.
.SỐ 18 -15 THÁNG 7, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
 
SỐ 18 THÁNG 7, 2006

 

 


CỦA BÁU TRONG NHÀ
Thái Kim Lan

“Vốn xã hội” (VXH) là tổng thể những yếu tố hỗ trợ cuộc sống cộng đồng và qua đó đẩy mạnh sự phát triển xã hội (mạng lưới xã hội). Khái niệm này thường được hiểu như tổng thể những tương quan đời sống con người trong cùng một xã hội, bao gồm những gia sản văn minh văn hóa (kinh tế, triết lý sống, đạo đức, phong tục tập quán v.v...)  mà con người trong một cộng đồng hay xã hội đã tạo dựng và phát huy. 

Vừa qua, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo về vấn đề này, GSTS Thái Kim Lan đã có bài tham luận: “Vốn xã hội VIỆT NAM, nguy cơ phá sản và triển vọng phát huy”. Với cái nhìn của một trí thức Việt Nam đang nghiên cứu và giảng dạy ở hải ngoại, tác giả đã đi từ (1) khái niệm VXH, một khái niệm “mốt” trong khoa học kinh tế xã hội, một lý thuyết được định hình cụ thể vào những thập niên 1980 - 1990 với Bourdieu, Putnam ở phương Tây; (2) phân tích  những hiện tượng hao vốn trong bối cảnh xã hội Việt Nam từ 1975; và (3) truy cập lại một “lý thuyết” được xem là mô hình (modele) VXH trong lịch sử  tư tưởng Việt Nam trong triển vọng phát huy VXH để tái khám phá ra khái niệm và dự án VXH, thế kỷ 13, qua tư tưởng Trần Nhân Tông với “Cư trần lạc đạo”, trong xu hướng tìm về suối nguồn tư tưởng dân tộc để giải quyết những khủng hoảng VXH đông thời để xây dựng và phát huy một VXH bền vững dựa vào nội lực dân tộc. VHPG trân trọng giới thiệu đến bạn đọc phần 3 của bản tham luận này.

Vấn đề then chốt của VXH thật sự nằm trong khả năng ứng dụng VXH  mang tính xã hội chân thực, hầu thiết lập một nền hòa bình xã hội toàn diện bảo đảm an sinh và hạnh lạc của cộng đồng. Khả năng ứng dụng nằm trong hai điểm then chốt: mở cửa và hội nhập trong năng động và thức tỉnh, bởi lẽ xã hội là một khái niệm mở. Nhìn toàn diện,  xã hội xuất hiện như một dòng thác đầy sinh động cũng như đa dạng, phức tạp trong sự chuyển tiếp và chuyển biến không ngừng. Cần phải nắm bắt được yếu tính của dòng chảy con người bằng một cái nhìn mới có khả năng tự điều chỉnh và đổi mới: một cái nhìn toàn diện “không bỏ sót một hữu tình nào”!

Những người hoạt động xã hội trên thế giới hiện nay đang nhìn trong khái niệm VXH, một “mốt” mới trong việc tìm hiểu và phát huy VXH như điều kiện cải tạo xã hội trong nghĩa tích cực. 

Có ngạc nhiên không khi ta đã có một của báu trong nhà? Chính khái niệm VXH đã được Trần Nhân Tông trong giai đoạn dựng nước sử dụng khi đưa ra một mẫu mực đạo lý sống trong một xã hội vừa dành được chủ quyền độc lập và đang ở trong giai đoạn kiến thiết đất nước. Trong “Cư trần lạc đạo phú”, “sống đời vui đạo’ TNT đã bàn về “xây VHX” cho con người Việt Nam trong buổi sơ khai lập quốc ấy, khi nói về “của báu trong nhà”. Của báu ấy trước hết là CON NGƯỜI VIỆT NAM, một vốn quí báu nhất trong xã hội. “Cư trần lạc đạo” gồm 10 hội  trình bày toàn diện tư tưởng của Trần Nhân Tông về xã hội Việt Nam, dự án giáo dục, đào tạo con người, “gây vốn” cho một xã hội nhân bản nhằm có thể phát huy và bảo đảm an lạc cộng đồng. Đọc 10 quán tưởng “ở đời vui đạo”, sự nghi ngại nêu dẫn một điển tích xưa cũ hoàn toàn biến mất, ngược lại tính hiện đại  của quan điểm xã hội Trần Nhân Tông trở nên đầy thuyết phục: ở đây ta có thể tìm thấy sự cân nhắc minh triết về tương quan tương liên giữa cá nhân và xã hội, khả năng chuyển tiếp giữa công và tư. Với tư duy biện chứng toàn diện, Trần Nhân Tông luôn luôn mở ra một lối thoát hay khai phá khả năng giải phóng, đổi mới cho những phương thức tu chứng và kỷ luật thực hành. Nắm vững tinh yếu củakhái niệm tự do trong Thiền học, Trần Nhân Tông xây dựng một mẫu người Việt Nam lý tưởng nhập thế. 

Hội thứ nhất nói về không gian “Xã hội Việt Nam” của con người Việt Nam, đó là một không gian xuyên suốt thành thị và sơn lâm trong một tương quan đi về của muôn nghiệp, mà mục đích của con người là “dừng nghiệp” xấu chuyển nghiệp lành, được sống trong “an nhàn thể tính”. Nhưng an nhàn đối với Trần Nhân Tông không chỉ ở sơn lâm,  mà còn ở nơi trần tục náo nhiệt như thị thành, nếu con người không được khai sáng để đạt được một cái nhìn rộng mở trong quá trình thực tập về Tâm. Tu Tâm đặt nặng giá trị của trí tuệ và đạo đức của tấm lòng hơn tiền bạc châu báu vật chất “yêu tính sáng hơn yêu châu báu” “trọng lòng rồi mới trọng hoàng kim”.

Thành thị hay sơn lâm đều là đất thao luyện cho TÂM, không nơi nào là ưu việt hơn nơi nào. Sự thao luyện này bao gồm kỷ luật nghiêm túc: “Sạch giới lòng, dồi giới tướng. Nội ngoại nên Bố tát trang nghiêm. Ngay thờ chúa thảo thờ cha. Đi đo mới trượng phu trung hiếu. (Hội thứ 6)

Bồ tát trang nghiêm thực hiện bổn phận trong xã hội, hiếu thảo với cha mẹ và trượng phu nghĩa hiệp với người đồng loại, đồng thời luôn luôn chuẩn bị cho giải phóng tự do, không vướng mắc: “Áng tú tài tính sáng chẳng tham. Há vì ở Cánh Diều Yên tử. Rần thanh sắc, niệm dừng chẳng chuyển. Lọ chi ngồi am Sạn non Đông” (Hội thứ 3).

 Điểm đặc biệt trong lý thuyết ở đời vui đạo là tính toàn diện, bao gồm mọi bình diện: xã hội căn cứ vào triết lý tùy duyên, không ép buộc, không khai trừ “đói cứ ăn đi mệt ngủ liền”, hành dộng đạo đức thanh liêm, không ham xiểm nịnh, đánh mất sự tin cậy của cộng đồng trong lúc cải thiện đời sống cộng đồng: “Vâng ơn Thánh. Xót mẹ cha, Thì thầy học đạo. Mến đức Cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay (Hội thứ 7), trau dồi đời sống tâm linh căn cứ vào giới hạnh: “tích nhân nghì, tu đạo đức, Ai hay này chẳng Thích ca, Cầm giới hạnh, đoạn gian tham, Chỉn thực ấy là Di Lặc”. 

Một VXH mang nhiều yếu tố xã hội trong nghĩa không kỳ thị, năng động khai mở  và tạo khả thể hội nhập, không phân biệt giai cấp và khai phóng tự do, nguồn suối của nhân nghĩa và tình thương:

Dứt trừ nhân ngã
Thì ra thực tướng kim cương
Dừng hết tham sân
Mới làu lòng viên giác.

VXH giàu tính xã hội hội không phân biệt giàu nghèo, đẳng cấp, dấn thân cho đời, tu tâm vì đạo:

Dựng cầu đò, xây chiền tháp,
Ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu
Săn hỷ xả nhuyển từ bi
Nội tự tại kinh lòng hằng đọc (Hội thứ 8)

Một lý thuyết chứng tỏ tính chân lý của nó trong thời gian, khi nó đứng vững vàcó khả năng đem lại an lạc cho cộng đồng. VXH mà Trần Nhân Tông dựng lên đã được tiếp nối và phát huy trong chiều dài lịch sử Việt Nam, nó trở nên niềm tự tin và sức mạnh tâm thể  con người Việt Nam, đã từng xem nhân nghĩa trên công danh, say đạo đức, đổi thân tâm thường tục vươn đến con người cao quí:

Chuộng công danh, lồng nhân nghĩa
Thực ấy phàm phu
Say đạo đức, dời thân tâm
Định nên thánh trí. (Hội thứ 10)

Chính trên con đường phát huy hòa bình xã hội, con người được truy nhận bình đẳng trong cơ hội trở nên thánh hiền, chỉ khác biệt khi Tâm con người bị hủ hóa, vật chất hóa và tự mâu thuẫn, tự phá hủy cơ hội làm người trong xã hội:

Mày ngang mũi dọc
Tướng tuy lạ xem ắt bằng nhau
Mắt thánh lòng phàm
Thực cách nhân ván ván thiên lý. (Hội thứ 10)

Điểm mạnh nhất đã đứng vững với thời gian  là sự hình thành đức  tâm Việt Nam có ích cho hòa bình xã hội: đức tâm ấy vừa tự chủ vừa bao dung, có thể vượt lằn phân chia cá nhân và xã hội, bảo đảm cho sức phát huy VXH trong mạch sống tiềm tàng của nó. Có lẽ Trần Nhân Tông là một nhà kinh tế xã hội đã đưa ra giải pháp mà Bourdieu, Putnam và Harris vẫn còn băn khoăn trước vấn nạn: làm thế nào để chuyển đổi sự tin cậy của một đoàn thể (VXH nhỏ) sang một toàn thể cộng đồng, làm thế nào để nhân VXH đến từ bên trong, ngoài những hỗ trợ từ bên ngoài? Chính sự rèn luyện cái TÂM không phân biệt “vô tâm” là điều kiện để chia:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền
Có báu trong nhà thôi tìm kiếm
Vô tâm đối cảnh hỏi chi Thiền (Bài kệ) 

Với “Cư trần lạc đạo”,  Trần Nhân Tông đã gây vốn để cả dân tộc Việt Nam cùng chia lời, chia xẻ chứ không chia cắt, đoạt vốn.

Và để thay kết luận, nếu không có cái vốn Việt Nam cùng chia ấy, một người Việt Nam xa quê lâu năm như tôi đã không có những thôi thúc trở về.

(Tựa do VHPG đặt, theo Cư trần lạc đạo phú)

VXH là tổng thể những tương quan tin cậy và tự nguyện mà trong lúc chung sống những thành viên trong cộng đồng hay đoàn thể kiến tạo nên, nó bao hàm sự hỗ trợ tình thương, tính thân hữu, liên lạc. Chính mối giây tương quan tinh thần qua lòng tin cậy lẫn nhau có thể đem đến lợi ích mà một xã hội cần có: sự an lạc và phúc lợi cộng đồng, an sinh hạnh lạc, đồng thời nó  đem lại những món lãi vật chất: chính nhờ VXH sẵn có những phí tổn chuyển nhượng (Transaktion) được tiết kiệm, những thiệt hại, tổn thất do xung đột quyền lợi được giải quyết căn cứ vào những qui định đã được thỏa thuận giữa những người cùng chung quyền lợi. 

Khái niệm VXH giải thể những ám ảnh ý thức hệ thường mắc vướng trong các khái niệm về xã hội: ví dụ khái niệm về giai cấp không bao hàm trong VXH, ngược lại VXH là một khái niệm hàng dọc, nó nhấn mạnh một điểm mà lý thuyết tranh đấu  giai cấp không chú ý đến: tương quan tương trợ lẫn nhau trong tự nguyện, người giàu giúp kẻ nghèo, người mạnh khỏe giúp kẻ ốm, người thất học được bảo trợ, người đi tìm việc được giới thiệu hợp tác. VXH tạo nên một mạng lưới xã hội gồm tương quan giũa cá nhân và đoàn thể, giữa đoàn thể và đoàn thể. Bourdeau phân biệt XVH do những diễn viên (akteur), như là một nguồn cá nhân đến từ những tương quan xã hội với những cá nhân khác, VXH nà là một nguồn quan trọng cho hiện trạng xã hội (Status) và an lạc cá nhân. 
 
 


NĂM GIỚI
Thích Nhất Hạnh

LTS: Nhiều người, nhất là bạn trẻ, rất ngại khi nói về các giới (cấm) trong đạo Phật, và cho rằng nó thuộc về đời sống tôn giáo thiêng liêng. Thực ra, trong Phật giáo, giới là nguyên tắc sống đẹp và hướng thượng, không chỉ dành cho người Phật tử mà có thể cho tất cả, nếu muốn bảo đảm đời sống hạnh phúc cho chính mình và gia đình, cộng đồng. Theo yêu cầu của bạn đọc, VHPG giới thiệu về năm giới, qua sự diễn dịch của Thiền sư Nhất Hạnh.

Giới Thứ Nhất: 
Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con. 

Giới Thứ Hai: 
Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia sẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loại. 

Giới Thứ Ba: 
Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành động bất chánh sẽ gây ra những đau khổ cho kẻ khác và cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình và của kẻ khác. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. 

Giới Thứ Tư: 
Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết rõ. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể. 

Giới Thứ Năm
Ý thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và độc tố gây ra, con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm con, và cho thân tâm gia đình và xã hội con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có độc tố trong đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò. Con biết rằng tàn hoại thân tâm bằng rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên, cha mẹ và cũng là phản bội các thế hệ tương lai. Con nguyện chuyển hóa bạo động, căm thù, sợ hãi và buồn giận bằng cách thực tập phép kiêng cữ cho con, cho gia đình con và cho xã hội. Con biết phép kiêng khem này rất thiết yếu để chuyển hóa tự thân, tâm thức cộng đồng và xã hội. 
 
 


ĐỨC PHẬT CỦA LÀNG TÔI
Trương Công Giang

Đức Phật của làng tôi đã có tới hai ngàn mùa sen nở. Nhưng những gì tôi biết được về làng, về Đức Phật chỉ có khoảng sáu mươi năm trở lại đây. Tôi nhớ lại tháng Ba năm Ất Dậu (1945), dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, dân làng tôi không còn gì để ăn, nhiều người bị chết đói, chùa làng vắng lạnh, không còn tiếng chuông ngân. Mọi người rau cháo cầm hơi, cầu Phật, chờ trông lúa đồng sậm hột vàng bông. Nhờ trời Phật vụ chiêm năm ấy, dù ít công người chăm bón, lúa vẫn được mùa, người nào còn sống sau nan đói vẫn có cơm ăn. 

Theo sử sách, làng cổ quê tôi có từ hồi vua Hùng dựng nước. Đến nay người làng tôi có nhiều dòng họ khác nhau, nhưng đều là con Lạc cháu Hồng, đều là con Phật. "Con một cha, nhà một nóc", nên mọi người coi nhau như người thân, không phân biệt sang hèn, tùy theo tuổi tác, gọi nhau là cháu, con, cô, dì, anh, chị, em, chú, bác, ông, bà... Đồng làng, đồng hương, nên đồng cảm, gắn kết sẵn sàng, đùm bọc, chia sẻ cùng nhau. Đôi khi giữa người này, người khác cũng có chuyện bất hòa, va chạm, xô xát, nhưng rồi lại nhanh chóng lắng dịu, qua đi. Vì tình làng nghĩa xóm, ai nấy đều biết cảm thông, sám hối.

Xưa nay dân làng tôi sống bằng sức lao động của mình "tay làm hàm nhai" nên rất ghét kẻ ngồi không ăn bám, tham ô trộm cắp. Nhà ở không cần phải cửa đóng, then cài, ra khóa vào mở. Đất đai không có rào ranh, cột mốc. Tâm thức của người làng tôi "kính lão đắc thọ", "ở hiền gặp lành", "ác giả ác báo", "đời cha ăn mặn đời con khát nước". Của chùa, là của công, của làng, là vật linh không ai dám tơ màng chiếm dụng. Dân làng tôi thương thân, thương người, luôn làm việc thiện. Họ giúp nhau vốn giống, kinh nghiệm làm ăn, giúp nhau xây dựng nhà ở, giúp nhau tang tế, hôn nhân, cùng nhau chia buồn, góp vui mọi chuyện.

Lòng nhân ái của người làng tôi phải chăng đã được Đức Phật truyền dạy từ đời này qua đời khác, ăn sâu bám rễ trở thành tư tưởng, tâm lý, lối sống văn hóa của làng.

Nhờ Đức Phật, người làng tôi ngày càng nhận ra khả năng của mình, không trông chờ sự cứu độ hão huyền. Bằng trí tuệ và tình yêu của mình, người làng tôi đã làm nên tất cả.

"Hình ảnh của đức Phật là hình ảnh cao thượng nhất, hoàn hào nhất mà con người thường đạt tới". Chỉ có thương cho dân làng tôi, vì nhiều lý do, đã có một thời không hiểu Phật, tẻ lạnh với Phật. Nhưng rồi mây mờ cũng qua, nhật nguyệt lại sáng.

Trải bao biến cố thăng trầm, thiên tai địch họa, ơn nhờ trời Phật làng tôi vẫn còn những nét thanh bình. Người xứ khác tới nhập cư, người ra đi phiêu bạt cũng nhiều. Nhưng họ đều chí thú làm ăn, thành đạt, đem tiền của về cùng người ở lại xây dựng quê hương, trong đó có chùa làng được trùng tu, tôn tạo khang trang, to đẹp, xứng đáng là nơi tôn thờ đức Phật của làng.

Đức Phật của làng tôi - Đức Phật của những điều Chân- Thiện-Mỹ.

Tôi yêu làng và yêu Đức Phật của tôi!
 
 


ĐỨC PHẬT - MẸ, TÔI VÀ EM
Nguyện Bi

Có những lúc ngồi một mình ngắm nhìn những bức tượng Phật, tôi lại muốn làm một người bình thường, bình thường trong cả tình yêu, sự sống và cái chết. Tôi nhớ lại tuổi thơ đầy tươi tắn của mình, với những đêm rước đèn trung thu, những ngày hè nắng cháy để tóc vàng hoe, những khi mải tắm sông, những trò chơi ô quan, cướp lá, bịt mắt bắt dê và cả những trò chơi không kém phần tinh nghịch khác… Có vô số những điều mà một người xuất gia trưởng thành như tôi cần phải nhớ về tuổi thơ của mình. Bởi tuổi thơ là nơi đầu tiên tôi đã bước vào cuộc sống. Tính tình, thói quen, và cả những bài học nhân cách đầu tiên mẹ tôi dạy, đều có tác động tới tôi. Đơn giản như khi mẹ tôi nấu bất cứ món ăn nào cũng nhớ tới việc để phần ông bà những miếng ngon nhất; nấu một nồi chè thì mời hàng xóm cùng ăn; quần áo còn tốt, mặc không vừa nữa thì gửi cho người nghèo… Những bài học như thế đều được mẹ tôi khéo léo đưa vào tuổi thơ của anh em tôi. 

Rồi có ngày, tôi đến với đạo Phật, một cách tự nhiên, chỉ vì tôi cảm thấy thích màu áo nâu giản dị, khi được thấy các sư thầy về thăm ngôi chùa nhỏ quanh năm hương lạnh khói tàn ở quê tôi, một vùng đất ven sông Hồng. Ngày tôi đi xuất gia, tôi không hình dung ra được ý nghĩ của tôi lúc đó như thế nào. Bởi hồi nhỏ, tôi cũng thỉnh thoảng đi chùa, bắt chước những người già niệm Phật và thích ăn lộc Phật do bà ngoại đem về, nhưng tôi không hiểu thế nào là Đức Phật, thế nào là luân hồi, thế nào là nghiệp báo… Lý do duy nhất và có lẽ ngây thơ nhất đó là khi tôi nghe người lớn kể lại rằng, ở làng bên có một người con gái đi tu, một thời gian sau thì người bố đang bệnh nặng tự nhiên khỏe ra. Lúc đó mẹ tôi cũng đang bệnh rất nặng, tưởng chừng như sẽ vĩnh viễn xa rời anh em tôi. Tôi nghĩ rằng, biết đâu mình đi tu thì mẹ cũng sẽ khỏe lại. Cho đến nay, nghĩ đến câu chuyện đó, tôi vẫn xem như đó là sự gợi mở tình cờ để tôi có thể may mắn đến với đạo Phật. Nhưng phải nói, điều thúc đẩy tôi nhiều nhất chính là vào chùa tập sống đời sống của người xuất gia để cầu mong mẹ tôi được Đức Phật phù hộ cho khỏi bệnh, chứ tôi không hiểu thế nào là tính thiện, là có căn tu, chân tu. Mà tôi cũng không muốn người ta nói nhiều về điều đó, vì tôi biết mình chỉ là một người có tố chất bình thường. Thời gian đầu vào chùa, tôi vẫn thèm được ăn thịt cá. Nhưng đến bây giờ, cá thịt hay rau quả đối với tôi không còn là điều quan trọng nữa.

Trong những ngày làm tiểu, nhiều lúc, tôi mơ thấy mẹ tôi chết và tôi đã khóc rất nhiều. Khi giật mình tỉnh dậy, tôi mừng đến chảy nước mắt khi biết rằng đó chỉ là một giấc mơ và mẹ tôi vẫn còn sống. Thế là từ đó, đêm nào khi đi ngủ tôi cũng nhớ đến mẹ, và niệm Phật chỉ là để mong mẹ sống lâu, hết bệnh. Mẹ luôn nhớ đến tôi vì mẹ thương tôi thật nhiều. Lúc nào tôi cũng lo sợ mẹ tôi sẽ chết, nhưng không hiểu sao khi ấy, tôi lại có thể nói với mẹ rằng: “Mẹ ơi, sau này mẹ chết con sẽ không khóc đâu, mà con sẽ niệm Phật thật nhiều để cầu cho mẹ được vãng sinh”. Lúc còn nhỏ tôi nói thế thôi, chứ nếu một ngày nào đó mẹ ra đi, tôi cũng sẽ khóc nhiều và cả đau khổ nữa. Không biết có sự trùng lặp nào không, nhưng kể từ ngày tôi vào chùa thì mẹ cũng dần khỏe lại, bệnh cũng giảm đi nhiều hơn. Lúc đó, tôi tin rằng Đức Phật có nhiều phép mầu và đã nghe được lời nguyện cầu của tôi. Sau này, mẹ tôi vẫn luôn nhắc như khoe với mọi người về câu chuyện đó. 

Đến nay, tôi nhận thức Đức Phật không có ban phép, ban tuổi thọ. Nhưng điều đó còn có ý nghĩa gì khi cả mẹ và tôi đều đã biết nhớ Phật, niệm Phật từ một niềm tin nho nhỏ ấy. Phật là bước ngoặt của những biến cố, mà trong đó niềm tin của tôi về Ngài không bao giờ giảm. Hạnh phúc nhất trong đời tôi là tôi luôn nhớ mẹ và mẹ cũng nhớ tôi. Cũng như vậy, tôi và mẹ vẫn hàng ngày niệm Phật, nhớ tưởng đến Phật. Tôi tin rằng trong tâm mình có Phật.

Nhưng không hiểu sao, có lúc tôi cảm thấy băn khoăn khi mang hình bóng của một người tu sĩ. Sự băn khoăn ấy đến với tôi có nhiều nguyên nhân, nhưng rõ nhất là vào lúc tôi cảm nhận rằng mình đã yêu một người có nhiều tính nết giống với người mẹ hiền của tôi. Tôi biết, thế nào cũng có người muốn biết, muốn thắc mắc, thậm chí lên án về tình yêu ấy. Nhưng tôi vẫn không có ý định thanh minh, hay chuyển tình yêu ấy vào tình yêu nhân loại, cộng đồng. Tôi nghĩ đó là điều vượt quá sức của tôi. Trong lời tự thuật này, tôi không muốn biện minh bằng cách kéo Đức Phật vào tình yêu của mình. Chỉ biết, tôi vẫn hằng đêm niệm Phật: niệm Phật cho mẹ tôi, niệm Phật cho người tôi thương. Đức Phật không ở trong, ở ngoài hay ở giữa cuộc đời của mẹ, của tôi và em. Đức Phật hiện diện trong cuộc sống, nghĩ đến Ngài, niệm danh hiệu Ngài, tôi cảm thấy được an tâm trong mọi hoàn cảnh.
 

“Phật” nghĩa là giác ngộ, nhưng đây không phải là một danh từ riêng mà là tôn hiệu được dùng để chỉ một vị đã đạt đến tột đỉnh của trí tuệ bằng sự tu tập mười Ba-la-mật suốt trong vô số kiếp. Một vị Phật không phải là một con người bình thường mà là một nhân cách được hình thành do sự tích tập các đức tính tâm linh. Những sức mạnh cứ tăng trưởng mãi của đức hạnh và các Ba-la-mật cuối cùng đã tạo thành một vị Phật, một vĩ nhân trong đời. Dù Đức Phật không phải là một con người theo nghĩa thông thường, tính chất người của ngài vẫn quá hiển nhiên đến nỗi, ngài đang là một người bạn, một triết gia và người dẫn đạo chân thật của nhân loại. Ngài là một người đã tìm thấy con đường, một nhà khám phá con đường giải thoát, giải phóng con người khỏi những khổ đau của luân hồi vô tận.
Kenneth W. Morgan
(The path of the Buddha)
 
 


ÐỐI PHÓ VỚI BỆNH TẬT 
BẰNG THÁI ÐỘ THÍCH HỢP
Tỳ Kheo Visuddhacara

Chúng ta không nên coi bệnh tật và khổ đau như là những căn nguyên hoàn toàn có thể tàn phá thân tâm chúng ta mà thất vọng, ngã lòng. Trái lại (trong trường hợp của người Phật tử), chúng ta phải coi đó là cuộc trắc nghiệm xem chúng ta đã hiểu lời Phật dạy tốt đến đâu, và chúng ta có thể áp dụng sự hiểu biết mà chúng ta cho là đã học tốt đến mức nào. Nếu chúng ta không đối phó được về mặt tinh thần, để cho thân tâm bị suy sụp, điều đó cho thấy, sự hiểu biết về Phật Pháp và sự thực hành của chúng ta vẫn còn yếu. Vì vậy, nên xem bệnh tật là cuộc trắc nghiệm và cơ hội cho chúng ta thấy mức độ mà chúng ta đã quán triệt sự thực hành. 

Bệnh tật cũng là cơ hội tốt cho chúng ta nâng cao hơn nữa sự thực hành tính kiên nhẫn và lòng khoan dung. Làm sao chúng ta có thể thực hành và phát triển lòng kiên nhẫn nếu chúng ta không trắc nghiệm, không đặt mình vào những hoàn cảnh khó khăn và khốc liệt? Vậy nên bằng cách này, chúng ta có thể coi bệnh là cơ hội cho chúng ta trau dồi thêm tính nhẫn nại.

Chúng ta cũng có thể nhìn vào sức khỏe không phải bằng sự vắng bóng của bệnh tật mà còn xét đến khả năng trải qua bệnh mà học hỏi và phát triển tính cách. Một cách nhìn đúng về sức khỏe như thế được một số chuyên gia y tế như bác sĩ Paul Pearsall của Bệnh viện Sinai tại Detroit, Hoa Kỳ khuyến cáo. Thấy bệnh tật không bao giờ trừ hết được, và cuối cùng mọi người đều phải chấp nhận bằng cách này hay cách khác, những bác sĩ này đã đi đến định nghĩa về sức khỏe để có thể giúp mọi người thích nghi với bệnh tật khi nó đến. Cho dù có nhiều máy móc hiện đại, phương pháp và thuốc men tinh vi đến thế nào đi nữa, người ta vẫn cứ phải khuất phục trước ung thư, bệnh AIDS, bệnh đau tim và nhiều bệnh nan y khác.

Như vậy, chúng ta phải hiểu và chấp nhận sự thật, để khi nó đến chúng ta không cảm thấy đau khổ và sợ hãi. Chắc chắn, chúng ta sẽ chữa trị bệnh bằng hết sức mình, nhưng khi bất chấp những cố gắng cao nhất của tinh thần, chúng ta sẽ thất bại và bệnh tật tiếp tục gia tăng.

Phân tích đến cùng, không phải vấn đề là chúng ta sống lâu bao nhiêu mà là chúng ta sống tốt đẹp ra sao mới đáng kể. Điều đó gồm cả cách mà chúng ta có thể chấp nhận bệnh tật của mình đến mức nào, và sau hết chúng ta có thể chết ra sao. Về mặt này, Bác sĩ Bernie S. Siegel trong cuốn sách "Hòa bình, Tình thương và Chữa Bệnh" viết: "Những bệnh nhân khác thường không cố gắng để không chết. Họ cố gắng để sống cho đến khi họ chết. Họ đã thành công, mặc dù hậu quả bệnh tình như thế nào, vì họ đã chữa lành đời sống của họ, cho dù họ không chữa được bệnh của họ".

Và ông cũng nói: "Một cuộc đời thành công không phải về cái chết được trang hoàng cho to đẹp mà là về cách sống tốt đẹp. Tôi đã thấy có những đứa trẻ mới ba tuổi, chín tuổi đã thay đổi được người lớn và  cộng đồng bởi khả năng về tình thương yêu. Nhưng tôi cũng biết có người sống lâu hơn người khác rất nhiều, nhưng không để lại gì ngoài lòng vị kỷ và sự trống rỗng". 

Cho nên thật tuyệt vời nếu đời sống của chúng ta có thể được chữa lành mặc dầu bệnh của chúng ta có thể không được chữa khỏi. Sao vậy? Vì khổ đau là vị thầy giáo, và nếu chúng ta học thuộc điều đó, chúng ta có thể trở thành người tốt hơn một cách đáng tự hào. Chúng ta đã không nghe những chuyện có những người trải qua nhiều đau đớn, đã chiến thắng bệnh tật, đã thay đổi thành người tốt hơn ư? Nếu họ không kiên tâm loại trừ tính ích kỷ, cao ngạo và thiếu thận trọng trong từng hành vi trước đó, thì bây giờ họ có thể trở nên kiên nhẫn, tử tế, lịch thiệp và nhũn nhặn hơn được không? Ðôi khi bệnh tật làm cho chúng ta cảm thấy bất an, nhưng cần phải nhận thấy bệnh tật cũng là một điều tốt, là cơ hội để chúng ta xem xét lại lối sống và những giá trị quan trọng hơn trong đời sống. Lúc đó chúng ta sẽ đánh giá cao vai trò, giá trị của gia đình và bạn hữu, biết quý trọng thời gian để sống với những người thân yêu. Và nếu bình phục lại được, chúng ta sẽ dành nhiều thì giờ hơn cho những người thân, và làm những việc thực sự quan trọng và có ý nghĩa . 

Dù có bị khuất phục trước bệnh tật, chúng ta vẫn có thể học hỏi và phát triển tâm từ bi và kiên nhẫn. Chính khi ấy, chúng ta có thể hiểu được cái mong manh của sự sống và lời dạy của Ðức Phật đã đúng ra sao. Chúng ta có thể trở nên tử tế hơn, cảm niệm nhiều hơn về lòng khả ái mà chúng ta nhận được từ người khác. Chúng ta có thể tha thứ những ai đã làm cho chúng ta đau đớn. Chúng ta có thể thương yêu một cách hào phóng và sâu xa hơn. Và khi cái chết đến, chúng ta có thể chết bằng sự chấp nhận và an bình. Bằng cách đó, chúng ta có thể nói đời sống của chúng ta được chữa lành vì chúng ta đã hòa hợp được với thế giới và đã sống trong bình an.

Thích Tâm Quang dịch
 



Hành cung Vũ Lâm
Chu Minh Khôi

Hành cung Vũ Lâm được vua Trần Thái Tông thiết lập sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất. Nơi đây núi non trùng điệp bao quanh, sông nhỏ uốn lượn chảy xuyên vào núi, thuyền nhỏ đi lại dễ dàng. Phạm vi của hành cung ngày nay trải rộng khắp 4 xã thuộc huyện Hoa Lư (Ninh Bình): Ninh Xuân, Ninh Thắng, Ninh Hải, Ninh Vân.

  Vua Trần Thái Tông đã từng rời bỏ ngai vàng tìm đến quốc sư Phù Vân để mong được xuất gia tu hành. Nhưng sau khi nghe quốc sư giảng dạy, Trần Thái Tông đã trở về kinh đô lãnh đạo đất nước. Ngoài 40 tuổi, ông nhường ngôi cho Nhân Tông, lui về sống như người xuất gia, chiêu dân lập ấp, quy tụ làm bốn giáp: giáp Ngoài, giáp Các, giáp Trung, giáp Cật. Xóm làng đông đúc lên dần, nhà vua cho dựng ngôi chùa Thiền Lâm tự (chùa Sở) ở đầu làng. Muôn đời còn truyền tụng:

  “Địa đầu mở một ngôi chiền
  Mễ Lâm chùa Sở còn truyền đến nay
  Non sông may khéo là may
  Nên dân Nghiêu Thuấn vui ngày Đường Ngu”.

  Nhân dân tuân mệnh vua, khai khẩn được 155 mẫu đất, biến vùng núi rừng hoang vu thành đồng ruộng tốt tươi. Hành cung Vũ Lâm được bố trí quy củ gần như một triều đình. Quan văn ở thôn Văn Lâm phía trong, quan võ ở thôn Vũ Lâm phía ngoài, nhằm bảo vệ cho hành cung.

  Vua Trần Thái Tông dựng am Thái Vi (nay là đền Thái Vi) ở động Vũ Lâm, trung tâm của hành cung. Địa thế của am rất thuận tiện cho giao thông thuỷ bộ. Từ đây có thể cơ động ra đường Thiên Lý để về Thăng Long hay ngược vào Thanh Hoá bằng đường bộ. Cũng có thể theo đường thuỷ từ sông Thiện Dưỡng ra sông Vân Sàng, ngược dòng Đáy lên Thăng Long, hoặc xuôi sông Trinh Nữ ra cửa bể Thần Phù.

Chung quanh am Thái Vi là một vùng non nước kỳ thú. Người dân Văn Lâm vẫn tự hào “Một trăm trái núi chầu quỳ đồng ta”. Đoạn sông luồn qua ba hang núi dài mấy cây số, tạo nên kỳ quan lừng danh Tam Cốc, phía trên là vách đá dựng đứng, phía dưới là dòng sông nhỏ hẹp. Phía Nam am Thái Vi hiện hữu một tòa Bích Động từng được vua Tự Đức ngợi ca: “Nam Thiên đệ nhị động” (Động đẹp thứ nhì trời Nam).

Di tích am Thái Vi còn đến ngày nay là đền Thái Vi được xây dựng trên nền am xưa, trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm Lê Trung Hưng-Kỷ Sửu (1589); Bảo Đại-Bính Dần (1929). Đền kết cấu theo lối nội công ngoại quốc cổ truyền. Giếng Ngọc xây bằng đá xanh án ngữ trước đền điểm xuyết cho nét cổ kính thâm nghiêm. Gác chuông làm từ gỗ lim, cao hai tầng nâng bổng tám mái, mái lợp ngói mũi hài che chở quả chuông cổ đúc năm 1698. Qua Nghi Môn, đi theo các bậc đá lên Ngũ Đại Môn, với 6 cột đá tròn vạm vỡ đứng canh năm cửa chầu vào chính điện. Nhà bái đường 5 gian uy nghi cũng được nâng trụ bởi 6 cột đá vuông gánh sáu câu đối ở mặt ngoài, cùng với nghệ thuật điêu khắc cổ: long, ly, quy, phượng cuốn quanh thân cột. Sau Trung đường có 5 gian Chính Tẩm, nổi bật với 8 cột đá tròn khắc nổi “cầm, kỳ, thi, hoạ”. Ngự trong cung khám là những pho tượng cổ thờ Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Hoàng Hậu Thuận Thiên.

  Thuở xưa, để bảo vệ am Thái Vi, Trần Thái Tông cho xây dựng những trạm gác kiên cố: Tam Quan, Gò Mưng và cửa Quèn. Phía ngoài cửa Quèn có đình Các, tương truyền là nơi đón tiếp quan lại triều đình tập trung sửa mũ áo chuẩn bị vào yết kiến vua. Làng Tuân Cáo cách đình Các 2km, đóng vai trò một trạm kiểm soát, mọi người muốn ra vào am Thái Vi đều phải “bá cáo” tại đây. Đi vào tiếp một cây số nữa mới tới hành cung. Di tích còn lại của cung điện chỉ còn là mảnh đất rộng hai sào, cao hơn mặt ruộng 1m, nay gọi là khu Đình Sen. ở phía bắc Đình Sen có vườn kho, tương truyền là kho lương thảo của nhà Trần. Cách hành cung 500m về phía nam là Hạ Trạo, nơi quy định từ đây phải hạ mái chèo bơi nhẹ nhàng để vào am Thái Vi.

  Trong thung lũng đá vôi của hành cung Vũ Lâm có núi Thiện Dưỡng là nơi nhà Trần lui về tránh nạn khi giặc Nguyên Mông xâm lược để rồi trở thành một bộ phận không thể tách rời của căn cứ địa Trường Yên, góp phần làm nên những chiến thắng vang dội. “An Nam chí lược” mô tả: “Núi Thiện Dưỡng đẹp mà hiểm, sông chảy qua núi, khi có nước triều cường thì thuyền mới đi qua được”. Trong núi Thiện Dưỡng có hang Thị, nơi đã phát hiện ra nhiều mảnh gốm và tiền Nguyên Phong thời Trần.

  Tham quan hành cung Vũ Lâm, du khách không thể bỏ qua chùa Bích Động trên dãy núi Ngũ Nhạc Sơn, xã Ninh Hải. Văn bia còn lưu ở chùa cho biết: Năm 1428, triều Lê Thái Tổ có hai vị Hoà thượng là Chí Kiên và Chí Thể kết nghĩa anh em cùng đến Ngũ Nhạc Sơn để lập chùa. Sang thời Lê Cảnh Hưng (1736-1740), chùa được mở mang, cụ Nguyễn Nghiễm tuân mệnh vua đặt tên là Bích Động. Chùa mang đậm dấu ấn kiến trúc cuối Lê đầu Nguyễn, gồm 3 cấp: Hạ, Trung, Thượng. Chùa Hạ có phương đình, nhà Giải Văn, Giải Vũ tọa lạc hai bên. Theo đường chữ chi đi lên hai mươi bậc đá tới chùa Trung, tại đây còn lưu giữ một tấm bia đá thời Nguyễn cùng hai pho tượng quý bằng đồng đen, một pho tượng đá.

  Hành cung Vũ Lâm cùng với Yên Tử (ở Quảng Ninh), Thiên Trường (ở Nam Định) là những nơi thánh tích của Phật giáo thời Trần. Các vị vua Trần thường tìm những nơi hiểm trở, quan trọng để tu hành, khiến những nơi này trở thành chốn linh địa để muôn đời sau hành hương chiêm bái.
 
 


Linh phách Thánh Gióng
âu thiên sơn

Đỉnh núi Sóc mây ngàn bao phủ. Trăng diệu biếc một vầng ánh sáng. Ai nâng ngang môi một đốt tre đằng ngà thổi sáo, tiếng sáo cất lên khúc phiêu thanh. Từ những cung bậc âm thanh du dương bổng trầm đó có tiếng của ngàn xưa vọng về. Tiếng lửa cháy không đốt được bụi tre, tiếng ngựa sắt chồm chân lên hý vang trời, tiếng nghìn đời dậy lời Thánh Gióng, đáp lại tiếng gọi của non sông...

Thăng diệu một huyền thoại

Gióng đã bay về trời cùng với ngựa sắt sau khi đánh đuổi xong giặc Ân và vái chào từ biệt mẹ già, quê hương. Về trời, Gióng có mang theo hình bóng mẹ, hình bóng cố hương hay Gióng đã gửi lại siêu linh mình nơi lũy tre làng quê, gửi lại hồn phách mình nơi đốt tre đằng ngà thân thuộc? Thế nên, đốt xương Thánh Gióng, cái cốt xương không đốt được thành than, cứ mọc lên tươi tốt thành lũy tre ngàn đời. Ca dao có câu: "Mồng bảy hội Trám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu thì về hội Gióng". Hằng năm, nhân dân kẻ Đổng (cái tên cổ của làng Phù Đổng) xưa và nay vẫn tổ chức hội Gióng (vào ngày 9/4 âm lịch) để tưởng nhớ vị anh hùng bất tử trong tâm thức Việt. Gióng mãi sống với làng quê Việt như hồn tre ngàn đời, Gióng đi vào cõi bất tử trở thành một bậc thánh kiệt hiệt. 

Vị kiệt hiệt của Tứ bất tử

 Tứ bất tử của Việt Nam là Thánh Gióng, Sơn Tinh, Chử Đồng Tử và Mẫu Liễu Hạnh. Nếu như Chử Đồng Tử với tình yêu vượt qua mọi lễ giáo, đẳng cấp, Mẫu Liễu Hạnh là tín ngưỡng dân gian của người Việt, là cách ứng xử bên trong giữa đời thường của cộng đồng dân tộc, thì huyền thoại Thánh Gióng và Tản Viên được xem là sự phản ánh một cách hình tượng và khái quát hóa hai mặt căn bản của tâm thức dân tộc Việt Nam trong buổi đầu dựng nước và giữ nước, phản ánh phẩm chất của con người Việt Nam trong ứng xử với bên ngoài để bảo vệ cộng đồng dân tộc. Nếu như hình tượng Sơn Tinh là bài học về truyền thống chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt của người Việt thì hình tượng Thánh Gióng là bài học về truyền thống quật cường, tinh thần nồng nàn yêu nước và sức mạnh vô địch của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử giữ nước. Lòng yêu nước ấy trải qua mấy ngàn năm được hun đúc thành một giá trị sống cao cả, được kết tinh thành chủ nghĩa yêu, nước thương nòi bền vững cùng năm tháng. Tất cả những hình tượng bất hủ đó trường tồn cùng thời gian, tạo nên những phẩm chất cao đẹp của dân tộc từ ngàn đời, thấm sâu vào tâm thức của mỗi người dân đất Việt... 

Linh phách Thánh Gióng 

 Cặp đối đề tại đền Phù Đổng của Cao Bá Quát: "Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn/ Đằng vân do hậu cửu thiên đê" (Đánh giặc còn hiềm lên 3 tuổi là muộn/ Cưỡi mây vẫn giận 9 tầng trời chưa cao), đã toát lên cái tinh thần kiệt xuất, cái tráng nghĩa phi thường của Thánh Gióng. Gióng đã đi vào cõi bất tử Việt bằng huyền thoại thăng tuyệt và Gióng ở lại làng quê bằng lũy tre bao bọc lấy quê hương. Có phải tre là hình ảnh ẩn dụ của Thánh Gióng ngày xưa còn lưu lại trong đời sống tinh thần cộng đồng Việt, hay hồn tre chính là linh phách Thánh Gióng? Tre xanh, xanh tự bao giờ/ Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh... Những câu thơ của Nguyễn Duy với “Chuyện ngày xưa” Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc cũng chính là để ngợi ca cốt cách, phẩm tính của người Việt dũng cảm bất khuất trong đấu tranh, siêng năng cần cù trong lao động, có tinh thần cố kết cộng đồng cao trong chống chọi với thiên nhiên, giặc giã và nhân hậu nghĩa tình trong đời sống..., như cây tre Việt Nam sống vươn cao và hướng thượng. 

Đức tính của tre cũng là đức tính của người Việt. Tre biết chẻ dọc thân mình làm chiếc nôi nhỏ bé, nâng mọi cuộc đời sâu lắng những lời ru. Giặc tới cướp nước thì tre bật gốc vung lên đánh đuổi kẻ thù. Lũ lụt dâng lên thì tre đan thành phên lũy ngăn dòng nước dữ. Thiên tai, địch họa đe dọa cuộc sống an bình của con người thì luôn có tre ở bên cạnh. Tre song hành, gắn bó và đồng cam cộng khổ với cuộc sống của con người. Từ đó, tre đi vào truyền thuyết, tâm thức Việt. Bền bỉ, tự cường trong trường kỳ lịch sử và luôn tiềm tàng một sức bật phi thường trước mọi thử thách. Tre là một phần của bản sắc Việt Nam. Một dân tộc luôn khát khao hòa bình, và hơn ai hết, hiểu thấu giá trị của độc lập tự do, thì lũy tre xanh có con sông chảy quanh luôn là biểu tượng thanh bình của làng quê. Một dân tộc nhân nghĩa, hòa hiếu thì tre lưu giữ và che chở văn hóa làng. Tre không cung đình hưng vong suy thịnh mà luôn bình dị, bền bỉ và dẻo dai như làng quê Việt. Một dân tộc đã sinh ra Thánh Gióng tượng trưng cho tinh thần xả thân vì nước, cho sức sống dẻo dai chống lại tự nhiên khắc nghiệt, dân tộc ấy tất phải sống bền bỉ, mãnh liệt như cây tre. 

Vươn vai Phù Đổng

 Trong thiên hùng ca về Gióng, có hai thời khắc gây ấn tượng nhất, làm ngời sáng cả thiên chuyện, đó là khi Gióng vươn vai trở thành tráng sĩ sau khi ăn “7 nong cơm, 3 vại cà, uống một hơi nước cạn đà khúc sông” và lúc Gióng phi ngựa bay về trời. Hai hình ảnh thật đẹp, thật song hùng. Nếu cái phút giây cậu bé 3 tuổi vụt lớn thành trang tuấn kiệt là giây phút vạm vỡ nhất mà cũng tráng dũng nhất, tiếp cho ta nhiều tinh lực nhất, gợi cho ta nhiều hoài bão nhất về tương lai đất nước thì phút giây Gióng phi ngựa sắt cúi chào từ biệt làng quê, mẹ già rồi bay về trời lại là giây phút cảm động nhất và cũng siêu thoát nhất của thiên huyền thoại về người anh hùng này. Lòng khâm phục và ngưỡng mộ cậu bé Phù Đổng không nên lui về quá khứ sử son mà nên chuyển hóa thành hành động hiện tại. Nghĩ về Thánh Gióng, chúng ta liên tưởng tới "thế hệ Phù Đổng" hôm nay, cũng với tinh thần như vậy bay vút vào khoảng không công nghệ cao, khai phá tri thức bằng nội lực và ý chí Tiên Rồng của mình, làm thăng vinh, rạng rỡ huyền thoại Việt Nam. 

Tượng Gióng cho lễ hội ngàn năm Thăng Long đã được phê duyệt. Nay mai phía trên khuôn viên Học viện Phật giáo Việt Nam, chùa Non Nước, nơi đỉnh núi Sóc Sơn này sẽ hiện diện một dáng hình huyền thoại. Gióng về trời bay vút thềm xanh. 

Gióng ơi, đừng vội về trời. Hãy nán lại, lợp lại cho mẹ mái nhà tranh, ơn bú mớm vẫn còn sâu nặng lắm. Hãy ở lại với màu vàng óng ả của lũy tre đằng ngà thân thuộc, hãy ở lại với làng quê yêu dấu để tiếp tục sứ mệnh cứu độ lạc dân! 
 
 


Mandala Quán Thế Âm 

Lần đầu tiên tại Việt Nam, lễ cầu quốc thái dân an bằng nghi thức Mạn đà la (mandala) Quán Thế Âm do các vị tăng Tây Tạng thực hiện bằng cát màu sẽ diễn ra tại cơ sở Học viện PGVN TPHCM, 750 Nguyễn Kiệm, Quận Phú Nhuận. Vậy Mạn đà la Quán Thế Âm là gì? VHPG giới thiệu vài thông tin sơ lượt về nghi thức này đến quý bạn đọc.

Mandala là tiếng Phạn (manïdïala), nguyên nghĩa là vòng tròn hay vòng cung. Đó là một khái niệm quan trọng trong Phật giáo Tây Tạng nói chung và Kim cương thừa, truyền thống Mật tông nói riêng, một trong những truyền thống chính của Phật giáo đại thừa. Mạn đàla được hiểu là biểu tượng của vũ trụ và các năng lượng trong vũ trụ diễn tả qua hình vẽ, là cơ sở để hiện tượng hợp nhất với bản thể. Mandala là một đối tượng thực hành thiền định.

Trong Mật tông Tây Tạng, mandala không chỉ là đối tượng thiền quán mà còn là bàn thờ để hành giả thực hiện các nghi lễ. Tùy tính chất của nghi lễ, mỗi mandala nhắm đến một vị Phật hay một vị Bồ tát nhất định cùng các pháp khí, lễ vật phù hợp.

Đồ hình Mandala thường biểu hiện bằng hai hình dáng: hình tròn được bao bọc bởi hình vuông với nhiều chi tiết và màu sắc được quy định nghiêm ngặt. Người thực hiện các Mandala phải là hành giả có khả năng định lực nhất định và tương đương mới có thể cùng phối hợp một cách nhịp nhàng.

Theo Kim cương thừa, mọi hiện hữu trong vũ trụ đều có thể là Mandala, từ thế giới ngoại cảnh cho đến thân và tâm mình. Tuy nhiên, theo truyền thống, về mặt thể hiện, người ta quy ước Mandala là một lâu đài hình vuông có bốn cửa nhìn ra bốn hướng. Và thông thường, có bốn cách để xây dựng mandala: (1) hội họa (thangka), (2) cát nhuộm màu, (3) hạt gạo nhỏ, và (4) vật thể ba chiều, thường là bằng kim loại.

Mandala cát được nhiều tăng sĩ cùng nhau tạo trong phạm vi của một nghi lễ lớn nhất định nào đó, chẳng hạn ở đây là lễ cầu quốc thái dân an với Mandala cát màu Quán Thế Âm Bồ tát. Để thực hiện Mandala cát này, những tăng sĩ cần thời gian nhiều ngày liên tục và sau khi hoàn tất, khi nghi lễ cầu nguyện được kết thúc, nó được phá hủy ngay. Cát được gom lại và rắc xuống dòng sông.

Mandala Quán Thế Âm là Mandala trình bày Bồ tát Quán Thế Âm, một vị Bồ tát có lòng từ bi bình đẳng với mọi chúng sinh trong mọi quốc độ, ngài là hiện thân của tâm từ bi rộng lớn, luôn lắng nghe âm thanh khổ đau và lời cầu nguyện, thị hiện mang hơi ấm và niềm an lạc đến cho chúng sinh. Theo quan niệm Phật giáo Tây Tạng, Ngài là vị Bồ tát bảo hộ cho thế gian, cho nền hòa bình và môi trường sinh thái.

Về nghệ thuật, mỗi Mandala là một tác phẩm tuyệt vời, mang đặc thù của Phật giáo Tây Tạng. Với tôn giáo, đó là một nghi lễ được thực hiện bởi những hành giả có định lực vững vàng, nơi kết tụ năng lượng tâm linh và sức chú nguyện lớn, có khả năng đem lại sự an lạc cho chúng sinh, cho đối tượng cầu nguyện.
 



Kỷ niệm 100 năm ngày sinh 
Hòa thượng Trí Hải (1906-2006)
Người có công đầu trong phong trào 
chấn hưng Phật giáo xứ Bắc
 Nguyễn Đại Đồng

     Hòa thượng Trí HảI, thế danh Đoàn Thanh Tảo, pháp danh Thích Thanh Thao, sinh năm 1906 tại làng Quần Phương Trung, xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định trong một gia đình Phật tử làm nghề nông và dệt vải.

     Năm 12 tuổi ngài được song thân gửi vào học ở chùa làng. Năm 17 tuổi ngài chính thức nhập đạo dưới  sự dạy dỗ trực tiếp của thiền sư Thích Thông Dũng ở chùa Mai Xá, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Năm sau ngài thụ giới Sa di ở tổ đình Tế Xuyên, Hà Nam. Năm 20 tuổi ngài thụ đại giới.

     Năm 1930, ngài cùng một số tăng sĩ đứng ra thành lập tổ chức thanh niên tăng lấy tên là “Lục hòa tịnh lữ”, có nghĩa là những người trong sạch làm bạn cùng nhau, đi theo 6 phép hòa thuận của đức Phật.

     Năm 1931, Hội Nam Kỳ nghiên cứu phật học ra đời ở Sài Gòn với tờ Từ Bi Âm. Hội mở trường Phật học đào tạo tăng sĩ trẻ. Năm 1932, Hội Phật học Trung Kỳ và Hội An NamPhật học Huế cũng được thành lập, ra đời báo Viên Âm. Hai sự kiện trên đã thôi thúc nhóm “Lục hòa tịnh lữ” dấn thân vào con đường chấn hưng Phật giáo. Ngài cùng thượng tọa Thái Hòa, Thượng tọa Hải Châu đi các nơi vận động thành lập Hội Phật giáo. Ba người lên Hà Nội, vào các chùa lớn để thuyết phục nhưng đều bị từ chối. Họ quay sang liên kết với các cư sĩ Lê Toại ở Sở Đốc lý, Trần Văn Giác (người Trà Vinh, hội viên Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học) ở sở Thương Chính và Nguyễn Hữu Kha ở hiệu sách - nhà in Hòa Ký, Hà Nội để bàn việc chấn hưng Phật giáo, cũng như ra ban dự thảo, điều lệ... Cuối năm 1932, họ thành lập Phật học Tùng Thư, tiến hành phiên dịch kinh sách ra tiếng Việt để truyền bá sâu rộng trong quần chúng, khi nhân duyên hội đủ và thuận tiện sẽ lại tiến hành thành lập Hội. Phật học Tùng Thư đã hấp dẫn nhiều trí thức tân học cũng như cựu học nổi tiếng Bắc Kỳ lúc bấy giờ như Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Trần Văn Giáp, Nguyễn Văn Ngọc... 

     Sau một thời gian đóng tại chùa của sư thầy Nguyễn Thị Đoan, tháng 5 năm 1934, nhân ngày Khánh đản Đức Phật Thích Ca, Phật học Tùng Thư làm lễ nhập tự, chuyển trụ sở từ chùa Mai Xá về chùa Quán Sứ. Ngày 6 tháng 11 năm 1934, nhà cầm quyền ra Nghị định số 4283 cho phép thành lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ, do tổng đốc trí sĩ Nguyễn Năng Quốc làm Chánh Hội trưởng với 32 thành viên sáng lập, 10 Ban chuyên môn giúp việc, trụ sở lâm thời đặt tại chùa Quán Sứ. Ngày 23.12.1934 (17.11 âm lịch) nhân ngày Khánh đản Đức Phật A Di Đà Hội làm lễ ra mắt.

     Từ 1935 đến năm 1945, Thượng tọa Trí Hải đã cùng Ban Quản trị Trung ương Hội Phật giáo Bắc Kỳ chấn hưng Phật giáo xứ Bắc với các thành tựu: suy tôn Thiền Gia Pháp Chủ Thích Thanh Hanh; ra báo Đuốc Tuệ, Tinh Tiến; lập nhà in Đuốc Tuệ xuất bản kinh sách chữ quốc ngữ; lập trường Tăng học và Ni học với 3 cấp tiểu học, trung học, đại học; xây dựng chùa Quán Sứ - Hội quán Trung ương, và nhiều tùng lâm khác; làm công tác từ thiện cứu tế xã hội; xây dựng các chi hội Phật giáo địa phương...
     Sau Cách mạng Tháng 8 - 1945, Ngài được mời làm cố vấn Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội trong Chính phủ lâm thời. Ngài cùng cư sĩ Thiều Chửu ra nguyệt san Diệu Âm.

     Cuối tháng 2 năm 1947, sẻ chia gánh nặng với cư sĩ Thiều Chửu - Nguyễn Hữu Kha, ngài cùng đại đức Tâm Giác xuống Đan Thầm, Thanh Oai, Hà Đông đưa hơn 30 em từ 10 tuổi trở lên tản cư kháng chiến về chùa Đông Kiệt, Khoái Châu, Hưng Yên, rồi sang cơ sở của Hội ở huyện Phù Dực, Thái Bình về chùa Mai Xá, Hà Nam dạy các em học và làm nghề thủ công sinh sống.

     Tháng 8.1949, ngài lên Hà Nội tiếp tục Phật sự tại chùa Quán Sứ; thành lập trường tiểu học Khuông Việt; hướng dẫn lập Gia đình Phật hóa phổ; lập trường Ni học Vân Hồ; tái lập xưởng in Đuốc Tuệ; thỉnh bộ Tân tu Đại Chính Đại tạng toàn tạng hơn 2 vạn quyển cho chùa Quán Sứ.

     Năm 1951, ngài tham gia Hội nghị Phật giáo thống nhất toàn quốc họp ở chùa Từ Đàm, Huế từ ngày 6-9/5, ngài được bầu làm Phó Hội chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam.

     Năm 1952, ngài tham gia đại hội  thành lập Tăng già toàn quốc họp tại chùa Quán Sứ từ 8 – 14.9, Thượng tọa được bầu làm Trị sự trưởng Hội đồng Trị sự GHTG Việt Nam.

     Năm 1953, ngài làm Trưởng ban hưng công xây dựng trường Vạn Hạnh - chùa Hàm Long, và phó trụ trì chùa Quán Sứ, Hà Nội.

      Hòa thượng Trí Hải không những thành tựu nhiều Phật sự xuất sắc mà còn một nhà văn hóa với hơn 40 tác phẩm thuộc các loại văn vần, văn xuôi, kinh sách dịch và một số tài liệu khác trong đó có cuốn Hồi ký thành lập Hội Việt Nam Phật giáo và cuốn Phật giáo Việt Nam, giúp cho chúng ta tìm hiểu về lịch sử Phật giáo xứ Bắc và tinh thần “nhân gian Phật giáo” của các bậc cao tăng tiền bối. Rất mong một ngày gần đây, phân viện Nghiên cứu Phật học sưu tầm đủ và sớm ra mắt Toàn tập Trí Hải.

     Hòa thượng Trí Hải một người suốt đời vì Phật sự, coi “thiền môn là bất biến”, không xu thời, không ham danh vọng địa vị, luôn sống một cuộc đời thanh bạch, giản dị, khiêm tốn, được mọi người kính trọng. Trước ngày đi xa, Hòa thượng có Di chúc gọi là Lời để lại: “...Thân tứ đại này tôi xin hoàn lại cho tứ đại.... Hiện nay tôi còn một cái xe đạp và một cái đài (bán dẫn). Đài thì tôi cho sư ông Tính, còn xe đạp thì nhờ sư ông bán đi lấy tiền tống táng...  Nguyện đời đời sẽ được cùng các thiện trí thức cùng tu theo Phật pháp, cùng làm việc lợi ích chung, mong sao chuyển từ thế giới khổ não đều trở thành thế giới Phật, hết thảy chúng sinh đều cùng chứng thành đạo quả”.

    Hòa thượng lâm bệnh và viên tịch ngày 7 tháng 6 năm Kỷ Mùi (30.6.1979), 74 năm trụ thế, 57 năm hoằng đạo, ngài đã hiến dâng cho sự trường tồn của Phật giáo tiếp bước cho lý tưởng cứu nhân độ thế của đức Phật Thích Ca.

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ngài, ngày 27-6-2006, tại Hà Nội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã tổ chức Hội thảo khoa học “Sa môn Trí Hải và phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam”  để khẳng định những đóng góp to lớn của ngài trong công cuộc chấn hưng Phật giáo miền Bắc.
 
 


Lý Thường Kiệt
(1019 - 1105)
Phước Cảnh

Lý Thường Kiệt  là người có công rất lớn trong việc sáp nhập 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị) vào bản đồ Đại Việt trong chiến dịch Nam tiến của Lý Thánh Tông năm 1069. Trong cuộc chiến tranh vệ quốc 1075 - 1077, uy danh của ông đã làm cho quân Tống khiếp sợ không chỉ với phòng tuyến trên sông Như Nguyệt mà còn lừng lẫy khắp 3 châu Ung, Khâm, Liêm trên đất Trung Hoa. Đến khi làm Tổng trấn Thanh Hóa, ông lại dùng lòng từ để "khoan nới" sức dân, và đã cùng nhân dân dựng lên tại đây 3 ngôi chùa: Báo Ân, Linh Xứng, Hương Nghiêm để "báo ân Phật, đền ơn vua", lại vừa "tạo nên một thắng cảnh khiến lân bang khâm phục", như chính lời tâm sự của ông mà văn bia chùa Linh Xứng hiện còn ghi lại... 

Tại Hà Nội, đường Lý Thường Kiệt hiện nằm trên địa bàn Quận Hoàn Kiếm, là một con phố khá lớn, kéo dài từ đường Lê Thánh Tông đến đường Lê Duẩn, ngang qua bên hông phải chùa Quán Sứ. Ngôi đền thờ ông hiện nằm tại làng Ngọ Xá, huyện Hà Trung, Thanh Hóa - nơi ông đã gắn bó trong suốt 20 năm cuối đời của mình khi ra làm Tổng trấn tại đây.

Lý Thường Kiệt là một danh tướng, một nhà chính trị và quân sự lỗi lạc dưới  thời nhà Lý. Ông vốn họ Ngô, tên Tuấn, tự Thường Kiệt, xuất thân trong một gia đình võ tướng tại làng Cơ Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội (sau chuyển về ở tại phường Thái Hòa, kinh đô Thăng Long). Do lập nhiều công trạng, được ban họ vua, lấy tự làm tên, nên từ đó người ta quen gọi ông là Thái úy Lý Thường Kiệt.

Thuở nhỏ, Lý Thường Kiệt đã biểu lộ tư chất khác thường, thông minh tuấn tú, say mê võ nghệ, binh pháp. Năm 20 tuổi, ông được tuyển vào triều làm Hoàng môn, hầu hạ vua Lý Thái Tông, dần dần được thăng trải qua các chức vụ quan trọng: Thái bảo, Tể tướng, Thái úy đồng trung thư môn hạ bình chương sự, Đại tư đồ, tước hiệu Thượng phụ công, thống lĩnh toàn quyền hai hàng văn võ. 

Trong Lịch triều hiến chương loại chí, khi viết về ông, Phan Huy Chú đã có nhận định rằng: "ông là người giàu mưu lược lại rất có biệt tài làm tướng súy, từng làm quan trải thờ đến 3 đời Hoàng đế, phá Tống bình Chiêm, công lao đức vọng ngày một lớn, được sủng ái, thật xứng là người đứng đầu các công hầu vậy".

5 năm sau ngày đại thắng trên sông Như Nguyệt, vào năm 1082, theo ý chỉ vua Lý Nhân Tông và Thái hậu Ỷ Lan, ông rời Thăng Long vào trấn nhậm đất Thanh Hóa nhằm ổn định các tỉnh biên giới phía Nam. Công việc đầu tiên mà Lý Thường Kiệt phải làm khi vào trấn nhậm vùng đất này là vận dụng tinh thần Từ bi, Bình đẳng của Phật giáo để giải quyết ngục tụng công bằng, giáo hóa kẻ gian ác nhằm ổn định an ninh chính trị, quan tâm đến nghề nông để người dân có được cuộc sống ấm no. Đặc biệt, Lý Thường Kiệt rất quan tâm đến đời sống tâm linh của người dân ở vùng đất này, việc ông đứng ra vận động nhân dân xây dựng chùa Báo Ân ở núi An Hoạch, chùa Hương Nghiêm ở núi Càn Ni và chùa Linh Xứng ở Ngưỡng Sơn là một minh chứng.

Thiền sư Pháp Bảo, một người bạn, đồng thời là vị quân sư có mối quan hệ rất mật thiết với ông, và là tác giả của 3 bài văn bia tiêu biểu thời Lý, đã hết lời ca tụng công đức của Lý Thường Kiệt qua nội dung văn bia chùa Linh Xứng ở Ngưỡng Sơn, Thanh Hóa: "Thái úy vào trong thì sáng suốt khoan hòa, ra ngoài thì nhân từ giản dị, đổi dời phong tục nào có quản công, việc gì cũng siêng năng, sai bảo dân thì ôn hòa, cho nên trăm họ được cậy nhờ chẳng phải ít..." Và đối với Phật giáo, Thái úy tuy "thân vướng việc đời mà lòng vẫn luôn hướng về Tam thừa,... vâng chỉ của Hoàng thượng và Thái hậu mà không ngừng hộ trì Phật pháp...".

Lý Thường Kiệt mất năm 1105, chùa Linh Xứng do ông xây dựng đến nay tuy không còn, nhưng tấm bia ghi lại dấu tích ngôi chùa này, ghi lại công đức "hộ quốc an dân" của ông do Thiền sư Pháp Bảo biên soạn từ thế kỷ XI hiện vẫn còn được bảo lưu nguyên trạng tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Chỉ còn 4 năm nữa là chúng ta kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, mong sao chùa Linh Xứng ở Ngưỡng Sơn, Thanh Hóa sớm được phục hồi, để cảm niệm công đức của ông, và cũng hợp với ý nguyện của Lý Thường Kiệt khi rời Thăng Long vào trấn nhậm vùng đất này.
 


Tình yêu rộng lớn: Làm thế nào để bắt đầu (Dalai Lama) 


NHÌN XE TANG QUA PHỐ
Nguyễn Ngọc Quý

Một chuyến xe tang đi qua là chở một thân phận đi qua. Một chuyến xe tang đi qua, để lại sau họ những mất mát, buồn thương không gì bù đắp được. Và đằng sau chuyến xe tang ấy có biết bao những chuyện đời vui buồn. 

Mỗi khi thấy chiếc xe tang nào đi qua, tôi lại không thể quên được câu chuyện trong kinh Phật kể về một người mẹ đáng thương, ôm xác đứa con xinh xắn của mình chạy khắp nơi để tìm thuốc hồi sinh. Khi nghe nói Đức Phật có phương thuốc làm cho người chết sống lại, người mẹ đã đem xác con mình đến tận nơi để cầu xin sự cứu giúp. Đức Phật không từ chối mà cũng không có ý định gạt ngay sự mất mát bi thương ra khỏi lòng người mẹ. Người chỉ có một yêu cầu, nếu người phụ nữ ấy có thể tìm được những hạt cải trong một gia đình chưa từng có người thân nào qua đời, thì hãy mang những hạt cải đó về, Người sẽ dùng chính những hạt cải ấy để làm cho đứa bé sống lại. Người mẹ mừng rỡ ôm xác con đi tìm khắp trong làng ngoài thôn, nhưng trớ trêu, không một gia đình nào có thứ hạt cải ấy, vì không ít thì nhiều trong đời có ai không một lần phải chứng kiến cảnh mất người thân. Người phụ nữ đã nhanh chóng giác ngộ ra sự thật đó. Sau khi chôn xác đứa con bé bỏng của mình xong, bà đã đến đảnh lễ và quy y với Đức Phật. 

Mỗi khi thấy chiếc xe tang nào đi qua, tôi lại nhớ đến câu thơ của Đỗ Trung Quân: “… Ngả nón đứng chào xe tang qua phố. Ai mất mẹ sao lòng ta hoảng sợ. Ngày tháng kia bao lâu nữa của mình…”. Đó là tâm trạng của một người con sợ chứng kiến cảnh một ngày kia mình sẽ không còn mẹ, sẽ mồ côi, sẽ bơ vơ… Nhưng mồ côi, bơ vơ có ý nghĩa gì bằng khi một ngày kia người con không được chăm sóc mẹ, không được chia sẻ những vui buồn trong đời với mẹ, hay chỉ đơn giản là không được chào hỏi mẹ mỗi khi đi - về, không được nhìn thấy mẹ vui khi ăn một món thật ngon do tự tay mình nấu, mặc một chiếc áo thật đẹp do tự tay mình mua… Bản thân tôi phải sống xa mẹ, nên tự hổ thẹn khi không làm được những điều đơn giản nhất. Trong cuộc sống tha hương bận rộn của mình, tôi chỉ biết hằng đêm dành mấy mươi phút để niệm Phật và nhớ nghĩ về mẹ. Mỗi khi tôi vấp ngã, nghĩ đến mẹ là tôi lại tự mình đứng dậy. Mẹ là Phật. Mẹ thương con như Phật thương chúng sinh. Biết vậy mà tôi vẫn có tâm trạng hoảng hốt như nhà thơ kia. 

Mỗi khi thấy chiếc xe tang nào đi qua, tôi lại nghĩ đến những tiếng kêu đớn đau bật ra thành lời, hay còn nghẹn lại ở trong lòng những người vợ khóc chồng. Và đâu đó, tiếng khóc vợ bi ai ngày nào của Phạm Thái (1777-1813) trở về: “Ta hăm hở chí trai hồ thỉ, bởi đợi tình cho nấn ná nhân duyên; mình long đong thân gái liễu bồ, vì giận phận hóa ngang tàng tính mệnh. Cho đến nỗi hoa rơi lá rụng, ngọc nát châu chìm, chua xót cũng vì đâu, não ruột cũng vì đâu? Nay qua nấm cỏ xanh, tưởng người phận bạc, sụt sùi hai hàng tình lệ, giãi bày một bức khốc văn, đốt xuống tuyền đài tỏ cùng nương tử”. Tiếng khóc thương của người xưa vẫn còn cho tôi một chút niềm tin rằng, lời đồn về những quý ông thời hiện đại, vợ tuy còn đó, môi vẫn đỏ, má vẫn hồng mà đã thay lòng đổi dạ, không phải là phổ biến. 

Mỗi khi thấy chiếc xe tang nào đi qua, tôi lại nhớ đến lời chiêu hồn tha thiết của cụ Nguyễn Du: “Mỗi người một nghiệp khác nhau. Hồn siêu phách lạc biết đâu bây giờ?”. Cái nghiệp mà cụ nói ở đây là cái nghiệp tự tạo: thiện có ác có, xấu có tốt có. Tuy khác nhau là như thế nhưng chết đi thì đều bi thương cả. Cụ chiêu hồn từ những người “mũ cao áo rộng”, lính thú chinh chiến, đến những người “buôn son bán phấn”, người đi ở, người cô thân, người vô tình chìm sông lạc suối, người có đẻ không nuôi… Và những cảnh đời khác nhau đầy bi thương, trắc ẩn ấy, đã đưa chữ nghiệp của Nguyễn Du bao trùm lên mọi thân phận trong xã hội. Nhưng cụ không lên án điều gì cả. Cụ chỉ đặt câu hỏi để người đời sau tự trả lời: “Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?”, “Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?”, “Hồn đường phách xá lạc loài nơi nao?”…

 Tôi cũng như bao nhiêu người khác, đều có một lý lịch về nghề nghiệp…, nhưng tôi chỉ biết chăm chăm với nghề mà quên đi nghiệp đang tạo của mình. Hàng ngày, đọc những trang báo đầy những cảnh giết nhau một cách tàn nhẫn mà không khỏi băn khoăn về lòng nhân trong cuộc sống. Đó là hệ quả của sự dồn tụ biết bao nhiêu cộng nghiệp, biệt nghiệp. Nhưng tôi vẫn thảng thốt, không biết lấy nghiệp nào để lý giải khi 5 cô bé tuổi còn chuồn chuồn kim đã rủ nhau cùng nhảy sông tự tử. Và một lần nữa, câu hỏi của cụ Nguyễn Du vẫn từ mấy trăm năm qua vẫn còn đang bỏ ngỏ… Ai cũng muốn trở thành người hiểu được Tố Như. Nhưng phải chăng khóc Tố Như chính là chuyện khóc đời, thương đời? Tôi chỉ biết theo cụ niệm tiếng nam mô để hóa giải những bàng hoàng trong tinh thần, để có nhiều hơn niềm tin yêu ở mỗi con người.

Mỗi khi thấy chiếc xe tang nào đi qua, tôi lại đem cái nhìn bình đẳng của cụ Nguyễn Du mà niệm Phật, răn mình. Trong xe tang ấy, có người đang viết lên lịch sử cuộc đời mình, có người bị đời ruồng bỏ, lãng quên; có người đã từng đầm ấm hạnh phúc, có người tủi phận cô đơn; có người ác, có người hiền… Nhưng họ đều đã có nơi để đi về theo nghiệp riêng của mình. Bất kể những chiếc xe tang nào đi qua, người nằm đó, có tôn giáo, tín ngưỡng hay không, tôi đều dành cho họ một câu niệm Phật. Có những điều tẻ nhạt, có những sự thú vị nơi mỗi cái chết, nhưng đó đều là những đối thoại không dứt với riêng tôi về thân phận con người. Tôi nghĩ rằng, cái chết đến với con người cũng không phải là chuyện hoàn toàn đau khổ, vì chỉ có ở đó, mọi toan tính ích kỷ, mọi hờn ghen, thù hận, mọi công danh, tiền bạc mới trở nên vô nghĩa… 

Nhưng cũng mỗi khi thấy xe tang qua phố, tôi lại vô tình chạm phải những ánh mắt không vui nhìn vào đoàn người đang đi, xem đó như là hành vi làm kẹt giao thông. Đằng sau con mắt ấy là gì…, tôi không hiểu. Có lẽ nào, sự bận rộn của cuộc sống mưu sinh đang chia tách con người ra thành từng mảng, đến nỗi phải giành sống với người chết để đi, mặc dù chỉ mất có 5 phút đoạn đường. Cuộc sống còn rất nhiều liên đới với nhau, mà ở đó, nghĩa tử luôn là nghĩa tận, và bởi cái chết còn cho ta hiểu thêm về tình bằng hữu, tình hàng xóm láng giềng. Xin hãy ngả nón tiễn biệt nhau, không phải với ánh mắt của những người xa lạ, vô tình. 

Cũng như những lần khác, hôm nay tôi lại “ngả nón đứng chào xe tang qua phố” và thêm một tiếng niệm Phật, một lời nguyện cầu, mong người ra đi sẽ bỏ qua tất cả vui buồn trong kiếp sống mà để lòng thanh thản. Nhìn chiếc xe tang dần xa khuất, tôi chợt hiểu chúng ta không phải là những người tù của bản thân mình. Cuộc sống tốt đẹp còn ở mãi ngoài kia…
 



PHẬT GIÁO UGANDA
 Đỗ Thị Kim Thư

Uganda là một trong 4 nước có tổ chức Phật giáo vừa mới gia nhập Thượng đỉnh Phật giáo (Buddhist Summit - vốn đã có 26 quốc gia có tổ chức Phật giáo là thành viên, trong đó Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một trong những thành viên sáng lập). Phật giáo Uganda còn đang ở thời kỳ đầu của việc thành lập nhưng chúng ta có thể lạc quan vì ánh đạo vàng Phật giáo đang có sức lan tỏa đến Uganda cũng như đến lục địa đen vốn phải chịu nhiều bất hạnh…

Trung tâm Phật giáo Uganda

Trung tâm Phật giáo Uganda là Trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Uganda do Thượng tọa Buddharakkhita sáng lập vào ngày 10.04.2005 với sự ủng hộ nhiệt tình của nhóm Phật tử tiên phong, đứng đầu là Felista Nampiima và Joyce Nakatte. Lúc ấy, họ tạm thuê khuôn viên ở đường Bombo cách trung tâm thành phố Kampala 5 dặm. Trung tâm mở cửa cho tất cả những ai mong muốn xây dựng hòa bình, hòa hợp và hạnh phúc.

Mục đích của Trung tâm Phật giáo Uganda như sau:

- Truyền bá Phật pháp ở Uganda và ở các nước khác ở châu Phi.

- Xây dựng một ngôi chùa Phật giáo để Tăng Ni và Phật tử có thể sống ở đó và thực hành Phật pháp tại Uganda.

- Cung cấp các trú xứ Thiền quán và chương trình nghiên cứu Phật học cho quần chúng.

- Cung cấp chỗ cho một số ít cư sĩ muốn tham gia vào hoạt động của Trung tâm.

- Tổ chức các hoạt động xã hội và văn hóa.

Thượng tọa Buddharakkhita

Thượng tọa Buddharakkhita là một tu sĩ Phật giáo Nguyên thủy, sinh năm 1966 tại Uganda, mang quốc tịch của nước này. Năm 1990, Sư sang Ấn Độ. Tại đây, Sư khởi đầu cuộc hành trình tâm linh với nhiều vị thầy tâm linh. Sau đó ngài nhập tu viện dưới sự dẫn dắt của Đại sư Pannidipa ở Trung tâm Thiền định Như Lai, San Jose, U.S. và thọ nhận giáo hàm cao hơn dưới sự giám hộ của giáo thọ sư là Cố Đại sư U Silananda. Sư thọ Đại giới Tỳ kheo theo truyền thống Nam tông. Từ đó, Sư tu tập dưới sự dẫn dắt của Sư Gunaratana. Sư  cũng đã tu tập với nhiều bậc thầy lỗi lạc như Đại sư U Pandita ở Myanma cũng như ở Hoa Kỳ.

Năm ngoái, Sư xây dựng Trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Kampala, Uganda. Sư là chủ tịch và là người sáng lập Trung tâm Phật giáo Uganda. Ngày nay tại Uganda Sư có nhiều đồng bào Phật tử Uganda. Hơn nữa, có hơn 50 Phật tử châu Á đang cùng làm việc tại đây. Hiện nay, Sư trú tại Kampala, Uganda. Những hoạt động mới đây của Sư bao gồm phụ trách khóa giảng dạy và nhập môn thiền học cho người bản xứ ở trong nước và ở Đông Phi; hướng dẫn các nhóm nghiên cứu Phật pháp một hoặc hai lần mỗi tuần; viết một cuốn sách nhỏ nhan đề “Gieo trồng hạt giống Phật pháp: Phật giáo châu Phi vươn mình”; xây dựng trung tâm Phật giáo Uganda; thuyết giảng về Bản chất và ý nghĩa của Phật giáo châu Phi tại Viện Đại học Marakere, Uganda và nhiều hoạt động khác. Sư cũng dành thời gian trong năm để tu tập và thuyết pháp tại Hội Bhavana ở West Virginia, Hoa Kỳ.

Là tu sĩ Phật giáo đầu tiên ở Lục địa châu Phi, Sư và các hoạt động của Sư được nêu bật với nhan đề: “Vị Tăng sĩ đầu tiên của châu Phi” trong New Vision và trong Sunday Vision, nhật báo và tuần báo của nổi tiếng tại Uganda.

Vị Tăng sĩ đầu tiên của châu Phi

Tại Uganda, Sư thường bị các tài xế taxi không chịu cho lên xe và nhiều người phải sợ và bỏ chạy khi nhìn thấy Sư. Sư không phải là một thầy mo ác độc hay một người chết đang đi như phần đông người gán cho Sư do vì bộ y nâu sồng, chiếc quạt, chiếc đảy nâu và chiếc bình bát tròn bằng kim loại của Sư. Sư là vị Tăng sĩ đầu tiên của châu Phi.

Khi tôi trông thấy Sư lần đầu tiên, tôi nghĩ rằng Sư đang tìm kiếm vật gì đó mà Sư đã đánh rơi. “Nơi nào tôi bước được 10 bước trong một giờ thì, mắt nhìn xuống dưới cách bàn chân tôi vài mét để được chú tâm thì nơi ấy được gọi là con đường Thiền”. Thượng tọa Buddharakkhita mà trước kia là Steven Kabogozza giải thích như thế.

“Tôi vốn là một thợ lặn”, Sư tiếp tục giải thích, “Tôi có thể được trả 1.500 USD mỗi tháng và đấy là một công việc tốt. Nhưng tôi đã bỏ hết vì giáo pháp của Đức Phật, nhằm đạt tới hàng Thánh giả thứ tư trong Phật giáo - A la hán - và sống cuộc đời giản dị, thuần khiết của một Tăng sĩ”.

Sư kể: “Vào tuổi 39, tôi trở thành vị tu sĩ da đen đầu tiên được Tiến sĩ Alex Berzin ở Hoa Kỳ truyền giới. Pháp danh của tôi có nghĩa là “Hộ trì Đức Phật”.

Vào lúc Sư cải sang đạo Phật vào năm 1990, Sư  không nghĩ rằng ngài sẽ đạt tướng cấp Tăng sĩ.

Sư nói tiếp: “Nhưng sau khi nghiên cứu Phật giáo và hiểu rằng chúng ta sống nhiều đời và rằng những gì chúng ta làm trong các đời trước có ảnh hưởng đến những gì chúng ta làm trong đời kế tiếp, tôi nhận thấy thông điệp này thật rõ ràng và tôi phải đạt được cấp cao nhất trong niềm tin; tôi phải trở thành một Tăng sĩ”.

Sư cho biết: “Chúng tôi nguyện không ăn sau giờ ngọ cho nên chúng tôi dùng bữa trưa lúc 11 giờ và sau đó chúng tôi chỉ được dùng thức uống. Điều này đảm bảo cho chúng tôi Thiền định mà không bị trở ngại. Lại cũng vì chúng tôi được cung cấp thức ăn miễn phí cho nên chúng tôi ăn mỗi ngày một bữa để không gây gánh nặng cho thí chủ”…

Nhận định về Đại tạng kinh Phật giáo, Sư Budddharakkhita nói: “Đây là một cuốn sách đồ sộ, lớn gấp 11 lần bộ Thánh kinh của Thiên Chúa giáo, cho nên chỉ được cất giữ trong chùa. Chúng tôi đọc và suy nghĩ các chương kinh. Chúng tôi che miệng bằng một cái quạt trong khi tụng đọc kinh và nhắc nhở các tín đồ rằng lời kinh là lời Phật dạy chứ không phải lời các vị Sư. Lời kinh bằng Pàli ngữ, ngôn ngữ của Đức Phật”.

Sinh ra ở Uganda, vốn là một cựu học sinh các trường tiểu học và trung học Rubaga Boy, St. Henri Kitovu và Ndejje, Thượng tọa Buddharakkhita không thể đụng chạm hay một mình ở gần một phụ nữ.

Một ngày của ngài bắt đầu từ 4 giờ sáng. Sau khi Thiền định và thanh tịnh tâm, Sư thực hiện thiền hành và đi khất thực. Tuy nhiên, ở Uganda, Sư phải tự mua các thứ cho bữa ăn của mình.

 (Theo HT. Wragoda Sarada)
 
 


 500 VÕ SINH HOA KỲ HÀNH HƯƠNG 
ĐẾN CHÙA THIẾU LÂM

Nhân ngày Quốc Khánh lần thứ 230 của Mỹ, 500 võ sinh thuộc môn phái Thiếu Lâm ở Hoa Kỳ đã hành hương về vùng đất khai sinh nền võ thuật Thiếu Lâm Trung Hoa. Họ đã dừng chân tại ngôi chùa Thiếu Lâm nổi tiếng tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. 

Dưới sự chứng minh của Hòa Thượng viện chủ chùa Thiếu Lâm - Ngài Thích Vĩnh Tân, các võ sinh Hoa Kỳ đã trình diễn tài năng của mình qua các môn võ như: đao pháp, xà quyền và các thế võ tự vệ. Đại sư trụ trì đã tâm sự với họ: “ Chuyến hành hương này sẽ giúp ích cho các bạn hiểu biết thêm về phong cách truyền thống của Đông phương, nghi lễ văn hóa và võ đạo”. Đồng thời, Ngài khuyến khích các võ sinh Hoa Kỳ nên kết hợp nền văn hóa cổ đại Đông phương với nền văn hóa hiện đại để cống hiến cho nhân sinh có cuộc sống hòa bình và hạnh phúc. Đồng thời, Ngài khen ngợi sự tiến bộ của Yandeng (Charles Mattera) và Yandi, (Stephen Demasco) hai võ sư Thiếu Lâm người Mỹ đã cải đạo, quy y Tam Bảo tại chùa Thiếu Lâm từ năm 2002. 

Phái đoàn đã đến chùa Thiếu Lâm đúng vào ngày Quốc Khánh Hoa Kỳ lần thứ 230. Võ sư Yandeng nói: “ Tôi rất vui khi chào đón ngày lịch sử trọng đại tại một ngôi chùa đã khai sáng ra môn võ Thiếu Lâm. Môn võ này đã thắt chặt mối quan hệ hai quốc gia chúng tôi và hi vọng rằng chúng ta có thể sống chung trong nền hòa bình miên viễn”. 

Được thành lập cách đây khoảng 1.500 năm, chùa Thiếu Lâm rất nổi tiếng về việc phối hợp võ thuật và Thiền học Phật giáo nhằm thanh tịnh hóa tâm hồn. 

Các võ sinh Hoa Kỳ từ 5 đến 62 tuổi đang sinh sống trong 30 tiểu bang  sẽ được 18 võ sư chùa Thiếu Lâm hướng dẫn thêm 3 ngày tại chùa Thiếu Lâm. Hiện tại, họ là những võ sinh của United Studios of Self Defense, trung tâm đào tạo võ Thiếu Lâm có nhiều chi nhánh trên 46 tiểu bang của nước Mỹ. 

Quảng Đạt dịch. 
(Theo Xinhua News Agency, 5-7- 2006)
 
 


ĐÁP SỐ CUỘC ĐỜI
Thảo Vy

Có nhiều người thấy xấu hổ vì cha mẹ nghèo, thất học, hoàn cảnh khó khăn. Có người cảm thấy xấu hổ vì nước da màu, vì lùn thấp…, hay oán trời trách đất vì mình đã ở nhầm nhà, đi nhầm con đường, “sinh nhầm thế kỷ”… Nhưng khó khăn hay thuận lợi phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố nội lực của cá nhân. Và cuộc đời là sự báo đáp cho những ai có tư duy đúng đắn và nỗ lực tốt. 

Theo Inamori Kazuo, cuộc đời bao gồm nhiều sự thử thách. Đối với ông, thử thách là một phần tất yếu của cuộc sống, và con người phải tập sống chung với nó. Quan điểm này có lẽ chịu ảnh hưởng từ vị thầy Nishikata. 

Năm 1985, công ty Kyocera mặc dù đã sản xuất một loại dụng cụ giúp ích cho các bệnh nhân nhưng lại bị phê phán nặng nề vì vi phạm quy định về giấy phép sản phẩm. Ông đến viếng chùa và kể lại tình hình, vị sư già chẳng những không an ủi mà còn nói:  “Này, tôi nói để anh biết, việc gặp gian nan chính là bằng chứng chứng tỏ mình đang sống đấy”. Điểm đặc biệt mà ông nói tới là không chỉ khó khăn mới là thử thách, mà cả các thuận lợi cũng là thử thách. Ông viết: “Con người thường ngạo mạn và xa hoa vì gặt hái thành công và có địa vị từ quá sớm…; mới vừa thành công đã lên mặt huênh hoang. Như thế thì thành công cũng chỉ đến trong phút chốc. Đến cả tài sản và địa vị phải vất vả lắm mới có được cũng sẽ biến mất lúc nào không hay”. Và ông kết luận: “Có không ít người… mới 30 tuổi đã có tài sản hàng trăm tỷ yên. Đối với những người trong cuộc như anh ta thì sự thành công cũng là một thử thách”. 

Quan điểm của Inamori là một quan điểm tích cực. Đối với ông, hoàn cảnh là thử thách mà thử thách là vấn đề mỗi người cần phải đối diện để chủ động điều chỉnh. Có nhiều người thấy xấu hổ vì cha mẹ nghèo, thất học, hoàn cảnh khó khăn. Có người cảm thấy xấu hổ vì nước da màu, vì lùn thấp…, hay oán trời trách đất vì mình đã ở nhầm nhà, đi nhầm con đường, “sinh nhầm thế kỷ”. Đấy là những thử thách liên quan đến thân thế của cá nhân. Còn có những thử thách mang tính cộng đồng. 

Ở Việt Nam, sau chiến tranh, các khó khăn đã làm nảy sinh tâm lý thông thường là đổ hết mọi thứ cho hoàn cảnh và chờ hoàn cảnh thay đổi. Trong các hoạt động của đời sống, ta thường nghe than van: “điều kiện khó khăn, chính sách không đúng, cơ cấu không hợp lý…, vì thế mà tôi không thể làm việc được, không thể sống được…, tôi phải đi chỗ khác, làm việc khác”.

Tâm lý thụ động quả là rất nặng. Thậm chí, trong những người được xã hội ưu đãi, những “hạt giống đỏ”, được cấp học bổng  từ 40.000-50.000 USD/ người để đi học nước ngoài cũng có những ý kiến phát biểu: “Nếu thành phố không quan tâm đầu tư thì liệu những người trẻ như chúng tôi có khả năng phát triển hay không?”; và cho rằng chương trình đào tạo 300 tiến sĩ, thạc sĩ cần công khai mức lương để những người trở về không bất ngờ và yên tâm. Điều đó có nghĩa là: “cứ tạo hoàn cảnh thuận lợi đi, chúng tôi sẽ cống hiến”. Chúng ta chợt chạnh lòng nghĩ đến số đông sinh viên. Với học bổng vài trăm ngàn một tháng, thậm chí nhiều người còn phải đóng học phí, không được những ưu đãi như các “hạt giống đỏ”, không biết họ có đủ tư cách để yêu cầu việc công khai mức lương, cũng như một vị trí làm việc để họ “yên tâm” học hay không. Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ TP.HCM cũng phải nói rằng: “Bản thân các hạt giống đỏ không được thờ ơ, phải xem mình là bộ phận của cả guồng máy, có thể guồng máy đó chưa tốt thì phải cùng cải tạo chứ không nên đứng ngoài”. 

Bằng quan niệm đời người là sự sống chung với thử thách, Inamori Kazuo cho rằng, cuộc đời là sự báo đáp cho những ai có tư duy đúng đắn và nỗ lực tốt. Khó khăn hay thuận lợi phụ thuộc rất nhiều (thậm chí hoàn toàn) vào yếu tố nội lực của cá nhân. Điều đó được biểu thị bằng “công thức”:  Đáp số cuộc đời = Năng lực x Lòng nhiệt tình x Cách tư duy.

Ông định lượng “năng lực” theo thang điểm 100. “Lòng nhiệt tình” ông cũng chấm theo thang điểm 100. Ông phân tích: “Nếu một người có trí thông minh thấp hơn cả mức trung bình và chỉ được 30 điểm chẳng hạn. Bù lại điểm về lòng nhiệt tình là 90 điểm, vì người ấy ham muốn làm việc gấp mấy chục lần so với người khác, thì điểm cuộc đời sẽ là 30x90=270”. Trường hợp một người thông minh, có điểm năng lực 90, nhưng lại cho rằng mình không thể “làm việc cật lực” thì lòng nhiệt tình chỉ khoảng 10 điểm. Điểm cuộc đời của người ấy chỉ khoảng 90x10=900. Ông kết luận: "Tôi luôn nghiệm thấy, người biết rõ những hạn chế về năng lực của mình, nếu luôn chịu khó, nỗ lực thì bao giờ cũng có đáp số cuộc đời hơn hẳn những người thông minh nhưng lười biếng”. Về thông số “cách tư duy” ông cho thang điểm từ -100 đến +100. Giải thích về điểm âm trong cách tư duy, ông viết: “Giả dụ, một người có năng lực tuyệt vời, có lòng nhiệt tình mạnh mẽ nhưng lại thù oán, căm giận cuộc đời thì đáp số cuộc đời của người đó là số âm càng lớn”. 

Từ “năng lực” được ông giải thích: “Đó là những gì bẩm sinh, có sẵn trong con người, bao gồm năng lực mang tính thể trạng như thần kinh vận động có phát triển hay không, có khoẻ mạnh hay không…, chứ không phải theo nghĩa đầu óc có thông minh hay không”. Chiều cao, giọng nói, cơ bắp, sự hoàn hảo hay thiếu sót của các giác quan… tạo thành “năng lực” bẩm sinh của một người. Theo ngôn ngữ của máy tính, thì “năng lực” mà ông đề cập tới ở đây tương tự như là cấu hình của máy, là phần cứng mà dựa trên cơ sở đó, các chương trình máy tính hoạt động. Như vậy, “năng lực” là phần khó thay đổi được, và mọi người cần phải thừa nhận nó, chứ không mặc cảm nếu nó không hoàn hảo. Năng lực của một người mà hơi yếu thì đó cũng là một loại thử thách đối với người ấy.

 Công thức “đáp số cuộc đời” của Inamori Kazuo không đề cập tới hoàn cảnh bên ngoài. Hoàn cảnh bên ngoài chỉ đóng vai trò của thử thách. Vấn đề Inamori Kazuo đặt ra là con người ta phải có hành động như thế nào để tối ưu hóa hành vi của mình và để điều chỉnh thử thách. Ông tự dẫn chứng hoàn cảnh của mình, một người có “năng lực “ không cao. Ông viết: "Thất bại đầu đời của tôi là việc thi trượt trung học cơ sở. Năm sau thi lại cũng trượt. Tôi phải học ở trường dự bị. Đến khi thi đại học, tôi trượt Đại học Quốc gia Osaka và phải thi vào trường đại học hàng tỉnh. Ra trường tôi cũng trượt trong cuộc thi tuyển nhân viên của các công ty”. Tuy nhiên, cuộc đời của ông đã cho thấy, một người năng lực bẩm sinh không cao cũng có thể đạt được nhiều kết quả to lớn. Tất cả phụ thuộc vào hai yếu tố còn lại của công thức đáp số cuộc đời.

Thông số  quan trọng nhất mà Inamori Kazuo đưa vào công thức là “cách tư duy”.  Ông nói: “Sau này, tôi quan tâm sâu sắc và tìm hiểu kỹ lưỡng về “cái tâm” của con người, cũng bởi vì ngay từ nhỏ tôi đã ý thức về sự mong manh của kiếp người”. Theo ông, do định hướng “âm” hay “dương” của “cách tư duy”, người ta sẽ tạo ra những vòng tuần hoàn tiêu cực hay tích cực cho cuộc sống của mình.  Inamori Kazuo đã trải nghiệm đoạn kệ đầu tiên trong kinh Pháp Cú:

Ý  dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo
Nếu với ý nhiễm ô
Nói năng hay hành động
Khổ não bước theo sau
Như  chiếc xe theo chân con vật kéo,

Ý làm chủ các pháp
Ý làm chủ, ý tạo
Nếu với ý thanh tịnh
Nói năng hay hành động
An lạc bước theo sau
Như bóng không rời hình.

Ông đã trải nghiệm vòng tuần hoàn tiêu cực từ bé. Khi còn nhỏ, ông bị lao mặc dù rất sợ bị bệnh: “Cứ mỗi khi đi qua góc nhà nơi chú tôi bị lao nằm đó, tôi lại lấy hai tay bịt mũi chạy bán sống bán chết, chỉ sợ hít phải vi trùng lao… Trong khi đó, cha tôi với tình thương em sâu xa, bất chấp hiểm nguy vẫn chăm sóc chú tôi cho tới phút cuối cùng. Nhưng vì thế vi trùng lao lại né, không bám vào ông. Còn tôi, một kẻ chỉ nghĩ tới mình, tìm mọi cách tránh xa thì vi trùng lao ào tới, bám lấy. Khi đó tôi còn rất nhỏ, nhưng cũng thấy ra được nhiều điều từ sự việc trên, và tự tỉnh ngộ đến tận bây giờ”. 

Khi lớn lên đi học, ông gặp vòng tuần hoàn tiêu cực khác. Khi tốt nghiệp đại học hàng tỉnh Kagoshima lại thi trượt trong các kỳ thi tuyển vào các công ty. Ông viết: "Có vẻ như nếu không có thế lực hoặc không quen biết thì dù có học giỏi, có tốt nghiệp đại học cũng chẳng có đất dụng võ… Khi đó trong tôi âm thầm dấy lên tâm trạng “xã hội sao mà bất công đến vậy”. Tất cả những gì tôi định làm đều trục trặc, đến nỗi tôi hình thành một đinh ninh quái đản: người ta mà bốc thăm thì thế nào cũng có lần trúng. Còn tôi dù có được bốc thăm cả trăm lần cũng trượt. Có làm gì cũng hỏng, như thể cuộc đời tôi là đồ bỏ đi vậy”. Cuối cùng thì Inamori Kazuo cũng xin được việc trong công ty công nghiệp Shofu, chuyên sản xuất sứ cách điện cao áp. Giống như tình trạng sinh viên tốt nghiệp ở Việt Nam hiện nay, ông tốt nghiệp ngành hóa hữu cơ, nhưng lại đi làm “trái chuyên môn” ở ngành gốm sứ trong lĩnh vực hóa vô cơ. Đã vậy, công ty Shofu mặc dù nổi tiếng nhưng lại đang trong tình trạng tài chính nguy ngập, đến nỗi nhiều người gặp ông bảo thẳng: “Này, báo trước cho cậu biết nhé. Làm việc ở cái công ty ấy thì chẳng ma nào nó chịu lấy cậu đâu”. Trong vòng tuần hoàn tiêu cực ấy ông mang một nỗi hận đời. Ông từng nghĩ: “Dù mình có cố đến mấy cũng bị xã hội gạt ra rìa. Hay thử dấn thân vào con đường Yakuza xem sao - làm một gã maphia có học có khi lại hay”. Sau đó, ông chán nản nộp đơn vào trường đào tạo sĩ quan và đã đỗ. Tuy nhiên, anh của ông đã ngăn cản việc đó. Trong lá thư gửi Inamori, người anh viết: "Anh luôn tin rằng em sẽ cố gắng làm việc để giúp gia đình thoát khỏi sự nghèo túng. Cả nhà phải chịu đựng đủ thứ để em học hết cấp ba, rồi theo học đại học. Vậy mà mới đi làm được ít bữa em đòi bỏ việc. Em nghĩ gì vậy? Lẽ ra, chỉ riêng việc xin được vào làm trong công ty cũng là tốt lắm rồi. Phải có lòng biết ơn mọi người chứ. Phải siêng năng làm việc…”.

Lá thư của người anh có tác động sâu sắc đến Inamori. Ông nghĩ: "Chẳng có chỗ nào khác cho mình tìm đến. Kêu ca mãi thì cũng đến thế. Thôi từ nay cứ toàn tâm toàn ý tập trung nghiên cứu tìm ra loại gốm công nghệ cao”. Quyết định này bắt đầu tạo ra vòng tuần hoàn tích cực trong cuộc đời ông. Ông viết: "Cũng từ đó, tôi thay đổi hẳn nếp nghĩ trong đầu bằng cách tự nhủ thầm: thay vì những lúc rảnh rỗi mình cứ suy nghĩ lung tung thì từ giờ mình sẽ dùng thời gian ấy để nghiên cứu. Từ đó cuộc sống hàng ngày của tôi cũng thay đổi. Bình thường cứ hết giờ làm việc là tôi lại về nhà tập thể để cơm nước, giặt giũ. Tôi bắt đầu cảm thấy thiếu thời gian kể từ khi để tâm vào nghiên cứu”. Ông viết tiếp: "Có một điều lạ là khi tôi bắt đầu miệt mài nghiên cứu thì hàng loạt kết quả khả quan cứ theo nhau xuất hiện”. Ông được khen ngợi, và, khi mới 23 tuổi, đã mang trong lòng ý nghĩ: "Sẽ vực công ty lên bằng kết quả của chính mình”. Một vòng tuần hoàn tích cực xuất hiện trong con người Inamori, và ông tâm sự: "Được khen ngợi. Công việc trở nên hấp dẫn. Càng nỗ lực không ngừng. Về sau nhận thức của tôi ngày càng sâu thêm: điều quan trọng nhất trong cuộc đời con người là ở chỗ phải tự tạo ra vòng tuần hoàn tích cực như vậy cho mình”. 

   Cách tư duy nào sẽ đươc đánh giá là “dương”? Cách tư duy theo như Inamori Kazuo đề cập trước hết là sự tư duy đúng (chánh tư duy): “Nếu sống với lòng thù hận cuộc đời, nhìn đời bằng lăng kính méo mó thì điểm về cách tư duy là âm…” . Quan trọng hơn,  ông cho rằng cần phải có một quan điểm đúng (chánh kiến). Ngay từ phần mở đầu, ông đã nhắc tới quyển sách “Âm chất lục” nổi tiếng của tác giả Viên Liễu Phàm (Trung Quốc). Ở Việt Nam, quyển sách này đã được dịch ra với tựa đề “Bốn bài giáo huấn của người xưa” (NXB Văn Nghệ 2005). Inamori viết: “Âm chất lục là cuốn sách mà tôi rất thích đọc và thường hay giới thiệu cho mọi người cùng đọc. Tôi cũng nghĩ rằng con người có số mệnh. Thế nhưng số mệnh không phải là điều không thể thay đổi được. Như câu chuyện đã chỉ ra: nếu ta nghĩ điều thiện, nếu ta làm việc thiện thì ta sẽ có thể thay đổi được số mệnh và biến cuộc đời ta thành một thứ còn quý giá hơn cả sự sống nữa”. Ông giải thích kỹ hơn: "Vậy, thế nào là điều thiện? Trong ngôn ngữ có hai từ “ích kỷ” và “vị tha”. Người ích kỷ là người chỉ cần có lợi, chỉ cần tốt cho riêng mình, còn người khác ra sao cũng được. Người có tấm lòng vị tha là người khi làm bất cứ điều gì cũng nỗ lực vì người khác chứ không phải chỉ để thỏa mãn dục vọng của mình”. Ông nói tới luật nhân quả: "Mọi người đều biết chân lý: thiện tâm sẽ mang đến kết quả tốt. Ngạn ngữ Trung Quốc: "Tích thiện dư phúc”. Những người thiện tâm, luôn làm điều thiện thì nhất định sẽ hạnh phúc. Điều thiện luôn mang lại lợi ích cho người thực hành nó”.

Những điều vừa đề cập là kinh nghiệm bản thân của Inamori. Khi việc nghiên cứu vật liệu cách điện thành công, công ty Shofu đã được công ty Matsushita đặt hàng. Với ý nghĩ tích cực, ông thực sự đã vực công ty Shofu sống dậy. Tuy nhiên, vào thời điểm đó lãnh đạo công ty và công nhân thường xuyên mâu thuẫn và hay xảy ra những cuộc đình công. Trong tình hình như vậy, ông quyế