Ðức
Phật 2630 năm
Thái
Kim Lan
Tháng
Tư âm lịch, trăng tròn, sen nở, Phật tử mừng Ðức Phật
ra đời, cách đây 2630 năm, một điểm mốc xa xôi cho con người
hôm nay, nếu tính về thời gian, nhưng nếu tính về sức sáng,
sức đầy, sức lớn có thể đẩy lùi u minh thì vầng trăng
tháng Tư vẫn mãi tròn như thế, vành vạnh rỗng thời gian,
minh bạch hiện tiền trong đôi mắt nhân gian. Tiếp nối hào
quang chói lói của vừng thái dương tháng Năm xứ Ấn, ngày
Phật Ðản là ngày mặt trăng nối tiếp mặt trời, là ngày
hết đêm, ngày không đêm, kinh Ðại Bổn diễn tả:
"...
Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển
động mạnh. Và hào quang vô lượng thần diệu ấy thắng
xa oai lực của chư Thiên…"1.
Ngày
Như Lai đến như thế
Mặt
trời chói lói, nhưng đi xuống, nhường cho đêm. Mặt trời
không bao giờ biết đêm, chỉ có trăng mới thao thức với
đêm, trăng cải hóa đêm dày, soi đường, làm cho người đi
trong đêm tối không còn sợ hãi, ánh trăng thức tỉnh trong
lúc mặt trời có thể làm say. Chẳng ai nhìn được mặt trời
lâu hơn một giây, còn trăng sáng nhìn rõ mà không lòa.
"Ánh
sáng phát sanh đến Như Lai, rọi rõ những việc trước kia
chưa từng được nghe đến"2.
Chẳng
phải tình cờ mà ngày trăng tròn tháng Năm được các tông
phái Phật giáo đồng ý xác định cho 4 sự kiện trong cuộc
đời của Ðức Phật: Ðản sinh, Xuất gia, Thành đạo, Niết
Bàn, sự kiện được gọi là 4 nơi làm cho "chấn động" con
người.
Ý
niệm thời gian lịch sử hầu như được thu lại trong một
vầng trăng tròn sáng. Nơi vòng tròn luân lưu ấy điểm khởi
đầu cũng là điểm cuối cùng, trong suốt, nhất quán. Ý niệm
lịch sử đường thẳng được cởi bỏ để chỉ còn
ý niệm về chân lý bất tử siêu vượt, "trỗi mầm
nhân vượt qua mọi vầng dương" như một nhà thơ đã ca ngợi
Ðức Phật: mặt trời, đỉnh cao rực sáng của vũ trụ cũng
có lần khuất núi nhưng hạt nhân của quả lành đã nẩy
ra và thực chứng từ khi Phật đến với thế gian, vượt
trên mọi vầng dương:
Như
Lai đến thế gian với "thân tối hậu"3, quả hạnh viên mãn,
một con người có 32 tướng tốt, một Nhân Phật của tất
cả các Đấng Chánh Đẳng giác trong muôn kiếp, với hạnh
nguyện và khả năng chấm dứt vòng luân hồi sinh tử mà chính
Phật cũng đã trải qua. Vượt luân hồi sinh tử là mục đích
tối cao nhất của bước đến Như Lai, đó là ý nghĩa của
câu "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, vô lượng
sinh tử, ư kim tận hỷ", nói lên hạnh nguyện của Phật đến
với nhân loại.
Ngược
với mọi khái niệm về nguyên nhân tối thượng, Ðức Phật
là vị Phật "duy nhất" lấy sự chấm dứt chuỗi luân hồi
sinh tử làm điểm khởi đầu.
Trong
kinh Ðại Bổn Đức Phật tự thuyết về sự đến thế
gian của Ngài như sau:
"Thánh
Ma Gia mộng ứng điềm lành, Vua Tịnh Phạn phước sanh con
thảo".
Thuở
ấy, cách đây hơn 2550 năm, 1250 vị tỳ Kheo đã ngồi nghe
Đức Phật kể về sự rong ruổi trong 91 kiếp với bảy đời
Phật Tỳ Bà Thi. Như Lai là vị Phật "tối hậu". Như Lai không
phải là người sáng thế, và Như Lai cũng không đưa ra một
yêu sách như thế. Như Lai có tiền kiếp và có cha mẹ, nhưng
Như Lai là vị Bồ Tát sau rốt có hạnh nguyện duy nhất: chấm
dứt khổ não sinh tử luân hồi. Chỉ có Như Lai, vị Phật,
vị Bồ tát duy nhất tuyên bố giải phóng ràng buộc sinh tử,
hay nói cách khác, sự xuất hiện của Như Lai là sự xuất
hiện của hạnh nguyện giải thoát, của ý chí tự do vượt
khỏi trói buộc luân hồi:
"Này
các Tỷ kheo, phụ vương của Ta tên là Suddhodana (Tịnh Phạn);
mẫu hậu của Ta tên là Mãyã (Ma-da); kinh thành tên là Kapilavatthu
(Ca-tỳ-la-vệ).
Này
các Tỷ kheo, pháp nhĩ là như vậy. Vị Bồ tát khi sinh ra,
Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía
Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che trên.
Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lớn tiếng như ngưu vương,
thốt ra lời như sau: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời!
Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao nhất ở trên
đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sinh
ở đời này nữa" (Trung Bộ Kinh, Kinh Ðại Bổn, 29, Thích
Minh Châu dịch)
Dứt
khổ não sinh tử là mục đích mà Ðức Phật đến thế gian
với "thân tối hậu", thực hiện giải thoát khổ đau: " trong
tấm thân cao 6 trượng, gồm 32 tướng tốt (ghi thêm của
người viết) - với tri giác và ý thức; cả thế giới đều
bao hàm trong ấy cùng với sự hình thành và chấm dứt của
thế giới và vạch ra con đường dẫn đến đoạn diệt"4.
Ý
nguyện giải thoát luân hồi sinh tử nơi bảy bước đầu
tiên đã được Thái tử Tất Ðạt Ða, tên gọi của Đức
Phật lịch sử, thực hiện sau nhiều năm khổ công tu luyện.
Với tuổi 29, thái tử Gotama Siddhattha rời khỏi thành Ka tì
la vệ lên đường "tìm điều lành chữa khổ đau"5 cho nhân
loại, bởi vì con người ai ai cũng sợ già, bệnh, chết. Dưới
cội bồ đề, theo phương pháp nhập định mà chính Người
tìm ra, Thái tử Tất Ðạt Ða giác ngộ thành Phật 6, "Thế
Tôn giác ngộ dưới gốc cây assattha (bát- đa-la)"7.
Lời
nói đầu tiên Phật thốt ra sau khi chứng quả giác ngộ là:
"sự bất tử đã được tìm thấy!". Những chữ ấy tuyên
báo cả nội dung giáo lý của Phật Cồ Ðàm. Cũng chính ý
nghĩa thực chứng "bất tử" này cho ta hiểu sâu hơn câu tuyên
ngôn ý chí tự do, giải thoát sinh tử luân hồi của bảy
bước hoa sen. Nếu muốn hiểu giáo lý của Đức Phật, cần
hiểu khái niệm "bất tử", và năm người đệ tử đầu tiên
của ngài đã hiểu, bởi vì họ được Phật chỉ cho thấy
lý duyên khởi trong tương quan với giác ngộ bất tử: sự
bất tử nằm trong thực chứng "tất cả những gì sanh khởi
đều lại hoại diệt" (kinci samudhayadhamman sabbam tam nirodhadhammam).
Theo
đó "bất tử" không phải là "đời sống vĩnh cữu", bởi
vì tất cả những gì thuộc về đời sống đều nằm trong
quy luật sinh-diệt. Sống và chết thuộc vào nhau, chúng không
thể phân cách nhau. Hể có sinh thì có diệt, có diệt thì
có sinh, một tất yếu trong chuỗi luân hồi bất tận, cho
nên "bất tử" không phải là sự hứa hẹn một cuộc sống
trên thiên đường vĩnh cửu sau khi chết, mà là sự chấm
dứt chuỗi luân hồi này bằng con đường tu chứng thực hiện
giải thoát ngay trong hiện tại, trên trần gian. Là vị Phật
đã thành do chính giác ngộ nguồn gốc sinh-tử, Ðức Phật
chỉ ra con đường (Bát chánh) cho mỗi người, mà khi thực
hành, con người có thể tìm thấy giác ngộ "bất tử" ngay
trong chính cuộc đời hiện tại, bởi vì mỗi người đều
có Phật tính, mỗi người là Phật đang thành.
Giác
ngộ "bất tử" nằm trong thực chứng rốt ráo nguyên nhân
của khổ đến từ vô minh và ảo tưởng nhầm lẫn bản chất
sự vật vốn vô thường, biến đổi như những thực thể
thường còn, bất biến; nằm ở sự dứt bỏ tham sân si, chấp
ngã; nằm trong sự thực chứng khổ não, vô thường, vô ngã,
thực hiện hạnh từ bi không giết hại chúng sinh (ahimsa),
từ đó đạt được trạng thái Niết Bàn, một trạng thái
vượt trên đối đãi sinh tử, một trạng thái tự do trong
nghĩa cởi bỏ mọi ràng buộc, nhất là mọi ham muốn thế
lực đến từ sự chấp ngã, nguyên do của mọi tranh chấp
thế lực. Lòng ham muốn thế lực là điều mà Ðức Phật
khuyên cần phải từ bỏ để thực hiện hòa bình nội tâm.
Trong suốt 45 năm thuyết giảng độ sinh, Ðức Phật đã
là vị sứ giả hòa bình tối hảo với giáo lý giác ngộ
bao dung căn cứ trên "như thật tri kiến" và bất bạo động.
Chân
lý mà Ðức Phật muốn chúng sinh đạt được như Ngài là
một chân lý do trí tuệ khai mở, và mỗi người có thể tự
mình chứng nghiệm chứ không do một thế lực hay uy quyền
ngoại tại nào chi phối, đồng thời chân lý này không phải
chỉ để thoả mãn tính tò mò tri thức một cách vô bổ mà
là chân lý nhằm giúp con người giải thoát mọi phiền não
trói buộc, phục vụ nhân loại, thực hiện quân bình nội
tâm, tự tại, hóa giải sợ hãi và tuyệt vọng. Một khi thấy
rõ được lý duyên khởi, nguyên lý của vô thường, nắm
vững quy luật sinh diệt, con người trở nên tự chủ, tự
do, thức tỉnh và tinh tấn quay ngược bánh xe luân hồi trở
nên bánh xe Chánh pháp8, phát triển quân bình tâm trí, sự
sợ chết biến mất, bất tử được thực chứng, trạng thái
hòa bình tịch tịnh - Niết bàn - được hội nhập.
"Tự
mình, điều ác làm,
Tự
mình, làm nhiễm ô.
Tự
mình, ác không làm,
Tự
mình, làm thanh tịnh.
Tịnh,
không tịnh tự mình.
Không
ai thanh tịnh ai!"9.
Giáo
Lý của Ðức Phật đem lại sự tự tin cho con người trong
nỗ lực cải hóa nghiệp dữ thành nghiệp lành, và mỗi người
là kiến trúc sư của căn nhà niết bàn tại thế. Một học
giả nhận xét: "Ðức Phật đến thế gian này để thực
hiện chứ không phải để hủy diệt"10, trong một chừng mực
cũng đồng nghĩa với nhận định: "Thế tôn lấy sự chấm
dứt sanh tử luân hồi làm khởi điểm cho ý chí tự do thực
hiện hội nhập tâm linh siêu việt sanh tử, bước đến của
Như Lai nhằm thực chứng sự bất tử của con người trong
hiện tại".
Đã
50 năm, từ khi ngày lễ Vesak được thế giới công nhận là
ngày lễ quốc tế, nhận xét của một học giả Ấn độ
về Ðức Phật và giáo lý của Ngài trong ngày Phật đản
vẫn còn thời sự, chứng tỏ giáo lý của Ngài vượt trên
mọi vô thường, biến chuyển:
“Sau
vô số những tìm kiếm, có khi loài người biết xác lập
chính mình, giác ngộ mục đích sự hiện hữu của mình một
cách cao thượng, để rồi lại làm mất chính mình trong tiến
trình phân hóa rất chậm chạp. Ðức Phật nhắm tới việc
gây dựng một hạng người tự do mới, thoát khỏi những
thành kiến, quyết tâm xây dựng tương lai, và chỉ trông cậy
vào chính mình. Giáo lý nhân bản của ngài vượt lên trên
những hàng rào chủng tộc và quốc gia. Nhưng tình trạng hỗn
loạn của thế giới phản chiếu sự xao động trong tâm trí
con người. Lịch sử đã trở thành tính cách hoàn cầu. Ðề
tài của lịch sử không còn là Âu hay Á, Ðông hay Tây, mà
là nhân loại ở mọi xứ và mọi thời đại. Thế giới là
một thực thể độc nhất, dù người ta muốn hay không muốn,
và dù có sự chia rẽ về chính trị. Vận mệnh của của
mỗi người có liên quan tới vận mệnh của người khác.
Nhưng chúng ta đang chịu sự mệt mỏi của tâm linh và sự
gia tăng tâm vị kỷ cá nhân cũng như tập thể, làm cho ý
niệm thế giới đại đồng khó có tính cách hấp dẫn, cái
mà chúng ta đang cần một quan kiến tâm linh về vũ trụ mà
xứ Ấn độ này đã có, để lại thổi vào cuộc đời, mở
tung những cánh cửa đang đóng kín đời người. Chúng ta phải
tái lập lý tưởng tự do tâm linh. Nếu muốn có hòa bình,
chúng ta phải duy trì sự hòa hợp nội tâm đó, sự thăng
bằng tâm linh đó, vốn là những thành tố thiết yếu cho
hòa bình. Chúng ta phải thủ đắc chính mình, dù phải mất
tất cả những thứ khác. Tinh thần tự do sẽ không hạn chế
lòng từ ái của mình, sẽ nhận ra điểm linh quang trong mỗi
con người, và sẽ cống hiến chính mình cho lợi ích của
nhân loại. Nó sẽ liệng bỏ mọi sự lo âu, trừ sự sợ
mình làm điều xấu, sẽ vượt lên trên hàng rào thời gian
và sự chết để tìm năng lực vô tận trong bất tử”.
Giác
ngộ trong tự do, hoà bình và hòa hợp, đó là thông điệp
bất tử mà Ðức Phật Thích Ca đã để lại cho chúng ta trong
thế kỷ toàn cầu hóa hôm nay, sau khi nhập diệt với lời
căn dặn: “hãy tự thắp đuốc lên mà đi”, và với tuổi
thọ 80 mà Ngài tự cho là ngắn ngủi "tuổi thọ của Ta không
bao nhiêu, ít ỏi, tuổi thọ loài người khoảng một trăm
năm hay hơn một chút" (Kinh Ðại Bổn).
Cùng
với niềm vui, người con Phật nguyện tiếp nối lời Đức
Phật dạy, thực hiện hòa bình nội tâm, hóa giải hận thù,
hòa hợp đại chúng.
Vui
thay Phật ra đời!
Vui
thay pháp được giảng!
Vui
thay tăng hòa hợp!
Hòa
hợp tăng vui thay!11
1
Trung Bộ Kinh, Kinh Ðại Bổn 29, Thích Minh Châu dịch.
2
Kinh Chuyển Pháp Luân.
3
Trường A hàm.
4
AnguttaraNikaya IV, 45.
5
D XVI, 5.
6
M 26, 36.
7
Trung Bộ Kinh, đd. Thích Minh Châu dịch.
8
Bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
9
Pháp Cú 165.
10
S. Radhakishan, 2500 Phật giáo, Thích Nguyên Tạng dịch Việt
từ Anh ngữ, Trang nhà Quảng Ðức.
11
Dhammapada - Pháp cú, Thích Thiện Châu dịch.
München,
ngày Phật Ðản sinh 2630, PL 2550 (12-05-2006)
THIỀN
ĐỊNH VÀ THẦN KINH
Chuck
Karam
Trong
những bài nghiên cứu của mình, tôi thường đề cập đến
khái niệm “wellness” như là một trạng thái cân bằng tốt
nhất giữa trí tuệ (mind), thân thể (body) và tinh thần (spirit)
không bệnh tật. Ở đó, thiền định đối với con người
là một quá trình liên tục, có tác dụng tích cực đến thần
kinh, sức khỏe và khả năng chữa bệnh.
Có
rất nhiều bài nghiên cứu khoa học đáng tin cậy về sự
liên quan giữa trí tuệ, thân thể và tinh thần. Những nghiên
cứu được thực hiện thông qua việc thiền định của những
nhà sư Tây Tạng đã đem đến những khám phá diệu kỳ, ngoài
sức tưởng tượng của khoa học. Trong một báo cáo đầy
đủ của Trường Đại học Wisconsin, ông Davidson, một chuyên
gia về năng lực phóng xạ, đã so sánh hoạt động não bộ
của 2 nhóm người: một bên là những người mới tập thiền
và bên kia là những nhà sư có hơn 10.000 giờ kinh nghiệm trong
việc thiền định. Tất cả những người ngồi thiền đều
tập trung vào lòng từ bi. Cuộc nghiên cứu đã cho thấy sự
gia tăng rõ rệt trong hoạt động não bộ, những sóng gamma
xuất hiện ở tần số cao nơi những nhà sư, trong khi đó,
sóng gamma xuất hiện ở tần số rất thấp nơi những người
mới tập thiền. Ngay sau đó, những nhà sư có tần số sóng
gamma cao nhất được ghi lại. Và họ đã xác định được
vùng vỏ não phía trước trán (phần ý thức) đã phát ra những
tần số sóng gamma này. Việc thiền định thường ngày đã
giúp những nhà sư đã đạt được trạng thái cao nhất của
trí tuệ và lòng từ. Trong bài thuyết trình gần đây, Tiến
sĩ Joe Dispenza, một trong những nhà khoa học ở The movie What
the Bleep tuyên bố: “Mạng lưới thần kinh là sự sống của
bạn. Nhưng cái gì đang làm chúng ta ngạc nhiên nhất? Khoa
học đã chứng minh não bộ có tính mềm dẻo và có thể được
thay đổi. Vì vậy bạn có thể thay đổi mạng lưới thần
kinh nơi não bộ của mình thông qua những thay đổi trong ý
thức bằng việc tập trung vào thiền định”.
Nếu
chúng ta nắm giữ một ý niệm, xem đó là một phương diện
chính xác, diễn đạt trong một tập hợp những tham số hay
kiểu mẫu mà chúng ta đã kinh nghiệm thì tinh thần của chúng
ta sẽ trở nên sơ cứng bởi thời gian. Thiền định đến
với chúng ta là một tin tốt lành chăng? Lạ quá, bây giờ
chúng ta mới biết đến, và những kiểu mẫu trong nhận thức
của chúng ta đang thay đổi. Ví dụ, trong những suy nghĩ của
mình, chúng ta thường thắc mắc chúng ta là ai, rồi chúng
ta nghĩ gì về bản thân, về những người khác, về địa
vị, về sự vật, về những điều Thượng đế ngăn cấm
chúng ta… Nếu tự do để hiểu rằng, những kinh nghiệm này
chỉ là kinh nghiệm, và hơn một lần, chúng ta có thể thay
đổi những kinh nghiệm đó, thì chúng ta cũng có thể thay
đổi mạng thần kinh của mình bằng việc thiền định. Thiền
định có thể biến đổi thành phần hóa học của não bộ,
giúp chúng ta sử dụng tiềm lực của trí tuệ và thân thể
để tự chữa bệnh, cải thiện trí nhớ, mở mang kiến thức,
đi đến đỉnh cao của một thói quen khác: lòng từ và sự
lạc quan. Có hơn 3 triệu xung lực đang bị đốt cháy trong
cơ thể của chúng ta mỗi giây. Đó là một con số khổng
lồ, chứng tỏ trí lực của chúng ta vô cùng mạnh mẽ.
Tôi
đã hỏi những mục sư, thầy tế lễ hay người lãnh đạo
tinh thần của một số tôn giáo, mỗi người đều trầm ngâm,
hít thở sâu và bắt đầu nói với tôi những định nghĩa
khác nhau không đáng kể về truyền thống cầu nguyện của
mình. Tôi tin “cầu nguyện” là điều có ý nghĩa đối với
từng cá nhân. Tuy nhiên, có một điểm chung, cầu nguyện dường
như là một phương cách để họ tìm về với thánh thần
hơn là việc tập trung vào năng lực tinh thần của chính mình.
Các
tìm hiểu trên đã giúp tôi hiểu rõ thêm về việc thực hành
tâm linh trong các truyền thống. Có rất nhiều bài nghiên cứu
chỉ ra rằng, việc thiền định thường xuyên giúp người
ta chữa bệnh nhanh hơn. Những người thực hành thiền định
hay cầu nguyện thường xuyên có thể hạ thấp áp lực máu
lưu thông, giảm tỉ lệ phát bệnh ung thư, ít xảy ra tình
trạng nghiện ma túy, nghiện rượu, ít có nguy cơ chán nản
hay ý muốn tự tử, đương đầu với bệnh tật tốt hơn
và có nhiều khả năng sống trong những ca phẫu thuật quan
trọng.
Cơ
thể chúng ta có rất nhiều những trạng thái thay đổi của
các thành phần hóa học bằng những tác động của ý nghĩ,
lời nói hay hành động. Tất cả những biểu hiện đó đều
nằm trong quá trình phản ứng sinh lý học. Ví dụ, tất cả
chúng ta đều có những rung động nam nữ ở thời điểm này,
thời điểm khác, hay trải qua sự phát triển của những cảm
giác hưng phấn, mặc dù có thể chúng ta không dự định nghĩ
về điều đó, nhưng trạng thái này vẫn xảy ra bằng những
phản ứng sinh lý hóa tự nhiên. Ví dụ khác nữa, khi đi vào
trạng thái thiền định sâu, chúng ta có thể vắng bặt tất
cả cảm giác về không gian, thời gian. Thiền định là phương
pháp rất hữu hiệu để chúng ta chữa trị những triệu chứng
rối loạn thần kinh chức năng, tạo khả năng thay đổi và
duy trì sự sống. Tất cả chúng ta đều có hành động như
chúng ta nghĩ, tuy nhiên chúng ta cần phải mở cửa cho những
khả năng mới, những ý tưởng mới. Và chắc chắn không
có giới hạn cho những gì mà bạn có thể đạt được bằng
sự rèn luyện thể chất và tình thần. Không có sự thay đổi
trong cuộc sống nếu chúng ta không chiếm lĩnh được thực
tại. Điều cần nhớ mỗi ngày là sự kiên nhẫn. Chúng ta
đã có nhiều năm hành động với những suy nghĩ sai và bị
những thái độ bảo thủ không ít lần làm lu mờ tâm trí.
Khi bạn nỗ lực thường xuyên trong việc thiền định, bạn
sẽ khám phá ra nhiều những suy nghĩ tích cực đang thúc đẩy
bạn hành động, bởi những thay đổi hóa học trong vỏ não
thông qua việc thiền định sẽ làm thay đổi những hành động
của bạn. Đây không phải là một quan điểm mới, mà nó
đã được thực tế chứng minh. Trong hơn 20 năm qua, vận động
viên điền kinh Dave Scott 6 lần vô địch thế giới, hay vận
động viên Lance Armstrong đã vượt qua căn bệnh ung thư với
7 lần chiến thắng trong giải Tour De France, họ đều sử dụng
quan điểm này thông qua việc thiền định, như một phương
pháp hữu hiệu được biết đến. Hy vọng mọi người hãy
làm tương tự, hoặc thiền định, hoặc cầu nguyện, hay thực
hiện cả hai phương pháp, bạn sẽ nhận rõ được bản chất
thực tại của mình: mãnh liệt hơn, tự tin hơn, nhanh nhẹn
hơn, an vui hơn. Và thiền định là bước đầu tiên trên hành
trình chiến thắng chính mình.
Tiểu
Văn dịch
Cảnh
Giới Bên Kia Cửa Tử
Do
Người Chết Hồi sinh Kể Lại
Cách
đây 31 năm, khi cho in cuốn sách đầu tiên Life After Life sau
nhiều năm tiếp xúc với những bệnh nhân chết đi sống lại,
bác sĩ Moody nói, ông chỉ ghi lại trung thực những câu chuyện
này mà không cố ý chứng minh là có một đời sống khác
sau khi chết. Ông cũng nói thêm rằng, hiện nay chưa ai có thể
đưa ra một bằng chứng cụ thể để chứng minh có một cảnh
giới bên kia cửa tử, nhưng người ta cũng không thể phủ
nhận kinh nghiệm của hơn 8 triệu người lớn ở Mỹ và mấy
triệu trẻ con nữa, những người sống lại sau cái chết
lâm sàng đã kể những gì họ thấy được sau khi lìa khỏi
xác thân vật lý.
Bác
sĩ Moody kể, lần đầu tiên ông được nghe tả về cảnh
giới bên kia cửa tử do người chết hồi dương kể lại
(kinh nghiệm cận tử) là khi ông còn là một sinh viên khoa
triết học ở đại học Virginia. Một giáo sư y khoa dạy
môn tâm thần học kể cho sinh viên nghe chính ông đã “chết”
đi rồi sống lại hai lần, cách nhau 10 phút. Ông kể lại
những chuyện ly kỳ ông được chứng kiến trong thời gian
ông “chết”. Thoạt nghe thì anh sinh viên Moody cũng lấy làm
lạ nhưng không có ý kiến gì. Anh chỉ giữ cái băng thu âm
câu chuyện này để làm tài liệu thôi. Mấy năm sau, ông Moody
bây giờ là giáo sư triết ở một trường đại học
ở Bắc Carolina. Trong một buổi giảng dạy về thuyết bất
tử (Phaedo) của Plato, nhà hiền triết nổi tiếng của Hy Lạp
thời cổ đại, một sinh viên xin gặp riêng để hỏi thêm
về vấn đề sống chết, vì bà của chàng ta đã “chết”
trên bàn mổ, sau đó hồi sinh và kể những chuyện bà đã
chứng kiến rất hấp dẫn. Giáo sư Moody yêu cầu anh sinh viên
này kể lại từng chi tiết và ông rất đỗi ngạc nhiên khi
thấy những chuyện xảy ra cho bà già này gần giống những
mẩu chuyện ông được nghe từ thầy của ông mấy năm về
trước. Từ đó, ông cố ý thu thập tài liệu về hiện tượng
chết đi sống lại. Ông cũng đưa vấn đề này vào trong các
bài giảng của ông, nhưng không đề cập gì đến hai trường
hợp ông được nghe. Ông nghĩ rằng, nếu có nhiều người
chết đi sống lại thì thế nào sinh viên cũng sẽ nói ra trong
các giờ triết. Quả vậy, trong mỗi một lớp học chừng
30 sinh viên, khi nào cũng có một anh xin gặp riêng sau giờ
học để kể cho ông nghe một câu chuyện chết đi sống lại.
Có điều lạ là, những mẩu chuyện này có nhiều tình tiết
giống nhau, tuy người có kinh nghiệm chết đi sống lại gồm
nhiều thành phần khác nhau, khác về tôn giáo, về học vấn,
và địa vị xã hội.
Khi
Moody theo học y khoa năm 1972 thì ông đã có một hồ sơ dày
cộm về những trường hợp chết đi sống lại. Ông bắt
đầu nói đến công cuộc nghiên cứu của ông với những
người ông gặp ở trường y. Sau đó, theo lời yêu cầu của
một người bạn, ông nhận lời thuyết trình về hiện tượng
chết đi sống lại tại một hiệp hội y sĩ và nhiều hội
đoàn khác. Và sau mỗi buổi thuyết trình, thế nào cũng có
người đứng lên kể lại kinh nghiệm chết đi sống lại
của chính mình. Dần dà ai cũng biết tiếng ông, nên nhiều
bác sĩ đã giới thiệu những bệnh nhân họ cứu sống được
mà có những kinh nghiệm lạ lùng trong thời gian họ “chết”.
Sau khi vài tờ báo đăng tải tin tức về công cuộc nghiên
cứu của ông thì nhiều người tự động gửi những mẩu
chuyện tương tự xảy ra với họ. Ông quyết định chỉ chú
ý đến trường hợp những người do bác sĩ chứng thực là
đã chết lâm sàng (tim ngừng đập, thần kinh não ngưng hoạt
động) rồi được cứu sống lại; và trường hợp những
người bị tai nạn, hồn lìa khỏi xác ngay nhưng sau đó lại
hoàn hồn, đã kể những sự việc họ chứng kiến.
Trong
mấy trăm câu chuyện chết đi sống lại mà tác giả được
trực tiếp nghe, Moody nhận thấy, tuy kinh nghiệm của mỗi
người có điểm khác nhau nhưng tựu trung thì có thể nói
có chừng 15 điểm mà ông thấy người ta hay nhắc nhở:
1.
Ngôn
ngữ bất đồng
Người
nào cũng tỏ vẻ bực bội rằng, ngôn ngữ của cõi trần
không thể diễn tả đúng những sự việc xảy ra ở cõi giới
kia. Một người trong số đó nói: “Tôi biết, thế giới
mà tôi được thấy là một thế giới có hơn 3 chiều, nên
không thể nào diễn tả được hết những điều tôi muốn
nói với thứ ngôn ngữ của thế giới 3 chiều của chúng
ta”.
2.
Nghe
tin mình đã chết
Nhiều
người kể rằng, họ nghe được chính bác sĩ hay những người
ở bên cạnh nói rằng họ đã chết. Bà Martin kể: “Tôi
vào bệnh viện nhưng họ không tìm ra bệnh. Bác sĩ James đưa
tôi sang phòng X quang để chụp ảnh gan tìm bệnh. Vì tôi bị
dị ứng với nhiều thứ thuốc nên họ thử trên cánh tay
tôi trước. Thấy tôi không có phản ứng gì, họ liền tiêm
cho tôi thứ thuốc ấy. Nhưng lần này thì tôi phát dị ứng
liền và chết ngay sau đó. Tôi thấy bác sĩ ở phòng X quang
vừa chích thuốc cho tôi, bước đến nhấc máy điện thoại.
Tôi nghe rõ ông quay từng con số và giọng nói của ông: "Thưa
bác sĩ James, tôi đã giết bệnh nhân của ông. Bà Martin chết
rồi". Nhưng tôi biết tôi không chết. Tôi cố cử động,
cố tìm cách nói cho họ biết là tôi chưa chết nhưng tôi
không thể làm gì được. Rồi thấy họ làm thủ tục cấp
cứu. Tôi nghe họ nói cần bao nhiêu “cc” thuốc chích cho
tôi, nhưng tôi không có cảm giác gì khi mũi kim chích vào da.
Tôi cũng không có cảm giác gì khi họ chạm vào người”.
3.
Tâm
an bình và tịch tịnh
Số
đông kể rằng, họ tận hưởng được một cảm giác thật
an lạc, thật khoan khoái khi mới thoát ra khỏi cái xác của
mình. Một người bất tỉnh ngay sau khi bị thương nặng ở
đầu kể rằng, khi mới bị chấn thương thì anh cảm thấy
đau nhói, nhưng chỉ một thoáng thôi, rồi sau đó anh có cảm
tưởng như mình đang bềnh bồng trôi trong một phòng tối.
Mặc dù hôm ấy trời lạnh lắm mà anh cảm thấy rất ấm
áp trong khoảng không gian âm u này. Anh thấy tâm thần mình
bình an thoải mái lạ lùng, và anh chợt nghĩ “chắc
là mình đã chết rồi”.
Một
bà vật vã, đau đớn và ngất đi sau một cơn đau tim. Khi
được cứu tỉnh bà kể: “Tôi bắt đầu cảm thấy sung
sướng lạ, mọi lo âu buồn phiền biến mất, chỉ còn lại
một cảm giác bình an, thoải mái, thanh tịnh. Tôi không còn
cảm thấy đau đớn nữa”.
4.
Âm
thanh
Nhiều
âm thanh lạ được tả lại, hoặc khi sắp chết hoặc khi
vừa tắt thở. Một người đàn ông “chết” trong thời
gian 20 phút trên bàn mổ kể lại, rằng ông đã nghe một tiếng
kêu ù ù rất khó chịu. Tiếng kêu như phát ra từ trong đầu
mình chứ không phải từ bên ngoài. Một người đàn bà kể,
khi vừa ngất đi thì bà nghe một tiếng rì rì lớn và bà
cảm thấy đang chơi vơi bay lộn lòng vòng trong không gian.
Bà còn nghe một thứ tiếng khác cũng khó chịu lắm, như tiếng
động lạch cạch, tiếng va chạm hay tiếng rống mà cũng như
tiếng gió hú. Những người khác thì nghe một âm thanh dễ
chịu như âm nhạc, như trường hợp một bệnh nhân “chết”
trên đường đến bệnh viện, khi được cứu tỉnh lại ông
kể: ông đã nghe một âm thanh như âm ba của nhiều cái chuông
nhỏ từ đằng xa theo gió vọng lại, làm ông nghĩ đến mấy
cái chuông gió của Nhật, và ông chỉ nghe một âm thanh này
thôi.
5.
Đường
hầm tối
Ngày
vừa khi nghe tiếng động thì người ta cảm thấy như bị
hút mạnh vào một khoảng không gian tối. Người thì nói giống
như vào một hang động; người thì bảo sâu hút như một
cái giếng; người khác thì tả như một khoảng không, một
đường hầm, một ống xoắn, một cái chuồng, thung lũng,
ống cống, hoặc khoảng không của một vật thể hình trụ.
Tuy được diễn tả khác nhau nhưng điều này cho thấy, người
nào cũng trải qua kinh nghiệm này. Một bệnh nhân kể: khi
tim anh ngừng đập vì bị dị ứng với thuốc mê thì anh thấy
mình như bay qua một quãng không tối tăm như một đường
hầm, với một tốc độ cực nhanh như một con tàu đang lao
đầu bay xuống ở một công trường giải trí.
6.
Giây
phút bước ra khỏi xác
Tuy
ai cũng biết rằng, cái “ta” gồm hai phần: thân và thức,
nhưng ít ai hiểu biết được phần thức vì cho rằng, có
thân xác vật lý thì trí óc mới hoạt đông được, không
thể nào có một đời sống nào khác ngoài đời sống với
tấm thân vật lý này. Cho nên, trong quá trình chết đi sống
lại, ai cũng bị ngạc nhiên quá mức khi họ được ngắm
nghía thân xác bất động của họ.
Thực
khó tượng tượng được tâm trạng của những người này,
khi họ thấy mình đứng đây mà sao lại còn có thân hình
mình nằm bất động ở đằng kia! Khi hồn vừa lìa khỏi
xác, họ chưa ý thức được mình đã chết nên ngẩn ngơ
không hiểu được hiện tượng này. Nhiều người muốn nhập
vào xác mình lại nhưng không biết làm sao. Có người rất
hoảng sợ nhưng cũng có người không sợ hãi. Một bệnh nhân
nói: “Bệnh tôi trở nặng, bác sĩ buộc phải vào nhà thương.
Sáng hôm ấy tôi thấy một lớp như sương mù bao phủ quanh
tôi và cùng lúc ấy tôi thấy mình bước ra khỏi xác. Tôi
thấy mình bềnh bồng bay lên phía trên và nhìn xuống cái
xác mình nằm ở giường. Tôi không thấy sợ chút nào, chỉ
thấy một cảm giác bình yên trong một khung cảnh êm ả thanh
bình. Và tôi nghĩ, có lẽ tôi đang đi về cõi chết. Tôi tự
nhủ, rằng nếu tôi không nhập trở lại được vào cái xác
kia thì tôi chết thật rồi, và như vậy cũng không sao”.
Nhiều
người nói rằng sau giây phút hoang mang lúc đầu, dần đà
họ thấy giác quan mới của thể hồn bén nhạy hơn. Họ có
thể nhìn thật xa, nghe thật rõ, đọc được ý nghĩ của
người khác, và chỉ cần nghĩ đến chỗ nào họ muốn đi
thì đã thấy mình ở đó rồi. Nhưng vì họ không trao đổi
gì được với những người chung quanh nên họ thấy cô đơn
buồn tủi.
7.
Gặp
những thể hồn khác
Nhiều
người kể lại, họ chỉ cảm thấy cô đơn trong chốc lát
thôi, sau đó họ được gặp gỡ và chuyện trò với những
người thân, bạn bè quá cố. Một người phụ nữ kể lại
cuộc vượt cạn khó khăn, bà bị mất máu rất nhiều trong
khi sinh. Lúc đó bà nghe bác sĩ nói là bà không sống được
nhưng bà thấy mình vẫn tỉnh táo và ngay ngay khi ấy bà thấy
nhiều người vây quanh bà nhưng chỉ thấy mặt thôi. Họ đông
người lắm,ï lơ lửng ở trên trần nhà. Bà nhận ra đó
là những người thân và quen đã qua đời, bà thấy bà ngoại
của mình và một cô bé bạn học hồi nhỏ cùng nhiều người
bà con quen biết khác. Ai cũng có vẻ tươi cười như chào
đón bà ở xa về.
Một
người khác kể rằng sau khi người bạn thân tên Bob chết
vài tuần thì ông cũng suýt chết. Ông thấy mình bước ra
khỏi thể xác vật chất và có cảm tưởng như Bob đang đứng
cạnh mình. Ông biết đó là Bob nhưng lại trông không giống
như hồi còn sống. Tuy nhìn thấy Bob, nhưng không phải nhìn
bằng mắt vì chính ông cũng không có mắt! Nhưng lúc ấy ông
không nghĩ đến điều này là lạ vì ông không cần có mắt
mà vẫn thấy. Ông hỏi Bob: “Bây giờ tôi phải đi đâu,
chuyện gì đang xảy ra? Có phải tôi chết rồi không? Nhưng
Bob không nói gì cả. Suốt mấy ngày tôi ở bệnh viện, Bob
luôn ở bên cạnh tôi nhưng vẫn không trả những câu hỏi
của tôi cho đến ngày bác sĩ tuyên bố là tôi đã thoát chết
thì Bob bỏ đi.
8.
Đối
diện với với người ánh sáng
Tuy
tình tiết về kinh nghiệm “chết” của mọi người khác
nhau nhưng ai cũng nói đến cuộc gặp gỡ một vị thân toàn
ánh sáng. Đây có lẽ là một chi tiết lạ lùng nhất đã
làm thay đổi cuộc đời của những người chết đi sống
lại. Lúc đầu, vị này hiện ra trong một thứ ánh sáng lờ
mờ, rồi ánh sáng trở nên rõ dần và sau cùng thì hiện toàn
thân trong một thứ ánh sáng rực rỡ. Có điều lạ là, tuy
rực rỡ mà không làm chói mắt; tuy vị này hiện ra như một
tòa ánh sáng mà ai cũng hiểu đây là một người với đầy
đủ cá tính nhân phẩm của một cá nhân. Vị này đã ban
phát cho họ một tình thương yêu không thể dùng lời nói
mà diễn tả được và ai cũng quyến luyến muốn kề cận
vị này. Có một điều lý thú là hầu hết mọi người đều
tả dung mạo, phong cách của người ánh sáng này giống nhau
nhưng khi được hỏi người ấy là ai thì mỗi người nói
một cách khác, tùy theo niềm tin tôn giáo của họ.
Hiện
nay, luân hồi tái sinh là một đề tài nóng bỏng ở xã hội
phương Tây nói chung và Mỹ nói riêng. Chương trình "60 Minutes"
ngày 30 tháng 10, năm ngoái có đề cập đến vấn đề luân
hồi tái sinh và báo cáo hiện nay có đến 78% người Mỹ-vào
khoảng 195.000.000 dân tin có kiếp trước kiếp sau. Raymond Moody,
giáo sư Triết học, bác sĩ y khoa, là một nhà nghiên cứu
người Mỹ tiền phong về vấn đề luân hồi tái sinh, nói
rằng, sự hiểu biết về hiện tượng có đời sống khác
sau đời sống này (life after life) đã được giấu nhẹm rất
kỹ cho đến bây giờ. Nếu ai muốn tìm hiểu xem người Mỹ
nghĩ thế nào về luân hồi chỉ việc vào thăm GOOGLE, gõ chữ
“books on reincarnation” thì thấy một con số khổng lồ, hơn
2.000.000 tài liệu gồm sách và các bài luận giải về nhân
quả và luân hồi...
Nguyên
Ngọc biên soạn
(Xem
tiếp VHPG số 18)
HÃY
KỂ TÔI NGHE…
Nguyễn
Ngọc Quý
Bài
hát “Bonjour Vietnam” của nhạc sĩ Marc Lavoine
khi được cô gái người Bỉ gốc Việt - Phạm Quỳnh Anh truyền
cảm đã gắn kết nhiều tâm hồn Việt trên khắp thế giới.
Chất nhạc và chất thơ hòa quyện trong giọng ca trầm hút,
lắng sâu, khi thì dịu ngọt, thì thầm, lúc thì thổn thức,
gọi mời…, khiến người nghe hạnh phúc mà có thể bật
khóc được…
“Hãy
kể cho tôi về cái tên xa lạ và khó gọi mà tôi đeo mang
từ thuở chào đời…”.
Vì
mang nặng cả một miền ký ức nên cái nét Việt trên khuôn
mặt của cô đã thấm sâu vào lời ca mang ngôn ngữ Pháp.
Ngôn ngữ có thể bị điều kiện hóa, nhưng sự quyến rũ
của âm nhạc lại nằm đâu đó trong tâm hồn mỗi người,
nên rào cản ngôn ngữ đã bị xóa nhòa, chẳng thế mà bài
hát được những người Việt Nam nơi quê nhà, từ trẻ đến
già, dù không biết tiếng Pháp vẫn truyền nhau nghe và xúc
động.
“Khi
đại bác gầm thì họa mi tắt tiếng”. Trên thế giới đại
bác vẫn đang gầm lên từng ngày từng giờ, nhưng ở đâu
đó trên đất Bỉ, vẫn có một giọng ca đầy tươi mát hát
về một quê hương nhiều đau thương nhưng cũng rất ngọt
ngào. Có thể trong con mắt người nước ngoài, Việt Nam được
biết đến qua hình ảnh của chiến tranh, nơi những chiếc
trực thăng đang trong cơn thịnh nộ… Nhưng hận thù và đau
thương của chiến tranh làm sao có thể lấp đầy được nỗi
nhớ quê hương đang da diết. Quỳnh Anh đang hát về một dân
tộc đã từng trải qua bao đau thương vì chiến tranh, nhưng
Quỳnh Anh cũng hát lên để tìm về…, và tìm về để…
rồi đây người lại nhớ người, rồi đây người lại yêu
người…
“Hãy
kể tôi nghe về màu da, mái tóc và đôi bàn chân đã cưu mang
tôi tự thuở chào đời…”.
Hãy
kể… Hãy kể… Và hãy kể…, vì có người muốn nghe, muốn
hiểu, muốn thương, và bởi hai chữ “cưu mang” đã nói
lên một ân tình sâu nặng. Qua giai điệu trong suốt chảy
dài, mẫu mực như một bản Sonate đầy chất cổ điển và
lãng mạn: “Một ngày kia tôi sẽ đến nơi ấy để chào
hỏi hồn người…”, mọi người đều có thể tìm về với
màu da, mái tóc, đôi chân, căn nhà, con đường, phiên chợ
nổi trên sông, con thuyền tam bản…, và cả những điều
chưa biết. Thực không có gì lấp đầy được cảm xúc khi
giai điệu thăng hoa. Ở đó, không gian của âm vang, thời gian
của thân phận chỉ là để đến nơi, và đơn giản để
cất một tiếng chào… Có người sẽ cho rằng đó là những
hình ảnh thính giác được nhặt nhạnh một cách chăm chỉ
trên sách báo, truyền hình… Không sao! Bởi “mỗi lần đưa
ra một lần mới”, một Thiền sư sống ở thế kỷ thứ
XIII đã nói thế. Bởi vẫn có rất nhiều người hàng ngày
được nhìn thấy, được xúc chạm với “đất mẹ, quê
cha” mà vẫn thờ ơ, vô cảm. Có thể nói, từ những hình
ảnh ấy mà thấy được sự cưu mang, thấy được thân phận
và tìm về hồn mình thì quả thật không dễ với một cô
gái đang tuổi 17, nơi xa xôi bên kia bờ đại dương.
Trong
đoản khúc được lặp lại tới ba lần: “Một ngày kia,
tôi sẽ đến nơi ấy…”, có một điều gì đó chờ đợi,
mong mỏi, thúc giục và đang đến rất gần. Tâm hồn dâng
cao, nên âm nhạc đòi hỏi phải được chuyển tiếp bằng
một hình thức sinh động của biến tấu, và bí mật chỉ
có thể nằm thẳm sâu trong một chất giọng có hồn. Tâm
hồn ấy bay bổng, đi xa vạn dặm và không cần chờ đến
một ngày kia mà đã đến nơi, đã giao cảm, vì không có ngoại
lệ nào trong buồn đau và hạnh phúc nơi người Âu hay Á,
nơi người Việt ở quê nhà và người Việt nơi viễn xứ.
Thế nên, xin đừng ai giấu sự xúc động của mình đi khi
đã nghe trọn một tấm lòng.
Từ
chào hỏi “hồn người” đến chào hỏi “hồn tôi”, nơi
có những người cha, những ngôi chùa và những tượng Phật
bằng đá, những bà mẹ, nhưng người phụ nữ còng lưng trên
ruộng lúa…, để rồi “tôi về với tiếng lòng, với cội
nguồn, với đất mẹ quê cha…”.
Nếu
không có chữ “về với” thì có lẽ Quỳnh Anh cũng như
bao người Việt khác sẽ chỉ là người khách lạ hiếu kỳ
ghé thăm mà thôi. Chợt nhớ đến hai chữ “về với” đau
đáu và đầy cảm thương của Thiền sư Tuệ Tĩnh (Hải Thượng
Lãn Ông). Chữa bệnh cho hoàng đế Trung Hoa xong, đang trên
đường trở về thì người qua đời, gửi thân nơi đất
khách, nhưng trên bia mộ vẫn da diết hàng chữ: “Có ai về
phương Nam, cho tôi theo về với…”. Nỗi nhớ quê không có
tuổi. Ai trong chúng ta có thể kìm lòng được khi thấy một
Thiền sư của mấy thế kỷ về trước và một cô gái đầy
sức thanh xuân thời hiện đại, tuy cảm thức khác nhau nhưng
họ đều đã nhớ quê nhiều đến như thế…
Có
lẽ nào âm nhạc và xúc cảm đã đánh thức quá khứ, đánh
thức những trái tim đồng điệu và đánh thức cả một niềm
tin dân gian: quê hương. Một niềm yêu đã cưu mang mình từ
thuở ấu thơ, đó là “hồn người” nơi màu da, mái tóc,
bàn chân…, đó là “hồn tôi” nơi mẹ cha, nơi những ngôi
chùa, những pho tượng Phật…
Hình
ảnh thính giác nơi âm nhạc hiện ra êm đềm trước khi bước
chân lịch sử có thể đi qua. Nhưng lịch sử tâm hồn không
tuân theo một con đường đi lên hay đi xuống. Có thể ngày
mai sẽ không còn những pho tượng Phật bằng đá, không còn
những phiên chợ nổi, những con thuyền tam bản, những người
mẹ, người chị còng lưng trên ruộng lúa… Nhưng niềm tin
tươi sáng nơi hồn tôi và hồn người luôn đồng nhất trong
tiếng gọi quê hương. Và rất có thể “một ngày kia” sẽ
dài hơn một cuộc đời, một thân phận…, nên xin những
tâm hồn Việt hãy cùng nhau tìm về trong âm điệu của hôm
nay…
Bonjour
Vietnam
'Raconte
moi ce nom étrange et difficile à prononcer
Que
je porte depuis que je suis née.
Raconte
moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés,
Qui
disent mieux que moi ce que tu n’oses dire.
Je
ne sais de toi que des images de la guerre,
Un
film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère ...
Un
jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à ton âme.
Un
jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam.
Raconte
moi ma couleur, mes cheveux et mes petits pieds,
Qui
me portent depuis que je suis née.
Raconte
moi ta maison, ta rue, racontes moi cet inconnu,
Les
marchés flottants et les sampans de bois.
Je
ne connais de mon pays que des photos de la guerre,
Un
film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère ...
Un
jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.
Un
jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam.
Les
temples et les Bouddhas de pierre pour mes pères,
Les
femmes courbées dans les rizières pour mes mères,
Dans
la prière, dans la lumière, revoir mes frères,
Toucher
mon âme, mes racines, ma terre...
Un
jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.
Un
jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam (2 fois)'.
Cảm
đề sau khi đọc
Đoạn
Trường Vô Thanh
Vương
Mộng Giác
Thi
ca hay tình yêu trong thi ca của Phạm tiên sinh là một bản
anh hùng ca, là tình tự dân tộc Việt. Tình yêu đó đã trải
qua bao đau đớn không thốt nên lời, đã đi xuyên qua miền
đoạn trường, qua hí trường của thiên thai mộng để bước
sang một quốc độ mới ngay trong thực tại: quốc độ này
cũng cấu thành bởi tài hoa của cung đàn, dũng khí của thanh
gươm và tình yêu của vầng trăng, nhưng có cái khác đi là
người trong quốc độ ấy sống trọn vẹn với trách nhiệm
của họ. Khi đó, cung đàn không còn nỉ non thê lương mà
được tựu thành một cách hướng thiện từ những sương
gió của cuộc đời; thanh gươm không còn là sát nhân kiếm
của kẻ thổ phỉ mà trở thành hoạt nhân kiếm của tráng
sĩ: cứu sống kẻ hiền lương và giúp cho người đời tỉnh
ngộ. Vầng trăng vẫn là hình tượng hấp dẫn của tình yêu,
nhưng qua đó con người còn thấy được sự viên giác vô
tướng của bản thể thường hằng.
Đoạn
Trường Vô Thanh là tán ca giải oan cho những linh hồn Nhân
Nghĩa Trinh Hiếu hoặc đã thác hoặc đang sống trong sự ngộ
nhận của cuộc đời. Người trong cuộc đã hoàn toàn ý thức
được thân phận con người, hiện thể của họ, và linh năng
thăng hoa tiềm ẩn trong họ. Cái thông linh của người dân
Việt qua những bể dâu của lịch sử được thể hiện rõ
nét trong tác phẩm này.
Vì
biết rằng con người phiền não bởi chính những quan niệm
của họ, rơi vào những ngộ biện (paralogismes) của lý trí
nên Phạm tiên sinh mượn hình ảnh Từ Thức và đưa vào đó
sự từ ly những quan điểm để có thể hành đạo vô vi:
Học
đòi theo gã Từ quan
Bên
chùa cởi áo chuộc nàng dưới hoa
Mái
chèo lãng đãng yên ba
Thần
Phù xõa tóc la đà dong chơi
Cái
Đẹp vẫn luôn luôn là điều làm cho con người khát vọng
vươn lên… Một đời người, biết bao kỷ niệm. Khi
nhìn lại mới hay Người Đẹp đã cho ta xiết bao ân tình
và phiêu lãng, đã hiện hữu trong ta từ kiếp nào, mà ta lại
phụ ơn Người. Xin ôm vầng trăng tròn Trinh Nguyên và
Viên Giác vào trong Giấc Mộng và Thực Tại để hóa thân
thành Con Người…
Thi
ca của Phạm tiên sinh tiếp nối suối nguồn thi ca dân tộc
Việt và thi ca Nguyễn Du. Qua miền đoạn trường, kẻ thức
giả chợt nhận ra rằng, thì ra thi ca cũng là tiếng kêu sâu
thẳm của một thực tại vĩnh cửu, có năng lực diệu dụng
độ khách lữ thứ qua bến hàn giang vào một chiều thu cô
liêu.
Sài
Gòn, tháng 8 năm 2005
Vương-Mộng-Giác
Nghe
tiếng vượn trầm
Nhật
Chiêu
Người
đời cứ nhìn ngàn non sáng láng, có ai nghe tiếng vượn cô
liêu kêu trong hang thẳm? Có lẽ đấy là một cái từ mà Tuệ
Trung ưa thích. Cái nhìn và cái nghe của nhân gian rất dễ
bị huyễn hoặc. Thấy núi chỉ là núi. Hoặc sáng, hoặc to,
hoặc đẹp.
1.
Cuộc
đời đầy âm thanh. Cho dù không cuồng nộ thì vô vàn âm
thanh bình thường cũng đủ làm ta mệt mỏi. Để rồi tưởng
nhớ lúc âm thanh chưa vang, hoa chưa bừng nở, bụi chưa dấy
lên… tưởng nhớ gương mặt mình trước khi mẹ sinh ra.
Đọc
thơ Tuệ Trung Thượng Sĩ để lắng nghe thứ âm thanh chưa
từng được nghe
Mây
từ núi sẽ bay thôi,
Suối
khe đâu chẳng vọng lời suối vang.
…..
Nghìn
non sáng, chói nhân gian,
Ai
nghe ra tiếng vượn trầm tịch liêu?
Nguyên
văn là những câu thơ trong bài An định thời tiết và Tụng
Thánh Tông đạo học:
Sơn
vân dã hữu xuất sơn thế
Giản
thuỷ chung vô đầu giản thanh.
….
Nhân
gian chỉ kiến thiên sơn tú,
Thuỳ
thính viên đề thâm xứ thâm?
2.
Mây
từ núi sẽ bay thôi
Mây
trong núi lúc nào cũng chực chờ ở cái thế bay ra khỏi núi.
Mây
thì bay. Nhưng tất cả đều bay đi, chẳng riêng gì “bạch
vân thiên tải không du du”, ngàn năm mây trắng chơi cùng
hư không.
Trò
chơi chim bay cò bay chỉ là trò chơi trẻ con. Vạn sự đều
bay, không chỉ hạc vàng hay những cánh chim. Tất cả đều
chơi đùa với hư không trong cuộc chơi vô thường, biến ảo.
Không
thể ngừng cuộc chơi mê mệt đó, không thể ngừng bay.
Cũng
như mây, ta không thể dừng lại ở một đỉnh núi nào. Ta
sẽ bay qua nghìn núi, bay qua vạn dặm đường. Ta bao giờ cũng
là một kẻ qua đường, một quá khách.
Đó
là thời tiết, đó là nhân duyên.
Và
kỳ lạ là, dù mây bay đi, dường như không đi đâu, không
hề mất – dường như vô tận. Như bản thân đời sống.
Như thơ Vương Duy:
Đãn
khứ mạc phục vấn,
Bạch
vân vô tận thì.
(Đi
thôi đừng hỏi nữa,
Mây
trắng vô tận thời).
Mây
bay thì cứ bay, chẳng có gì tiếc hận. Những cánh hoa cũng
thế, sẽ bay đi. Và Vương Duy cũng nói với ta: “Bất dụng
tích hoa phi” (tiếc gì những cánh hoa bay!)
Tiếc
gì mây, tiếc gì hoa, tiếc gì mùa xuân… Không có gì phải
hối tiếc khi ta đã hiểu thời tiết và nhân duyên, điều
mà Tuệ Trung Thượng Sĩ muốn nói qua áng mây huyền ảo của
người.
Mây
không bám vào núi. Khi mây quyện núi thì dường như mây với
núi hợp nhất. Đó là hình ảnh của sơn vân. Nhưng mây biết
là mây sẽ bay. Sẽ có biệt ly. Nhưng không có tiếc hận.
3.
Suối
khe đâu chẳng vọng lời suối vang
Nước
khe đâu mà chẳng đáp tiếng với khe nước chứ? Nghe một
tiếng suối là nghe toàn con suối hát. Là nghe một âm thanh
trong vắt. Là nghe nước chảy miên man. Và tâm hồn ta cũng
lặng lẽ trôi, điều được biểu hiện trong một bài Haiku
của Hôsha:
Lặng
lẽ tâm
Trong
rừng sâu thẳm
Nước
rơi thì thầm.
(Kokoro
sumaseba
hayashi
no oku no
shizuku
nari).
Âm
thanh của nước có thể làm dịu tâm hồn, đưa tâm hồn về
với tịch nhiên.
Hai
câu thơ của Tuệ Trung Thượng Sĩ dù có dựa vào lời nói
của Thiền sư Sư Giới vẫn đặc sắc, đầy hơi thở riêng.
Đáp lời một tăng nhân vấn thiền, Sư Giới nói:
Vân
hữu xuất sơn thế,
Thuỷ
vô đầu giản thanh.
(Mây
toan rời khỏi núi
Nước
tuôn vào tiếng khe).
Hình
ảnh “mây núi” (sơn vân) của Tuệ Trung cho thấy sự vật
vừa tương giao vừa phân ly.
Hình
ảnh “giản thuỷ, giản thanh” cũng làm cho câu thơ vang ngân,
ám ảnh: nước khe cuối cùng thì không thể không đáp lời
khe.
Tiếng
suối đó có thể vang đến ta và có thể không. Nhưng ta vẫn
NGHE. Tựa như Thiền sư Vô Trụ nghe tiếng quạ.
Một
hôm, quạ kêu ngoài vườn. Có vị khách hỏi Thiền sư Vô
Trụ:
-
Thầy nghe tiếng quạ chứ ?
-
Nghe
Quạ
rời cây, bay đi. Khách lại hỏi:
-
Thầy nghe chứ?
-
Nghe.
-
Quạ đi rồi, còn đâu mà nghe?
Thiền
sư đáp:
-
Có tiếng hay không tiếng, thì quan hệ gì đến tánh nghe.
Trong
thơ Tuệ Trung, suối đổ vào âm thanh và âm thanh lại đổ
vào suối. Hai cái ấy tương tức.
Và
ta nghe cả hai, ta thấy cả hai.
4.
Nghìn
non sáng, chói nhân gian
Người
đời chỉ nhìn thấy nghìn ngọn núi sáng láng đẹp đẽ.
Núi
lớn một ngọn cũng làm chói mắt nhân gian, nói gì nghìn non
rực rỡ.
Núi
đứng yên. Chính sự bất động đó lôi cuốn sự chú ý của
mọi người.
Lớn,
đẹp và bất động. Đó là niềm kiêu hãnh của núi và cũng
là niềm kiêu hãnh của con người.
Trong
một bài thơ khác, Phỏng Tăng Điền Đại sư , Tuệ Trung cũng
viết gần y hệt:
Nhân
gian tận kiến thiên sơn hiểu
Thuỳ
thính cô viên đề xứ thâm.
Người
đời cứ nhìn ngàn non sáng láng, có ai nghe tiếng vượn cô
liêu kêu trong hang thẳm?
Có
lẽ đấy là một cái từ mà Tuệ Trung ưa thích. Cái nhìn
và cái nghe của nhân gian rất dễ bị huyễn hoặc.
Thấy
núi chỉ là núi. Hoặc sáng, hoặc to, hoặc đẹp.
5.
Ai
nghe ra tiếng vượn trầm tịch lieu
Ai
nghe ra tiếng vượn kêu thăm thẳm hang sâu, từ “thâm xứ
thâm”
Nơi
sâu thẳm là đâu? Tiếng kêu đó thuộc về bản nguyên, thuộc
về nguồn tâm. Chính vì thế, thâm xứ của nó là nơi sâu
thẳm hơn cả.
Đó
là nơi mà triết gia Nishida Kitarô gợi tả:
Đáy
sâu tâm hồn tôi thẳm sâu đến nỗi
Sóng
buồn hay vui chẳng thể nào đánh tới nó đâu.
Vậy
có thể nào nghe được âm thanh của đáy sâu ấy?
Trong
thơ ca Đông Á, tiếng vượn kêu là một tiếng bi ai. Như có
thể thấy trong các câu thơ sau đây:
Sầu
thính thanh viên mộng lý trường
(Sầu
nghe tiếng vượn trong mộng dài)
Vương Xương Linh
Viên
thanh thiên thượng ai
(Vượn
kêu đầy trời bi ai)
Lý Bạch
Thính
viên thực hạ tam thanh lệ
(Nghe
ba tiếng vượn kêu, rơi lệ)
Đỗ Phủ
Nhưng
trong thơ Tuệ Trung ở đây, không có buồn hay vui. Chỉ có
tiếng kêu từ nơi sâu thẳm. Và ai nghe?
Âm
thanh của vui hay buồn, cũng như núi to thì dễ thấy, dễ nghe.
Nhưng cái nguyên thanh của tâm hồn thì hầu như không thể
nhận biết.
Dễ
nghe tiếng vượn ấy, không cần xa gần. Âm thanh rất trầm
ấy, một khi đã nghe thì nó vượt cả thời gian lẫn không
gian.
Nghe
được âm thanh ấy thì có thể nghe ra mọi thứ âm thanh khác.
Trên
bến xa
Nghe
tiếng ai nói
Trăng
mùa hạ ra.
(Tô
hama ni
hito
no koe aru
natsuno
tsuki).
Shurin
Tiếng
vượn trầm của Tuệ Trung đưa ta vào thâm xứ của tâm linh
rồi nhẹ nhàng đưa ta trở lại cuộc đời:
Diệu
khúc bản lai tu cử xướng
Mạc
tầm nam bắc dữ đông tây.
(Diệu
khúc bản lai thì cứ hát,
Tìm
chi nam bắc với đông tây).
Tiếng
hát đó sẽ hoà làm một với tiếng vượn thẳm sâu. Tịch
liêu vang tiếng vượn trầm.
Độc
thoại trở về...
Thục
Linh
"Tôi
đã đọc hết ngàn cuốn sách, đi hết vạn dặm đường,
và bây giờ tôi về đứng trước em, rỗng không".
Ngày
đi, tôi cõng trên vai một đống lổn nhổn những tri thức
quá mùa, quá lứa. Tôi bỏ lại phân nửa khi đến đầu kia
của cuộc hành trình, khi tôi khởi lên ý muốn trở về. Rơi
rớt. Tôi quẳng dọc đường ray những cuốn còn lại. Ba cuốn
cuối cùng, những cuốn sách được chép bằng thứ chữ trinh
nguyên và giản dị của em tôi vẫn mang theo. Tôi thả cuốn
đầu tiên xuống biển, sau vệt sóng mà con cá đuối để
lại trong cú lướt theo ánh mặt trời. Cuốn thứ hai tôi tháo
tung từng tờ và thả vào cơn bão dữ dội thổi qua thị trấn
nhỏ mà tôi dừng chân cách đây hai tháng. Thị trấn ấy,
em nhớ không, cái thị trấn rực rỡ loài hoa có vị mật
chát đắng. Những cơn gió thổi trang sách về đâu? Anh không
biết! Em hỏi thử xem, có thể cơn bão sẽ trả lời. Mà cũng
có thể cơn bão không ưa lắm những dòng chữ chi chít chứa
điều mầu nhiệm như em nói đâu. Bão đã thổi nghĩa là đi
hết.
Cuốn
sách cuối cùng, tôi quỳ chân trước bụi cúc dại cách nhà
năm mươi mét, bụi cúc đất mỏng manh nhưng không u buồn.
Nó quặt quẹo trong gió lốc nhưng vẫn nhìn tôi đầy kiêu
hãnh. Tôi kính phục nó biết mấy. Tôi có gì đáng tự hào
trước nó đâu. Nó vô tư mà đâm chồi trong vùng đất không
được vun xới. Nó tích cóp lương thực đủ dùng mà vui đùa.
Trước nó, tôi nhỏ bé, tôi nhỏ bé như trước em vậy. Tôi
đã xới nó lên đặt quyển sách cuối cùng em trao cho tôi
vào hố đất rồi lại trồng nó xuống. Nó sẽ quấn lấy
những dòng chữ bằng chùm rễ siêng năng của mình, quyển
sách của em nếu không ích gì cho tôi, cho ai cũng sẽ tan thành
đất.
Em
ạ! Hãy tha thứ cho tôi, tôi đã cho đi tất thảy những gì
em hiến tặng. À không! Tôi vẫn còn, vẫn còn chiếc bao tải
đựng sách đã tả tơi này, chiếc bao em đã kính cẩn đặt
lên vai tôi ngày đi. Em ạ! Đừng buồn em nhé.
“Tôi
đã đọc hết ngàn cuốn sách, đi hết vạn dặm đường,
và bây giờ tôi về đứng trước em, rỗng không.”
Cây
dao đẹp thế, cây dao đã rèn bằng thứ thép tốt nhất, nước
thép ánh lên rợn cả mắt người. Cây dao em bảo tôi hãy
bảo vệ lấy mình như bằng chứng của lòng can đảm. Cây
dao em bảo tôi hãy mưu sinh như bằng chứng của sự vững
vàng. Cây dao tôi chặt củi nhóm lửa trong đêm rừng sói hú,
cây dao tôi vung ra trước kẻ thù để áp đảo những lưỡi
dao đang bay tới mình. Cây dao tôi đang tâm uy hiếp, làm đổ
máu kẻ khác nhân danh cái bụng đói của tôi. Cây dao đôi
lần quay ngược làm tôi xây xát. Cây dao, em nhớ không? Ngày
đi, em thử dao bằng cách phạt ngang ngọn chuối non, nhựa
chuối đổ ra, sít lại màu nâu thẫm. Nâu như mắt em, nâu
như nước mắt em không đổ ra ngoài, nâu như buổi chiều
ráo hoảnh em nhìn tôi lên đường. Không ai biết vết thương
trong em, vết thương trong tôi, máu vẫn từng giọt tươi ròng,
tươi ròng rất thắm.
Cây
dao ấy, tôi đã quăng vào lùm xương rồng bạt ngàn trên đồi
cát. Lùm xương rồng ấy rộng lắm, nếu kẻ nào muốn nhặt
ngọn dao ấy lên, xương sẽ vây hãm, sẽ bỏ tù hay đâm nát
thịt hắn! Tôi sẽ không nhặt lại ngọn dao ấy đâu, tôi
đã biết đủ cách để bảo vệ mình, để kiếm miếng ăn.
Tôi cần gì nữa những thứ ấy khi trở về đây, khi em đã
là khiên che, là vũ khí lợi hại nhất. Đừng khóc em ạ!
Khi tôi quẳng đi cả thứ vũ khí em trao, không ai tấn công
những giọt nước mắt và cũng không ai tấn công một gã
trần trụi như tôi.
Đừng
giận tôi, em ạ! Khi tôi đã chôn sâu sự bảo vệ của em,
tất cả. Không! vẫn còn, vẫn còn chiếc bao dao làm bằng
da này, chiếc bao mềm và ấm như lòng bàn tay em chiều đông.
Chiếc bao bảo vệ cho sự bảo vệ đang nằm sướt mướt
cạnh tôi trên triền cát, đám cỏ lông chông đuổi nhau trong
sự yên bình vĩnh cửu.
"Tôi
đã đọc hết ngàn cuốn sách, đi hết vạn dặm đường,
và bây giờ tôi về đứng trước em, rỗng không".
Tôi
nổi cơn lửa, hỏa thiêu bao sách và bao dao. Tôi sợ chúng
cô độc vì khả năng của chúng không được sử dụng nữa
ở cuộc đời này. Tôi trả chúng về nơi chúng đến. Khói
quẩn lên ôm chặt lấy mấy bụi cây bồn bồn xum xuê nhưng
xấu xí. Khói đặc và khô như cái nghĩa trang động cát mà
tôi đang đứng vậy. Trời không gió, trời thả một thứ
ánh sáng mù mờ xuống nơi em nằm. Ngày tôi đi cũng là chiều
như thế. Em kì vọng làm gì? Em khuyến khích đôi chân tôi
làm gì? Bây giờ tôi rỗng không trước em, dù tôi biết giờ
đây em cũng là sự rỗng không dưới lớp cát sâu.
Hay
sự rỗng không đấy là điều em muốn tôi nhìn thấy. Tôi
đã trở về như em nói “anh hãy trở về khi nào anh có thể”.
Tôi trở về dù không biết mình có thể hay không, nếu không
đi tôi sẽ chẳng về, nếu không đi tôi không biết sự giản
dị của em vĩ đại đến thế, tiếng chim lợn rúc dài chiều
nay vĩ đại đến thế. Cám ơn em chiều gió năm xưa đã thách
thức tôi lên đường bằng tình cảm của mình, dù em biết
trước rồi tôi cũng sẽ rỗng không, trần trụi về đây,
dù em biết em sẽ về với cát như tiếng chim lợn len lỏi
chiều này. Tôi không khóc đâu, bởi tôi biết em sẽ nói “sến
lắm!”
Tôi
xắn nhát xẻng vào cát, một, hai và ba, cát cứ vung lên. Tôi
sẽ chôn điều gì nữa đây, tôi có còn gì đâu cho một sự
vứt bỏ. Tôi chỉ còn hai thứ: tôi và buổi chiều này, em
muốn tôi sẽ đặt điều gì xuống hố cát trước đây?
"Tôi
đã đọc hết ngàn cuốn sách, đi hết vạn dặm đường,
và bây giờ tôi về đứng trước em, rỗng khôn".
Một
sự rỗng không rất đầy đủ.
Tôi
buông xẻng chuội dần theo làn cát ấm, buổi chiều cuốn
theo chân.
Và
bầy hoa bồ công anh ở đâu bốc lên bay tứ tán trong gió
cuối mùa.
ảo
và
thực
Lê
Hồng
Tôi
là gì? Hạt cát giữa sa mạc mênh mông hay giọt nước giữa
biển cả? Tôi đã sống những ngày có ý nghĩa chưa? Tôi đã
đi đúng đường chưa? Tôi muốn gì?…
Ngày
trước tôi đã hào hứng, vui vẻ biết bao với những việc
mình đã và đang làm nhưng giờ đây tôi thực sự ngán ngẩm.
Một số việc đã xảy ra với tôi tuy không nhiều, không
gây sốc nhưng vẫn có cảm giác bất an. Dường như càng ngày
tôi càng lún sâu vào con đường vô minh. Đôi lúc những câu
hỏi “ tại sao…?” và “ tại sao..?” cứ bao vây lấy
tôi.
Giờ
đây tôi thực sự cảm nhận được những trăn trở trong
tâm mình. Không ai hiểu rõ mình bằng bản thân. Từ ngày biết
anh, cái cảm giác bất an đó càng lớn dần. Mặc dù tôi chẳng
trông mong, đợi chơ øgì. Lẽ đời là thế chăng? Tôi không
dám chắc sự gặp gỡ anh là duyên, sự vướng víu vào nhóm
bạn này là nghiệp, vì như thế với tôi sẽ rất bi quan,
yếm thế, là sự chối bỏ những nỗ lực vươn lên, buông
xuôi với số phận.
Có
lẽ mãi mãi không ai hiểu tôi, lạc quan là thế nhưng luôn
trăn trở, suy tư… Tôi chán ngán với tất cả nhưng sao cứ
vướng vào… Có lẽ tôi cần phải có một quyết định dứt
khoát!
Tôi
muốn hét thật to, vỡ òa nước mắt. Tôi muốn có bờ vai
vững chắc để mặc cho cảm xúc dâng trào. Tôi muốn đến
một nơi thật xa, không người quen biết, không lo nghĩ, không
muộn phiền… Tôi muốn ngủ một đêm thật dài để ngày
mai không thức dậy. Tôi muốn dửng dưng với tất cả...
Boong…!
Boong...! Tiếng chuông chùa ngân vang đã làm tôi tỉnh thức,
kéo tôi ra khỏi cơn mộng mị. Tôi biết mình đang mơ. Giấc
mơ đầy trăn trở, lo âu…
Ranh
giới giữa ảo và thực thật là mong manh, nhưng cũng thật
là vi diệu, nhiệm mầu…
Lời
cảm ơn cuộc sống
Đêm
nay giữa núi sông Thị Vải rộng lớn và lặng lẽ, trái tim
con lại ngân lên những bản giao hưởng của cuộc sống tiền
tài, danh vọng, địa vị. Những bản giao hưởng có sức quyến
rũ sâu sắc đối với loài người. Đã bao năm nay được
sống gần thầy và đại chúng là một niềm hạnh phúc lớn
nhất của đời con. Thế nhưng đôi lúc con muốn tung đôi
cánh của mình để đi tìm thứ hạnh phúc bé nhỏ cho riêng
mình. Con cũng bị cuốn theo những bản giao hưởng ấy một
cách ngông cuồng đến nỗi đánh mất đi tình cảm thiêng
liêng của thầy dành cho con. Hôm nay tiễn sư chị ra đi, con
lậi thấy thầy buồn nhưng thầy không giận như những lần
trước. Thầy chỉ nhẹ nhàng khuyên bảo sư chị ra đi bằng
niềm tin, sự vững chãi. Những giọt nước mắt lăn dài trên
đôi má chị. Thầy quay mặt đi che dấu một niềm đau tiềm
ẩn. Hình ảnh ấy làm con sực tỉnh ra rằng: chúng con còn
qúa bé nhỏ để xa vòng tay thầy. Chúng con cần lắm những
lời nhắc nhở, động viên chúng con vững bước trên con đường
đạo. Con không tưởng tượng được rằng cuộc sống của
con sẽ như thế nào trong một xã hội nhộn nhịp, khi phải
rời xa mái chùa thân thương và tình thầy, tình đại chúng
cao đẹp. Mùa hạ năm nay lại về, con kính nhờ Văn Hóa Phật
Giáo gửi đến thầy lời nguyện cầu sức khỏe và an lành.
Thủy
Nguyên
(Hòm
thư số 10, Bưu điện Phú Mỹ, Tân Thành, Bà Rịa-Vũng Tàu)
Tôi
vốn là đứa con gái khéo tay. Một buổi chiều, tôi ngồi
làm những tấm thiệp để tăng cô giáo và các bạn trong ngày
8/3. những bông hoa giấy, những cây cỏ khô phút chốc trở
thành những tấm thiệp xinh xắn. Tôi hạnh phúc với sản
phẩm của mình và việc mình sẽ đem niềm vui tới mọi người.
Nhưng tôi lại không hề có ý nghĩ rằng sẽ tặng mẹ tôi.
Hình như tôi chưa bao giờ tặng mẹ dù chỉ là lời chúc mừng
đơn sơ nhất.
Đang
lúc tôi sắp làm xong chiếc thiệp cuối cùng thì một cậu
bé lại gần, ngồi xuống bên tôi ngắm nghía tấm thiệp một
cách thích thú. Cậu mở lời: - Chị có thể làm cho em một
tấm thiệp được không? Tôi hỏi: - Để làm gì? Cậu bé
trả lời: - Dạ, để em tặng mẹ em!
Tôi
đưa cho cậu bé tấm thiệp mà không sao dấu được vẻ ngượng
ngùng. Đôi khi tôi chỉ nghĩ đến những thứ cao xa mà quên
đi những điều giản dị. Tôi chỉ biết làm hài lòng người
khác mà quên đi người rất đỗi thân thương: mẹ của tôi.
Cảm
ơn cuộc sống, cảm ơn cậu bé đã cho tôi nhận ra một điều:
khi làm điều gì hãy nhớ nghĩ đến mẹ. Nhất định từ
nay tôi sẽ không bao giờ quên tặng mẹ tấm thiệp cùng với
những hành động và lời chúc thân thương nhất của mình.
Hẳn mẹ tôi sẽ rất vui và hạnh phúc.
Dương
Thị Hiền
(Bưu
điện số 1 Duy Tân, đường số 1 Duy Tân, TP. Huế)
Cháo
hoa chuối
Hoàng
Anh - Phú Xuân
Vật
liệu:
- Hoa
chuối sứ:
1 bắp
-
Nấm rơm khô:
10 tai
-
Nấm mèo: 10 tai
-
Tàu hủ ky: 1 tấm nhỏ
-
Đậu hủ:
1 bìa
-
Gạo: ½ lon
-
Chanh:
1 quả
-
Rau củ: cà rốt, bí ngô, su su, su bắp, củ cải, củ đậu...
mỗi thứ một ít, nấu lấy nước dùng.
-
Boa-rô, rau răm, ngò: mỗi thứ một ít
-
Gia vị: dầu, muối, tiêu, đường.
Cách
làm:
- Rau
củ các loại: gọt vỏ, rửa sạch, cắt khúc cho vào nồi,
đổ thật nhiều nước, hầm với lửa nhỏ để lấy nước
ngọt.
-
Gạo: đem luộc cho nở, vút lại nước lạnh, để ráo.
-
Bắp chuối sứ: lột bỏ bẹ già, lấy phần trắng non, đem
luộc chín. Vớt ra để nguội, tước nhỏ, nhặt bỏ tim cứng.
Đem bóp với muối, tiêu, chanh, rau răm và vài muỗng dầu phi
thơm với boa-rô.
-
Nấm rơm, nấm mèo: ngâm nước lạnh một lúc, xả sạch, cắt
sợi.
-
Đậu hủ: cắt lát, chiên vàng, xắt sợi.
-
Tàu hủ ky: chiên vàng, bóp nhỏ.
-
Bắc chảo nóng, cho vào một muỗng súp dầu, cho các thứ boa-rô,
nấm, đậu hủ, tàu hủ ky cắt nhỏ vào xào. Nêm xì dầu,
muối, tiêu, đường vừa ăn.
-
Lọc nước dùng cho vào nồi. Cho gạo luộc và các thứ đã
xào vào, nấu sôi đều, nêm nếm lại cho vừa ăn. Nhắc xuống,
múc cho vào tô nhỏ, rải bắp chuối bóp rau răm lên mặt,
rắc thêm tiêu. Dọn ra ăn nóng với xì dầu, chanh, ớt.