Phật, cần hiểu khái niệm "bất tử", và năm người đệ tử đầu tiên của ngài đã hiểu, bởi vì họ được Phật chỉ cho thấy lý duyên khởi trong tương quan với giác ngộ bất tử: sự bất tử nằm trong thực chứng "tất cả những gì sanh khởi đều lại hoại diệt"  (kinci samudhayadhamman sabbam tam nirodhadhammam).

Theo đó "bất tử" không phải là "đời sống vĩnh cữu", bởi vì tất cả những gì thuộc về đời sống đều nằm trong quy luật sinh-diệt. Sống và chết thuộc vào nhau, chúng không thể phân cách nhau. Hể có sinh thì có diệt, có diệt thì có sinh, một tất yếu trong chuỗi luân hồi bất tận, cho nên "bất tử" không phải là sự hứa hẹn một cuộc sống trên thiên đường vĩnh cửu sau khi chết, mà là sự chấm dứt chuỗi luân hồi này bằng con đường tu chứng thực hiện giải thoát ngay trong hiện tại, trên trần gian. Là vị Phật đã thành do chính giác ngộ nguồn gốc sinh-tử, Ðức Phật chỉ ra con đường (Bát chánh) cho mỗi người, mà khi thực hành, con người có thể tìm thấy giác ngộ "bất tử" ngay trong chính cuộc đời hiện tại, bởi vì mỗi người đều có Phật tính, mỗi người là Phật đang thành. 

Giác ngộ "bất tử" nằm trong thực chứng rốt ráo nguyên nhân của khổ đến từ vô minh và ảo tưởng nhầm lẫn bản chất sự vật vốn vô thường, biến đổi như những thực thể thường còn, bất biến; nằm ở sự dứt bỏ tham sân si, chấp ngã; nằm trong sự thực chứng khổ não, vô thường, vô ngã, thực hiện hạnh từ bi không giết hại chúng sinh (ahimsa), từ đó đạt được trạng thái Niết Bàn, một trạng thái vượt trên đối đãi sinh tử, một trạng thái tự do trong nghĩa cởi bỏ mọi ràng buộc, nhất là mọi ham muốn thế lực đến từ sự chấp ngã, nguyên do của mọi tranh chấp thế lực. Lòng ham muốn thế lực là điều mà Ðức Phật  khuyên cần phải từ bỏ để thực hiện hòa bình nội tâm. Trong suốt 45 năm  thuyết giảng độ sinh, Ðức Phật đã là vị sứ giả hòa bình tối hảo với giáo lý giác ngộ bao dung căn cứ trên "như thật tri kiến" và bất bạo động.

Chân lý mà Ðức Phật muốn chúng sinh đạt được như Ngài là một chân lý do trí tuệ khai mở, và mỗi người có thể tự mình chứng nghiệm chứ không do một thế lực hay uy quyền ngoại tại nào chi phối, đồng thời chân lý này không phải chỉ để thoả mãn tính tò mò tri thức một cách vô bổ mà là chân lý nhằm giúp con người giải thoát mọi phiền não trói buộc, phục vụ nhân loại, thực hiện quân bình nội tâm, tự tại, hóa giải sợ hãi và tuyệt vọng. Một khi thấy rõ được lý duyên khởi, nguyên lý của vô thường, nắm vững quy luật sinh diệt, con người trở nên tự chủ, tự do, thức tỉnh và tinh tấn quay ngược bánh xe luân hồi trở nên bánh xe Chánh pháp8, phát triển quân bình tâm trí, sự sợ chết biến mất, bất tử được thực chứng, trạng thái hòa bình tịch tịnh - Niết bàn - được hội nhập.

"Tự mình, điều ác làm,
Tự mình, làm nhiễm ô.
Tự mình, ác không làm,
Tự mình, làm thanh tịnh.
Tịnh, không tịnh tự mình.
Không ai thanh tịnh ai!"9. 

Giáo Lý của Ðức Phật đem lại sự tự tin cho con người trong nỗ lực cải hóa nghiệp dữ thành nghiệp lành, và mỗi người là kiến trúc sư của căn nhà niết bàn tại thế. Một học giả nhận xét: "Ðức Phật  đến thế gian này để thực hiện chứ không phải để hủy diệt"10, trong một chừng mực cũng đồng nghĩa với nhận định: "Thế tôn lấy sự chấm dứt sanh tử luân hồi làm khởi điểm cho ý chí tự do thực hiện hội nhập tâm linh siêu việt sanh tử, bước đến của Như Lai nhằm thực chứng sự bất tử của con người trong hiện tại". 

Đã 50 năm, từ khi ngày lễ Vesak được thế giới công nhận là ngày lễ quốc tế, nhận xét của một học giả Ấn độ về Ðức Phật và giáo lý của Ngài trong ngày Phật đản vẫn còn thời sự, chứng tỏ giáo lý của Ngài vượt trên mọi vô thường, biến chuyển:

Sau vô số những tìm kiếm, có khi loài người biết xác lập chính mình, giác ngộ mục đích sự hiện hữu của mình một cách cao thượng, để rồi lại làm mất chính mình trong tiến trình phân hóa rất chậm chạp. Ðức Phật nhắm tới việc gây dựng một hạng người tự do mới, thoát khỏi những thành kiến, quyết tâm xây dựng tương lai, và chỉ trông cậy vào chính mình. Giáo lý nhân bản của ngài vượt lên trên những hàng rào chủng tộc và quốc gia. Nhưng tình trạng hỗn loạn của thế giới phản chiếu sự xao động trong tâm trí con người. Lịch sử đã trở thành tính cách hoàn cầu. Ðề tài của lịch sử không còn là Âu hay Á, Ðông hay Tây, mà là nhân loại ở mọi xứ và mọi thời đại. Thế giới là một thực thể độc nhất, dù người ta muốn hay không muốn, và dù có sự chia rẽ về chính trị. Vận mệnh của của mỗi người có liên quan tới vận mệnh của người khác. Nhưng chúng ta đang chịu sự mệt mỏi của tâm linh và sự gia tăng tâm vị kỷ cá nhân cũng như tập thể, làm cho ý niệm thế giới đại đồng khó có tính cách hấp dẫn, cái mà chúng ta đang cần một quan kiến tâm linh về vũ trụ mà xứ Ấn độ này đã có, để lại thổi vào cuộc đời, mở tung những cánh cửa đang đóng kín đời người. Chúng ta phải tái lập lý tưởng tự do tâm linh. Nếu muốn có hòa bình, chúng ta phải duy trì sự hòa hợp nội tâm đó, sự thăng bằng tâm linh đó, vốn là những thành tố thiết yếu cho hòa bình. Chúng ta phải thủ đắc chính mình, dù phải mất tất cả những thứ khác. Tinh thần tự do sẽ không hạn chế lòng từ ái của mình, sẽ nhận ra điểm linh quang trong mỗi con người, và sẽ cống hiến chính mình cho lợi ích của nhân loại. Nó sẽ liệng bỏ mọi sự lo âu, trừ sự sợ mình làm điều xấu, sẽ vượt lên trên hàng rào thời gian và sự chết để tìm năng lực vô tận trong bất tử”.

Giác ngộ trong tự do, hoà bình và hòa hợp, đó là thông điệp bất tử mà Ðức Phật Thích Ca đã để lại cho chúng ta trong thế kỷ toàn cầu hóa hôm nay, sau khi nhập diệt với lời căn dặn: “hãy tự thắp đuốc lên mà đi”, và với tuổi thọ 80 mà Ngài tự cho là ngắn ngủi "tuổi thọ của Ta không bao nhiêu, ít ỏi, tuổi thọ loài người khoảng một trăm năm hay hơn một chút" (Kinh Ðại Bổn). 

Cùng với niềm vui, người con Phật nguyện tiếp nối lời Đức Phật dạy, thực hiện hòa bình nội tâm, hóa giải hận thù, hòa hợp đại chúng.

Vui thay Phật ra đời!
Vui thay pháp được giảng!
Vui thay tăng hòa hợp!
Hòa hợp tăng vui thay!11

1 Trung Bộ Kinh, Kinh Ðại Bổn 29, Thích Minh Châu dịch.
2 Kinh Chuyển Pháp Luân.
3 Trường A hàm.
4 AnguttaraNikaya IV, 45.
5 D XVI, 5.
6 M 26, 36.
7 Trung Bộ Kinh, đd. Thích Minh Châu dịch.
8 Bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
9 Pháp Cú 165.
10 S. Radhakishan, 2500 Phật giáo, Thích Nguyên Tạng dịch Việt từ Anh ngữ, Trang nhà Quảng Ðức.
11 Dhammapada - Pháp cú, Thích Thiện Châu dịch.

München, ngày Phật Ðản sinh 2630, PL 2550 (12-05-2006) 
 



THIỀN ĐỊNH VÀ THẦN KINH 
Chuck Karam

Trong những bài nghiên cứu của mình, tôi thường đề cập đến khái niệm “wellness” như là một trạng thái cân bằng tốt nhất giữa trí tuệ (mind), thân thể (body) và tinh thần (spirit) không bệnh tật. Ở đó, thiền định đối với con người là một quá trình liên tục, có tác dụng tích cực đến thần kinh, sức khỏe và khả năng chữa bệnh.

Có rất nhiều bài nghiên cứu khoa học đáng tin cậy về sự liên quan giữa trí tuệ, thân thể và tinh thần. Những nghiên cứu được thực hiện thông qua việc thiền định của những nhà sư Tây Tạng đã đem đến những khám phá diệu kỳ, ngoài sức tưởng tượng của khoa học. Trong một báo cáo đầy đủ của Trường Đại học Wisconsin, ông Davidson, một chuyên gia về năng lực phóng xạ, đã so sánh hoạt động não bộ của 2 nhóm người: một bên là những người mới tập thiền và bên kia là những nhà sư có hơn 10.000 giờ kinh nghiệm trong việc thiền định. Tất cả những người ngồi thiền đều tập trung vào lòng từ bi. Cuộc nghiên cứu đã cho thấy sự gia tăng rõ rệt trong hoạt động não bộ, những sóng gamma xuất hiện ở tần số cao nơi những nhà sư, trong khi đó, sóng gamma xuất hiện ở tần số rất thấp nơi những người mới tập thiền. Ngay sau đó, những nhà sư có tần số sóng gamma cao nhất được ghi lại. Và họ đã xác định được vùng vỏ não phía trước trán (phần ý thức) đã phát ra những tần số sóng gamma này. Việc thiền định thường ngày đã giúp những nhà sư đã đạt được trạng thái cao nhất của trí tuệ và lòng từ. Trong bài thuyết trình gần đây, Tiến sĩ Joe Dispenza, một trong những nhà khoa học ở The movie What the Bleep tuyên bố: “Mạng lưới thần kinh là sự sống của bạn. Nhưng cái gì đang làm chúng ta ngạc nhiên nhất? Khoa học đã chứng minh não bộ có tính mềm dẻo và có thể được thay đổi. Vì vậy bạn có thể thay đổi mạng lưới thần kinh nơi não bộ của mình thông qua những thay đổi trong ý thức bằng việc tập trung vào thiền định”.

Nếu chúng ta nắm giữ một ý niệm, xem đó là một phương diện chính xác, diễn đạt trong một tập hợp những tham số hay kiểu mẫu mà chúng ta đã kinh nghiệm thì tinh thần của chúng ta sẽ trở nên sơ cứng bởi thời gian. Thiền định đến với chúng ta là một tin tốt lành chăng? Lạ quá, bây giờ chúng ta mới biết đến, và những kiểu mẫu trong nhận thức của chúng ta đang thay đổi. Ví dụ, trong những suy nghĩ của mình, chúng ta thường thắc mắc chúng ta là ai, rồi chúng ta nghĩ gì về bản thân, về những người khác, về địa vị, về sự vật, về những điều Thượng đế ngăn cấm chúng ta… Nếu tự do để hiểu rằng, những kinh nghiệm này chỉ là kinh nghiệm, và hơn một lần, chúng ta có thể thay đổi những kinh nghiệm đó, thì chúng ta cũng có thể thay đổi mạng thần kinh của mình bằng việc thiền định. Thiền định có thể biến đổi thành phần hóa học của não bộ, giúp chúng ta sử dụng tiềm lực của trí tuệ và thân thể để tự chữa bệnh, cải thiện trí nhớ, mở mang kiến thức, đi đến đỉnh cao của một thói quen khác: lòng từ và sự lạc quan. Có hơn 3 triệu xung lực đang bị đốt cháy trong cơ thể của chúng ta mỗi giây. Đó là một con số khổng lồ, chứng tỏ trí lực của chúng ta vô cùng mạnh mẽ.

Tôi đã hỏi những mục sư, thầy tế lễ hay người lãnh đạo tinh thần của một số tôn giáo, mỗi người đều trầm ngâm, hít thở sâu và bắt đầu nói với tôi những định nghĩa khác nhau không đáng kể về truyền thống cầu nguyện của mình. Tôi tin “cầu nguyện” là điều có ý nghĩa đối với từng cá nhân. Tuy nhiên, có một điểm chung, cầu nguyện dường như là một phương cách để họ tìm về với thánh thần hơn là việc tập trung vào năng lực tinh thần của chính mình. 

Các tìm hiểu trên đã giúp tôi hiểu rõ thêm về việc thực hành tâm linh trong các truyền thống. Có rất nhiều bài nghiên cứu chỉ ra rằng, việc thiền định thường xuyên giúp người ta chữa bệnh nhanh hơn. Những người thực hành thiền định hay cầu nguyện thường xuyên có thể hạ thấp áp lực máu lưu thông, giảm tỉ lệ phát bệnh ung thư, ít xảy ra tình trạng nghiện ma túy, nghiện rượu, ít có nguy cơ chán nản hay ý muốn tự tử, đương đầu với bệnh tật tốt hơn và có nhiều khả năng sống trong những ca phẫu thuật quan trọng.

Cơ thể chúng ta có rất nhiều những trạng thái thay đổi của các thành phần hóa học bằng những tác động của ý nghĩ, lời nói hay hành động. Tất cả những biểu hiện đó đều nằm trong quá trình phản ứng sinh lý học. Ví dụ, tất cả chúng ta đều có những rung động nam nữ ở thời điểm này, thời điểm khác, hay trải qua sự phát triển của những cảm giác hưng phấn, mặc dù có thể chúng ta không dự định nghĩ về điều đó, nhưng trạng thái này vẫn xảy ra bằng những phản ứng sinh lý hóa tự nhiên. Ví dụ khác nữa, khi đi vào trạng thái thiền định sâu, chúng ta có thể vắng bặt tất cả cảm giác về không gian, thời gian. Thiền định là phương pháp rất hữu hiệu để chúng ta chữa trị những triệu chứng rối loạn thần kinh chức năng, tạo khả năng thay đổi và duy trì sự sống. Tất cả chúng ta đều có hành động như chúng ta nghĩ, tuy nhiên chúng ta cần phải mở cửa cho những khả năng mới, những ý tưởng mới. Và chắc chắn không có giới hạn cho những gì mà bạn có thể đạt được bằng sự rèn luyện thể chất và tình thần. Không có sự thay đổi trong cuộc sống nếu chúng ta không chiếm lĩnh được thực tại. Điều cần nhớ mỗi ngày là sự kiên nhẫn. Chúng ta đã có nhiều năm hành động với những suy nghĩ sai và bị những thái độ bảo thủ không ít lần làm lu mờ tâm trí. Khi bạn nỗ lực thường xuyên trong việc thiền định, bạn sẽ khám phá ra nhiều những suy nghĩ tích cực đang thúc đẩy bạn hành động, bởi những thay đổi hóa học trong vỏ não thông qua việc thiền định sẽ làm thay đổi những hành động của bạn. Đây không phải là một quan điểm mới, mà nó đã được thực tế chứng minh. Trong hơn 20 năm qua, vận động viên điền kinh Dave Scott 6 lần vô địch thế giới, hay vận động viên Lance Armstrong đã vượt qua căn bệnh ung thư với 7 lần chiến thắng trong giải Tour De France, họ đều sử dụng quan điểm này thông qua việc thiền định, như một phương pháp hữu hiệu được biết đến. Hy vọng mọi người hãy làm tương tự, hoặc thiền định, hoặc cầu nguyện, hay thực hiện cả hai phương pháp, bạn sẽ nhận rõ được bản chất thực tại của mình: mãnh liệt hơn, tự tin hơn, nhanh nhẹn hơn, an vui hơn. Và thiền định là bước đầu tiên trên hành trình chiến thắng chính mình.

Tiểu Văn dịch
 
 


Cảnh Giới Bên Kia Cửa Tử 
Do Người Chết Hồi sinh Kể Lại

Cách đây 31 năm, khi cho in cuốn sách đầu tiên Life After Life sau nhiều năm tiếp xúc với những bệnh nhân chết đi sống lại, bác sĩ Moody nói, ông chỉ ghi lại trung thực những câu chuyện này mà không cố ý chứng minh là có một đời sống khác sau khi chết. Ông cũng nói thêm rằng, hiện nay chưa ai có thể đưa ra một bằng chứng cụ thể để chứng minh có một cảnh giới bên kia cửa tử, nhưng người ta cũng không thể phủ nhận kinh nghiệm của hơn 8 triệu người lớn ở Mỹ và mấy triệu trẻ con nữa, những người sống lại sau cái chết lâm sàng đã kể những gì họ thấy được sau khi lìa khỏi xác thân vật lý.

Bác sĩ Moody kể, lần đầu tiên ông được nghe tả về cảnh giới bên kia cửa tử do người chết hồi dương kể lại (kinh nghiệm cận tử) là khi ông còn là một sinh viên khoa triết học ở đại học Virginia. Một giáo sư  y khoa dạy môn tâm thần học kể cho sinh viên nghe chính ông đã “chết” đi rồi sống lại hai lần, cách nhau 10 phút. Ông kể lại những chuyện ly kỳ ông được chứng kiến trong thời gian ông “chết”. Thoạt nghe thì anh sinh viên Moody cũng lấy làm lạ nhưng không có ý kiến gì. Anh chỉ giữ cái băng thu âm câu chuyện này để làm tài liệu thôi. Mấy năm sau, ông Moody bây giờ là giáo sư  triết ở một trường đại học ở Bắc Carolina. Trong một buổi giảng dạy về thuyết bất tử (Phaedo) của Plato, nhà hiền triết nổi tiếng của Hy Lạp thời cổ đại, một sinh viên xin gặp riêng để hỏi thêm về vấn đề sống chết, vì bà của chàng ta đã “chết” trên bàn mổ, sau đó hồi sinh và kể những chuyện bà đã chứng kiến rất hấp dẫn. Giáo sư Moody yêu cầu anh sinh viên này kể lại từng chi tiết và ông rất đỗi ngạc nhiên khi thấy những chuyện xảy ra cho bà già này gần giống những mẩu chuyện ông được nghe từ thầy của ông mấy năm về trước. Từ đó, ông cố ý thu thập tài liệu về hiện tượng chết đi sống lại. Ông cũng đưa vấn đề này vào trong các bài giảng của ông, nhưng không đề cập gì đến hai trường hợp ông được nghe. Ông nghĩ rằng, nếu có nhiều người chết đi sống lại thì thế nào sinh viên cũng sẽ nói ra trong các giờ triết. Quả vậy, trong mỗi một lớp học chừng 30 sinh viên, khi nào cũng có một anh xin gặp riêng sau giờ học để kể cho ông nghe một câu chuyện chết đi sống lại. Có điều lạ là, những mẩu chuyện này có nhiều tình tiết giống nhau, tuy người có kinh nghiệm chết đi sống lại gồm nhiều thành phần khác nhau, khác về tôn giáo, về học vấn, và địa vị xã hội. 

Khi Moody theo học y khoa năm 1972 thì ông đã có một hồ sơ dày cộm về những trường hợp chết đi sống lại. Ông bắt đầu nói đến công cuộc nghiên cứu của ông với những người ông gặp ở trường y. Sau đó, theo lời yêu cầu của một người bạn, ông nhận lời thuyết trình về hiện tượng chết đi sống lại tại một hiệp hội y sĩ và nhiều hội đoàn khác. Và sau mỗi buổi thuyết trình, thế nào cũng có người đứng lên kể lại kinh nghiệm chết đi sống lại của chính mình. Dần dà ai cũng biết tiếng ông, nên nhiều bác sĩ đã giới thiệu những bệnh nhân họ cứu sống được mà có những kinh nghiệm lạ lùng trong thời gian họ “chết”. Sau khi vài tờ báo đăng tải tin tức về công cuộc nghiên cứu của ông thì nhiều người tự động gửi những mẩu chuyện tương tự xảy ra với họ. Ông quyết định chỉ chú ý đến trường hợp những người do bác sĩ chứng thực là đã chết lâm sàng (tim ngừng đập, thần kinh não ngưng hoạt động) rồi được cứu sống lại; và trường hợp những người bị tai nạn, hồn lìa khỏi xác ngay nhưng sau đó lại hoàn hồn, đã kể những sự việc họ chứng kiến. 

Trong mấy trăm câu chuyện chết đi sống lại mà tác giả được trực tiếp nghe, Moody nhận thấy, tuy kinh nghiệm của mỗi người có điểm khác nhau nhưng tựu trung thì có thể nói có chừng 15 điểm mà ông thấy người ta hay nhắc nhở:

1. Ngôn ngữ bất đồng
Người nào cũng tỏ vẻ bực bội rằng, ngôn ngữ của cõi trần không thể diễn tả đúng những sự việc xảy ra ở cõi giới kia. Một người trong số đó nói: “Tôi biết, thế giới mà tôi được thấy là một thế giới có hơn 3 chiều, nên không thể nào diễn tả được hết những điều tôi muốn nói với thứ ngôn ngữ của thế giới 3 chiều của chúng ta”.

2. Nghe tin mình đã chết
Nhiều người kể rằng, họ nghe được chính bác sĩ hay những người ở bên cạnh nói rằng họ đã chết. Bà Martin kể: “Tôi vào bệnh viện nhưng họ không tìm ra bệnh. Bác sĩ James đưa tôi sang phòng X quang để chụp ảnh gan tìm bệnh. Vì tôi bị dị ứng với nhiều thứ thuốc nên họ thử trên cánh tay tôi trước. Thấy tôi không có phản ứng gì, họ liền tiêm cho tôi thứ thuốc ấy. Nhưng lần này thì tôi phát dị ứng liền và chết ngay sau đó. Tôi thấy bác sĩ ở phòng X quang vừa chích thuốc cho tôi, bước đến nhấc máy điện thoại. Tôi nghe rõ ông quay từng con số và giọng nói của ông: "Thưa bác sĩ James, tôi đã giết bệnh nhân của ông. Bà Martin chết rồi". Nhưng tôi biết tôi không chết. Tôi cố cử động, cố tìm cách nói cho họ biết là tôi chưa chết nhưng tôi không thể làm gì được. Rồi thấy họ làm thủ tục cấp cứu. Tôi nghe họ nói cần bao nhiêu “cc” thuốc chích cho tôi, nhưng tôi không có cảm giác gì khi mũi kim chích vào da. Tôi cũng không có cảm giác gì khi họ chạm vào người”. 

3. Tâm an bình và tịch tịnh
Số đông kể rằng, họ tận hưởng được một cảm giác thật an lạc, thật khoan khoái khi mới thoát ra khỏi cái xác của mình. Một người bất tỉnh ngay sau khi bị thương nặng ở đầu kể rằng, khi mới bị chấn thương thì anh cảm thấy đau nhói, nhưng chỉ một thoáng thôi, rồi sau đó anh có cảm tưởng như mình đang bềnh bồng trôi trong một phòng tối. Mặc dù hôm ấy trời lạnh lắm mà anh cảm thấy rất ấm áp trong khoảng không gian âm u này. Anh thấy tâm thần mình bình an thoải mái lạ lùng, và anh chợt nghĩ  “chắc là mình đã chết rồi”.

Một bà vật vã, đau đớn và ngất đi sau một cơn đau tim. Khi được cứu tỉnh bà kể: “Tôi bắt đầu cảm thấy sung sướng lạ, mọi lo âu buồn phiền biến mất, chỉ còn lại một cảm giác bình an, thoải mái, thanh tịnh. Tôi không còn cảm thấy đau đớn nữa”. 

4. Âm thanh
Nhiều âm thanh lạ được tả lại, hoặc khi sắp chết hoặc khi vừa tắt thở. Một người đàn ông “chết” trong thời gian 20 phút trên bàn mổ kể lại, rằng ông đã nghe một tiếng kêu ù ù rất khó chịu. Tiếng kêu như phát ra từ trong đầu mình chứ không phải từ bên ngoài. Một người đàn bà kể, khi vừa ngất đi thì bà nghe một tiếng rì rì lớn và bà cảm thấy đang chơi vơi bay lộn lòng vòng trong không gian. Bà còn nghe một thứ tiếng khác cũng khó chịu lắm, như tiếng động lạch cạch, tiếng va chạm hay tiếng rống mà cũng như tiếng gió hú. Những người khác thì nghe một âm thanh dễ chịu như âm nhạc, như trường hợp một bệnh nhân “chết” trên đường đến bệnh viện, khi được cứu tỉnh lại ông kể: ông đã nghe một âm thanh như âm ba của nhiều cái chuông nhỏ từ đằng xa theo gió vọng lại, làm ông nghĩ đến mấy cái chuông gió của Nhật, và ông chỉ nghe một âm thanh này thôi. 

5. Đường hầm tối
Ngày vừa khi nghe tiếng động thì người ta cảm thấy như bị hút mạnh vào một khoảng không gian tối. Người thì nói giống như vào một hang động; người thì bảo sâu hút như một cái giếng; người khác thì tả như một khoảng không, một đường hầm, một ống xoắn, một cái chuồng, thung lũng, ống cống, hoặc khoảng không của một vật thể hình trụ. Tuy được diễn tả khác nhau nhưng điều này cho thấy, người nào cũng trải qua kinh nghiệm này. Một bệnh nhân kể: khi tim anh ngừng đập vì bị dị ứng với thuốc mê thì anh thấy mình như bay qua một quãng không tối tăm như một đường hầm, với một tốc độ cực nhanh như một con tàu đang lao đầu bay xuống ở một công trường giải trí.

6. Giây phút bước ra khỏi xác
Tuy ai cũng biết rằng, cái “ta” gồm hai phần: thân và thức, nhưng ít ai hiểu biết được phần thức vì cho rằng, có thân xác vật lý thì trí óc mới hoạt đông được, không thể nào có một đời sống nào khác ngoài đời sống với tấm thân vật lý này. Cho nên, trong quá trình chết đi sống lại, ai cũng bị ngạc nhiên quá mức khi họ được ngắm nghía thân xác bất động của họ. 

Thực khó tượng tượng được tâm trạng của những người này, khi họ thấy mình đứng đây mà sao lại còn có thân hình mình nằm bất động ở đằng kia! Khi hồn vừa lìa khỏi xác, họ chưa ý thức được mình đã chết nên ngẩn ngơ không hiểu được hiện tượng này. Nhiều người muốn nhập vào xác mình lại nhưng không biết làm sao. Có người rất hoảng sợ nhưng cũng có người không sợ hãi. Một bệnh nhân nói: “Bệnh tôi trở nặng, bác sĩ buộc phải vào nhà thương. Sáng hôm ấy tôi thấy một lớp như sương mù bao phủ quanh tôi và cùng lúc ấy tôi thấy mình bước ra khỏi xác. Tôi thấy mình bềnh bồng bay lên phía trên và nhìn xuống cái xác mình nằm ở giường. Tôi không thấy sợ chút nào, chỉ thấy một cảm giác bình yên trong một khung cảnh êm ả thanh bình. Và tôi nghĩ, có lẽ tôi đang đi về cõi chết. Tôi tự nhủ, rằng nếu tôi không nhập trở lại được vào cái xác kia thì tôi chết thật rồi, và như vậy cũng không sao”. 

 Nhiều người nói rằng sau giây phút hoang mang lúc đầu, dần đà họ thấy giác quan mới của thể hồn bén nhạy hơn. Họ có thể nhìn thật xa, nghe thật rõ, đọc được ý nghĩ của người khác, và chỉ cần nghĩ đến chỗ nào họ muốn đi thì đã thấy mình ở đó rồi. Nhưng vì họ không trao đổi gì được với những người chung quanh nên họ thấy cô đơn buồn tủi.

7. Gặp những thể hồn khác
Nhiều người kể lại, họ chỉ cảm thấy cô đơn trong chốc lát thôi, sau đó họ được gặp gỡ và chuyện trò với những người thân, bạn bè quá cố. Một người phụ nữ kể lại cuộc vượt cạn khó khăn, bà bị mất máu rất nhiều trong khi sinh. Lúc đó bà nghe bác sĩ nói là bà không sống được nhưng bà thấy mình vẫn tỉnh táo và ngay ngay khi ấy bà thấy nhiều người vây quanh bà nhưng chỉ thấy mặt thôi. Họ đông người lắm,ï lơ lửng ở trên trần nhà. Bà nhận ra đó là những người thân và quen đã qua đời, bà thấy bà ngoại của mình và một cô bé bạn học hồi nhỏ cùng nhiều người bà con quen biết khác. Ai cũng có vẻ tươi cười như chào đón bà ở xa về. 

Một người khác kể rằng sau khi người bạn thân tên Bob chết vài tuần thì ông cũng suýt chết. Ông thấy mình bước ra khỏi thể xác vật chất và có cảm tưởng như Bob đang đứng cạnh mình. Ông biết đó là Bob nhưng lại trông không giống như hồi còn sống. Tuy nhìn thấy Bob, nhưng không phải nhìn bằng mắt vì chính ông cũng không có mắt! Nhưng lúc ấy ông không nghĩ đến điều này là lạ vì ông không cần có mắt mà vẫn thấy. Ông hỏi Bob: “Bây giờ tôi phải đi đâu, chuyện gì đang xảy ra? Có phải tôi chết rồi không? Nhưng Bob không nói gì cả. Suốt mấy ngày tôi ở bệnh viện, Bob luôn ở bên cạnh tôi nhưng vẫn không trả những câu hỏi của tôi cho đến ngày bác sĩ tuyên bố là tôi đã thoát chết thì Bob bỏ đi.

8. Đối diện với với người ánh sáng
Tuy tình tiết về kinh nghiệm “chết” của mọi người khác nhau nhưng ai cũng nói đến cuộc gặp gỡ một vị thân toàn ánh sáng. Đây có lẽ là một chi tiết lạ lùng nhất đã làm thay đổi cuộc đời của những người chết đi sống lại. Lúc đầu, vị này hiện ra trong một thứ ánh sáng lờ mờ, rồi ánh sáng trở nên rõ dần và sau cùng thì hiện toàn thân trong một thứ ánh sáng rực rỡ. Có điều lạ là, tuy rực rỡ mà không làm chói mắt; tuy vị này hiện ra như một tòa ánh sáng mà ai cũng hiểu đây là một người với đầy đủ cá tính nhân phẩm của một cá nhân. Vị này đã ban phát cho họ một tình thương yêu không thể dùng lời nói mà diễn tả được và ai cũng quyến luyến muốn kề cận vị này. Có một điều lý thú là hầu hết mọi người đều tả dung mạo, phong cách của người ánh sáng này giống nhau nhưng khi được hỏi người ấy là ai thì mỗi người nói một cách khác, tùy theo niềm tin tôn giáo của họ. 

Hiện nay, luân hồi tái sinh là một đề tài nóng bỏng ở xã hội phương Tây nói chung và Mỹ nói riêng. Chương trình "60 Minutes"  ngày 30 tháng 10, năm ngoái có đề cập đến vấn đề luân hồi tái sinh và báo cáo hiện nay có đến 78% người Mỹ-vào khoảng 195.000.000 dân tin có kiếp trước kiếp sau. Raymond Moody, giáo sư Triết học, bác sĩ y khoa, là một nhà nghiên cứu người Mỹ tiền phong về vấn đề luân hồi tái sinh, nói rằng, sự hiểu biết về hiện tượng có đời sống khác sau đời sống này (life after life) đã được giấu nhẹm rất kỹ cho đến bây giờ. Nếu ai muốn tìm hiểu xem người Mỹ nghĩ thế nào về luân hồi chỉ việc vào thăm GOOGLE, gõ chữ  “books on reincarnation” thì thấy một con số khổng lồ, hơn 2.000.000 tài liệu gồm sách và các bài luận giải về nhân quả và luân hồi...

Nguyên Ngọc biên soạn
(Xem tiếp VHPG số 18)
 



HÃY KỂ TÔI NGHE…
Nguyễn Ngọc Quý

Bài hát “Bonjour Vietnam” của nhạc sĩ Marc Lavoine khi được cô gái người Bỉ gốc Việt - Phạm Quỳnh Anh truyền cảm đã gắn kết nhiều tâm hồn Việt trên khắp thế giới. Chất nhạc và chất thơ hòa quyện trong giọng ca trầm hút, lắng sâu, khi thì dịu ngọt, thì thầm, lúc thì thổn thức, gọi mời…, khiến người nghe hạnh phúc mà có thể bật khóc được…

“Hãy kể cho tôi về cái tên xa lạ và khó gọi mà tôi đeo mang từ thuở chào đời…”.

Vì mang nặng cả một miền ký ức nên cái nét Việt trên khuôn mặt của cô đã thấm sâu vào lời ca mang ngôn ngữ Pháp. Ngôn ngữ có thể bị điều kiện hóa, nhưng sự quyến rũ của âm nhạc lại nằm đâu đó trong tâm hồn mỗi người, nên rào cản ngôn ngữ đã bị xóa nhòa, chẳng thế mà bài hát được những người Việt Nam nơi quê nhà, từ trẻ đến già, dù không biết tiếng Pháp vẫn truyền nhau nghe và xúc động.

“Khi đại bác gầm thì họa mi tắt tiếng”. Trên thế giới đại bác vẫn đang gầm lên từng ngày từng giờ, nhưng ở đâu đó trên đất Bỉ, vẫn có một giọng ca đầy tươi mát hát về một quê hương nhiều đau thương nhưng cũng rất ngọt ngào. Có thể trong con mắt người nước ngoài, Việt Nam được biết đến qua hình ảnh của chiến tranh, nơi những chiếc trực thăng đang trong cơn thịnh nộ… Nhưng hận thù và đau thương của chiến tranh làm sao có thể lấp đầy được nỗi nhớ quê hương đang da diết. Quỳnh Anh đang hát về một dân tộc đã từng trải qua bao đau thương vì chiến tranh, nhưng Quỳnh Anh cũng hát lên để tìm về…, và tìm về để… rồi đây người lại nhớ người, rồi đây người lại yêu người…

“Hãy kể tôi nghe về màu da, mái tóc và đôi bàn chân đã cưu mang tôi tự thuở chào đời…”.

Hãy kể… Hãy kể… Và hãy kể…, vì có người muốn nghe, muốn hiểu, muốn thương, và bởi hai chữ “cưu mang” đã nói lên một ân tình sâu nặng. Qua giai điệu trong suốt chảy dài, mẫu mực như một bản Sonate đầy chất cổ điển và lãng mạn: “Một ngày kia tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn người…”, mọi người đều có thể tìm về với màu da, mái tóc, đôi chân, căn nhà, con đường, phiên chợ nổi trên sông, con thuyền tam bản…, và cả những điều chưa biết. Thực không có gì lấp đầy được cảm xúc khi giai điệu thăng hoa. Ở đó, không gian của âm vang, thời gian của thân phận chỉ là để đến nơi, và đơn giản để cất một tiếng chào… Có người sẽ cho rằng đó là những hình ảnh thính giác được nhặt nhạnh một cách chăm chỉ trên sách báo, truyền hình… Không sao! Bởi “mỗi lần đưa ra một lần mới”, một Thiền sư sống ở thế kỷ thứ XIII đã nói thế. Bởi vẫn có rất nhiều người hàng ngày được nhìn thấy, được xúc chạm với “đất mẹ, quê cha” mà vẫn thờ ơ, vô cảm. Có thể nói, từ những hình ảnh ấy mà thấy được sự cưu mang, thấy được thân phận và tìm về hồn mình thì quả thật không dễ với một cô gái đang tuổi 17, nơi xa xôi bên kia bờ đại dương.

Trong đoản khúc được lặp lại tới ba lần: “Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy…”, có một điều gì đó chờ đợi, mong mỏi, thúc giục và đang đến rất gần. Tâm hồn dâng cao, nên âm nhạc đòi hỏi phải được chuyển tiếp bằng một hình thức sinh động của biến tấu, và bí mật chỉ có thể nằm thẳm sâu trong một chất giọng có hồn. Tâm hồn ấy bay bổng, đi xa vạn dặm và không cần chờ đến một ngày kia mà đã đến nơi, đã giao cảm, vì không có ngoại lệ nào trong buồn đau và hạnh phúc nơi người Âu hay Á, nơi người Việt ở quê nhà và người Việt nơi viễn xứ. Thế nên, xin đừng ai giấu sự xúc động của mình đi khi đã nghe trọn một tấm lòng.

Từ chào hỏi “hồn người” đến chào hỏi “hồn tôi”, nơi có những người cha, những ngôi chùa và những tượng Phật bằng đá, những bà mẹ, nhưng người phụ nữ còng lưng trên ruộng lúa…, để rồi “tôi về với tiếng lòng, với cội nguồn, với đất mẹ quê cha…”.

Nếu không có chữ “về với” thì có lẽ Quỳnh Anh cũng như bao người Việt khác sẽ chỉ là người khách lạ hiếu kỳ ghé thăm mà thôi. Chợt nhớ đến hai chữ “về với” đau đáu và đầy cảm thương của Thiền sư Tuệ Tĩnh (Hải Thượng Lãn Ông). Chữa bệnh cho hoàng đế Trung Hoa xong, đang trên đường trở về thì người qua đời, gửi thân nơi đất khách, nhưng trên bia mộ vẫn da diết hàng chữ: “Có ai về phương Nam, cho tôi theo về với…”. Nỗi nhớ quê không có tuổi. Ai trong chúng ta có thể kìm lòng được khi thấy một Thiền sư của mấy thế kỷ về trước và một cô gái đầy sức thanh xuân thời hiện đại, tuy cảm thức khác nhau nhưng họ đều đã nhớ quê nhiều đến như thế…

Có lẽ nào âm nhạc và xúc cảm đã đánh thức quá khứ, đánh thức những trái tim đồng điệu và đánh thức cả một niềm tin dân gian: quê hương. Một niềm yêu đã cưu mang mình từ thuở ấu thơ, đó là “hồn người” nơi màu da, mái tóc, bàn chân…, đó là “hồn tôi” nơi mẹ cha, nơi những ngôi chùa, những pho tượng Phật…

Hình ảnh thính giác nơi âm nhạc hiện ra êm đềm trước khi bước chân lịch sử có thể đi qua. Nhưng lịch sử tâm hồn không tuân theo một con đường đi lên hay đi xuống. Có thể ngày mai sẽ không còn những pho tượng Phật bằng đá, không còn những phiên chợ nổi, những con thuyền tam bản, những người mẹ, người chị còng lưng trên ruộng lúa… Nhưng niềm tin tươi sáng nơi hồn tôi và hồn người luôn đồng nhất trong tiếng gọi quê hương. Và rất có thể “một ngày kia” sẽ dài hơn một cuộc đời, một thân phận…, nên xin những tâm hồn Việt hãy cùng nhau tìm về trong âm điệu của hôm nay… 

Bonjour Vietnam 

'Raconte moi ce nom étrange et difficile à prononcer 
Que je porte depuis que je suis née. 
Raconte moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés, 
Qui disent mieux que moi ce que tu n’oses dire. 
Je ne sais de toi que des images de la guerre, 
Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère ... 
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à ton âme. 
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam. 
Raconte moi ma couleur, mes cheveux et mes petits pieds, 
Qui me portent depuis que je suis née. 
Raconte moi ta maison, ta rue, racontes moi cet inconnu, 
Les marchés flottants et les sampans de bois. 
Je ne connais de mon pays que des photos de la guerre, 
Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère ... 
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme. 
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam. 
Les temples et les Bouddhas de pierre pour mes pères, 
Les femmes courbées dans les rizières pour mes mères, 
Dans la prière, dans la lumière, revoir mes frères, 
Toucher mon âme, mes racines, ma terre... 
Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme. 
Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam (2 fois)'. 
 
 


Cảm đề sau khi đọc 
Đoạn Trường Vô Thanh
Vương Mộng Giác

Thi ca hay tình yêu trong thi ca của Phạm tiên sinh là một bản anh hùng ca, là tình tự dân tộc Việt. Tình yêu đó đã trải qua bao đau đớn không thốt nên lời, đã đi xuyên qua miền đoạn trường, qua hí trường của thiên thai mộng để bước sang một quốc độ mới ngay trong thực tại: quốc độ này cũng cấu thành bởi tài hoa của cung đàn, dũng khí của thanh gươm và tình yêu của vầng trăng, nhưng có cái khác đi là người trong quốc độ ấy sống trọn vẹn với trách nhiệm của họ. Khi đó, cung đàn không còn nỉ non thê lương mà được tựu thành một cách hướng thiện từ những sương gió của cuộc đời; thanh gươm không còn là sát nhân kiếm của kẻ thổ phỉ mà trở thành hoạt nhân kiếm của tráng sĩ: cứu sống kẻ hiền lương và giúp cho người đời tỉnh ngộ. Vầng trăng vẫn là hình tượng hấp dẫn của tình yêu, nhưng qua đó con người còn thấy được sự viên giác vô tướng của bản thể thường hằng.

Đoạn Trường Vô Thanh là tán ca giải oan cho những linh hồn Nhân Nghĩa Trinh Hiếu hoặc đã thác hoặc đang sống trong sự ngộ nhận của cuộc đời. Người trong cuộc đã hoàn toàn ý thức được thân phận con người, hiện thể của họ, và linh năng thăng hoa tiềm ẩn trong họ. Cái thông linh của người dân Việt qua những bể dâu của lịch sử được thể hiện rõ nét trong tác phẩm này. 

Vì biết rằng con người phiền não bởi chính những quan niệm của họ, rơi vào những ngộ biện (paralogismes) của lý trí nên Phạm tiên sinh mượn hình ảnh Từ Thức và đưa vào đó sự từ ly những quan điểm để có thể hành đạo vô vi:

Học đòi theo gã Từ quan
Bên chùa cởi áo chuộc nàng dưới hoa
Mái chèo lãng đãng yên ba
Thần Phù xõa tóc la đà dong chơi

Cái Đẹp vẫn luôn luôn là điều làm cho con người khát vọng vươn lên… Một đời người, biết bao kỷ niệm.  Khi nhìn lại mới hay Người Đẹp đã cho ta xiết bao ân tình và phiêu lãng, đã hiện hữu trong ta từ kiếp nào, mà ta lại phụ ơn Người.  Xin ôm vầng trăng tròn Trinh Nguyên và Viên Giác vào trong Giấc Mộng và Thực Tại để hóa thân thành Con Người… 
 
Thi ca của Phạm tiên sinh tiếp nối suối nguồn thi ca dân tộc Việt và thi ca Nguyễn Du. Qua miền đoạn trường, kẻ thức giả chợt nhận ra rằng, thì ra thi ca cũng là tiếng kêu sâu thẳm của một thực tại vĩnh cửu, có năng lực diệu dụng độ khách lữ thứ qua bến hàn giang vào một chiều thu cô liêu.

Sài Gòn, tháng 8 năm 2005

Vương-Mộng-Giác 
 



Nghe tiếng vượn trầm
Nhật Chiêu

Người đời cứ nhìn ngàn non sáng láng, có ai nghe tiếng vượn cô liêu kêu trong hang thẳm? Có lẽ đấy là một cái từ mà Tuệ Trung ưa thích. Cái nhìn và cái nghe của nhân gian rất dễ bị huyễn hoặc. Thấy núi chỉ là núi. Hoặc sáng, hoặc to, hoặc đẹp.

1.
Cuộc đời đầy âm thanh. Cho dù không cuồng nộ thì vô vàn âm thanh bình thường cũng đủ làm ta mệt mỏi. Để rồi tưởng nhớ lúc âm thanh chưa vang, hoa chưa bừng nở, bụi chưa dấy lên… tưởng nhớ gương mặt mình trước khi mẹ sinh ra.

Đọc thơ Tuệ Trung Thượng Sĩ để lắng nghe thứ âm thanh chưa từng được nghe

Mây từ núi sẽ bay thôi,
Suối khe đâu chẳng vọng lời suối vang.
…..
Nghìn non sáng, chói nhân gian,
Ai nghe ra tiếng vượn trầm tịch liêu?

Nguyên văn là những câu thơ trong bài An định thời tiết và Tụng Thánh Tông đạo học:

Sơn vân dã hữu xuất sơn thế
Giản thuỷ chung vô đầu giản thanh.
….
Nhân gian chỉ kiến thiên sơn tú,
Thuỳ thính viên đề thâm xứ thâm?

2.

Mây từ núi sẽ bay thôi

Mây trong núi lúc nào cũng chực chờ ở cái thế bay ra khỏi núi.
Mây thì bay. Nhưng tất cả đều bay đi, chẳng riêng gì “bạch vân thiên tải không du du”, ngàn năm mây trắng chơi cùng hư không.
Trò chơi chim bay cò bay chỉ là trò chơi trẻ con. Vạn sự đều bay, không chỉ hạc vàng hay những cánh chim. Tất cả đều chơi đùa với hư không trong cuộc chơi vô thường, biến ảo.
Không thể ngừng cuộc chơi mê mệt đó, không thể ngừng bay.
Cũng như mây, ta không thể dừng lại ở một đỉnh núi nào. Ta sẽ bay qua nghìn núi, bay qua vạn dặm đường. Ta bao giờ cũng là một kẻ qua đường, một quá khách.
Đó là thời tiết, đó là nhân duyên.
Và kỳ lạ là, dù mây bay đi, dường như không đi đâu, không hề mất – dường như vô tận. Như bản thân đời sống. Như thơ Vương Duy:

Đãn khứ mạc phục vấn,
Bạch vân vô tận thì.
(Đi thôi đừng hỏi nữa,
Mây trắng vô tận thời).

Mây bay thì cứ bay, chẳng có gì tiếc hận. Những cánh hoa cũng thế, sẽ bay đi. Và Vương Duy cũng nói với ta: “Bất dụng tích hoa phi” (tiếc gì những cánh hoa bay!)
Tiếc gì mây, tiếc gì hoa, tiếc gì mùa xuân… Không có gì phải hối tiếc khi ta đã hiểu thời tiết và nhân duyên, điều mà Tuệ Trung Thượng Sĩ muốn nói qua áng mây huyền ảo của người.
Mây không bám vào núi. Khi mây quyện núi thì dường như mây với núi hợp nhất. Đó là hình ảnh của sơn vân. Nhưng mây biết là mây sẽ bay. Sẽ có biệt ly. Nhưng không có tiếc hận.

3.

Suối khe đâu chẳng vọng lời suối vang

Nước khe đâu mà chẳng đáp tiếng với khe nước chứ? Nghe một tiếng suối là nghe toàn con suối hát. Là nghe một âm thanh trong vắt. Là nghe nước chảy miên man. Và tâm hồn ta cũng lặng lẽ trôi, điều được biểu hiện trong một bài Haiku của Hôsha:

Lặng lẽ tâm
Trong rừng sâu thẳm
Nước rơi thì thầm.
(Kokoro sumaseba
hayashi no oku no
shizuku nari).

Âm thanh của nước có thể làm dịu tâm hồn, đưa tâm hồn về với tịch nhiên.
Hai câu thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ dù có dựa vào lời nói của Thiền sư Sư Giới vẫn đặc sắc, đầy hơi thở riêng. Đáp lời một tăng nhân vấn thiền, Sư Giới nói:

Vân hữu xuất sơn thế,
Thuỷ vô đầu giản thanh.
(Mây toan rời khỏi núi
Nước tuôn vào tiếng khe).

Hình ảnh “mây núi” (sơn vân) của Tuệ Trung cho thấy sự vật vừa tương giao vừa phân ly.
Hình ảnh “giản thuỷ, giản thanh” cũng làm cho câu thơ vang ngân, ám ảnh: nước khe cuối cùng thì không thể không đáp lời khe.
Tiếng suối đó có thể vang đến ta và có thể không. Nhưng ta vẫn NGHE. Tựa như Thiền sư Vô Trụ nghe tiếng quạ.
Một hôm, quạ kêu ngoài vườn. Có vị khách hỏi Thiền sư Vô Trụ:
- Thầy nghe tiếng quạ chứ ?
- Nghe
Quạ rời cây, bay đi. Khách lại hỏi:
- Thầy nghe chứ? 
- Nghe.
- Quạ đi rồi, còn đâu mà nghe?
Thiền sư đáp:
 - Có tiếng hay không tiếng, thì quan hệ gì đến tánh nghe.
Trong thơ Tuệ Trung, suối đổ vào âm thanh và âm thanh lại đổ vào suối. Hai cái ấy tương tức.
Và ta nghe cả hai, ta thấy cả hai.

4.

Nghìn non sáng, chói nhân gian

Người đời chỉ nhìn thấy nghìn ngọn núi sáng láng đẹp đẽ.
Núi lớn một ngọn cũng làm chói mắt nhân gian, nói gì nghìn non rực rỡ.
Núi đứng yên. Chính sự bất động đó lôi cuốn sự chú ý của mọi người.
Lớn, đẹp và bất động. Đó là niềm kiêu hãnh của núi và cũng là niềm kiêu hãnh của con người.
Trong một bài thơ khác, Phỏng Tăng Điền Đại sư , Tuệ Trung cũng viết gần y hệt:
Nhân gian tận kiến thiên sơn hiểu
Thuỳ thính cô viên đề xứ thâm.
Người đời cứ nhìn ngàn non sáng láng, có ai nghe tiếng vượn cô liêu kêu trong hang thẳm?
Có lẽ đấy là một cái từ mà Tuệ Trung ưa thích. Cái nhìn và cái nghe của nhân gian rất dễ bị huyễn hoặc.
Thấy núi chỉ là núi. Hoặc sáng, hoặc to, hoặc đẹp.

5.

Ai nghe ra tiếng vượn trầm tịch lieu

Ai nghe ra tiếng vượn kêu thăm thẳm hang sâu, từ “thâm xứ thâm”
Nơi sâu thẳm là đâu? Tiếng kêu đó thuộc về bản nguyên, thuộc về nguồn tâm. Chính vì thế, thâm xứ của nó là nơi sâu thẳm hơn cả.
Đó là nơi mà triết gia Nishida Kitarô gợi tả:

Đáy sâu tâm hồn tôi thẳm sâu đến nỗi
Sóng buồn hay vui chẳng thể nào đánh tới nó đâu.

Vậy có thể nào nghe được âm thanh của đáy sâu ấy?
Trong thơ ca Đông Á, tiếng vượn kêu là một tiếng bi ai. Như có thể thấy trong các câu thơ sau đây:

Sầu thính thanh viên mộng lý trường
(Sầu nghe tiếng vượn trong mộng dài) 
                              Vương Xương Linh

Viên thanh thiên thượng ai 
(Vượn kêu đầy trời bi ai)
                                     Lý Bạch

Thính viên thực hạ tam thanh lệ
 (Nghe ba tiếng vượn kêu, rơi lệ)
                                       Đỗ Phủ

Nhưng trong thơ Tuệ Trung ở đây, không có buồn hay vui. Chỉ có tiếng kêu từ nơi sâu thẳm. Và ai nghe?

Âm thanh của vui hay buồn, cũng như núi to thì dễ thấy, dễ nghe. Nhưng cái nguyên thanh của tâm hồn thì hầu như không thể nhận biết.
Dễ nghe tiếng vượn ấy, không cần xa gần. Âm thanh rất trầm ấy, một khi đã nghe thì nó vượt cả thời gian lẫn không gian.
Nghe được âm thanh ấy thì có thể nghe ra mọi thứ âm thanh khác.

Trên bến xa
Nghe tiếng ai nói
Trăng mùa hạ ra.
 (Tô hama ni
hito no koe aru 
natsuno tsuki). 
Shurin

Tiếng vượn trầm của Tuệ Trung đưa ta vào thâm xứ của tâm linh rồi nhẹ nhàng đưa ta trở lại cuộc đời:

Diệu khúc bản lai tu cử xướng
Mạc tầm nam bắc dữ đông tây.
(Diệu khúc bản lai thì cứ hát,
Tìm chi nam bắc với đông tây).

Tiếng hát đó sẽ hoà làm một với tiếng vượn thẳm sâu. Tịch liêu vang tiếng vượn trầm.
 



Độc thoại trở về...
Thục Linh

"Tôi đã đọc hết ngàn cuốn sách, đi hết vạn dặm đường, và bây giờ tôi về đứng trước em, rỗng không".

Ngày đi, tôi cõng trên vai một đống lổn nhổn những tri thức quá mùa, quá lứa. Tôi bỏ lại phân nửa khi đến đầu kia của cuộc hành trình, khi tôi khởi lên ý muốn trở về. Rơi rớt. Tôi quẳng dọc đường ray những cuốn còn lại. Ba cuốn cuối cùng, những cuốn sách được chép bằng thứ chữ trinh nguyên và giản dị của em tôi vẫn mang theo. Tôi thả cuốn đầu tiên xuống biển, sau vệt sóng mà con cá đuối để lại trong cú lướt theo ánh mặt trời. Cuốn thứ hai tôi tháo tung từng tờ và thả vào cơn bão dữ dội thổi qua thị trấn nhỏ mà tôi dừng chân cách đây hai tháng. Thị trấn ấy, em nhớ không, cái thị trấn rực rỡ loài hoa có vị mật chát đắng. Những cơn gió thổi trang sách về đâu? Anh không biết! Em hỏi thử xem, có thể cơn bão sẽ trả lời. Mà cũng có thể cơn bão không ưa lắm những dòng chữ chi chít chứa điều mầu nhiệm như em nói đâu. Bão đã thổi nghĩa là đi hết.

Cuốn sách cuối cùng, tôi quỳ chân trước bụi cúc dại cách nhà năm mươi mét, bụi cúc đất mỏng manh nhưng không u buồn. Nó quặt quẹo trong gió lốc nhưng vẫn nhìn tôi đầy kiêu hãnh. Tôi kính phục nó biết mấy. Tôi có gì đáng tự hào trước nó đâu. Nó vô tư mà đâm chồi trong vùng đất không được vun xới. Nó tích cóp lương thực đủ dùng mà vui đùa. Trước nó, tôi nhỏ bé, tôi nhỏ bé như trước em vậy. Tôi đã xới nó lên đặt quyển sách cuối cùng em trao cho tôi vào hố đất rồi lại trồng nó xuống. Nó sẽ quấn lấy những dòng chữ bằng chùm rễ siêng năng của mình, quyển sách của em nếu không ích gì cho tôi, cho ai cũng sẽ tan thành đất.

Em ạ! Hãy tha thứ cho tôi, tôi đã cho đi tất thảy những gì em hiến tặng. À không! Tôi vẫn còn, vẫn còn chiếc bao tải đựng sách đã tả tơi này, chiếc bao em đã kính cẩn đặt lên vai tôi ngày đi. Em ạ! Đừng buồn em nhé.

 “Tôi đã đọc hết ngàn cuốn sách, đi hết vạn dặm đường, và bây giờ tôi về đứng trước em, rỗng không.”

Cây dao đẹp thế, cây dao đã rèn bằng thứ thép tốt nhất, nước thép ánh lên rợn cả mắt người. Cây dao em bảo tôi hãy bảo vệ lấy mình như bằng chứng của lòng can đảm. Cây dao em bảo tôi hãy mưu sinh như bằng chứng của sự vững vàng. Cây dao tôi chặt củi nhóm lửa trong đêm rừng sói hú, cây dao tôi vung ra trước kẻ thù để áp đảo những lưỡi dao đang bay tới mình. Cây dao tôi đang tâm uy hiếp, làm đổ máu kẻ khác nhân danh cái bụng đói của tôi. Cây dao đôi lần quay ngược làm tôi xây xát. Cây dao, em nhớ không? Ngày đi, em thử dao bằng cách phạt ngang ngọn chuối non, nhựa chuối đổ ra, sít lại màu nâu thẫm. Nâu như mắt em, nâu như nước mắt em không đổ ra ngoài, nâu như buổi chiều ráo hoảnh em nhìn tôi lên đường. Không ai biết vết thương trong em, vết thương trong tôi, máu vẫn từng giọt tươi ròng, tươi ròng rất thắm.

Cây dao ấy, tôi đã quăng vào lùm xương rồng bạt ngàn trên đồi cát. Lùm xương rồng ấy rộng lắm, nếu kẻ nào muốn nhặt ngọn dao ấy lên, xương sẽ vây hãm, sẽ bỏ tù hay đâm nát thịt hắn! Tôi sẽ không nhặt lại ngọn dao ấy đâu, tôi đã biết đủ cách để bảo vệ mình, để kiếm miếng ăn. Tôi cần gì nữa những thứ ấy khi trở về đây, khi em đã là khiên che, là vũ khí lợi hại nhất. Đừng khóc em ạ! Khi tôi quẳng đi cả thứ vũ khí em trao, không ai tấn công những giọt nước mắt và cũng không ai tấn công một gã trần trụi như tôi. 
 Đừng giận tôi, em ạ! Khi tôi đã chôn sâu sự bảo vệ của em, tất cả. Không! vẫn còn, vẫn còn chiếc bao dao làm bằng da này, chiếc bao mềm và ấm như lòng bàn tay em chiều đông. Chiếc bao bảo vệ cho sự bảo vệ đang nằm sướt mướt cạnh tôi trên triền cát, đám cỏ lông chông đuổi nhau trong sự yên bình vĩnh cửu.

"Tôi đã đọc hết ngàn cuốn sách, đi hết vạn dặm đường, và bây giờ tôi về đứng trước em, rỗng không".

Tôi nổi cơn lửa, hỏa thiêu bao sách và bao dao. Tôi sợ chúng cô độc vì khả năng của chúng không được sử dụng nữa ở cuộc đời này. Tôi trả chúng về nơi chúng đến. Khói quẩn lên ôm chặt lấy mấy bụi cây bồn bồn xum xuê nhưng xấu xí. Khói đặc và khô như cái nghĩa trang động cát mà tôi đang đứng vậy. Trời không gió, trời thả một thứ ánh sáng mù mờ xuống nơi em nằm. Ngày tôi đi cũng là chiều như thế. Em kì vọng làm gì? Em khuyến khích đôi chân tôi làm gì? Bây giờ tôi rỗng không trước em, dù tôi biết giờ đây em cũng là sự rỗng không dưới lớp cát sâu.

Hay sự rỗng không đấy là điều em muốn tôi nhìn thấy. Tôi đã trở về như em nói “anh hãy trở về khi nào anh có thể”. Tôi trở về dù không biết mình có thể hay không, nếu không đi tôi sẽ chẳng về, nếu không đi tôi không biết sự giản dị của em vĩ đại đến thế, tiếng chim lợn rúc dài chiều nay vĩ đại đến thế. Cám ơn em chiều gió năm xưa đã thách thức tôi lên đường bằng tình cảm của mình, dù em biết trước rồi tôi cũng sẽ rỗng không, trần trụi về đây, dù em biết em sẽ về với cát như tiếng chim lợn len lỏi chiều này. Tôi không khóc đâu, bởi tôi biết em sẽ nói “sến lắm!”

Tôi xắn nhát xẻng vào cát, một, hai và ba, cát cứ vung lên. Tôi sẽ chôn điều gì nữa đây, tôi có còn gì đâu cho một sự vứt bỏ. Tôi chỉ còn hai thứ: tôi và buổi chiều này, em muốn tôi sẽ đặt điều gì xuống hố cát trước đây?

"Tôi đã đọc hết ngàn cuốn sách, đi hết vạn dặm đường, và bây giờ tôi về đứng trước em, rỗng khôn".

Một sự rỗng không rất đầy đủ.

Tôi buông xẻng chuội dần theo làn cát ấm, buổi chiều cuốn theo chân.
Và bầy hoa bồ công anh ở đâu bốc lên bay tứ tán trong gió cuối mùa.
 
 


ảo thực
Lê Hồng

Tôi là gì? Hạt cát giữa sa mạc mênh mông hay giọt nước giữa biển cả? Tôi đã sống những ngày có ý nghĩa chưa? Tôi đã đi đúng đường chưa? Tôi muốn gì?…

Ngày trước tôi đã hào hứng, vui vẻ biết bao với những việc mình đã và đang làm nhưng giờ đây tôi thực sự ngán ngẩm. Một số việc đã xảy ra với tôi  tuy không nhiều, không gây sốc nhưng vẫn có cảm giác bất an. Dường như càng ngày tôi càng lún sâu vào con đường vô minh. Đôi lúc những câu hỏi “ tại sao…?” và “ tại sao..?” cứ bao vây lấy tôi.

Giờ đây tôi thực sự cảm nhận được những trăn trở trong tâm mình. Không ai hiểu rõ mình bằng bản thân. Từ ngày biết anh, cái cảm giác bất an đó càng lớn dần. Mặc dù tôi chẳng trông mong, đợi chơ øgì. Lẽ đời là thế chăng? Tôi không dám chắc sự gặp gỡ anh là duyên, sự vướng víu vào nhóm bạn này là nghiệp, vì như thế với tôi sẽ rất bi quan, yếm thế, là sự chối bỏ những nỗ lực vươn lên, buông xuôi với số phận.

Có lẽ mãi mãi không ai hiểu tôi, lạc quan là thế nhưng luôn trăn trở, suy tư… Tôi chán ngán với tất cả nhưng sao cứ vướng vào… Có lẽ tôi cần phải có một quyết định dứt khoát!

Tôi muốn hét thật to, vỡ òa nước mắt. Tôi muốn có bờ vai vững chắc để mặc cho cảm xúc dâng trào. Tôi muốn đến một nơi thật xa, không người quen biết, không lo nghĩ, không muộn phiền… Tôi muốn ngủ một đêm thật dài để ngày mai không thức dậy. Tôi muốn dửng dưng với tất cả...

Boong…! Boong...! Tiếng chuông chùa ngân vang đã làm tôi tỉnh thức, kéo tôi ra khỏi cơn mộng mị. Tôi biết mình đang mơ. Giấc mơ đầy trăn trở, lo âu… 

Ranh giới giữa ảo và thực thật là mong manh, nhưng cũng thật là vi diệu, nhiệm mầu…
 



Lời cảm ơn cuộc sống 

Đêm nay giữa núi sông Thị Vải rộng lớn và lặng lẽ, trái tim con lại ngân lên những bản giao hưởng của cuộc sống tiền tài, danh vọng, địa vị. Những bản giao hưởng có sức quyến rũ sâu sắc đối với loài người. Đã bao năm nay được sống gần thầy và đại chúng là một niềm hạnh phúc lớn nhất của đời con. Thế nhưng đôi lúc con muốn tung đôi cánh của mình để đi tìm thứ hạnh phúc bé nhỏ cho riêng mình. Con cũng bị cuốn theo những bản giao hưởng ấy một cách ngông cuồng đến nỗi đánh mất đi tình cảm thiêng liêng của thầy dành cho con. Hôm nay tiễn sư chị ra đi, con lậi thấy thầy buồn nhưng thầy không giận như những lần trước. Thầy chỉ nhẹ nhàng khuyên bảo sư chị ra đi bằng niềm tin, sự vững chãi. Những giọt nước mắt lăn dài trên đôi má chị. Thầy quay mặt đi che dấu một niềm đau tiềm ẩn. Hình ảnh ấy làm con sực tỉnh ra rằng: chúng con còn qúa bé nhỏ để xa vòng tay thầy. Chúng con cần lắm những lời nhắc nhở, động viên chúng con vững bước trên con đường đạo. Con không tưởng tượng được rằng cuộc sống của con sẽ như thế nào trong một xã hội nhộn nhịp, khi phải rời xa mái chùa thân thương và tình thầy, tình đại chúng cao đẹp. Mùa hạ năm nay lại về, con kính nhờ Văn Hóa Phật Giáo gửi đến thầy lời nguyện cầu sức khỏe và an lành.

Thủy Nguyên
(Hòm thư số 10, Bưu điện Phú Mỹ, Tân Thành, Bà Rịa-Vũng Tàu)

Tôi vốn là đứa con gái khéo tay. Một buổi chiều, tôi ngồi làm những tấm thiệp để tăng cô giáo và các bạn trong ngày 8/3. những bông hoa giấy, những cây cỏ khô phút chốc trở thành những tấm thiệp xinh xắn. Tôi hạnh phúc với sản phẩm của mình và việc mình sẽ đem niềm vui tới mọi người. Nhưng tôi lại không hề có ý nghĩ rằng sẽ tặng mẹ tôi. Hình như tôi chưa bao giờ tặng mẹ dù chỉ là lời chúc mừng đơn sơ nhất.

Đang lúc tôi sắp làm xong chiếc thiệp cuối cùng thì một cậu bé lại gần, ngồi xuống bên tôi ngắm nghía tấm thiệp một cách thích thú. Cậu mở lời: - Chị có thể làm cho em một tấm thiệp được không? Tôi hỏi: - Để làm gì? Cậu bé trả lời: - Dạ, để em tặng mẹ em!

Tôi đưa cho cậu bé tấm thiệp mà không sao dấu được vẻ ngượng ngùng. Đôi khi tôi chỉ nghĩ đến những thứ cao xa mà quên đi những điều giản dị. Tôi chỉ biết làm hài lòng người khác mà quên đi người rất đỗi thân thương: mẹ của tôi.

Cảm ơn cuộc sống, cảm ơn cậu bé đã cho tôi nhận ra một điều: khi làm điều gì hãy nhớ nghĩ đến mẹ. Nhất định từ nay tôi sẽ không bao giờ quên tặng mẹ tấm thiệp cùng với những hành động và lời chúc thân thương nhất của mình. Hẳn mẹ tôi sẽ rất vui và hạnh phúc.

Dương Thị Hiền
(Bưu điện số 1 Duy Tân, đường số 1 Duy Tân, TP. Huế)
 



Cháo hoa chuối
Hoàng Anh - Phú Xuân

Vật liệu:

- Hoa chuối sứ:            1 bắp
- Nấm rơm khô:            10 tai
- Nấm mèo:  10 tai
- Tàu hủ ky:  1 tấm nhỏ
- Đậu hủ:             1 bìa
- Gạo:   ½ lon
- Chanh:             1 quả
- Rau củ: cà rốt, bí ngô, su su, su bắp, củ cải, củ đậu... mỗi thứ một ít, nấu lấy nước dùng.
- Boa-rô, rau răm, ngò: mỗi thứ một ít 
- Gia vị: dầu, muối, tiêu, đường. 

Cách làm:

- Rau củ các loại: gọt vỏ, rửa sạch, cắt khúc cho vào nồi, đổ thật nhiều nước, hầm với lửa nhỏ để lấy nước ngọt.
- Gạo: đem luộc cho nở, vút lại nước lạnh, để ráo. 
- Bắp chuối sứ: lột bỏ bẹ già, lấy phần trắng non, đem luộc chín. Vớt ra để nguội, tước nhỏ, nhặt bỏ tim cứng. Đem bóp với muối, tiêu, chanh, rau răm và vài muỗng dầu phi thơm với boa-rô.
- Nấm rơm, nấm mèo: ngâm nước lạnh một lúc, xả sạch, cắt sợi. 
- Đậu hủ: cắt lát, chiên vàng, xắt sợi.
- Tàu hủ ky: chiên vàng, bóp nhỏ. 
- Bắc chảo nóng, cho vào một muỗng súp dầu, cho các thứ boa-rô, nấm, đậu hủ, tàu hủ ky cắt nhỏ vào xào. Nêm xì dầu, muối, tiêu, đường vừa ăn.
- Lọc nước dùng cho vào nồi. Cho gạo luộc và các thứ đã xào vào, nấu sôi đều, nêm nếm lại cho vừa ăn. Nhắc xuống, múc cho vào tô nhỏ, rải bắp chuối bóp rau răm lên mặt, rắc thêm tiêu. Dọn ra ăn nóng với xì dầu, chanh, ớt.
 
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 17-15 THÁNG 6 2006


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)