CỦA
BÁU TRONG NHÀ
Thái
Kim Lan
“Vốn
xã hội” (VXH) là tổng thể những yếu tố hỗ trợ cuộc
sống cộng đồng và qua đó đẩy mạnh sự phát triển xã
hội (mạng lưới xã hội). Khái niệm này thường được
hiểu như tổng thể những tương quan đời sống con người
trong cùng một xã hội, bao gồm những gia sản văn minh văn
hóa (kinh tế, triết lý sống, đạo đức, phong tục tập quán
v.v...) mà con người trong một cộng đồng hay xã hội
đã tạo dựng và phát huy.
Vừa
qua, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo về vấn đề này,
GSTS Thái Kim Lan đã có bài tham luận: “Vốn xã hội VIỆT
NAM, nguy cơ phá sản và triển vọng phát huy”. Với cái nhìn
của một trí thức Việt Nam đang nghiên cứu và giảng dạy
ở hải ngoại, tác giả đã đi từ (1) khái niệm VXH, một
khái niệm “mốt” trong khoa học kinh tế xã hội, một lý
thuyết được định hình cụ thể vào những thập niên 1980
- 1990 với Bourdieu, Putnam ở phương Tây; (2) phân tích
những hiện tượng hao vốn trong bối cảnh xã hội Việt Nam
từ 1975; và (3) truy cập lại một “lý thuyết” được xem
là mô hình (modele) VXH trong lịch sử tư tưởng Việt
Nam trong triển vọng phát huy VXH để tái khám phá ra khái niệm
và dự án VXH, thế kỷ 13, qua tư tưởng Trần Nhân Tông với
“Cư trần lạc đạo”, trong xu hướng tìm về suối nguồn
tư tưởng dân tộc để giải quyết những khủng hoảng VXH
đông thời để xây dựng và phát huy một VXH bền vững dựa
vào nội lực dân tộc. VHPG trân trọng giới thiệu đến bạn
đọc phần 3 của bản tham luận này.
Vấn
đề then chốt của VXH thật sự nằm trong khả năng ứng dụng
VXH mang tính xã hội chân thực, hầu thiết lập một
nền hòa bình xã hội toàn diện bảo đảm an sinh và hạnh
lạc của cộng đồng. Khả năng ứng dụng nằm trong hai điểm
then chốt: mở cửa và hội nhập trong năng động và thức
tỉnh, bởi lẽ xã hội là một khái niệm mở. Nhìn toàn diện,
xã hội xuất hiện như một dòng thác đầy sinh động cũng
như đa dạng, phức tạp trong sự chuyển tiếp và chuyển biến
không ngừng. Cần phải nắm bắt được yếu tính của dòng
chảy con người bằng một cái nhìn mới có khả năng tự
điều chỉnh và đổi mới: một cái nhìn toàn diện “không
bỏ sót một hữu tình nào”!
Những
người hoạt động xã hội trên thế giới hiện nay đang nhìn
trong khái niệm VXH, một “mốt” mới trong việc tìm hiểu
và phát huy VXH như điều kiện cải tạo xã hội trong nghĩa
tích cực.
Có
ngạc nhiên không khi ta đã có một của báu trong nhà? Chính
khái niệm VXH đã được Trần Nhân Tông trong giai đoạn dựng
nước sử dụng khi đưa ra một mẫu mực đạo lý sống trong
một xã hội vừa dành được chủ quyền độc lập và đang
ở trong giai đoạn kiến thiết đất nước. Trong “Cư trần
lạc đạo phú”, “sống đời vui đạo’ TNT đã bàn về
“xây VHX” cho con người Việt Nam trong buổi sơ khai lập
quốc ấy, khi nói về “của báu trong nhà”. Của báu ấy
trước hết là CON NGƯỜI VIỆT NAM, một vốn quí báu nhất
trong xã hội. “Cư trần lạc đạo” gồm 10 hội trình
bày toàn diện tư tưởng của Trần Nhân Tông về xã hội
Việt Nam, dự án giáo dục, đào tạo con người, “gây vốn”
cho một xã hội nhân bản nhằm có thể phát huy và bảo đảm
an lạc cộng đồng. Đọc 10 quán tưởng “ở đời vui đạo”,
sự nghi ngại nêu dẫn một điển tích xưa cũ hoàn toàn biến
mất, ngược lại tính hiện đại của quan điểm xã
hội Trần Nhân Tông trở nên đầy thuyết phục: ở đây ta
có thể tìm thấy sự cân nhắc minh triết về tương quan tương
liên giữa cá nhân và xã hội, khả năng chuyển tiếp giữa
công và tư. Với tư duy biện chứng toàn diện, Trần Nhân
Tông luôn luôn mở ra một lối thoát hay khai phá khả năng
giải phóng, đổi mới cho những phương thức tu chứng và
kỷ luật thực hành. Nắm vững tinh yếu củakhái niệm tự
do trong Thiền học, Trần Nhân Tông xây dựng một mẫu người
Việt Nam lý tưởng nhập thế.
Hội
thứ nhất nói về không gian “Xã hội Việt Nam” của con
người Việt Nam, đó là một không gian xuyên suốt thành thị
và sơn lâm trong một tương quan đi về của muôn nghiệp, mà
mục đích của con người là “dừng nghiệp” xấu chuyển
nghiệp lành, được sống trong “an nhàn thể tính”. Nhưng
an nhàn đối với Trần Nhân Tông không chỉ ở sơn lâm,
mà còn ở nơi trần tục náo nhiệt như thị thành, nếu con
người không được khai sáng để đạt được một cái nhìn
rộng mở trong quá trình thực tập về Tâm. Tu Tâm đặt nặng
giá trị của trí tuệ và đạo đức của tấm lòng hơn tiền
bạc châu báu vật chất “yêu tính sáng hơn yêu châu báu”
“trọng lòng rồi mới trọng hoàng kim”.
Thành
thị hay sơn lâm đều là đất thao luyện cho TÂM, không nơi
nào là ưu việt hơn nơi nào. Sự thao luyện này bao gồm kỷ
luật nghiêm túc: “Sạch giới lòng, dồi giới tướng. Nội
ngoại nên Bố tát trang nghiêm. Ngay thờ chúa thảo thờ cha.
Đi đo mới trượng phu trung hiếu. (Hội thứ 6)
Bồ
tát trang nghiêm thực hiện bổn phận trong xã hội, hiếu thảo
với cha mẹ và trượng phu nghĩa hiệp với người đồng loại,
đồng thời luôn luôn chuẩn bị cho giải phóng tự do, không
vướng mắc: “Áng tú tài tính sáng chẳng tham. Há vì ở
Cánh Diều Yên tử. Rần thanh sắc, niệm dừng chẳng chuyển.
Lọ chi ngồi am Sạn non Đông” (Hội thứ 3).
Điểm
đặc biệt trong lý thuyết ở đời vui đạo là tính toàn
diện, bao gồm mọi bình diện: xã hội căn cứ vào triết
lý tùy duyên, không ép buộc, không khai trừ “đói cứ ăn
đi mệt ngủ liền”, hành dộng đạo đức thanh liêm, không
ham xiểm nịnh, đánh mất sự tin cậy của cộng đồng trong
lúc cải thiện đời sống cộng đồng: “Vâng ơn Thánh. Xót
mẹ cha, Thì thầy học đạo. Mến đức Cồ, kiêng bùi ngọt,
cầm giới ăn chay (Hội thứ 7), trau dồi đời sống tâm linh
căn cứ vào giới hạnh: “tích nhân nghì, tu đạo đức, Ai
hay này chẳng Thích ca, Cầm giới hạnh, đoạn gian tham, Chỉn
thực ấy là Di Lặc”.
Một
VXH mang nhiều yếu tố xã hội trong nghĩa không kỳ thị, năng
động khai mở và tạo khả thể hội nhập, không phân
biệt giai cấp và khai phóng tự do, nguồn suối của nhân nghĩa
và tình thương:
Dứt
trừ nhân ngã
Thì
ra thực tướng kim cương
Dừng
hết tham sân
Mới
làu lòng viên giác.
VXH
giàu tính xã hội hội không phân biệt giàu nghèo, đẳng cấp,
dấn thân cho đời, tu tâm vì đạo:
Dựng
cầu đò, xây chiền tháp,
Ngoại
trang nghiêm sự tướng hãy tu
Săn
hỷ xả nhuyển từ bi
Nội
tự tại kinh lòng hằng đọc (Hội thứ 8)
Một
lý thuyết chứng tỏ tính chân lý của nó trong thời gian,
khi nó đứng vững vàcó khả năng đem lại an lạc cho cộng
đồng. VXH mà Trần Nhân Tông dựng lên đã được tiếp nối
và phát huy trong chiều dài lịch sử Việt Nam, nó trở nên
niềm tự tin và sức mạnh tâm thể con người Việt Nam,
đã từng xem nhân nghĩa trên công danh, say đạo đức, đổi
thân tâm thường tục vươn đến con người cao quí:
Chuộng
công danh, lồng nhân nghĩa
Thực
ấy phàm phu
Say
đạo đức, dời thân tâm
Định
nên thánh trí. (Hội thứ 10)
Chính
trên con đường phát huy hòa bình xã hội, con người được
truy nhận bình đẳng trong cơ hội trở nên thánh hiền, chỉ
khác biệt khi Tâm con người bị hủ hóa, vật chất hóa và
tự mâu thuẫn, tự phá hủy cơ hội làm người trong xã hội:
Mày
ngang mũi dọc
Tướng
tuy lạ xem ắt bằng nhau
Mắt
thánh lòng phàm
Thực
cách nhân ván ván thiên lý. (Hội thứ 10)
Điểm
mạnh nhất đã đứng vững với thời gian là sự hình
thành đức tâm Việt Nam có ích cho hòa bình xã hội:
đức tâm ấy vừa tự chủ vừa bao dung, có thể vượt lằn
phân chia cá nhân và xã hội, bảo đảm cho sức phát huy VXH
trong mạch sống tiềm tàng của nó. Có lẽ Trần Nhân Tông
là một nhà kinh tế xã hội đã đưa ra giải pháp mà Bourdieu,
Putnam và Harris vẫn còn băn khoăn trước vấn nạn: làm thế
nào để chuyển đổi sự tin cậy của một đoàn thể (VXH
nhỏ) sang một toàn thể cộng đồng, làm thế nào để nhân
VXH đến từ bên trong, ngoài những hỗ trợ từ bên ngoài?
Chính sự rèn luyện cái TÂM không phân biệt “vô tâm” là
điều kiện để chia:
Ở
đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói
cứ ăn đi mệt ngủ liền
Có
báu trong nhà thôi tìm kiếm
Vô
tâm đối cảnh hỏi chi Thiền (Bài kệ)
Với
“Cư trần lạc đạo”, Trần Nhân Tông đã gây vốn
để cả dân tộc Việt Nam cùng chia lời, chia xẻ chứ không
chia cắt, đoạt vốn.
Và
để thay kết luận, nếu không có cái vốn Việt Nam cùng chia
ấy, một người Việt Nam xa quê lâu năm như tôi đã không
có những thôi thúc trở về.
(Tựa
do VHPG đặt, theo Cư trần lạc đạo phú)
VXH
là tổng thể những tương quan tin cậy và tự nguyện mà trong
lúc chung sống những thành viên trong cộng đồng hay đoàn
thể kiến tạo nên, nó bao hàm sự hỗ trợ tình thương, tính
thân hữu, liên lạc. Chính mối giây tương quan tinh thần qua
lòng tin cậy lẫn nhau có thể đem đến lợi ích mà một xã
hội cần có: sự an lạc và phúc lợi cộng đồng, an sinh
hạnh lạc, đồng thời nó đem lại những món lãi vật
chất: chính nhờ VXH sẵn có những phí tổn chuyển nhượng
(Transaktion) được tiết kiệm, những thiệt hại, tổn thất
do xung đột quyền lợi được giải quyết căn cứ vào những
qui định đã được thỏa thuận giữa những người cùng
chung quyền lợi.
Khái
niệm VXH giải thể những ám ảnh ý thức hệ thường mắc
vướng trong các khái niệm về xã hội: ví dụ khái niệm
về giai cấp không bao hàm trong VXH, ngược lại VXH là một
khái niệm hàng dọc, nó nhấn mạnh một điểm mà lý thuyết
tranh đấu giai cấp không chú ý đến: tương quan tương
trợ lẫn nhau trong tự nguyện, người giàu giúp kẻ nghèo,
người mạnh khỏe giúp kẻ ốm, người thất học được
bảo trợ, người đi tìm việc được giới thiệu hợp tác.
VXH tạo nên một mạng lưới xã hội gồm tương quan giũa
cá nhân và đoàn thể, giữa đoàn thể và đoàn thể. Bourdeau
phân biệt XVH do những diễn viên (akteur), như là một nguồn
cá nhân đến từ những tương quan xã hội với những cá
nhân khác, VXH nà là một nguồn quan trọng cho hiện trạng
xã hội (Status) và an lạc cá nhân.
NĂM
GIỚI
Thích
Nhất Hạnh
LTS:
Nhiều người, nhất là bạn trẻ, rất ngại khi nói về các
giới (cấm) trong đạo Phật, và cho rằng nó thuộc về đời
sống tôn giáo thiêng liêng. Thực ra, trong Phật giáo, giới
là nguyên tắc sống đẹp và hướng thượng, không chỉ dành
cho người Phật tử mà có thể cho tất cả, nếu muốn bảo
đảm đời sống hạnh phúc cho chính mình và gia đình, cộng
đồng. Theo yêu cầu của bạn đọc, VHPG giới thiệu về năm
giới, qua sự diễn dịch của Thiền sư Nhất Hạnh.
Giới
Thứ Nhất:
Ý
thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin
học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người
và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán
thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù
là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con.
Giới
Thứ Hai:
Ý
thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và
bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để
đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài,
để chia sẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với
những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy
làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình
tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác,
nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ
và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con
người và của muôn loại.
Giới
Thứ Ba:
Ý
thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học
theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và
sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội.
Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là
vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành
động bất chánh sẽ gây ra những đau khổ cho kẻ khác và
cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và
của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của
mình và của kẻ khác. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo
vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ
vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa.
Giới
Thứ Tư:
Ý
thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm
gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng
tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người.
Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ
đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây
thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật
có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện
không nói những điều sai với sự thật, không nói những
lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những
tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và
lên án những điều con không biết rõ. Con nguyện không nói
những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và
đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn
thể.
Giới
Thứ Năm:
Ý
thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và độc
tố gây ra, con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng
sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh
niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ tiêu
thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm con, và
cho thân tâm gia đình và xã hội con. Con nguyện không uống
rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc
tiêu thụ những sản phẩm có độc tố trong đó có một số
sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và
chuyện trò. Con biết rằng tàn hoại thân tâm bằng rượu
và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên, cha mẹ và cũng
là phản bội các thế hệ tương lai. Con nguyện chuyển hóa
bạo động, căm thù, sợ hãi và buồn giận bằng cách thực
tập phép kiêng cữ cho con, cho gia đình con và cho xã hội.
Con biết phép kiêng khem này rất thiết yếu để chuyển hóa
tự thân, tâm thức cộng đồng và xã hội.
ĐỨC
PHẬT CỦA LÀNG TÔI
Trương
Công Giang
Đức
Phật của làng tôi đã có tới hai ngàn mùa sen nở. Nhưng
những gì tôi biết được về làng, về Đức Phật chỉ có
khoảng sáu mươi năm trở lại đây. Tôi nhớ lại tháng Ba
năm Ất Dậu (1945), dưới ách thống trị của thực dân Pháp
và phát xít Nhật, dân làng tôi không còn gì để ăn, nhiều
người bị chết đói, chùa làng vắng lạnh, không còn tiếng
chuông ngân. Mọi người rau cháo cầm hơi, cầu Phật, chờ
trông lúa đồng sậm hột vàng bông. Nhờ trời Phật vụ chiêm
năm ấy, dù ít công người chăm bón, lúa vẫn được mùa,
người nào còn sống sau nan đói vẫn có cơm ăn.
Theo
sử sách, làng cổ quê tôi có từ hồi vua Hùng dựng nước.
Đến nay người làng tôi có nhiều dòng họ khác nhau, nhưng
đều là con Lạc cháu Hồng, đều là con Phật. "Con một cha,
nhà một nóc", nên mọi người coi nhau như người thân, không
phân biệt sang hèn, tùy theo tuổi tác, gọi nhau là cháu, con,
cô, dì, anh, chị, em, chú, bác, ông, bà... Đồng làng, đồng
hương, nên đồng cảm, gắn kết sẵn sàng, đùm bọc, chia
sẻ cùng nhau. Đôi khi giữa người này, người khác cũng có
chuyện bất hòa, va chạm, xô xát, nhưng rồi lại nhanh chóng
lắng dịu, qua đi. Vì tình làng nghĩa xóm, ai nấy đều biết
cảm thông, sám hối.
Xưa
nay dân làng tôi sống bằng sức lao động của mình "tay làm
hàm nhai" nên rất ghét kẻ ngồi không ăn bám, tham ô trộm
cắp. Nhà ở không cần phải cửa đóng, then cài, ra khóa vào
mở. Đất đai không có rào ranh, cột mốc. Tâm thức của
người làng tôi "kính lão đắc thọ", "ở hiền gặp lành",
"ác giả ác báo", "đời cha ăn mặn đời con khát nước".
Của chùa, là của công, của làng, là vật linh không ai dám
tơ màng chiếm dụng. Dân làng tôi thương thân, thương người,
luôn làm việc thiện. Họ giúp nhau vốn giống, kinh nghiệm
làm ăn, giúp nhau xây dựng nhà ở, giúp nhau tang tế, hôn nhân,
cùng nhau chia buồn, góp vui mọi chuyện.
Lòng
nhân ái của người làng tôi phải chăng đã được Đức
Phật truyền dạy từ đời này qua đời khác, ăn sâu bám
rễ trở thành tư tưởng, tâm lý, lối sống văn hóa của
làng.
Nhờ
Đức Phật, người làng tôi ngày càng nhận ra khả năng của
mình, không trông chờ sự cứu độ hão huyền. Bằng trí tuệ
và tình yêu của mình, người làng tôi đã làm nên tất cả.
"Hình
ảnh của đức Phật là hình ảnh cao thượng nhất, hoàn hào
nhất mà con người thường đạt tới". Chỉ có thương cho
dân làng tôi, vì nhiều lý do, đã có một thời không hiểu
Phật, tẻ lạnh với Phật. Nhưng rồi mây mờ cũng qua, nhật
nguyệt lại sáng.
Trải
bao biến cố thăng trầm, thiên tai địch họa, ơn nhờ trời
Phật làng tôi vẫn còn những nét thanh bình. Người xứ khác
tới nhập cư, người ra đi phiêu bạt cũng nhiều. Nhưng họ
đều chí thú làm ăn, thành đạt, đem tiền của về cùng
người ở lại xây dựng quê hương, trong đó có chùa làng
được trùng tu, tôn tạo khang trang, to đẹp, xứng đáng là
nơi tôn thờ đức Phật của làng.
Đức
Phật của làng tôi - Đức Phật của những điều Chân- Thiện-Mỹ.
Tôi
yêu làng và yêu Đức Phật của tôi!
ĐỨC
PHẬT - MẸ, TÔI VÀ EM
Nguyện
Bi
Có
những lúc ngồi một mình ngắm nhìn những bức tượng Phật,
tôi lại muốn làm một người bình thường, bình thường
trong cả tình yêu, sự sống và cái chết. Tôi nhớ lại tuổi
thơ đầy tươi tắn của mình, với những đêm rước đèn
trung thu, những ngày hè nắng cháy để tóc vàng hoe, những
khi mải tắm sông, những trò chơi ô quan, cướp lá, bịt mắt
bắt dê và cả những trò chơi không kém phần tinh nghịch
khác… Có vô số những điều mà một người xuất gia trưởng
thành như tôi cần phải nhớ về tuổi thơ của mình. Bởi
tuổi thơ là nơi đầu tiên tôi đã bước vào cuộc sống.
Tính tình, thói quen, và cả những bài học nhân cách đầu
tiên mẹ tôi dạy, đều có tác động tới tôi. Đơn giản
như khi mẹ tôi nấu bất cứ món ăn nào cũng nhớ tới việc
để phần ông bà những miếng ngon nhất; nấu một nồi chè
thì mời hàng xóm cùng ăn; quần áo còn tốt, mặc không vừa
nữa thì gửi cho người nghèo… Những bài học như thế đều
được mẹ tôi khéo léo đưa vào tuổi thơ của anh em tôi.
Rồi
có ngày, tôi đến với đạo Phật, một cách tự nhiên, chỉ
vì tôi cảm thấy thích màu áo nâu giản dị, khi được thấy
các sư thầy về thăm ngôi chùa nhỏ quanh năm hương lạnh
khói tàn ở quê tôi, một vùng đất ven sông Hồng. Ngày tôi
đi xuất gia, tôi không hình dung ra được ý nghĩ của tôi
lúc đó như thế nào. Bởi hồi nhỏ, tôi cũng thỉnh thoảng
đi chùa, bắt chước những người già niệm Phật và thích
ăn lộc Phật do bà ngoại đem về, nhưng tôi không hiểu thế
nào là Đức Phật, thế nào là luân hồi, thế nào là nghiệp
báo… Lý do duy nhất và có lẽ ngây thơ nhất đó là khi tôi
nghe người lớn kể lại rằng, ở làng bên có một người
con gái đi tu, một thời gian sau thì người bố đang bệnh
nặng tự nhiên khỏe ra. Lúc đó mẹ tôi cũng đang bệnh rất
nặng, tưởng chừng như sẽ vĩnh viễn xa rời anh em tôi. Tôi
nghĩ rằng, biết đâu mình đi tu thì mẹ cũng sẽ khỏe lại.
Cho đến nay, nghĩ đến câu chuyện đó, tôi vẫn xem như đó
là sự gợi mở tình cờ để tôi có thể may mắn đến với
đạo Phật. Nhưng phải nói, điều thúc đẩy tôi nhiều nhất
chính là vào chùa tập sống đời sống của người xuất
gia để cầu mong mẹ tôi được Đức Phật phù hộ cho khỏi
bệnh, chứ tôi không hiểu thế nào là tính thiện, là có
căn tu, chân tu. Mà tôi cũng không muốn người ta nói nhiều
về điều đó, vì tôi biết mình chỉ là một người có tố
chất bình thường. Thời gian đầu vào chùa, tôi vẫn thèm
được ăn thịt cá. Nhưng đến bây giờ, cá thịt hay rau quả
đối với tôi không còn là điều quan trọng nữa.
Trong
những ngày làm tiểu, nhiều lúc, tôi mơ thấy mẹ tôi chết
và tôi đã khóc rất nhiều. Khi giật mình tỉnh dậy, tôi
mừng đến chảy nước mắt khi biết rằng đó chỉ là một
giấc mơ và mẹ tôi vẫn còn sống. Thế là từ đó, đêm
nào khi đi ngủ tôi cũng nhớ đến mẹ, và niệm Phật chỉ
là để mong mẹ sống lâu, hết bệnh. Mẹ luôn nhớ đến
tôi vì mẹ thương tôi thật nhiều. Lúc nào tôi cũng lo sợ
mẹ tôi sẽ chết, nhưng không hiểu sao khi ấy, tôi lại có
thể nói với mẹ rằng: “Mẹ ơi, sau này mẹ chết con sẽ
không khóc đâu, mà con sẽ niệm Phật thật nhiều để cầu
cho mẹ được vãng sinh”. Lúc còn nhỏ tôi nói thế thôi,
chứ nếu một ngày nào đó mẹ ra đi, tôi cũng sẽ khóc nhiều
và cả đau khổ nữa. Không biết có sự trùng lặp nào không,
nhưng kể từ ngày tôi vào chùa thì mẹ cũng dần khỏe lại,
bệnh cũng giảm đi nhiều hơn. Lúc đó, tôi tin rằng Đức
Phật có nhiều phép mầu và đã nghe được lời nguyện cầu
của tôi. Sau này, mẹ tôi vẫn luôn nhắc như khoe với mọi
người về câu chuyện đó.
Đến
nay, tôi nhận thức Đức Phật không có ban phép, ban tuổi
thọ. Nhưng điều đó còn có ý nghĩa gì khi cả mẹ và tôi
đều đã biết nhớ Phật, niệm Phật từ một niềm tin nho
nhỏ ấy. Phật là bước ngoặt của những biến cố, mà trong
đó niềm tin của tôi về Ngài không bao giờ giảm. Hạnh phúc
nhất trong đời tôi là tôi luôn nhớ mẹ và mẹ cũng nhớ
tôi. Cũng như vậy, tôi và mẹ vẫn hàng ngày niệm Phật,
nhớ tưởng đến Phật. Tôi tin rằng trong tâm mình có Phật.
Nhưng
không hiểu sao, có lúc tôi cảm thấy băn khoăn khi mang hình
bóng của một người tu sĩ. Sự băn khoăn ấy đến với tôi
có nhiều nguyên nhân, nhưng rõ nhất là vào lúc tôi cảm nhận
rằng mình đã yêu một người có nhiều tính nết giống với
người mẹ hiền của tôi. Tôi biết, thế nào cũng có người
muốn biết, muốn thắc mắc, thậm chí lên án về tình yêu
ấy. Nhưng tôi vẫn không có ý định thanh minh, hay chuyển
tình yêu ấy vào tình yêu nhân loại, cộng đồng. Tôi nghĩ
đó là điều vượt quá sức của tôi. Trong lời tự thuật
này, tôi không muốn biện minh bằng cách kéo Đức Phật vào
tình yêu của mình. Chỉ biết, tôi vẫn hằng đêm niệm Phật:
niệm Phật cho mẹ tôi, niệm Phật cho người tôi thương.
Đức Phật không ở trong, ở ngoài hay ở giữa cuộc đời
của mẹ, của tôi và em. Đức Phật hiện diện trong cuộc
sống, nghĩ đến Ngài, niệm danh hiệu Ngài, tôi cảm thấy
được an tâm trong mọi hoàn cảnh.
“Phật”
nghĩa là giác ngộ, nhưng đây không phải là một danh từ
riêng mà là tôn hiệu được dùng để chỉ một vị đã đạt
đến tột đỉnh của trí tuệ bằng sự tu tập mười Ba-la-mật
suốt trong vô số kiếp. Một vị Phật không phải là một
con người bình thường mà là một nhân cách được hình thành
do sự tích tập các đức tính tâm linh. Những sức mạnh cứ
tăng trưởng mãi của đức hạnh và các Ba-la-mật cuối cùng
đã tạo thành một vị Phật, một vĩ nhân trong đời. Dù
Đức Phật không phải là một con người theo nghĩa thông thường,
tính chất người của ngài vẫn quá hiển nhiên đến nỗi,
ngài đang là một người bạn, một triết gia và người dẫn
đạo chân thật của nhân loại. Ngài là một người đã tìm
thấy con đường, một nhà khám phá con đường giải thoát,
giải phóng con người khỏi những khổ đau của luân hồi
vô tận.
Kenneth
W. Morgan
(The
path of the Buddha)
ÐỐI
PHÓ VỚI BỆNH TẬT
BẰNG
THÁI ÐỘ THÍCH HỢP
Tỳ
Kheo Visuddhacara
Chúng
ta không nên coi bệnh tật và khổ đau như là những căn nguyên
hoàn toàn có thể tàn phá thân tâm chúng ta mà thất vọng,
ngã lòng. Trái lại (trong trường hợp của người Phật tử),
chúng ta phải coi đó là cuộc trắc nghiệm xem chúng ta đã
hiểu lời Phật dạy tốt đến đâu, và chúng ta có thể áp
dụng sự hiểu biết mà chúng ta cho là đã học tốt đến
mức nào. Nếu chúng ta không đối phó được về mặt tinh
thần, để cho thân tâm bị suy sụp, điều đó cho thấy, sự
hiểu biết về Phật Pháp và sự thực hành của chúng ta vẫn
còn yếu. Vì vậy, nên xem bệnh tật là cuộc trắc nghiệm
và cơ hội cho chúng ta thấy mức độ mà chúng ta đã quán
triệt sự thực hành.
Bệnh
tật cũng là cơ hội tốt cho chúng ta nâng cao hơn nữa sự
thực hành tính kiên nhẫn và lòng khoan dung. Làm sao chúng ta
có thể thực hành và phát triển lòng kiên nhẫn nếu chúng
ta không trắc nghiệm, không đặt mình vào những hoàn cảnh
khó khăn và khốc liệt? Vậy nên bằng cách này, chúng ta có
thể coi bệnh là cơ hội cho chúng ta trau dồi thêm tính nhẫn
nại.
Chúng
ta cũng có thể nhìn vào sức khỏe không phải bằng sự vắng
bóng của bệnh tật mà còn xét đến khả năng trải qua bệnh
mà học hỏi và phát triển tính cách. Một cách nhìn đúng
về sức khỏe như thế được một số chuyên gia y tế như
bác sĩ Paul Pearsall của Bệnh viện Sinai tại Detroit, Hoa Kỳ
khuyến cáo. Thấy bệnh tật không bao giờ trừ hết được,
và cuối cùng mọi người đều phải chấp nhận bằng cách
này hay cách khác, những bác sĩ này đã đi đến định nghĩa
về sức khỏe để có thể giúp mọi người thích nghi với
bệnh tật khi nó đến. Cho dù có nhiều máy móc hiện đại,
phương pháp và thuốc men tinh vi đến thế nào đi nữa, người
ta vẫn cứ phải khuất phục trước ung thư, bệnh AIDS, bệnh
đau tim và nhiều bệnh nan y khác.
Như
vậy, chúng ta phải hiểu và chấp nhận sự thật, để khi
nó đến chúng ta không cảm thấy đau khổ và sợ hãi. Chắc
chắn, chúng ta sẽ chữa trị bệnh bằng hết sức mình, nhưng
khi bất chấp những cố gắng cao nhất của tinh thần, chúng
ta sẽ thất bại và bệnh tật tiếp tục gia tăng.
Phân
tích đến cùng, không phải vấn đề là chúng ta sống lâu
bao nhiêu mà là chúng ta sống tốt đẹp ra sao mới đáng kể.
Điều đó gồm cả cách mà chúng ta có thể chấp nhận bệnh
tật của mình đến mức nào, và sau hết chúng ta có thể
chết ra sao. Về mặt này, Bác sĩ Bernie S. Siegel trong cuốn
sách "Hòa bình, Tình thương và Chữa Bệnh" viết: "Những bệnh
nhân khác thường không cố gắng để không chết. Họ cố
gắng để sống cho đến khi họ chết. Họ đã thành công,
mặc dù hậu quả bệnh tình như thế nào, vì họ đã chữa
lành đời sống của họ, cho dù họ không chữa được bệnh
của họ".
Và
ông cũng nói: "Một cuộc đời thành công không phải về cái
chết được trang hoàng cho to đẹp mà là về cách sống tốt
đẹp. Tôi đã thấy có những đứa trẻ mới ba tuổi, chín
tuổi đã thay đổi được người lớn và cộng đồng
bởi khả năng về tình thương yêu. Nhưng tôi cũng biết có
người sống lâu hơn người khác rất nhiều, nhưng không để
lại gì ngoài lòng vị kỷ và sự trống rỗng".
Cho
nên thật tuyệt vời nếu đời sống của chúng ta có thể
được chữa lành mặc dầu bệnh của chúng ta có thể không
được chữa khỏi. Sao vậy? Vì khổ đau là vị thầy giáo,
và nếu chúng ta học thuộc điều đó, chúng ta có thể trở
thành người tốt hơn một cách đáng tự hào. Chúng ta đã
không nghe những chuyện có những người trải qua nhiều đau
đớn, đã chiến thắng bệnh tật, đã thay đổi thành người
tốt hơn ư? Nếu họ không kiên tâm loại trừ tính ích kỷ,
cao ngạo và thiếu thận trọng trong từng hành vi trước đó,
thì bây giờ họ có thể trở nên kiên nhẫn, tử tế, lịch
thiệp và nhũn nhặn hơn được không? Ðôi khi bệnh tật làm
cho chúng ta cảm thấy bất an, nhưng cần phải nhận thấy
bệnh tật cũng là một điều tốt, là cơ hội để chúng
ta xem xét lại lối sống và những giá trị quan trọng hơn
trong đời sống. Lúc đó chúng ta sẽ đánh giá cao vai trò,
giá trị của gia đình và bạn hữu, biết quý trọng thời
gian để sống với những người thân yêu. Và nếu bình phục
lại được, chúng ta sẽ dành nhiều thì giờ hơn cho những
người thân, và làm những việc thực sự quan trọng và có
ý nghĩa .
Dù
có bị khuất phục trước bệnh tật, chúng ta vẫn có thể
học hỏi và phát triển tâm từ bi và kiên nhẫn. Chính khi
ấy, chúng ta có thể hiểu được cái mong manh của sự sống
và lời dạy của Ðức Phật đã đúng ra sao. Chúng ta có thể
trở nên tử tế hơn, cảm niệm nhiều hơn về lòng khả ái
mà chúng ta nhận được từ người khác. Chúng ta có thể
tha thứ những ai đã làm cho chúng ta đau đớn. Chúng ta có
thể thương yêu một cách hào phóng và sâu xa hơn. Và khi cái
chết đến, chúng ta có thể chết bằng sự chấp nhận và
an bình. Bằng cách đó, chúng ta có thể nói đời sống của
chúng ta được chữa lành vì chúng ta đã hòa hợp được
với thế giới và đã sống trong bình an.
Thích
Tâm Quang dịch
Hành
cung Vũ Lâm
Chu
Minh Khôi
Hành
cung Vũ Lâm được vua Trần Thái Tông thiết lập sau cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất. Nơi đây
núi non trùng điệp bao quanh, sông nhỏ uốn lượn chảy xuyên
vào núi, thuyền nhỏ đi lại dễ dàng. Phạm vi của hành cung
ngày nay trải rộng khắp 4 xã thuộc huyện Hoa Lư (Ninh Bình):
Ninh Xuân, Ninh Thắng, Ninh Hải, Ninh Vân.
Vua Trần Thái Tông đã từng rời bỏ ngai vàng tìm đến quốc
sư Phù Vân để mong được xuất gia tu hành. Nhưng sau khi nghe
quốc sư giảng dạy, Trần Thái Tông đã trở về kinh đô
lãnh đạo đất nước. Ngoài 40 tuổi, ông nhường ngôi cho
Nhân Tông, lui về sống như người xuất gia, chiêu dân lập
ấp, quy tụ làm bốn giáp: giáp Ngoài, giáp Các, giáp Trung,
giáp Cật. Xóm làng đông đúc lên dần, nhà vua cho dựng ngôi
chùa Thiền Lâm tự (chùa Sở) ở đầu làng. Muôn đời còn
truyền tụng:
“Địa đầu mở một ngôi chiền
Mễ Lâm chùa Sở còn truyền đến nay
Non sông may khéo là may
Nên dân Nghiêu Thuấn vui ngày Đường Ngu”.
Nhân dân tuân mệnh vua, khai khẩn được 155 mẫu đất, biến
vùng núi rừng hoang vu thành đồng ruộng tốt tươi. Hành cung
Vũ Lâm được bố trí quy củ gần như một triều đình. Quan
văn ở thôn Văn Lâm phía trong, quan võ ở thôn Vũ Lâm phía
ngoài, nhằm bảo vệ cho hành cung.
Vua Trần Thái Tông dựng am Thái Vi (nay là đền Thái Vi) ở
động Vũ Lâm, trung tâm của hành cung. Địa thế của am rất
thuận tiện cho giao thông thuỷ bộ. Từ đây có thể cơ động
ra đường Thiên Lý để về Thăng Long hay ngược vào Thanh
Hoá bằng đường bộ. Cũng có thể theo đường thuỷ từ
sông Thiện Dưỡng ra sông Vân Sàng, ngược dòng Đáy lên Thăng
Long, hoặc xuôi sông Trinh Nữ ra cửa bể Thần Phù.
Chung
quanh am Thái Vi là một vùng non nước kỳ thú. Người dân
Văn Lâm vẫn tự hào “Một trăm trái núi chầu quỳ đồng
ta”. Đoạn sông luồn qua ba hang núi dài mấy cây số, tạo
nên kỳ quan lừng danh Tam Cốc, phía trên là vách đá dựng
đứng, phía dưới là dòng sông nhỏ hẹp. Phía Nam am Thái
Vi hiện hữu một tòa Bích Động từng được vua Tự Đức
ngợi ca: “Nam Thiên đệ nhị động” (Động đẹp thứ nhì
trời Nam).
Di
tích am Thái Vi còn đến ngày nay là đền Thái Vi được xây
dựng trên nền am xưa, trải qua nhiều lần trùng tu vào các
năm Lê Trung Hưng-Kỷ Sửu (1589); Bảo Đại-Bính Dần (1929).
Đền kết cấu theo lối nội công ngoại quốc cổ truyền.
Giếng Ngọc xây bằng đá xanh án ngữ trước đền điểm
xuyết cho nét cổ kính thâm nghiêm. Gác chuông làm từ gỗ
lim, cao hai tầng nâng bổng tám mái, mái lợp ngói mũi hài
che chở quả chuông cổ đúc năm 1698. Qua Nghi Môn, đi theo các
bậc đá lên Ngũ Đại Môn, với 6 cột đá tròn vạm vỡ đứng
canh năm cửa chầu vào chính điện. Nhà bái đường 5 gian
uy nghi cũng được nâng trụ bởi 6 cột đá vuông gánh sáu
câu đối ở mặt ngoài, cùng với nghệ thuật điêu khắc
cổ: long, ly, quy, phượng cuốn quanh thân cột. Sau Trung đường
có 5 gian Chính Tẩm, nổi bật với 8 cột đá tròn khắc nổi
“cầm, kỳ, thi, hoạ”. Ngự trong cung khám là những pho tượng
cổ thờ Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Hoàng Hậu Thuận
Thiên.
Thuở xưa, để bảo vệ am Thái Vi, Trần Thái Tông cho xây
dựng những trạm gác kiên cố: Tam Quan, Gò Mưng và cửa Quèn.
Phía ngoài cửa Quèn có đình Các, tương truyền là nơi đón
tiếp quan lại triều đình tập trung sửa mũ áo chuẩn bị
vào yết kiến vua. Làng Tuân Cáo cách đình Các 2km, đóng vai
trò một trạm kiểm soát, mọi người muốn ra vào am Thái
Vi đều phải “bá cáo” tại đây. Đi vào tiếp một cây
số nữa mới tới hành cung. Di tích còn lại của cung điện
chỉ còn là mảnh đất rộng hai sào, cao hơn mặt ruộng 1m,
nay gọi là khu Đình Sen. ở phía bắc Đình Sen có vườn kho,
tương truyền là kho lương thảo của nhà Trần. Cách hành
cung 500m về phía nam là Hạ Trạo, nơi quy định từ đây phải
hạ mái chèo bơi nhẹ nhàng để vào am Thái Vi.
Trong thung lũng đá vôi của hành cung Vũ Lâm có núi Thiện
Dưỡng là nơi nhà Trần lui về tránh nạn khi giặc Nguyên
Mông xâm lược để rồi trở thành một bộ phận không thể
tách rời của căn cứ địa Trường Yên, góp phần làm nên
những chiến thắng vang dội. “An Nam chí lược” mô tả:
“Núi Thiện Dưỡng đẹp mà hiểm, sông chảy qua núi, khi
có nước triều cường thì thuyền mới đi qua được”. Trong
núi Thiện Dưỡng có hang Thị, nơi đã phát hiện ra nhiều
mảnh gốm và tiền Nguyên Phong thời Trần.
Tham quan hành cung Vũ Lâm, du khách không thể bỏ qua chùa Bích
Động trên dãy núi Ngũ Nhạc Sơn, xã Ninh Hải. Văn bia còn
lưu ở chùa cho biết: Năm 1428, triều Lê Thái Tổ có hai vị
Hoà thượng là Chí Kiên và Chí Thể kết nghĩa anh em cùng
đến Ngũ Nhạc Sơn để lập chùa. Sang thời Lê Cảnh Hưng
(1736-1740), chùa được mở mang, cụ Nguyễn Nghiễm tuân mệnh
vua đặt tên là Bích Động. Chùa mang đậm dấu ấn kiến
trúc cuối Lê đầu Nguyễn, gồm 3 cấp: Hạ, Trung, Thượng.
Chùa Hạ có phương đình, nhà Giải Văn, Giải Vũ tọa lạc
hai bên. Theo đường chữ chi đi lên hai mươi bậc đá tới
chùa Trung, tại đây còn lưu giữ một tấm bia đá thời Nguyễn
cùng hai pho tượng quý bằng đồng đen, một pho tượng đá.
Hành cung Vũ Lâm cùng với Yên Tử (ở Quảng Ninh), Thiên Trường
(ở Nam Định) là những nơi thánh tích của Phật giáo thời
Trần. Các vị vua Trần thường tìm những nơi hiểm trở,
quan trọng để tu hành, khiến những nơi này trở thành chốn
linh địa để muôn đời sau hành hương chiêm bái.
Linh
phách Thánh Gióng
âu
thiên sơn
Đỉnh
núi Sóc mây ngàn bao phủ. Trăng diệu biếc một vầng ánh
sáng. Ai nâng ngang môi một đốt tre đằng ngà thổi sáo, tiếng
sáo cất lên khúc phiêu thanh. Từ những cung bậc âm thanh du
dương bổng trầm đó có tiếng của ngàn xưa vọng về. Tiếng
lửa cháy không đốt được bụi tre, tiếng ngựa sắt chồm
chân lên hý vang trời, tiếng nghìn đời dậy lời Thánh Gióng,
đáp lại tiếng gọi của non sông...
Thăng
diệu một huyền thoại
Gióng
đã bay về trời cùng với ngựa sắt sau khi đánh đuổi xong
giặc Ân và vái chào từ biệt mẹ già, quê hương. Về trời,
Gióng có mang theo hình bóng mẹ, hình bóng cố hương hay Gióng
đã gửi lại siêu linh mình nơi lũy tre làng quê, gửi lại
hồn phách mình nơi đốt tre đằng ngà thân thuộc? Thế nên,
đốt xương Thánh Gióng, cái cốt xương không đốt được
thành than, cứ mọc lên tươi tốt thành lũy tre ngàn đời.
Ca dao có câu: "Mồng bảy hội Trám, mồng tám hội Dâu, mồng
chín đâu đâu thì về hội Gióng". Hằng năm, nhân dân kẻ
Đổng (cái tên cổ của làng Phù Đổng) xưa và nay vẫn tổ
chức hội Gióng (vào ngày 9/4 âm lịch) để tưởng nhớ vị
anh hùng bất tử trong tâm thức Việt. Gióng mãi sống với
làng quê Việt như hồn tre ngàn đời, Gióng đi vào cõi bất
tử trở thành một bậc thánh kiệt hiệt.
Vị
kiệt hiệt của Tứ bất tử
Tứ
bất tử của Việt Nam là Thánh Gióng, Sơn Tinh, Chử Đồng
Tử và Mẫu Liễu Hạnh. Nếu như Chử Đồng Tử với tình
yêu vượt qua mọi lễ giáo, đẳng cấp, Mẫu Liễu Hạnh là
tín ngưỡng dân gian của người Việt, là cách ứng xử bên
trong giữa đời thường của cộng đồng dân tộc, thì huyền
thoại Thánh Gióng và Tản Viên được xem là sự phản ánh
một cách hình tượng và khái quát hóa hai mặt căn bản của
tâm thức dân tộc Việt Nam trong buổi đầu dựng nước và
giữ nước, phản ánh phẩm chất của con người Việt Nam
trong ứng xử với bên ngoài để bảo vệ cộng đồng dân
tộc. Nếu như hình tượng Sơn Tinh là bài học về truyền
thống chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt của người
Việt thì hình tượng Thánh Gióng là bài học về truyền thống
quật cường, tinh thần nồng nàn yêu nước và sức mạnh
vô địch của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử giữ
nước. Lòng yêu nước ấy trải qua mấy ngàn năm được hun
đúc thành một giá trị sống cao cả, được kết tinh thành
chủ nghĩa yêu, nước thương nòi bền vững cùng năm tháng.
Tất cả những hình tượng bất hủ đó trường tồn cùng
thời gian, tạo nên những phẩm chất cao đẹp của dân tộc
từ ngàn đời, thấm sâu vào tâm thức của mỗi người dân
đất Việt...
Linh
phách Thánh Gióng
Cặp
đối đề tại đền Phù Đổng của Cao Bá Quát: "Phá tặc
đãn hiềm tam tuế vãn/ Đằng vân do hậu cửu thiên đê" (Đánh
giặc còn hiềm lên 3 tuổi là muộn/ Cưỡi mây vẫn giận
9 tầng trời chưa cao), đã toát lên cái tinh thần kiệt xuất,
cái tráng nghĩa phi thường của Thánh Gióng. Gióng đã đi vào
cõi bất tử Việt bằng huyền thoại thăng tuyệt và Gióng
ở lại làng quê bằng lũy tre bao bọc lấy quê hương. Có
phải tre là hình ảnh ẩn dụ của Thánh Gióng ngày xưa còn
lưu lại trong đời sống tinh thần cộng đồng Việt, hay hồn
tre chính là linh phách Thánh Gióng? Tre xanh, xanh tự bao giờ/
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh... Những câu thơ của Nguyễn
Duy với “Chuyện ngày xưa” Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc
cũng chính là để ngợi ca cốt cách, phẩm tính của người
Việt dũng cảm bất khuất trong đấu tranh, siêng năng cần
cù trong lao động, có tinh thần cố kết cộng đồng cao trong
chống chọi với thiên nhiên, giặc giã và nhân hậu nghĩa
tình trong đời sống..., như cây tre Việt Nam sống vươn cao
và hướng thượng.
Đức
tính của tre cũng là đức tính của người Việt. Tre biết
chẻ dọc thân mình làm chiếc nôi nhỏ bé, nâng mọi cuộc
đời sâu lắng những lời ru. Giặc tới cướp nước thì
tre bật gốc vung lên đánh đuổi kẻ thù. Lũ lụt dâng lên
thì tre đan thành phên lũy ngăn dòng nước dữ. Thiên tai, địch
họa đe dọa cuộc sống an bình của con người thì luôn có
tre ở bên cạnh. Tre song hành, gắn bó và đồng cam cộng khổ
với cuộc sống của con người. Từ đó, tre đi vào truyền
thuyết, tâm thức Việt. Bền bỉ, tự cường trong trường
kỳ lịch sử và luôn tiềm tàng một sức bật phi thường
trước mọi thử thách. Tre là một phần của bản sắc Việt
Nam. Một dân tộc luôn khát khao hòa bình, và hơn ai hết, hiểu
thấu giá trị của độc lập tự do, thì lũy tre xanh có con
sông chảy quanh luôn là biểu tượng thanh bình của làng quê.
Một dân tộc nhân nghĩa, hòa hiếu thì tre lưu giữ và che
chở văn hóa làng. Tre không cung đình hưng vong suy thịnh mà
luôn bình dị, bền bỉ và dẻo dai như làng quê Việt. Một
dân tộc đã sinh ra Thánh Gióng tượng trưng cho tinh thần xả
thân vì nước, cho sức sống dẻo dai chống lại tự nhiên
khắc nghiệt, dân tộc ấy tất phải sống bền bỉ, mãnh
liệt như cây tre.
Vươn
vai Phù Đổng
Trong
thiên hùng ca về Gióng, có hai thời khắc gây ấn tượng nhất,
làm ngời sáng cả thiên chuyện, đó là khi Gióng vươn vai
trở thành tráng sĩ sau khi ăn “7 nong cơm, 3 vại cà, uống
một hơi nước cạn đà khúc sông” và lúc Gióng phi ngựa
bay về trời. Hai hình ảnh thật đẹp, thật song hùng. Nếu
cái phút giây cậu bé 3 tuổi vụt lớn thành trang tuấn kiệt
là giây phút vạm vỡ nhất mà cũng tráng dũng nhất, tiếp
cho ta nhiều tinh lực nhất, gợi cho ta nhiều hoài bão nhất
về tương lai đất nước thì phút giây Gióng phi ngựa sắt
cúi chào từ biệt làng quê, mẹ già rồi bay về trời lại
là giây phút cảm động nhất và cũng siêu thoát nhất của
thiên huyền thoại về người anh hùng này. Lòng khâm phục
và ngưỡng mộ cậu bé Phù Đổng không nên lui về quá khứ
sử son mà nên chuyển hóa thành hành động hiện tại. Nghĩ
về Thánh Gióng, chúng ta liên tưởng tới "thế hệ Phù Đổng"
hôm nay, cũng với tinh thần như vậy bay vút vào khoảng không
công nghệ cao, khai phá tri thức bằng nội lực và ý chí Tiên
Rồng của mình, làm thăng vinh, rạng rỡ huyền thoại Việt
Nam.
Tượng
Gióng cho lễ hội ngàn năm Thăng Long đã được phê duyệt.
Nay mai phía trên khuôn viên Học viện Phật giáo Việt Nam,
chùa Non Nước, nơi đỉnh núi Sóc Sơn này sẽ hiện diện
một dáng hình huyền thoại. Gióng về trời bay vút thềm xanh.
Gióng
ơi, đừng vội về trời. Hãy nán lại, lợp lại cho mẹ mái
nhà tranh, ơn bú mớm vẫn còn sâu nặng lắm. Hãy ở lại
với màu vàng óng ả của lũy tre đằng ngà thân thuộc, hãy
ở lại với làng quê yêu dấu để tiếp tục sứ mệnh cứu
độ lạc dân!
Mandala
Quán Thế Âm
Lần
đầu tiên tại Việt Nam, lễ cầu quốc thái dân an bằng nghi
thức Mạn đà la (mandala) Quán Thế Âm do các vị tăng Tây
Tạng thực hiện bằng cát màu sẽ diễn ra tại cơ sở Học
viện PGVN TPHCM, 750 Nguyễn Kiệm, Quận Phú Nhuận. Vậy Mạn
đà la Quán Thế Âm là gì? VHPG giới thiệu vài thông tin sơ
lượt về nghi thức này đến quý bạn đọc.
Mandala
là tiếng Phạn (manïdïala), nguyên nghĩa là vòng tròn hay vòng
cung. Đó là một khái niệm quan trọng trong Phật giáo Tây
Tạng nói chung và Kim cương thừa, truyền thống Mật tông
nói riêng, một trong những truyền thống chính của Phật giáo
đại thừa. Mạn đàla được hiểu là biểu tượng của vũ
trụ và các năng lượng trong vũ trụ diễn tả qua hình vẽ,
là cơ sở để hiện tượng hợp nhất với bản thể. Mandala
là một đối tượng thực hành thiền định.
Trong
Mật tông Tây Tạng, mandala không chỉ là đối tượng thiền
quán mà còn là bàn thờ để hành giả thực hiện các nghi
lễ. Tùy tính chất của nghi lễ, mỗi mandala nhắm đến một
vị Phật hay một vị Bồ tát nhất định cùng các pháp khí,
lễ vật phù hợp.
Đồ
hình Mandala thường biểu hiện bằng hai hình dáng: hình tròn
được bao bọc bởi hình vuông với nhiều chi tiết và màu
sắc được quy định nghiêm ngặt. Người thực hiện các
Mandala phải là hành giả có khả năng định lực nhất định
và tương đương mới có thể cùng phối hợp một cách nhịp
nhàng.
Theo
Kim cương thừa, mọi hiện hữu trong vũ trụ đều có thể
là Mandala, từ thế giới ngoại cảnh cho đến thân và tâm
mình. Tuy nhiên, theo truyền thống, về mặt thể hiện, người
ta quy ước Mandala là một lâu đài hình vuông có bốn cửa
nhìn ra bốn hướng. Và thông thường, có bốn cách để xây
dựng mandala: (1) hội họa (thangka), (2) cát nhuộm màu, (3) hạt
gạo nhỏ, và (4) vật thể ba chiều, thường là bằng kim loại.
Mandala
cát được nhiều tăng sĩ cùng nhau tạo trong phạm vi của
một nghi lễ lớn nhất định nào đó, chẳng hạn ở đây
là lễ cầu quốc thái dân an với Mandala cát màu Quán Thế
Âm Bồ tát. Để thực hiện Mandala cát này, những tăng sĩ
cần thời gian nhiều ngày liên tục và sau khi hoàn tất, khi
nghi lễ cầu nguyện được kết thúc, nó được phá hủy
ngay. Cát được gom lại và rắc xuống dòng sông.
Mandala
Quán Thế Âm là Mandala trình bày Bồ tát Quán Thế Âm, một
vị Bồ tát có lòng từ bi bình đẳng với mọi chúng sinh
trong mọi quốc độ, ngài là hiện thân của tâm từ bi rộng
lớn, luôn lắng nghe âm thanh khổ đau và lời cầu nguyện,
thị hiện mang hơi ấm và niềm an lạc đến cho chúng sinh.
Theo quan niệm Phật giáo Tây Tạng, Ngài là vị Bồ tát bảo
hộ cho thế gian, cho nền hòa bình và môi trường sinh thái.
Về
nghệ thuật, mỗi Mandala là một tác phẩm tuyệt vời, mang
đặc thù của Phật giáo Tây Tạng. Với tôn giáo, đó là
một nghi lễ được thực hiện bởi những hành giả có định
lực vững vàng, nơi kết tụ năng lượng tâm linh và sức
chú nguyện lớn, có khả năng đem lại sự an lạc cho chúng
sinh, cho đối tượng cầu nguyện.
Kỷ
niệm 100 năm ngày sinh
Hòa
thượng Trí Hải (1906-2006)
Người
có công đầu trong phong trào
chấn
hưng Phật giáo xứ Bắc
Nguyễn
Đại Đồng
Hòa thượng Trí HảI, thế danh Đoàn Thanh Tảo, pháp danh Thích
Thanh Thao, sinh năm 1906 tại làng Quần Phương Trung, xã Hải
Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định trong một gia đình
Phật tử làm nghề nông và dệt vải.
Năm 12 tuổi ngài được song thân gửi vào học ở chùa làng.
Năm 17 tuổi ngài chính thức nhập đạo dưới sự dạy
dỗ trực tiếp của thiền sư Thích Thông Dũng ở chùa Mai
Xá, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Năm sau ngài thụ giới Sa
di ở tổ đình Tế Xuyên, Hà Nam. Năm 20 tuổi ngài thụ đại
giới.
Năm 1930, ngài cùng một số tăng sĩ đứng ra thành lập tổ
chức thanh niên tăng lấy tên là “Lục hòa tịnh lữ”, có
nghĩa là những người trong sạch làm bạn cùng nhau, đi theo
6 phép hòa thuận của đức Phật.
Năm 1931, Hội Nam Kỳ nghiên cứu phật học ra đời ở Sài
Gòn với tờ Từ Bi Âm. Hội mở trường Phật học đào tạo
tăng sĩ trẻ. Năm 1932, Hội Phật học Trung Kỳ và Hội An
NamPhật học Huế cũng được thành lập, ra đời báo Viên
Âm. Hai sự kiện trên đã thôi thúc nhóm “Lục hòa tịnh
lữ” dấn thân vào con đường chấn hưng Phật giáo. Ngài
cùng thượng tọa Thái Hòa, Thượng tọa Hải Châu đi các
nơi vận động thành lập Hội Phật giáo. Ba người lên Hà
Nội, vào các chùa lớn để thuyết phục nhưng đều bị từ
chối. Họ quay sang liên kết với các cư sĩ Lê Toại ở Sở
Đốc lý, Trần Văn Giác (người Trà Vinh, hội viên Hội Nam
Kỳ nghiên cứu Phật học) ở sở Thương Chính và Nguyễn
Hữu Kha ở hiệu sách - nhà in Hòa Ký, Hà Nội để bàn việc
chấn hưng Phật giáo, cũng như ra ban dự thảo, điều lệ...
Cuối năm 1932, họ thành lập Phật học Tùng Thư, tiến hành
phiên dịch kinh sách ra tiếng Việt để truyền bá sâu rộng
trong quần chúng, khi nhân duyên hội đủ và thuận tiện sẽ
lại tiến hành thành lập Hội. Phật học Tùng Thư đã hấp
dẫn nhiều trí thức tân học cũng như cựu học nổi tiếng
Bắc Kỳ lúc bấy giờ như Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Trần
Văn Giáp, Nguyễn Văn Ngọc...
Sau một thời gian đóng tại chùa của sư thầy Nguyễn Thị
Đoan, tháng 5 năm 1934, nhân ngày Khánh đản Đức Phật Thích
Ca, Phật học Tùng Thư làm lễ nhập tự, chuyển trụ sở
từ chùa Mai Xá về chùa Quán Sứ. Ngày 6 tháng 11 năm 1934,
nhà cầm quyền ra Nghị định số 4283 cho phép thành lập Hội
Phật giáo Bắc Kỳ, do tổng đốc trí sĩ Nguyễn Năng Quốc
làm Chánh Hội trưởng với 32 thành viên sáng lập, 10 Ban chuyên
môn giúp việc, trụ sở lâm thời đặt tại chùa Quán Sứ.
Ngày 23.12.1934 (17.11 âm lịch) nhân ngày Khánh đản Đức Phật
A Di Đà Hội làm lễ ra mắt.
Từ 1935 đến năm 1945, Thượng tọa Trí Hải đã cùng Ban Quản
trị Trung ương Hội Phật giáo Bắc Kỳ chấn hưng Phật giáo
xứ Bắc với các thành tựu: suy tôn Thiền Gia Pháp Chủ Thích
Thanh Hanh; ra báo Đuốc Tuệ, Tinh Tiến; lập nhà in Đuốc Tuệ
xuất bản kinh sách chữ quốc ngữ; lập trường Tăng học
và Ni học với 3 cấp tiểu học, trung học, đại học; xây
dựng chùa Quán Sứ - Hội quán Trung ương, và nhiều tùng lâm
khác; làm công tác từ thiện cứu tế xã hội; xây dựng các
chi hội Phật giáo địa phương...
Sau Cách mạng Tháng 8 - 1945, Ngài được mời làm cố vấn
Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội trong Chính phủ lâm thời.
Ngài cùng cư sĩ Thiều Chửu ra nguyệt san Diệu Âm.
Cuối tháng 2 năm 1947, sẻ chia gánh nặng với cư sĩ Thiều
Chửu - Nguyễn Hữu Kha, ngài cùng đại đức Tâm Giác xuống
Đan Thầm, Thanh Oai, Hà Đông đưa hơn 30 em từ 10 tuổi trở
lên tản cư kháng chiến về chùa Đông Kiệt, Khoái Châu, Hưng
Yên, rồi sang cơ sở của Hội ở huyện Phù Dực, Thái Bình
về chùa Mai Xá, Hà Nam dạy các em học và làm nghề thủ công
sinh sống.
Tháng 8.1949, ngài lên Hà Nội tiếp tục Phật sự tại chùa
Quán Sứ; thành lập trường tiểu học Khuông Việt; hướng
dẫn lập Gia đình Phật hóa phổ; lập trường Ni học Vân
Hồ; tái lập xưởng in Đuốc Tuệ; thỉnh bộ Tân tu Đại
Chính Đại tạng toàn tạng hơn 2 vạn quyển cho chùa Quán
Sứ.
Năm 1951, ngài tham gia Hội nghị Phật giáo thống nhất toàn
quốc họp ở chùa Từ Đàm, Huế từ ngày 6-9/5, ngài được
bầu làm Phó Hội chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam.
Năm 1952, ngài tham gia đại hội thành lập Tăng già toàn
quốc họp tại chùa Quán Sứ từ 8 – 14.9, Thượng tọa được
bầu làm Trị sự trưởng Hội đồng Trị sự GHTG Việt Nam.
Năm 1953, ngài làm Trưởng ban hưng công xây dựng trường Vạn
Hạnh - chùa Hàm Long, và phó trụ trì chùa Quán Sứ, Hà Nội.
Hòa thượng Trí Hải không những thành tựu nhiều Phật sự
xuất sắc mà còn một nhà văn hóa với hơn 40 tác phẩm thuộc
các loại văn vần, văn xuôi, kinh sách dịch và một số tài
liệu khác trong đó có cuốn Hồi ký thành lập Hội Việt
Nam Phật giáo và cuốn Phật giáo Việt Nam, giúp cho chúng ta
tìm hiểu về lịch sử Phật giáo xứ Bắc và tinh thần “nhân
gian Phật giáo” của các bậc cao tăng tiền bối. Rất mong
một ngày gần đây, phân viện Nghiên cứu Phật học sưu tầm
đủ và sớm ra mắt Toàn tập Trí Hải.
Hòa thượng Trí Hải một người suốt đời vì Phật sự,
coi “thiền môn là bất biến”, không xu thời, không ham danh
vọng địa vị, luôn sống một cuộc đời thanh bạch, giản
dị, khiêm tốn, được mọi người kính trọng. Trước ngày
đi xa, Hòa thượng có Di chúc gọi là Lời để lại: “...Thân
tứ đại này tôi xin hoàn lại cho tứ đại.... Hiện nay tôi
còn một cái xe đạp và một cái đài (bán dẫn). Đài thì
tôi cho sư ông Tính, còn xe đạp thì nhờ sư ông bán đi lấy
tiền tống táng... Nguyện đời đời sẽ được cùng
các thiện trí thức cùng tu theo Phật pháp, cùng làm việc
lợi ích chung, mong sao chuyển từ thế giới khổ não đều
trở thành thế giới Phật, hết thảy chúng sinh đều cùng
chứng thành đạo quả”.
Hòa thượng lâm bệnh và viên tịch ngày 7 tháng 6 năm Kỷ
Mùi (30.6.1979), 74 năm trụ thế, 57 năm hoằng đạo, ngài đã
hiến dâng cho sự trường tồn của Phật giáo tiếp bước
cho lý tưởng cứu nhân độ thế của đức Phật Thích Ca.
Nhân
kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ngài, ngày 27-6-2006, tại Hà
Nội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Viện Nghiên cứu Tôn
giáo đã tổ chức Hội thảo khoa học “Sa môn Trí Hải và
phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam” để khẳng
định những đóng góp to lớn của ngài trong công cuộc chấn
hưng Phật giáo miền Bắc.
Lý
Thường Kiệt
(1019
- 1105)
Phước
Cảnh
Lý
Thường Kiệt là người có công rất lớn trong việc
sáp nhập 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Quảng Trị) vào bản đồ Đại Việt trong chiến dịch
Nam tiến của Lý Thánh Tông năm 1069. Trong cuộc chiến tranh
vệ quốc 1075 - 1077, uy danh của ông đã làm cho quân Tống
khiếp sợ không chỉ với phòng tuyến trên sông Như Nguyệt
mà còn lừng lẫy khắp 3 châu Ung, Khâm, Liêm trên đất Trung
Hoa. Đến khi làm Tổng trấn Thanh Hóa, ông lại dùng lòng từ
để "khoan nới" sức dân, và đã cùng nhân dân dựng lên tại
đây 3 ngôi chùa: Báo Ân, Linh Xứng, Hương Nghiêm để "báo
ân Phật, đền ơn vua", lại vừa "tạo nên một thắng cảnh
khiến lân bang khâm phục", như chính lời tâm sự của ông
mà văn bia chùa Linh Xứng hiện còn ghi lại...
Tại
Hà Nội, đường Lý Thường Kiệt hiện nằm trên địa bàn
Quận Hoàn Kiếm, là một con phố khá lớn, kéo dài từ đường
Lê Thánh Tông đến đường Lê Duẩn, ngang qua bên hông phải
chùa Quán Sứ. Ngôi đền thờ ông hiện nằm tại làng Ngọ
Xá, huyện Hà Trung, Thanh Hóa - nơi ông đã gắn bó trong suốt
20 năm cuối đời của mình khi ra làm Tổng trấn tại đây.
Lý
Thường Kiệt là một danh tướng, một nhà chính trị và quân
sự lỗi lạc dưới thời nhà Lý. Ông vốn họ Ngô, tên
Tuấn, tự Thường Kiệt, xuất thân trong một gia đình võ
tướng tại làng Cơ Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội (sau chuyển
về ở tại phường Thái Hòa, kinh đô Thăng Long). Do lập nhiều
công trạng, được ban họ vua, lấy tự làm tên, nên từ đó
người ta quen gọi ông là Thái úy Lý Thường Kiệt.
Thuở
nhỏ, Lý Thường Kiệt đã biểu lộ tư chất khác thường,
thông minh tuấn tú, say mê võ nghệ, binh pháp. Năm 20 tuổi,
ông được tuyển vào triều làm Hoàng môn, hầu hạ vua Lý
Thái Tông, dần dần được thăng trải qua các chức vụ quan
trọng: Thái bảo, Tể tướng, Thái úy đồng trung thư môn
hạ bình chương sự, Đại tư đồ, tước hiệu Thượng phụ
công, thống lĩnh toàn quyền hai hàng văn võ.
Trong
Lịch triều hiến chương loại chí, khi viết về ông, Phan
Huy Chú đã có nhận định rằng: "ông là người giàu mưu
lược lại rất có biệt tài làm tướng súy, từng làm quan
trải thờ đến 3 đời Hoàng đế, phá Tống bình Chiêm, công
lao đức vọng ngày một lớn, được sủng ái, thật xứng
là người đứng đầu các công hầu vậy".
5 năm
sau ngày đại thắng trên sông Như Nguyệt, vào năm 1082, theo
ý chỉ vua Lý Nhân Tông và Thái hậu Ỷ Lan, ông rời Thăng
Long vào trấn nhậm đất Thanh Hóa nhằm ổn định các tỉnh
biên giới phía Nam. Công việc đầu tiên mà Lý Thường Kiệt
phải làm khi vào trấn nhậm vùng đất này là vận dụng tinh
thần Từ bi, Bình đẳng của Phật giáo để giải quyết ngục
tụng công bằng, giáo hóa kẻ gian ác nhằm ổn định an ninh
chính trị, quan tâm đến nghề nông để người dân có được
cuộc sống ấm no. Đặc biệt, Lý Thường Kiệt rất quan tâm
đến đời sống tâm linh của người dân ở vùng đất này,
việc ông đứng ra vận động nhân dân xây dựng chùa Báo
Ân ở núi An Hoạch, chùa Hương Nghiêm ở núi Càn Ni và chùa
Linh Xứng ở Ngưỡng Sơn là một minh chứng.
Thiền
sư Pháp Bảo, một người bạn, đồng thời là vị quân sư
có mối quan hệ rất mật thiết với ông, và là tác giả
của 3 bài văn bia tiêu biểu thời Lý, đã hết lời ca tụng
công đức của Lý Thường Kiệt qua nội dung văn bia chùa Linh
Xứng ở Ngưỡng Sơn, Thanh Hóa: "Thái úy vào trong thì sáng
suốt khoan hòa, ra ngoài thì nhân từ giản dị, đổi dời
phong tục nào có quản công, việc gì cũng siêng năng, sai bảo
dân thì ôn hòa, cho nên trăm họ được cậy nhờ chẳng phải
ít..." Và đối với Phật giáo, Thái úy tuy "thân vướng việc
đời mà lòng vẫn luôn hướng về Tam thừa,... vâng chỉ của
Hoàng thượng và Thái hậu mà không ngừng hộ trì Phật pháp...".
Lý
Thường Kiệt mất năm 1105, chùa Linh Xứng do ông xây dựng
đến nay tuy không còn, nhưng tấm bia ghi lại dấu tích ngôi
chùa này, ghi lại công đức "hộ quốc an dân" của ông do
Thiền sư Pháp Bảo biên soạn từ thế kỷ XI hiện vẫn còn
được bảo lưu nguyên trạng tại Bảo tàng Lịch sử Việt
Nam. Chỉ còn 4 năm nữa là chúng ta kỷ niệm 1000 năm Thăng
Long - Hà Nội, mong sao chùa Linh Xứng ở Ngưỡng Sơn, Thanh
Hóa sớm được phục hồi, để cảm niệm công đức của
ông, và cũng hợp với ý nguyện của Lý Thường Kiệt khi
rời Thăng Long vào trấn nhậm vùng đất này.
Tình
yêu rộng lớn: Làm thế nào để bắt đầu (Dalai Lama)
NHÌN
XE TANG QUA PHỐ
Nguyễn
Ngọc Quý
Một
chuyến xe tang đi qua là chở một thân phận đi qua. Một chuyến
xe tang đi qua, để lại sau họ những mất mát, buồn thương
không gì bù đắp được. Và đằng sau chuyến xe tang ấy có
biết bao những chuyện đời vui buồn.
Mỗi
khi thấy chiếc xe tang nào đi qua, tôi lại không thể quên
được câu chuyện trong kinh Phật kể về một người mẹ
đáng thương, ôm xác đứa con xinh xắn của mình chạy khắp
nơi để tìm thuốc hồi sinh. Khi nghe nói Đức Phật có phương
thuốc làm cho người chết sống lại, người mẹ đã đem
xác con mình đến tận nơi để cầu xin sự cứu giúp. Đức
Phật không từ chối mà cũng không có ý định gạt ngay sự
mất mát bi thương ra khỏi lòng người mẹ. Người chỉ có
một yêu cầu, nếu người phụ nữ ấy có thể tìm được
những hạt cải trong một gia đình chưa từng có người thân
nào qua đời, thì hãy mang những hạt cải đó về, Người
sẽ dùng chính những hạt cải ấy để làm cho đứa bé sống
lại. Người mẹ mừng rỡ ôm xác con đi tìm khắp trong làng
ngoài thôn, nhưng trớ trêu, không một gia đình nào có thứ
hạt cải ấy, vì không ít thì nhiều trong đời có ai không
một lần phải chứng kiến cảnh mất người thân. Người
phụ nữ đã nhanh chóng giác ngộ ra sự thật đó. Sau khi chôn
xác đứa con bé bỏng của mình xong, bà đã đến đảnh lễ
và quy y với Đức Phật.
Mỗi
khi thấy chiếc xe tang nào đi qua, tôi lại nhớ đến câu thơ
của Đỗ Trung Quân: “… Ngả nón đứng chào xe tang qua phố.
Ai mất mẹ sao lòng ta hoảng sợ. Ngày tháng kia bao lâu nữa
của mình…”. Đó là tâm trạng của một người con sợ
chứng kiến cảnh một ngày kia mình sẽ không còn mẹ, sẽ
mồ côi, sẽ bơ vơ… Nhưng mồ côi, bơ vơ có ý nghĩa gì
bằng khi một ngày kia người con không được chăm sóc mẹ,
không được chia sẻ những vui buồn trong đời với mẹ, hay
chỉ đơn giản là không được chào hỏi mẹ mỗi khi đi -
về, không được nhìn thấy mẹ vui khi ăn một món thật ngon
do tự tay mình nấu, mặc một chiếc áo thật đẹp do tự
tay mình mua… Bản thân tôi phải sống xa mẹ, nên tự hổ
thẹn khi không làm được những điều đơn giản nhất. Trong
cuộc sống tha hương bận rộn của mình, tôi chỉ biết hằng
đêm dành mấy mươi phút để niệm Phật và nhớ nghĩ về
mẹ. Mỗi khi tôi vấp ngã, nghĩ đến mẹ là tôi lại tự
mình đứng dậy. Mẹ là Phật. Mẹ thương con như Phật thương
chúng sinh. Biết vậy mà tôi vẫn có tâm trạng hoảng hốt
như nhà thơ kia.
Mỗi
khi thấy chiếc xe tang nào đi qua, tôi lại nghĩ đến những
tiếng kêu đớn đau bật ra thành lời, hay còn nghẹn lại
ở trong lòng những người vợ khóc chồng. Và đâu đó, tiếng
khóc vợ bi ai ngày nào của Phạm Thái (1777-1813) trở về:
“Ta hăm hở chí trai hồ thỉ, bởi đợi tình cho nấn ná
nhân duyên; mình long đong thân gái liễu bồ, vì giận phận
hóa ngang tàng tính mệnh. Cho đến nỗi hoa rơi lá rụng, ngọc
nát châu chìm, chua xót cũng vì đâu, não ruột cũng vì đâu?
Nay qua nấm cỏ xanh, tưởng người phận bạc, sụt sùi hai
hàng tình lệ, giãi bày một bức khốc văn, đốt xuống tuyền
đài tỏ cùng nương tử”. Tiếng khóc thương của người
xưa vẫn còn cho tôi một chút niềm tin rằng, lời đồn về
những quý ông thời hiện đại, vợ tuy còn đó, môi vẫn
đỏ, má vẫn hồng mà đã thay lòng đổi dạ, không phải
là phổ biến.
Mỗi
khi thấy chiếc xe tang nào đi qua, tôi lại nhớ đến lời
chiêu hồn tha thiết của cụ Nguyễn Du: “Mỗi người một
nghiệp khác nhau. Hồn siêu phách lạc biết đâu bây giờ?”.
Cái nghiệp mà cụ nói ở đây là cái nghiệp tự tạo: thiện
có ác có, xấu có tốt có. Tuy khác nhau là như thế nhưng
chết đi thì đều bi thương cả. Cụ chiêu hồn từ những
người “mũ cao áo rộng”, lính thú chinh chiến, đến những
người “buôn son bán phấn”, người đi ở, người cô thân,
người vô tình chìm sông lạc suối, người có đẻ không
nuôi… Và những cảnh đời khác nhau đầy bi thương, trắc
ẩn ấy, đã đưa chữ nghiệp của Nguyễn Du bao trùm lên mọi
thân phận trong xã hội. Nhưng cụ không lên án điều gì cả.
Cụ chỉ đặt câu hỏi để người đời sau tự trả lời:
“Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?”, “Kiếp nào cởi
được oan tình ấy đi?”, “Hồn đường phách xá lạc loài
nơi nao?”…
Tôi
cũng như bao nhiêu người khác, đều có một lý lịch về
nghề nghiệp…, nhưng tôi chỉ biết chăm chăm với nghề mà
quên đi nghiệp đang tạo của mình. Hàng ngày, đọc những
trang báo đầy những cảnh giết nhau một cách tàn nhẫn mà
không khỏi băn khoăn về lòng nhân trong cuộc sống. Đó là
hệ quả của sự dồn tụ biết bao nhiêu cộng nghiệp, biệt
nghiệp. Nhưng tôi vẫn thảng thốt, không biết lấy nghiệp
nào để lý giải khi 5 cô bé tuổi còn chuồn chuồn kim đã
rủ nhau cùng nhảy sông tự tử. Và một lần nữa, câu hỏi
của cụ Nguyễn Du vẫn từ mấy trăm năm qua vẫn còn đang
bỏ ngỏ… Ai cũng muốn trở thành người hiểu được Tố
Như. Nhưng phải chăng khóc Tố Như chính là chuyện khóc đời,
thương đời? Tôi chỉ biết theo cụ niệm tiếng nam mô để
hóa giải những bàng hoàng trong tinh thần, để có nhiều hơn
niềm tin yêu ở mỗi con người.
Mỗi
khi thấy chiếc xe tang nào đi qua, tôi lại đem cái nhìn bình
đẳng của cụ Nguyễn Du mà niệm Phật, răn mình. Trong xe
tang ấy, có người đang viết lên lịch sử cuộc đời mình,
có người bị đời ruồng bỏ, lãng quên; có người đã từng
đầm ấm hạnh phúc, có người tủi phận cô đơn; có người
ác, có người hiền… Nhưng họ đều đã có nơi để đi
về theo nghiệp riêng của mình. Bất kể những chiếc xe tang
nào đi qua, người nằm đó, có tôn giáo, tín ngưỡng hay không,
tôi đều dành cho họ một câu niệm Phật. Có những điều
tẻ nhạt, có những sự thú vị nơi mỗi cái chết, nhưng
đó đều là những đối thoại không dứt với riêng tôi về
thân phận con người. Tôi nghĩ rằng, cái chết đến với
con người cũng không phải là chuyện hoàn toàn đau khổ, vì
chỉ có ở đó, mọi toan tính ích kỷ, mọi hờn ghen, thù
hận, mọi công danh, tiền bạc mới trở nên vô nghĩa…
Nhưng
cũng mỗi khi thấy xe tang qua phố, tôi lại vô tình chạm phải
những ánh mắt không vui nhìn vào đoàn người đang đi, xem
đó như là hành vi làm kẹt giao thông. Đằng sau con mắt ấy
là gì…, tôi không hiểu. Có lẽ nào, sự bận rộn của cuộc
sống mưu sinh đang chia tách con người ra thành từng mảng,
đến nỗi phải giành sống với người chết để đi, mặc
dù chỉ mất có 5 phút đoạn đường. Cuộc sống còn rất
nhiều liên đới với nhau, mà ở đó, nghĩa tử luôn là nghĩa
tận, và bởi cái chết còn cho ta hiểu thêm về tình bằng
hữu, tình hàng xóm láng giềng. Xin hãy ngả nón tiễn biệt
nhau, không phải với ánh mắt của những người xa lạ, vô
tình.
Cũng
như những lần khác, hôm nay tôi lại “ngả nón đứng chào
xe tang qua phố” và thêm một tiếng niệm Phật, một lời
nguyện cầu, mong người ra đi sẽ bỏ qua tất cả vui buồn
trong kiếp sống mà để lòng thanh thản. Nhìn chiếc xe tang
dần xa khuất, tôi chợt hiểu chúng ta không phải là những
người tù của bản thân mình. Cuộc sống tốt đẹp còn ở
mãi ngoài kia…
PHẬT
GIÁO UGANDA
Đỗ
Thị Kim Thư
Uganda
là một trong 4 nước có tổ chức Phật giáo vừa mới gia
nhập Thượng đỉnh Phật giáo (Buddhist Summit - vốn đã có
26 quốc gia có tổ chức Phật giáo là thành viên, trong đó
Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một trong những thành viên
sáng lập). Phật giáo Uganda còn đang ở thời kỳ đầu của
việc thành lập nhưng chúng ta có thể lạc quan vì ánh đạo
vàng Phật giáo đang có sức lan tỏa đến Uganda cũng như đến
lục địa đen vốn phải chịu nhiều bất hạnh…
Trung
tâm Phật giáo Uganda
Trung
tâm Phật giáo Uganda là Trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Uganda
do Thượng tọa Buddharakkhita sáng lập vào ngày 10.04.2005 với
sự ủng hộ nhiệt tình của nhóm Phật tử tiên phong, đứng
đầu là Felista Nampiima và Joyce Nakatte. Lúc ấy, họ tạm thuê
khuôn viên ở đường Bombo cách trung tâm thành phố Kampala
5 dặm. Trung tâm mở cửa cho tất cả những ai mong muốn xây
dựng hòa bình, hòa hợp và hạnh phúc.
Mục
đích của Trung tâm Phật giáo Uganda như sau:
- Truyền
bá Phật pháp ở Uganda và ở các nước khác ở châu Phi.
- Xây
dựng một ngôi chùa Phật giáo để Tăng Ni và Phật tử có
thể sống ở đó và thực hành Phật pháp tại Uganda.
- Cung
cấp các trú xứ Thiền quán và chương trình nghiên cứu Phật
học cho quần chúng.
- Cung
cấp chỗ cho một số ít cư sĩ muốn tham gia vào hoạt động
của Trung tâm.
- Tổ
chức các hoạt động xã hội và văn hóa.
Thượng
tọa Buddharakkhita
Thượng
tọa Buddharakkhita là một tu sĩ Phật giáo Nguyên thủy, sinh
năm 1966 tại Uganda, mang quốc tịch của nước này. Năm 1990,
Sư sang Ấn Độ. Tại đây, Sư khởi đầu cuộc hành trình
tâm linh với nhiều vị thầy tâm linh. Sau đó ngài nhập tu
viện dưới sự dẫn dắt của Đại sư Pannidipa ở Trung tâm
Thiền định Như Lai, San Jose, U.S. và thọ nhận giáo hàm cao
hơn dưới sự giám hộ của giáo thọ sư là Cố Đại sư
U Silananda. Sư thọ Đại giới Tỳ kheo theo truyền thống Nam
tông. Từ đó, Sư tu tập dưới sự dẫn dắt của Sư Gunaratana.
Sư cũng đã tu tập với nhiều bậc thầy lỗi lạc như
Đại sư U Pandita ở Myanma cũng như ở Hoa Kỳ.
Năm
ngoái, Sư xây dựng Trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Kampala,
Uganda. Sư là chủ tịch và là người sáng lập Trung tâm Phật
giáo Uganda. Ngày nay tại Uganda Sư có nhiều đồng bào Phật
tử Uganda. Hơn nữa, có hơn 50 Phật tử châu Á đang cùng làm
việc tại đây. Hiện nay, Sư trú tại Kampala, Uganda. Những
hoạt động mới đây của Sư bao gồm phụ trách khóa giảng
dạy và nhập môn thiền học cho người bản xứ ở trong nước
và ở Đông Phi; hướng dẫn các nhóm nghiên cứu Phật pháp
một hoặc hai lần mỗi tuần; viết một cuốn sách nhỏ nhan
đề “Gieo trồng hạt giống Phật pháp: Phật giáo châu Phi
vươn mình”; xây dựng trung tâm Phật giáo Uganda; thuyết giảng
về Bản chất và ý nghĩa của Phật giáo châu Phi tại Viện
Đại học Marakere, Uganda và nhiều hoạt động khác. Sư cũng
dành thời gian trong năm để tu tập và thuyết pháp tại Hội
Bhavana ở West Virginia, Hoa Kỳ.
Là
tu sĩ Phật giáo đầu tiên ở Lục địa châu Phi, Sư và các
hoạt động của Sư được nêu bật với nhan đề: “Vị
Tăng sĩ đầu tiên của châu Phi” trong New Vision và trong Sunday
Vision, nhật báo và tuần báo của nổi tiếng tại Uganda.
Vị
Tăng sĩ đầu tiên của châu Phi
Tại
Uganda, Sư thường bị các tài xế taxi không chịu cho lên xe
và nhiều người phải sợ và bỏ chạy khi nhìn thấy Sư.
Sư không phải là một thầy mo ác độc hay một người chết
đang đi như phần đông người gán cho Sư do vì bộ y nâu sồng,
chiếc quạt, chiếc đảy nâu và chiếc bình bát tròn bằng
kim loại của Sư. Sư là vị Tăng sĩ đầu tiên của châu Phi.
Khi
tôi trông thấy Sư lần đầu tiên, tôi nghĩ rằng Sư đang
tìm kiếm vật gì đó mà Sư đã đánh rơi. “Nơi nào tôi
bước được 10 bước trong một giờ thì, mắt nhìn xuống
dưới cách bàn chân tôi vài mét để được chú tâm thì nơi
ấy được gọi là con đường Thiền”. Thượng tọa Buddharakkhita
mà trước kia là Steven Kabogozza giải thích như thế.
“Tôi
vốn là một thợ lặn”, Sư tiếp tục giải thích, “Tôi
có thể được trả 1.500 USD mỗi tháng và đấy là một công
việc tốt. Nhưng tôi đã bỏ hết vì giáo pháp của Đức
Phật, nhằm đạt tới hàng Thánh giả thứ tư trong Phật giáo
- A la hán - và sống cuộc đời giản dị, thuần khiết của
một Tăng sĩ”.
Sư
kể: “Vào tuổi 39, tôi trở thành vị tu sĩ da đen đầu tiên
được Tiến sĩ Alex Berzin ở Hoa Kỳ truyền giới. Pháp danh
của tôi có nghĩa là “Hộ trì Đức Phật”.
Vào
lúc Sư cải sang đạo Phật vào năm 1990, Sư không nghĩ
rằng ngài sẽ đạt tướng cấp Tăng sĩ.
Sư
nói tiếp: “Nhưng sau khi nghiên cứu Phật giáo và hiểu rằng
chúng ta sống nhiều đời và rằng những gì chúng ta làm trong
các đời trước có ảnh hưởng đến những gì chúng ta làm
trong đời kế tiếp, tôi nhận thấy thông điệp này thật
rõ ràng và tôi phải đạt được cấp cao nhất trong niềm
tin; tôi phải trở thành một Tăng sĩ”.
Sư
cho biết: “Chúng tôi nguyện không ăn sau giờ ngọ cho nên
chúng tôi dùng bữa trưa lúc 11 giờ và sau đó chúng tôi chỉ
được dùng thức uống. Điều này đảm bảo cho chúng tôi
Thiền định mà không bị trở ngại. Lại cũng vì chúng tôi
được cung cấp thức ăn miễn phí cho nên chúng tôi ăn mỗi
ngày một bữa để không gây gánh nặng cho thí chủ”…
Nhận
định về Đại tạng kinh Phật giáo, Sư Budddharakkhita nói:
“Đây là một cuốn sách đồ sộ, lớn gấp 11 lần bộ Thánh
kinh của Thiên Chúa giáo, cho nên chỉ được cất giữ trong
chùa. Chúng tôi đọc và suy nghĩ các chương kinh. Chúng tôi
che miệng bằng một cái quạt trong khi tụng đọc kinh và nhắc
nhở các tín đồ rằng lời kinh là lời Phật dạy chứ không
phải lời các vị Sư. Lời kinh bằng Pàli ngữ, ngôn ngữ
của Đức Phật”.
Sinh
ra ở Uganda, vốn là một cựu học sinh các trường tiểu học
và trung học Rubaga Boy, St. Henri Kitovu và Ndejje, Thượng tọa
Buddharakkhita không thể đụng chạm hay một mình ở gần một
phụ nữ.
Một
ngày của ngài bắt đầu từ 4 giờ sáng. Sau khi Thiền định
và thanh tịnh tâm, Sư thực hiện thiền hành và đi khất thực.
Tuy nhiên, ở Uganda, Sư phải tự mua các thứ cho bữa ăn của
mình.
(Theo
HT. Wragoda Sarada)
500
VÕ SINH HOA KỲ HÀNH HƯƠNG
ĐẾN
CHÙA THIẾU LÂM
Nhân
ngày Quốc Khánh lần thứ 230 của Mỹ, 500 võ sinh thuộc môn
phái Thiếu Lâm ở Hoa Kỳ đã hành hương về vùng đất khai
sinh nền võ thuật Thiếu Lâm Trung Hoa. Họ đã dừng chân tại
ngôi chùa Thiếu Lâm nổi tiếng tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.
Dưới
sự chứng minh của Hòa Thượng viện chủ chùa Thiếu Lâm
- Ngài Thích Vĩnh Tân, các võ sinh Hoa Kỳ đã trình diễn tài
năng của mình qua các môn võ như: đao pháp, xà quyền và các
thế võ tự vệ. Đại sư trụ trì đã tâm sự với họ: “
Chuyến hành hương này sẽ giúp ích cho các bạn hiểu biết
thêm về phong cách truyền thống của Đông phương, nghi lễ
văn hóa và võ đạo”. Đồng thời, Ngài khuyến khích các
võ sinh Hoa Kỳ nên kết hợp nền văn hóa cổ đại Đông phương
với nền văn hóa hiện đại để cống hiến cho nhân sinh
có cuộc sống hòa bình và hạnh phúc. Đồng thời, Ngài khen
ngợi sự tiến bộ của Yandeng (Charles Mattera) và Yandi, (Stephen
Demasco) hai võ sư Thiếu Lâm người Mỹ đã cải đạo, quy
y Tam Bảo tại chùa Thiếu Lâm từ năm 2002.
Phái
đoàn đã đến chùa Thiếu Lâm đúng vào ngày Quốc Khánh Hoa
Kỳ lần thứ 230. Võ sư Yandeng nói: “ Tôi rất vui khi chào
đón ngày lịch sử trọng đại tại một ngôi chùa đã khai
sáng ra môn võ Thiếu Lâm. Môn võ này đã thắt chặt mối
quan hệ hai quốc gia chúng tôi và hi vọng rằng chúng ta có
thể sống chung trong nền hòa bình miên viễn”.
Được
thành lập cách đây khoảng 1.500 năm, chùa Thiếu Lâm rất
nổi tiếng về việc phối hợp võ thuật và Thiền học Phật
giáo nhằm thanh tịnh hóa tâm hồn.
Các
võ sinh Hoa Kỳ từ 5 đến 62 tuổi đang sinh sống trong 30 tiểu
bang sẽ được 18 võ sư chùa Thiếu Lâm hướng dẫn thêm
3 ngày tại chùa Thiếu Lâm. Hiện tại, họ là những võ sinh
của United Studios of Self Defense, trung tâm đào tạo võ Thiếu
Lâm có nhiều chi nhánh trên 46 tiểu bang của nước Mỹ.
Quảng
Đạt dịch.
(Theo
Xinhua News Agency, 5-7- 2006)
ĐÁP
SỐ CUỘC ĐỜI
Thảo
Vy
Có
nhiều người thấy xấu hổ vì cha mẹ nghèo, thất học, hoàn
cảnh khó khăn. Có người cảm thấy xấu hổ vì nước da
màu, vì lùn thấp…, hay oán trời trách đất vì mình đã
ở nhầm nhà, đi nhầm con đường, “sinh nhầm thế kỷ”…
Nhưng khó khăn hay thuận lợi phụ thuộc rất nhiều vào yếu
tố nội lực của cá nhân. Và cuộc đời là sự báo đáp
cho những ai có tư duy đúng đắn và nỗ lực tốt.
Theo
Inamori Kazuo, cuộc đời bao gồm nhiều sự thử thách. Đối
với ông, thử thách là một phần tất yếu của cuộc sống,
và con người phải tập sống chung với nó. Quan điểm này
có lẽ chịu ảnh hưởng từ vị thầy Nishikata.
Năm
1985, công ty Kyocera mặc dù đã sản xuất một loại dụng
cụ giúp ích cho các bệnh nhân nhưng lại bị phê phán nặng
nề vì vi phạm quy định về giấy phép sản phẩm. Ông đến
viếng chùa và kể lại tình hình, vị sư già chẳng những
không an ủi mà còn nói: “Này, tôi nói để anh biết,
việc gặp gian nan chính là bằng chứng chứng tỏ mình đang
sống đấy”. Điểm đặc biệt mà ông nói tới là không
chỉ khó khăn mới là thử thách, mà cả các thuận lợi cũng
là thử thách. Ông viết: “Con người thường ngạo mạn và
xa hoa vì gặt hái thành công và có địa vị từ quá sớm…;
mới vừa thành công đã lên mặt huênh hoang. Như thế thì
thành công cũng chỉ đến trong phút chốc. Đến cả tài sản
và địa vị phải vất vả lắm mới có được cũng sẽ biến
mất lúc nào không hay”. Và ông kết luận: “Có không ít
người… mới 30 tuổi đã có tài sản hàng trăm tỷ yên.
Đối với những người trong cuộc như anh ta thì sự thành
công cũng là một thử thách”.
Quan
điểm của Inamori là một quan điểm tích cực. Đối với
ông, hoàn cảnh là thử thách mà thử thách là vấn đề mỗi
người cần phải đối diện để chủ động điều chỉnh.
Có nhiều người thấy xấu hổ vì cha mẹ nghèo, thất học,
hoàn cảnh khó khăn. Có người cảm thấy xấu hổ vì nước
da màu, vì lùn thấp…, hay oán trời trách đất vì mình đã
ở nhầm nhà, đi nhầm con đường, “sinh nhầm thế kỷ”.
Đấy là những thử thách liên quan đến thân thế của cá
nhân. Còn có những thử thách mang tính cộng đồng.
Ở
Việt Nam, sau chiến tranh, các khó khăn đã làm nảy sinh tâm
lý thông thường là đổ hết mọi thứ cho hoàn cảnh và chờ
hoàn cảnh thay đổi. Trong các hoạt động của đời sống,
ta thường nghe than van: “điều kiện khó khăn, chính sách
không đúng, cơ cấu không hợp lý…, vì thế mà tôi không
thể làm việc được, không thể sống được…, tôi phải
đi chỗ khác, làm việc khác”.
Tâm
lý thụ động quả là rất nặng. Thậm chí, trong những người
được xã hội ưu đãi, những “hạt giống đỏ”, được
cấp học bổng từ 40.000-50.000 USD/ người để đi học
nước ngoài cũng có những ý kiến phát biểu: “Nếu thành
phố không quan tâm đầu tư thì liệu những người trẻ như
chúng tôi có khả năng phát triển hay không?”; và cho rằng
chương trình đào tạo 300 tiến sĩ, thạc sĩ cần công khai
mức lương để những người trở về không bất ngờ và
yên tâm. Điều đó có nghĩa là: “cứ tạo hoàn cảnh thuận
lợi đi, chúng tôi sẽ cống hiến”. Chúng ta chợt chạnh
lòng nghĩ đến số đông sinh viên. Với học bổng vài trăm
ngàn một tháng, thậm chí nhiều người còn phải đóng học
phí, không được những ưu đãi như các “hạt giống đỏ”,
không biết họ có đủ tư cách để yêu cầu việc công khai
mức lương, cũng như một vị trí làm việc để họ “yên
tâm” học hay không. Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ TP.HCM
cũng phải nói rằng: “Bản thân các hạt giống đỏ không
được thờ ơ, phải xem mình là bộ phận của cả guồng
máy, có thể guồng máy đó chưa tốt thì phải cùng cải tạo
chứ không nên đứng ngoài”.
Bằng
quan niệm đời người là sự sống chung với thử thách, Inamori
Kazuo cho rằng, cuộc đời là sự báo đáp cho những ai có
tư duy đúng đắn và nỗ lực tốt. Khó khăn hay thuận lợi
phụ thuộc rất nhiều (thậm chí hoàn toàn) vào yếu tố nội
lực của cá nhân. Điều đó được biểu thị bằng “công
thức”: Đáp số cuộc đời = Năng lực x Lòng nhiệt
tình x Cách tư duy.
Ông
định lượng “năng lực” theo thang điểm 100. “Lòng nhiệt
tình” ông cũng chấm theo thang điểm 100. Ông phân tích: “Nếu
một người có trí thông minh thấp hơn cả mức trung bình
và chỉ được 30 điểm chẳng hạn. Bù lại điểm về lòng
nhiệt tình là 90 điểm, vì người ấy ham muốn làm việc
gấp mấy chục lần so với người khác, thì điểm cuộc đời
sẽ là 30x90=270”. Trường hợp một người thông minh, có
điểm năng lực 90, nhưng lại cho rằng mình không thể “làm
việc cật lực” thì lòng nhiệt tình chỉ khoảng 10 điểm.
Điểm cuộc đời của người ấy chỉ khoảng 90x10=900. Ông
kết luận: "Tôi luôn nghiệm thấy, người biết rõ những
hạn chế về năng lực của mình, nếu luôn chịu khó, nỗ
lực thì bao giờ cũng có đáp số cuộc đời hơn hẳn những
người thông minh nhưng lười biếng”. Về thông số “cách
tư duy” ông cho thang điểm từ -100 đến +100. Giải thích
về điểm âm trong cách tư duy, ông viết: “Giả dụ, một
người có năng lực tuyệt vời, có lòng nhiệt tình mạnh
mẽ nhưng lại thù oán, căm giận cuộc đời thì đáp số
cuộc đời của người đó là số âm càng lớn”.
Từ
“năng lực” được ông giải thích: “Đó là những gì
bẩm sinh, có sẵn trong con người, bao gồm năng lực mang tính
thể trạng như thần kinh vận động có phát triển hay không,
có khoẻ mạnh hay không…, chứ không phải theo nghĩa đầu
óc có thông minh hay không”. Chiều cao, giọng nói, cơ bắp,
sự hoàn hảo hay thiếu sót của các giác quan… tạo thành
“năng lực” bẩm sinh của một người. Theo ngôn ngữ của
máy tính, thì “năng lực” mà ông đề cập tới ở đây
tương tự như là cấu hình của máy, là phần cứng mà dựa
trên cơ sở đó, các chương trình máy tính hoạt động. Như
vậy, “năng lực” là phần khó thay đổi được, và mọi
người cần phải thừa nhận nó, chứ không mặc cảm nếu
nó không hoàn hảo. Năng lực của một người mà hơi yếu
thì đó cũng là một loại thử thách đối với người ấy.
Công
thức “đáp số cuộc đời” của Inamori Kazuo không đề
cập tới hoàn cảnh bên ngoài. Hoàn cảnh bên ngoài chỉ đóng
vai trò của thử thách. Vấn đề Inamori Kazuo đặt ra là con
người ta phải có hành động như thế nào để tối ưu hóa
hành vi của mình và để điều chỉnh thử thách. Ông tự
dẫn chứng hoàn cảnh của mình, một người có “năng lực
“ không cao. Ông viết: "Thất bại đầu đời của tôi là
việc thi trượt trung học cơ sở. Năm sau thi lại cũng trượt.
Tôi phải học ở trường dự bị. Đến khi thi đại học,
tôi trượt Đại học Quốc gia Osaka và phải thi vào trường
đại học hàng tỉnh. Ra trường tôi cũng trượt trong cuộc
thi tuyển nhân viên của các công ty”. Tuy nhiên, cuộc đời
của ông đã cho thấy, một người năng lực bẩm sinh không
cao cũng có thể đạt được nhiều kết quả to lớn. Tất
cả phụ thuộc vào hai yếu tố còn lại của công thức đáp
số cuộc đời.
Thông
số quan trọng nhất mà Inamori Kazuo đưa vào công thức
là “cách tư duy”. Ông nói: “Sau này, tôi quan tâm sâu
sắc và tìm hiểu kỹ lưỡng về “cái tâm” của con người,
cũng bởi vì ngay từ nhỏ tôi đã ý thức về sự mong manh
của kiếp người”. Theo ông, do định hướng “âm” hay
“dương” của “cách tư duy”, người ta sẽ tạo ra những
vòng tuần hoàn tiêu cực hay tích cực cho cuộc sống của
mình. Inamori Kazuo đã trải nghiệm đoạn kệ đầu tiên
trong kinh Pháp Cú:
Ý
dẫn đầu các pháp
Ý
làm chủ, ý tạo
Nếu
với ý nhiễm ô
Nói
năng hay hành động
Khổ
não bước theo sau
Như
chiếc xe theo chân con vật kéo,
Ý
làm chủ các pháp
Ý
làm chủ, ý tạo
Nếu
với ý thanh tịnh
Nói
năng hay hành động
An
lạc bước theo sau
Như
bóng không rời hình.
Ông
đã trải nghiệm vòng tuần hoàn tiêu cực từ bé. Khi còn
nhỏ, ông bị lao mặc dù rất sợ bị bệnh: “Cứ mỗi khi
đi qua góc nhà nơi chú tôi bị lao nằm đó, tôi lại lấy
hai tay bịt mũi chạy bán sống bán chết, chỉ sợ hít phải
vi trùng lao… Trong khi đó, cha tôi với tình thương em sâu
xa, bất chấp hiểm nguy vẫn chăm sóc chú tôi cho tới phút
cuối cùng. Nhưng vì thế vi trùng lao lại né, không bám vào
ông. Còn tôi, một kẻ chỉ nghĩ tới mình, tìm mọi cách tránh
xa thì vi trùng lao ào tới, bám lấy. Khi đó tôi còn rất nhỏ,
nhưng cũng thấy ra được nhiều điều từ sự việc trên,
và tự tỉnh ngộ đến tận bây giờ”.
Khi
lớn lên đi học, ông gặp vòng tuần hoàn tiêu cực khác.
Khi tốt nghiệp đại học hàng tỉnh Kagoshima lại thi trượt
trong các kỳ thi tuyển vào các công ty. Ông viết: "Có vẻ
như nếu không có thế lực hoặc không quen biết thì dù có
học giỏi, có tốt nghiệp đại học cũng chẳng có đất
dụng võ… Khi đó trong tôi âm thầm dấy lên tâm trạng “xã
hội sao mà bất công đến vậy”. Tất cả những gì tôi
định làm đều trục trặc, đến nỗi tôi hình thành một
đinh ninh quái đản: người ta mà bốc thăm thì thế nào cũng
có lần trúng. Còn tôi dù có được bốc thăm cả trăm lần
cũng trượt. Có làm gì cũng hỏng, như thể cuộc đời tôi
là đồ bỏ đi vậy”. Cuối cùng thì Inamori Kazuo cũng xin
được việc trong công ty công nghiệp Shofu, chuyên sản xuất
sứ cách điện cao áp. Giống như tình trạng sinh viên tốt
nghiệp ở Việt Nam hiện nay, ông tốt nghiệp ngành hóa hữu
cơ, nhưng lại đi làm “trái chuyên môn” ở ngành gốm sứ
trong lĩnh vực hóa vô cơ. Đã vậy, công ty Shofu mặc dù nổi
tiếng nhưng lại đang trong tình trạng tài chính nguy ngập,
đến nỗi nhiều người gặp ông bảo thẳng: “Này, báo trước
cho cậu biết nhé. Làm việc ở cái công ty ấy thì chẳng
ma nào nó chịu lấy cậu đâu”. Trong vòng tuần hoàn tiêu
cực ấy ông mang một nỗi hận đời. Ông từng nghĩ: “Dù
mình có cố đến mấy cũng bị xã hội gạt ra rìa. Hay thử
dấn thân vào con đường Yakuza xem sao - làm một gã maphia có
học có khi lại hay”. Sau đó, ông chán nản nộp đơn vào
trường đào tạo sĩ quan và đã đỗ. Tuy nhiên, anh của ông
đã ngăn cản việc đó. Trong lá thư gửi Inamori, người anh
viết: "Anh luôn tin rằng em sẽ cố gắng làm việc để giúp
gia đình thoát khỏi sự nghèo túng. Cả nhà phải chịu đựng
đủ thứ để em học hết cấp ba, rồi theo học đại học.
Vậy mà mới đi làm được ít bữa em đòi bỏ việc. Em nghĩ
gì vậy? Lẽ ra, chỉ riêng việc xin được vào làm trong công
ty cũng là tốt lắm rồi. Phải có lòng biết ơn mọi người
chứ. Phải siêng năng làm việc…”.
Lá
thư của người anh có tác động sâu sắc đến Inamori. Ông
nghĩ: "Chẳng có chỗ nào khác cho mình tìm đến. Kêu ca mãi
thì cũng đến thế. Thôi từ nay cứ toàn tâm toàn ý tập
trung nghiên cứu tìm ra loại gốm công nghệ cao”. Quyết định
này bắt đầu tạo ra vòng tuần hoàn tích cực trong cuộc
đời ông. Ông viết: "Cũng từ đó, tôi thay đổi hẳn nếp
nghĩ trong đầu bằng cách tự nhủ thầm: thay vì những lúc
rảnh rỗi mình cứ suy nghĩ lung tung thì từ giờ mình sẽ
dùng thời gian ấy để nghiên cứu. Từ đó cuộc sống hàng
ngày của tôi cũng thay đổi. Bình thường cứ hết giờ làm
việc là tôi lại về nhà tập thể để cơm nước, giặt
giũ. Tôi bắt đầu cảm thấy thiếu thời gian kể từ khi
để tâm vào nghiên cứu”. Ông viết tiếp: "Có một điều
lạ là khi tôi bắt đầu miệt mài nghiên cứu thì hàng loạt
kết quả khả quan cứ theo nhau xuất hiện”. Ông được khen
ngợi, và, khi mới 23 tuổi, đã mang trong lòng ý nghĩ: "Sẽ
vực công ty lên bằng kết quả của chính mình”. Một vòng
tuần hoàn tích cực xuất hiện trong con người Inamori, và
ông tâm sự: "Được khen ngợi. Công việc trở nên hấp dẫn.
Càng nỗ lực không ngừng. Về sau nhận thức của tôi ngày
càng sâu thêm: điều quan trọng nhất trong cuộc đời con người
là ở chỗ phải tự tạo ra vòng tuần hoàn tích cực như
vậy cho mình”.
Cách tư duy nào sẽ đươc đánh giá là “dương”? Cách tư
duy theo như Inamori Kazuo đề cập trước hết là sự tư duy
đúng (chánh tư duy): “Nếu sống với lòng thù hận cuộc
đời, nhìn đời bằng lăng kính méo mó thì điểm về cách
tư duy là âm…” . Quan trọng hơn, ông cho rằng cần
phải có một quan điểm đúng (chánh kiến). Ngay từ phần
mở đầu, ông đã nhắc tới quyển sách “Âm chất lục”
nổi tiếng của tác giả Viên Liễu Phàm (Trung Quốc). Ở Việt
Nam, quyển sách này đã được dịch ra với tựa đề “Bốn
bài giáo huấn của người xưa” (NXB Văn Nghệ 2005). Inamori
viết: “Âm chất lục là cuốn sách mà tôi rất thích đọc
và thường hay giới thiệu cho mọi người cùng đọc. Tôi
cũng nghĩ rằng con người có số mệnh. Thế nhưng số mệnh
không phải là điều không thể thay đổi được. Như câu
chuyện đã chỉ ra: nếu ta nghĩ điều thiện, nếu ta làm việc
thiện thì ta sẽ có thể thay đổi được số mệnh và biến
cuộc đời ta thành một thứ còn quý giá hơn cả sự sống
nữa”. Ông giải thích kỹ hơn: "Vậy, thế nào là điều
thiện? Trong ngôn ngữ có hai từ “ích kỷ” và “vị tha”.
Người ích kỷ là người chỉ cần có lợi, chỉ cần tốt
cho riêng mình, còn người khác ra sao cũng được. Người có
tấm lòng vị tha là người khi làm bất cứ điều gì cũng
nỗ lực vì người khác chứ không phải chỉ để thỏa mãn
dục vọng của mình”. Ông nói tới luật nhân quả: "Mọi
người đều biết chân lý: thiện tâm sẽ mang đến kết quả
tốt. Ngạn ngữ Trung Quốc: "Tích thiện dư phúc”. Những
người thiện tâm, luôn làm điều thiện thì nhất định sẽ
hạnh phúc. Điều thiện luôn mang lại lợi ích cho người
thực hành nó”.
Những
điều vừa đề cập là kinh nghiệm bản thân của Inamori.
Khi việc nghiên cứu vật liệu cách điện thành công, công
ty Shofu đã được công ty Matsushita đặt hàng. Với ý nghĩ
tích cực, ông thực sự đã vực công ty Shofu sống dậy. Tuy
nhiên, vào thời điểm đó lãnh đạo công ty và công nhân
thường xuyên mâu thuẫn và hay xảy ra những cuộc đình công.
Trong tình hình như vậy, ông quyế