BẦU
TRỜI THÁNG BẢY
Thái
Kim Lan
Vu
lan Huế bắt đầu bằng một nẻo đường tâm cảm huyền
bí, bằng con thuyền ngược bến Linh Mụ lên điện Hòn Chén
để sống những buổi lễ hóa thân như một hình thức thoát
xác, chuyển hóa bằng những phút xuất thần, bằng tiếng
nhạc om thòm ma quái giựt gân, một nghi lễ “chuyển bờ”
từ địa ngục lên đến nhân gian, từ nhân gian lên đến
cõi trời. Trong tuổi thơ, chiếc thuyền với cung đàn réo
rắt đã trở nên một linh cảm về những thế giới ngoài
tầm giới hạn của ba chiều không gian…
Khi mưa ngâu tháng Bảy bất ngờ trở về làm xao động cả
bầu trời mệt mỏi đang chìm lỉm trong lòng sông Hương nơi
khúc quành chùa Linh Mụ, Huế bỗng rùng mình chợt tỉnh cơn
mê mùa hạ.
Mưa trút xuống bên tê Bãng Lãng Nguyệt Biều, lùa mây từ
triền núi Trường Sơn mờ mịt quyện đồi Hà Khê, theo
gió chới với trên hàng cau bên ni sông làng Xuân Hòa, sau đó
không lâu, màu xanh từ đồi Thọ Cương đến vườn Kim Long,
Linh Mụ, Hương Hồ, Văn Thánh bập bềnh trong màn nước, cả
vùng không gian sông núi choáng ngợp trong màu hồ thủy. Từ
bên ni bờ sông nhìn vọng qua màn mưa về phía núi, đỉnh
Kim Phụng chập chờn lung linh như đầu một con rồng thần
thoại đang dùng ảo thuật biến những luồng khí nóng xích
tử ngùn ngụt như những con rắn lửa đang bóp nghẹt cỏ
cây chết đứng thành những trận mưa rào sung mãn. Từ bến
sông mưa tạt vào mái hiên từng làn hơi nước mát mẻ như
những đợt sóng, mong manh thoáng gió hắt vào da thịt đang
còn hừng hực nắng tháng Năm tháng Sáu. Sự va chạm gây một
nỗi sửng sốt ngưng thần, đưa cảm xúc vào trong một bước
ngoặt, nghe như có tiếng trở về của hoa lá ngoài sân !
Mưa Ngâu thường hay kéo dài từ chiều đến quá khuya, sướt
mướt như nỗi lòng của Chức Nữ nhớ Ngưu Lang trong những
mùa trăng khuyết, ào ạt trên lá chuối lá vải lá giáng châu
trong vườn cây, sầm sập trên mái nhà, nhưng âm vang nước
chảy lại gây một cảm giác thoa dịu lạ lùng, và giấc ngủ
đầu tiên đến êm ả sau mấy tháng hè ngộp thở…
Buổi sáng sau cơn mưa, khí trời trong vắt như “vũ trụ choàng
áo mới"(1), trong suốt đến nỗi có thể nhìn rõ được từng
ngọn lá của cây nhãn cổ thụ nơi bến đò Long Thọ bên
kia sông. Sự yên tĩnh trở nên nhẹ hửng, lững lờ trôi theo
giòng sông trong nắng sớm. Chén nước trà ban mai uống đã
thôi không vội vàng mà thong thả từng ngụm từng ngụm trong
hơi đất mát rượi thoảng bên hiên. Có thể ngồi yên rồi
đó! Định thần trong một giây! Hết bồn chồn cánh quạt
tre phần phật! Nút áo “cổ kiềng" (2) trên cùng đã được
cài cùng một lúc với thoáng gai mình chợt lạnh, nghe chân
bước không gấp trên lối mòn ra ngõ nhìn sông hay lững thững
quanh vườn tỉ tê thăm hoa lá. Thế rồi, giữa nhịp bước
đi và dừng lại, nơi một khoảnh khắc bất định như không
phải giờ của đồng hồ, có thể ngày hôm ấy hay hôm sau
hay mai kia, với một chút bất ngờ có thể làm nở nụ cười
toại nguyện, từ dòng sông vọng về tiếng réo rắt của
một cung đàn kim cổ, âm thanh dội qua bờ bên kia rồi quay
lại trên đầu những dợn sóng lăn tăn, đuổi theo con thuyền
đang thong thả tay chèo ngược dòng Hương Giang lên điện Hòn
Chén. Con thuyền lướt trên vùng nước bàng bạc màu xanh lục
thủy trông khác ngày thường, không còn xuôi ngược tảo tần
như mọi khi, mà thong dong như một gã tài tử lỏng buông tay
khấu, với những chuổi phướng xanh đỏ đủ màu phất phơ
trước gió và cạp điều thắt lưng, lọng vàng sáng chói,
trông ngoạn mục giữa cảnh đất trời u mặc sau cơn mưa.
Cũng trong không gian mộc mạc không lời của trời mây cây
cỏ trong đáy nước, âm giai nhị hồ, nguyệt cầm, sáo trúc,
kèn và trống chầu văn chỏi lên những tấu khúc lạ lẫm
như của những tay chơi ngoại cuộc hào hoa, kích động một
thớ giây thần kinh nào đó trong cơ thể, lóe sáng trong tim
một ánh vui như màu hồng sen cánh giáng của hoa đông lan đang
lấp ló trong khóm lá xanh bết bùn của trận mưa ngâu trước
ngõ. Nhịp chân của ai đó trên đường đi bỗng dừng lại
nửa giây, như để đưa đà vọt lên cao trong một vũ điệu
giựt gân, cùng lúc với cái ngảnh đầu nhìn ra sông thu nhận
con thuyền trẩy hội đang chuyển động trong võng mô.
Hình như hàng năm, nghi lễ không gian và thời gian vẫn là
những vết xe quay tròn một chu kỳ, chỉ có cơn mưa, dù đã
nghìn năm cổ độ, cũng như tiếng đàn vọng từ bách thiên
vạn kiếp tuy đến đúng hẹn mà vẫn đột ngột, bất ngờ
gây cảm, đánh nhẹ trên phím đàn bỏ quên ngày tháng, nhắc
nhở lòng người rằng, từ đây cho đến khi mảnh trăng thượng
tuần mới mẻ xuất hiện cùng với sao hôm là Huế đang ở
trong thượng tuần tháng Bảy, mùa Vu lan đang đến! Mỗi năm
và mấy mươi năm sau, vẫn mưa ngoài ngõ, vẫn tiếng đàn
réo rắt trên sông vào một chiều bãng lãng với con trăng
thượng tuần treo nơi đầu núi, Vu lan Huế !
Vu lan Huế đã đến trong tuổi thơ của tôi như thế, trong
bầu trời tháng Bảy của vùng đất Linh Mụ cùng với bóng
dáng thân thiết vào ra của bà và của mẹ trên các lối đi
về.
Cùng với tiếng mưa và âm vang của đàn sáo trên sông, câu
chuyện cổ tích ban đêm không còn khúc khích với “con trâu
cười con cọp đến rụng hết cả hàm răng”, với “nắm
xôi bờm cười”, với “bắt cô trói cột” hay “trâu cột
ghét trâu ăn”… Áp đầu vào ngực của bà, nghe giọng kể
chuyện trầm đều dần dà đượm vẻ huyền bí mủi lòng
với hồn ma Cúc Hoa thương con hiện về bắt chí cho con bên
mộ trong truyện Phạm Công Cúc Hoa, hay ấm áp sùng thượng
cảm kích với tấm lòng chí hiếu của Mục Kiền Liên nguyện
đi cứu mẹ từ hỏa ngục. Trong cơn mộng mị, chiếc thuyền
ngũ sắc trôi bồng bềnh giữa tiếng hoà tấu ngũ âm theo
với giòng mưa, đong đưa như một chiếc võng, có thể “trôi”
trên đất liền và “đi” bộ trên sông! Vũ trụ không còn
hạn hẹp mà mở ra với nhiều tầng thế giới. Nhân gian và
địa ngục chỉ cách nhau một nét chập chờn giữa ánh trăng
và bóng lá, không thế giới nào thực hơn thế giới nào…
Mấy nghìn năm thuở trước thời Đức Phật mà như mới hôm
qua…Mấy tầng thế giới như vừa xích lại gần nhau… bằng
tấm lòng THƯƠNG MẸ của Mục Kiền Liên Bồ tát, một trong
những đệ tử gần gủi nhất của Đức Phật, có thiên khiếu
nhìn thấu suốt mấy cõi trời, bằng con mắt có thể vén
màn vô minh đã nhìn được mẹ đang bị trừng phạt trong
chốn A tì. Mục Kiền Liên đi tìm mẹ, một “vong nhân”
vì đã sống thiếu lòng nhân ái nên bị đày đọa trong chốn
địa ngục tối tăm. Mục Kiền Liên đi vào điạ ngục cũng
không khác chi một Orphée (3) của thần thoại Hy lạp đi tìm
người yêu trong cõi chết hay một nghệ sĩ ôm đàn lang thang
muôn kiếp qua nhiều cõi ngân hà để một ngày vào độ trăng
rằm chay đàn cứu độ những kẻ đọa đày trở lại làm
người trên thế gian. Cũng thế, chiếc bồn tên gọi là Vu
lan Bồn - cái chậu chứa đựng những định lực tu chứng
thâm hậu nhất của những đệ tử của Đức Phật có thể
giúp chuyển nghiệp ác của một ngạ quỷ sang nghiệp lành
của một con người - có mãnh lực cũng chẳng khác chi tiếng
sáo của Orphee dẫn đường cho Euride trở lại thế gian hay
tiếng trống chầu văn của nghệ nhân trên điện Hòn Chén
đưa người đồng xuất thần nhập cốt. Vạn vật hoà đồng
trong một vũ trụ không có phân ranh, “ở vào chốn không
vang đi vào chón không phương… để chơi bên miền không mối,
ra vào chỗ không bờ cõi …” (Trang Tử, Nam Hoa kinh, bản
dịch của Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hoá, 1994, chương XI, “Tại
Hựu”, tr. 260).
Thế giới Vu lan đã mở ra trong trí tưởng trẻ thơ của tôi
từ những mảnh cảm thức trực quan như thế, nhưng cũng từ
đó, không cần giải thích thêm, đứa trẻ đã sốngVu lan,
đã hiểu được qua Vu lan chữ HIẾU gắn liền với chữ THƯƠNG,
không hạn hẹp mà rộng mở cho vô lượng chúng sinh: “tháng
Bảy ngày Rằm xá tội vong nhân”. Không cần mở trang sách
giao khoa thư vỡ lòng “tháng Giêng là tháng ăn chơi...” cho
đến tháng Bảy ngày rằm… Vu lan cũng đã được cảm nhận
như là một ngày lễ hội tôn giáo trong năm rất gần gũi
với con người, gần gũi như tình mẹ thương con, con thương
mẹ, như mưa ngoài sông, như trăng lên đầu ngõ, như tiếng
nhạc lạ lùng trên sóng nước. Nhưng Vu lan cũng đồng thời
là CƠ HỘI SIÊU THOÁT của con người trên thế gian có thể
vượt giới hạn của mình trên bước đường chuyển hoá
để giải phóng cho mình và cho người. Bằng hạnh lực của
chính mình con người có thể “xá tội vong nhân”, -
“xá tội” chứ không “rửa tội” - vong nhân vô lượng
vì mê lầm phải ở chốn ngục tì vô minh trở lại thành
người nơi thế gian. Ý nghĩa của ngày Vu lan rộng lớn bao
trùm cả vũ trụ nhân sinh, tưởng như sẽ không thấu hiểu
hết được đối với những trí óc còn non nớt thơ ngây
hay ngu muội, nhưng có lẽ sự diệu kỳ của bước chuyển
hóa “xá tội đổi nghiệp”, đổi nghiệp “bát cơm lửa”
thành nghiệp “bát cơm lành” không nằm trên bờ luận lý
phân chia, mà ở nơi một tiếng đàn đang rơi xuống mặt nước
sông Hương, bỗng hoá nên đơn giản!
Vu lan Huế đơn giản và hồn nhiên như con thuyền ngược giòng
Hương Giang qua chùa Linh Mụ trầm tư quán tưởng rồi bỗng
ca nhạc vang lừng xanh đỏ thẳng tay chèo đến điện Hòn
Chén nhảy muá lên đồng, đến nỗi cái nhìn của người
Phật tử chân chính, của quý ôn quý thầy lắm khi trở nên
nghiêm khắc đối với hiện tượng gần như lạc hướng này.
Sau mấy tháng kiết hạ giữ giới và chiêm nghiệm quán tưởng,
rằm tháng Bảy là ngày trăng tròn đầu tiên được xem là
ngày giác ngộ giải phóng cho tất cả chúng sinh từ con người
giới hạnh cho đến những con người tha hóa, từ con người
đang sống trên thế gian cho đến những hồn ma bóng quế trong
chốn ngục tù tối tăm. Ngày rằm tháng Bảy là ngày tự tứ
đầu tiên Phật trở lại giảng kinh và cũng là ngày Mục
Kiền Liên theo lời Phật mang “bồn Vu lan“ đi quanh đảnh
lễ những vị A la hán xin nhờ trợ lực cứu mẹ ra khỏi
đọa đày. Với TÌNH THƯƠNG MẸ Mục Kiền Liên đã thực
hiện cơ hội giải phóng giác ngộ thành Phật mở rộng đến
những cõi âm ti, đem từ bi và hy vọng đến những nơi vô
vọng nhất của con người. Cái chết không còn là một đe
dọa sợ hãi, và những vong linh có thể hoá kiếp trở lại
trên thế gian. Cho nên Vu lan là ngày hội của chúng sinh đồng
đẳng!
Cho nên lòng người náo nức niềm vui hoá kiếp sinh linh, náo
nức như chính mình cũng đang hoá kiếp, khi nghĩ rằng những
người khuất mặt đang chờ ngày cửa ngục được mở rộng
để trở lại nhân gian, nhân gian như nơi chốn làm người
đang là vị Phật sẽ thành!
Tôi đã sống những ngày náo nức như thế từ khi mảnh trăng
thượng tuần lơ lửng trên đỉnh núi Kim Phụng mỗi ngày
một tròn thêm. Có một sự chờ đợi nôn nao, như người
bên ni sông chờ người bên tê sông khi chợt nhận ra chiếc
thuyền thấp thoáng trong tầm nhìn. Tôi đã thấy sự háo hức
của bà của mẹ, của các mợ, các dì, các cô, những người
đã làm mẹ nên biết thương mẹ đậm đà, nhớ mẹ từng
giây, trong những ngày từ mồng chín đến mười lăm. Họ
hẹn nhau đi từng đoàn đến các chùa lạy Phật. Huế có
bao nhiêu chùa thì họ đi đến bấy nhiêu, cầu nguyện và
đảnh lễ Phật hầu như không mệt mỏi. Đối với họ -
và về sau cũng đối với tôi - mỗi lần cúi lạy là
một lần gần thêm với mẹ đã xa cách nghìn trùng, mỗi lần
đem cơm cho những kẻ khốn cùng là một cơ hội chuyển chén
than thành cơm trắng ngọt ngào ở nơi cõi xa nào đó chưa
hề bước tới. Huế tưng bừng nơi từng gốc cây cổ thụ
với các buổi cúng cơm cho vong nhân khuất mặt, những buổi
cúng thị thực ngoài trời cho cả thiên thần quỷ vật. Vu
lan là một ngày lễ thánh thiện nhân ái nhất trong năm với
tấm lòng tự nguyện từ bi hỉ xả cho muôn loài.
Tôi vẫn còn nhớ nụ cười tươi rói của mợ Luân hàng năm
khi kể cho tôi nghe mợ đã đi lạy Phật nơi mấy mươi chùa,
và Linh Mụ sẽ là ngôi chùa cuối cùng dành cho ngày mười
bốn, mười lăm. Tiếng cười trong sáng bỗng trầm xuống
pha lẫn chút tinh ma cấm kỵ khi mợ báo tin đã thuê thuyền
vào đêm mười bốn để chị em cùng nhau lên điện Hòn Chén
coi lên đồng - mà đừng “mét” ôn Linh Mụ (HT Đôn Hậu
trụ trì chùa Linh Mụ) không thôi sợ ôn la - sáng hôm sau sẽ
về lễ Phật tại chùa Linh Mụ.
Hàng năm và hàng năm đó là hành trình Vu lan Huế. Vu lan Huế
bắt đầu bằng một nẻo đường tâm cảm huyền bí, bằng
con thuyền ngược bến Linh Mụ lên điện Hòn Chén để sống
những buổi lễ hóa thân như một hình thức thoát xác, chuyển
hóa bằng những phút xuất thần, bằng tiếng nhạc om thòm
ma quái giựt gân, một nghi lễ “chuyển bờ” từ địa ngục
lên đến nhân gian, từ nhân gian lên đến cõi trời. Trong
tuổi thơ, chiếc thuyền với cung đàn réo rắt đã trở nên
một linh cảm về những thế giới ngoài tầm giới hạn của
ba chiều không gian…
Mấy mươi năm sau trở lại Huế, đã là một Phật tử thuần
thành học Phật nhiều năm, tình cờ vào dịp Vu lan, cùng với
con tôi lại ngược dòng Hương Giang - lần này trốn ôn Từ
Đàm - chúng tôi đi thuyền lên điện Hòn Chén để xem lễ
rước Cha rước Mẹ như mọi năm. Ấn tượng của các buổi
lên đồng không còn huyền bí mê hoặc như trong thời thơ
ấu, có một lúc tôi đã nghĩ điện Hòn Chén không thuộc
vào ngày lễ Vu lan đầy ý nghĩa nhân bản và giác ngộ, nếu
không có cơn mưa chợt đến trong đêm. Tiếng mưa trên sông
và sóng vỗ mạn thuyền nơi bến Hòn Chén hoang vu gây một
âm vang kỳ diệu như tiếng chân của những người trở lại
cõi trần. Từ thuyền nhìn ra thấy sông nước mênh mông một
màu đen huyền hoặc, những bong bóng nhảy múa sáng lấp lánh
của muôn nghìn giọt mưa vỡ ra trên sông, bỗng hiển hiện
trong tâm lời kinh “tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn
bào ảnh, như sương như điển chớp”. Sáng sớm hôm sau thuyền
về bến Linh Mụ khi trăng khuya chưa tàn và hồi chuông công
phu buổi sáng vừa điểm. Không khí như ở nơi Niết bàn sau
những ngày quanh co trên những nẻo đường từ những cõi
mộng huyển bào ảnh - với những ngụm trà ướp sói thong
thả từng ngụm từng ngụm ấm và thơm, không một lời…
Trở về nhà tôi đọc cho con nghe lời của Phật trong buổi
giảng cho Mục Kiền Liên:
“Này
các tỳ kheo, thượng đế cư ngụ trong những gia đình nào
có con cái kính yêu cha mẹ. Những hiền triết bậc nhất cư
ngụ ở trong những gia đình nào có con cái kính yêu cha mẹ.
Những thần linh bậc nhất cư ngụ nơi những gia đình có
con cái kính yêu cha mẹ. Những người đáng tôn thờ cư ngụ
trong những gia đình có con cái kính thương cha mẹ.
Này
các tỳ kheo, “thượng đế” là danh xưng của mẹ và cha;
này các tỳ kheo, những vị “hiền phụ bậc nhất”, đó
là danh xưng của mẹ và cha, những “vị thánh bậc nhất”,
đó là danh xưng của cha và mẹ; những “người đáng cầu
khẩn tôn thờ”, đó là danh xưng của cha và mẹ. Nhưng vì
lý do gì? Bởi vì, này các tỳ kheo, bởi vì cha mẹ đã làm
rất nhiều cho các con. Cha mẹ là người sinh thành, là người
dưỡng dục nuôi nấng, là người hướng dẫn con cái vào
đời.
Kệ
rằng:
Thượng
đế là mẹ cha
Thầy
đời là mẹ cha
Mẹ
cha nên thờ kính
Mẹ
cha thương muôn loài
Hiền
giả kính cha mẹ
Dâng
cúng nước và cơm
Áo
mặc và giường nằm
Tắm
rửa và xoa bóp
Săn
sóc đến tay chân
Kẻ
nào dưỡng mẹ cha
Ở
đây được ngợi ca
Của
những người hiền giả
Ở
đó được hưởng phúc
Của
trời dành ban cho.
(Kinh
Anguttara-Nikaya, quyển IV, trang 70, bản dịch từ tiếng
Phạn của Nyanatiloka, dịch từ bản Đức ngữ)
Tôi
đã cùng đọc kinh với con trong khu vườn Linh Mụ, khi ngoài
sông thấp thoáng con thuyền tài tử chở chiếc đàn Orphée
xuôi giòng Thuận An…
Ghi
chú:
(1)
Lấy ý từ bài thơ của Hòa Thượng Mãn Giác:
Ô
hay xuân đến bao giờ nhỉ
Nghe
tiếng hoa khai bỗng giật mình
Sáng
nay thức dậy choàng thay áo
Vũ
trụ muôn đời vẫn mới tinh
(2)
Cổ kiềng: cổ áo của một loại áo ngắn như kiểu áo bà
ba trong Nam, cổ áo ôm sát cổ và được may viềng nẹp như
cái kiềng, người Huế gọi là áo cổ kiềng
(3)
Orphée hay Orpheus: nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, là một
nghệ sĩ có giọng ca và đàn ly cầm rất hay, con của nàng
thơ Kalliope va Apoll, Orphée có thể dùng tiếng đàn và lời
ca mê hoặc ngay cả những con thú hoang dại cũng như sỏi
đá và cây cỏ. Nhờ giọng ca, Ophée thuyết phục được những
vị thần ở dưới điạ ngục cho phép Eurydike người vợ
thân yêu đã chết trở lại cõi trần với chàng. Trên đường
đưa vợ từ địa ngục trở về, khổ thay chàng đã quên
lời dặn của các vị thần không được quay sang nhìn Eurydike,
không nhịn được lòng nhớ mong chàng quay sang nhìn nàng và
Eurydike phải quay về địa ngục.
CƠ
HỘI TẠO DỰNG HẠNH PHÚC
Nguyễn
Thế Đăng
Tất
cả chúng ta đều luôn luôn bình đẳng trước những cơ hội
có thể tạo ra hạnh phúc: dắt tay một cụ già qua đường,
lượm giúp cái mũ của một em bé cho cha mẹ nó, liệng đi
một hòn đá trên đường để người khác khỏi té ngã, cắt
một cành bờ rào cho người đi đường khỏi vướng, cắt
xén hàng rào dâm bụt cho người đi qua thấy sạch sẽ vui
mắt, chỉ đường cho người hỏi đuờng bằng lời nói thiện
cảm, về thăm mẹ đem theo một món quà nhỏ… Những chuyện
nho nhỏ làm cho người khác như vậy luôn luôn tạo cho người
ta những niềm vui nho nhỏ, những hạnh phúc nho nhỏ.
Buổi
sáng cầm tờ báo bước vào quán cà phê lề đường. Một
chiếc xe vận tải đậu bên kia đường, được chống lên
để vá bánh xe. Vừa đi ngang bàn ngoài, một người nào đó
thậm chí không kịp thấy mặt chỉ trên bàn: “ Nè, lượm
có hai chục mét mà được bao nhiêu đây rồi”. Trên bàn
là một nạm tôn cắt hình tam giác để làm lủng ruột xe.
Ngồi xuống, thấy vui vui: những thứ gây ác hại đã được
cất bỏ. Người chứng kiến- mà cũng không phải là người
chứng kiến nữa, chỉ nghe kể lại thôi- còn thấy vui, huống
là người đích thân làm việc đó.
Thậm
chí không đi đâu cả, chỉ ở nhà.Nghĩ đến một hay vài
người nào đó với những tư tưởng tốt lành là lòng cảm
thấy vui vẻ. Nghĩ đến một công việc tốt đẹp của ai
đó và mong cho nó thành tựu là lòng cảm thấy hạnh phúc.
Làm điều tốt lành, nói lời tốt lành, nghĩ điều tốt lành
là có được hạnh phúc. Đây là chuyện thất dễ dàng, có
thể thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc.
Chúng
ta không bàn đến cơ cấu nào, cách vận hành thế nào của
những định luật tự nhiên tác động trên tâm sinh lý để
khi phát khởi và tiến hành một việc tốt lành bằng thân,
khẩu, ý thì ta có ngay niềm hạnh phúc. Điều đó đúng với
tất cả mọi người, không kể tôn giáo, niềm tin, thái độ
chính trị, giàu nghèo, địa vị xã hội, điều kiện hoàn
cảnh. Chỉ cần điều ấy là tốt lành, nghĩa là có từ một
động cơ trong sáng, một tấm lòng trong sạch, và đem lại
lợi lạc cho mình và cho mọi người. Và dĩ nhiên, việc tốt
lành ấy càng rộng lớn, càng làm được cho nhiều người,
và càng sâu, càng ảnh hưởng sâu trong lòng người thì niềm
hạnh phúc ấy càng rộng lớn, sâu xa.
Cơ
hội làm điều tốt lành- mà ngôn từ xưa gọi là điều thiện-
luôn luôn mở ra trước mắt mỗi người, luôn luôn sẵn sàng
đem lại hạnh phúc cho mỗi người, bất kể là đang ở đâu,
trong thời gian nào.
Đó
là điều Đức Phật nói trong một bài kệ của kinh Pháp Cú
(phẩm Hoa, câu 10)
Như
nhặt từ đống hoa
Làm
thành những tràng hoa
Cũng
vậy thân tâm này
Hãy
thâu nhặt điều thiện.
Trước
đống hoa đời, trước những cơ hội luôn luôn có sẵn trước
mặt của đời sống hàng ngày, chúng ta phải biết nhặt lên
và xâu cho mình những tràng hoa, những chuỗi việc tốt lành
và đẹp đẽ. Biết sống như vậy thì cuộc đời trước
mặt chúng ta là những đống hoa, và chính thân tâm chúng ta
là những tràng hoa. Biết sống như vậy là biết tạo ra hạnh
phúc, cho mình và cho người, ở mọi nơi mọi lúc. Biết sống
như vậy là xâu cho đời mình thành một tràng hoa bất tận.
THỰC
HÀNH TÂM VỊ THA
Tenzin
Gyasto
Lòng
ích kỷ làm cho chúng ta chỉ biết lừa dối và bạc đãi người
khác. Muốn diệt trừ tính ích kỷ thì chỉ có cách phát triển
lòng vị tha. Nếu bạn thành thật và có tấm lòng rộng mở,
tự nhiên bạn sẽ cảm nhận được niềm tự tin, hiểu rõ
giá trị của chính mình và sẽ không còn sợ hãi nữa.
Tôi
muốn nhấn mạnh rằng chỉ suy nghĩ về lòng từ, sự kiên
nhẫn sẽ không ích lợi gì nếu bạn không thực tập chúng.
Muốn thực tập những điều này thì hay nhất là những lúc
khó khăn xuất hiện, bạn hãy thử thực tập chúng.
Và
ai là người cho ta những cơ hội khó khăn để thực tập?
Dĩ nhiên là không phải bạn chúng ta, mà là người đối nghịch
của chúng ta. Họ là những người gây cho ta nhiều khó khăn
nhất. Và nếu ta thật sự muốn học hỏi thì hãy xem họ
như là những người thầy giỏi nhất!
Người
thực tập hạnh từ bi và tình thương, cần phải thực tập
luôn sự khoan dung, và như vậy thì người đối nghịch không
thể thiếu được. Chúng ta phải cảm ơn họ, vì nhờ họ
mà chúng ta phát triển được sự an bình của tinh thần. Thêm
nữa, trong những trường hợp cá nhân hay cộng đồng có những
thay đổi, người đối nghịch cũng có thể trở thành bạn.
Sân
hận rất có hại, chúng ta cần phải thực tập để làm giảm
bớt năng lực của chúng nơi tinh thần, nếu không, chúng sẽ
tiếp tục làm phiền và gây khó khăn cho ta trong việc thực
tập sự an lạc. Sân hận mới là kẻ thù thật sự của chúng
ta. Đây là những năng lực tiệu cực mà chúng ta cần phải
đối phó.
Thật
là tự nhiên khi chúng ta ai ai cũng muốn có bạn. Tôi hay nói
đùa là, nếu bạn thật sự muốn ích kỷ, thì bạn cần phải
biết vị tha. Bạn cần phải giúp đỡ, săn sóc mọi người,
lo cho họ, làm bạn với họ, mang lại nụ cười cho họ. Ngược
lại nếu bạn không lo gì đến hạnh phúc của người khác,
sau này bạn sẽ là người thua thiệt.
Có
người nói, tình bạn hay mang đến cãi vã, giận dữ, ganh
tỵ và tranh giành… Tôi không đồng ý về điểm này. Tôi
nhận thấy chỉ có tình thương mới mang lại cho chúng ta những
người bạn thân đúng nghĩa.
Trong
xã hội vật chất hiện nay, nếu bạn có tiền và có địa
vị, thì dường như bạn có rất nhiều bạn. Nhưng họ không
hoàn toàn là bạn của bạn, họ là bạn của tiền và địa
vị của bạn. Khi mà bạn trắng tay, mất hết quyền lực
thì rất khó gặp những người bạn này nữa, họ biến mất
.
Thực
tế thì khi mọi việc hanh thông, chúng ta cảm thấy tự tin
và có thể tự lo cho mình được, và chúng ta cảm thấy mình
không cần bạn, nhưng khi địa vị và sức khỏe suy dần,
thì chúng ta mới biết là mình lầm. Để chuẩn bị cho lúc
ấy có được những bạn tốt, ta cần phải thực tập tính
vị tha ngay từ bây giờ.
Tôi
hay nói là tôi lúc nào cũng cần bạn, càng nhiều càng tốt,
và mọi người hay cười tôi về điều này. Tôi yêu những
nụ cười. Có rất nhiều nụ cười, nụ cười mai mỉa, nụ
cười gỉa tạo, nụ cười ngoại giao. Có những nụ cười
không làm chúng ta hài lòng, mà đôi lúc còn làm ta sợ hãi,
nghi ngờ, phải không nào? Nhưng một nụ cười chân thật
mang lại cho chúng ta bao là sự vui tươi, và tôi tin, đây là
đặc điểm của con người. Nếu đây là nụ cười mà ta
mong muốn thì chính chúng ta phải làm sao để cho chúng được
hiện diện.
Để
kết luận, tôi muốn nói thêm: hạnh phúc cá nhân cũng góp
phần không nhỏ trong việc làm cho xã hội con người tốt
đẹp hơn.
Bởi
vì tất cả chúng ta đều cần tình thương, vì thế khi gặp
một người, dù trong trường hợp nào, chúng ta cũng có thể
coi người đó như là anh, chị em của ta. Cho dù người đó
có cách cư xử, cách ăn mặc khác biệt. Thật ra không có
gì cách biệt giữa ta và người. Những nhu cầu căn bản tự
nhiên của mọi người đều giống nhau. Vì vậy, thật là
điên rồ khi mà chỉ bám vào những khác biệt bên ngoài.
Trái
đất nhỏ bé này là nhà chung của chúng ta. Để bảo vệ
căn nhà ấy, thì mỗi một người trong chúng ta cần phải
kinh nghiệm được ý nghĩa của lòng vị tha.
Lòng
ích kỷ làm cho chúng ta chỉ biết lừa dối và bạc đãi người
khác. Muốn diệt trừ tính ích kỷ thì chỉ có cách phát triển
lòng vị tha. Nếu bạn thành thật và có tấm lòng rộng mở,
tự nhiên bạn sẽ cảm nhận được niềm tự tin, hiểu rõ
giá trị của chính mình và sẽ không còn sợ hãi nữa.
Tôi
tin rằng mỗi giai cấp xã hội đều có thể là chìa khóa
để mở cửa cho một thế giới hạnh phúc, an lạc. Chúng
ta không cần phải theo một tôn giáo nào, hay phải tin vào
một lý tưởng gì, chỉ cần mỗi một người trong chúng ta
phát triển hết những đức tính tốt của con người là đủ.
Tôi
cố gắng cư xử với những người tôi gặp như một người
bạn lâu năm. Điều này mang lại cho tôi một niềm vui chân
chất. Và đây chính là lúc để chúng ta tạo nên một thế
giới hạnh phúc hơn, an lạc hơn.
Mỹ
Thanh dịch
6
lợi ích của việc tập thiền (Thiền sư Thích Nhất Hạnh)
ĐỨC
PHẬT
VÀ
LỜI DẠY CỦA CHA TÔI
Nguyễn
Thánh Ngã
Tôi
không nhớ rõ tôi đến với Đức Phật như thế nào, nhưng
cái thời khắc nhỏ nhất mà Phật đến với tôi, thì tôi
không thể nào quên được! Đó là dấu ấn suốt đời, kiếp
kiếp.
Khoảng
năm lên 7,8 tuổi, tôi rất thích bắt những chú kiến bỏ
vào hộp diêm. Lúc thì chơi đùa với chúng, lúc thì lại giết
đi. Một hôm cha tôi thấy vậy nói: "Con không nên giết hại
sinh vật, dù chúng có bé nhỏ tới đâu, vì chúng cũng muốn
có được niềm vui như con vậy!". Rồi cha đem những chú kiến
còn lại thả cho chúng bò đi, miệng lầm rầm những điều
không rõ. Ánh mắt cha thương tôi một cách lạ thường. Tôi
đã nhận ra (dù còn là khờ dại) trong ánh mắt ấy, hình
ảnh Đức Phật soi chiếu tâm tôi. Ngài đã đến với tôi
bằng lời của cha tôi. Ngài đã tọa nhập vào tôi bằng ánh
mắt của cha tôi. Sau này tôi mới vỡ lẽ như thế. Còn lúc
đấy, một cách tự nhiên, thật thơ ngây, Đức Phật đến!
Ngài
ngồi đó, giữa hoang địa tâm trí tôi. Cha mẹ tôi tất bật
chạy lo cơm áo. Tôi lớn theo từng manh áo của mẹ. Nhưng
hàng ngày mẹ luôn nhắc tôi "làm lành lánh dữ". Hàng ngày
cha nhắc niệm Phật. Đức Phật của tôi vẫn còn xa tôi nhiều
lắm. Cả những lúc bíu áo mẹ đi chùa, tôi vẫn không hề
biết lời Phật dạy có sức mạnh tiềm ẩn trong tôi đến
vậy. Tôi học cách lượm một mảnh chai giữa đường, học
cách bắt một cọng cỏ qua dòng nước cho bầy kiến bò qua…
Tôi làm tất cả những điều ấy mà vẫn chưa hiểu gì nhiều.
Nhưng chắc chắn những “điều không có gì” đó lại thay
đổi cuộc đời tôi. Hướng dẫn tôi gội rửa tâm của mình.
Gội
rửa tức là làm sáng bóng một hình tượng. Nhưng vì quá
mê tín, tôi xem Đức Phật của tôi như Thượng đế, tôi
buộc ngài ban phát cho tôi những điều tôi cầu xin. Xin được
tôi đem lòng tham. Không được tôi đem lòng nghi hoặc. Tôi
chạy theo ảo ảnh của cuộc truy tìm. Tôi đem kiến thức
nhà trường để đọc kinh Bát Nhã. Đức Phật trong tôi ngày
một mù mịt. Tôi nghĩ rằng những quyển sách triết sẽ cứu
vãn tôi. Tôi đem Khổng Khâu, Socrate, Sartre, Nietzsche… để
lấn át Đức Phật của tôi. Và rồi chỉ còn là ngọn đèn
leo lắt trong tâm tôi giữa những ngọn gió lớn!
Ngông
nghênh với một cái đầu đầy thiền triết của “Vô môn
quan”, của hiện sinh..., tôi đâm ra coi thường tất cả.
Tất cả cuộc đời đều là phi lý, buồn nôn... Tôi đảo
điên. Tôi mộng ảo. Tôi bế tắc. Dĩ nhiên là tôi có quyền
cho phép mình độc đoán, khát vọng không tưởng, và thể
hiện cả những thói ích kỷ nhỏ nhen, thù ngịch. Tôi sử
dụng trình độ của mình để coi rẻ, phân ly. Tôi thoả thích
chạy theo rượu chè. Cuộc đời với tôi là những sự lẩn
quẩn. Tôi trở nên một người trống rỗng.
Cách
đây 4,5 năm gì đó, báo Giác Ngộ gởi tặng tôi quyển Tâm
Kinh (Kinh Trái Tim). Sách quý nhưng đọc... chỉ là để đọc!
Sau đó, tôi đem tặng cho một người bạn. Tặng xong tôi lại
nhận được một quyển khác. Tôi đọc và tiếp tục mê tín
trở lại! Trầm trọng hơn. Một hôm lang thang ở tiệm sách,
cầm trên tay quyển sách “Nghĩ từ trái tim” của bác sĩ
Đỗ Hồng Ngọc mà tôi thấy mình có một Đức Phật thật
bình dị, thật đơn giản, thậm chí thật hồn nhiên nữa!
Câu thơ của ông mà tôi thuộc lòng từ lâu đã ám ảnh tôi:
"Sóng quằn quại đâu hiểu mình là nước!". Tôi đọc và
vỡ lẽ từng chữ, từng câu. Bằng cách viết làm thất vọng
nhiều thứ bằng cấp, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã giúp tôi
vượt qua mê tín mà lâu nay tôi ngỡ là chánh tín. Đây là
lời cảm ơn của tôi đối với người bác sĩ mà tôi chưa
từng quen biết. Trong tôi thức dậy một tình yêu mới, rất
hồn nhiên thơ ngây. Tôi cố gắng quét sạch mọi thành kiến,
xa rời mọi triết luận. Và tôi đã có một Đức Phật cho
riêng mình. Đức Phật từ thời cha tôi dạy và Đức Phật
trong chữ nghĩa của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhập làm một:
thật hồn nhiên, thật giản dị, nhưng rọi chiếu tâm tôi.
Đức Phật của tôi luôn nhắc tôi: "Đừng tin ta khi con chưa
hiểu ta!".
VU
LAN VỚI NGHỆ SĨ
Đến
mùa Vu lan, tâm thức mọi người lắng sâu hơn để cảm nhận
về tình yêu thương của bậc sinh thành. Người nghệ sĩ nghĩ
gì trong mùa Vu lan, PV VHPG đã ghi lại tâm tình của một số
nghệ sĩ, trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc.
Nghệ
sĩ Nhân dân Kim Cương
Vu
lan là dòng sữa ngọt ngào mà tôi được nếm trải trong cuộc
đời. Bởi từ thân xác, tâm hồn đến sự nghiệp tôi đều
được mẹ tạo dựng cho. Mẹ tôi mất trong mùa Vu lan, nên
việc tưởng nhớ công ơn sinh thành vào những ngày này đối
với tôi còn có nhiều ý nghĩa đặc biệt.
Với
tư cách của một người con, người Phật tử, soạn giả,
nghệ sĩ, hầu hết kịch của tôi là câu chuyện về
những người mẹ mang nhiều thân phận khác nhau. Có nhiều
lý do mà kịch của tôi đều mang nặng tình mẹ. Bởi qua công
tác, tôi chứng kiến nhiều người mẹ hy sinh cho con như những
vị Bồ tát sống giữa cuộc đời. Do vậy, tôi thấy tình
yêu nào cũng có mục đích, nhưng tình mẹ đối với con thì
vô bờ, cho đi mà không có bất cứ điều kiện nào.
Con
người khác với các loài cỏ cây, sinh vật là ở cái tình,
mà trong các tình của thế gian thì tình mẹ con là thiêng liêng
nhất. Vì vậy, mùa Vu lan càng làm cho tôi được gần mẹ
hơn. Ngoài tình mẹ con, mẹ tôi (Nghệ sĩ Nhân dân Bảy Nam)
còn là tri âm, tri kỷ, là người bạn diễn vô cùng ăn ý.
Nhớ lại mỗi đêm diễn thành công trở về, cả hai mẹ con
cùng thao thức không ngủ được vì đã đem trọn cái tình
của người nghệ sĩ đến với công chúng. Lúc mẹ còn sống
cứ nhớ nghĩ đến mẹ là lòng xốn xang. Còn khi mẹ mất,
hai năm nay, vào mùa Vu lan, cài bông hồng trắng trên ngực
là lòng cảm thấy rất hụt hẫng. Tôi nghĩ Vu lan là dịp
để những người con nghĩ lại xem mình đã từng làm gì để
cho mẹ buồn không. Mẹ luôn dạy chị em tôi sống phải biết
vì người khác, biết chia sẻ với người khác. Các công tác
từ thiện là chủng tử lành mà mẹ gieo cho chị em tôi từ
nhỏ. Chúng tôi tiếp tục những tâm nguyện của mẹ, nên
vừa cho khánh thành lớp dạy vi tính cho người khuyết tật.
Tôi cho rằng, báo hiếu chính là phải sống sao cho xứng đáng.
Kinh
nghiệm là một thứ trái đắng, chỉ mong các bạn trẻ, các
em Phật tử đừng bao giờ làm cho mẹ phải buồn, vì có những
lỗi nhỏ, khi mẹ mất rồi mới thấy nó ám ảnh rất nhiều.
Hãy tùy điều kiện hoàn cảnh mà mua cho mẹ một món quà
có ý nghĩa trong dịp Vu lan, nhưng phải hiểu vật chất dù
có thể hiện ở hình thức nào cũng không quan trọng bằng
cái tình mà mình gửi gắm.
Cuối
cùng tôi chỉ muốn nói rằng, Vu lan còn là mùa tha thứ, là
dịp để con người biết tha thứ cho nhau.
Nghệ
sĩ Saxophone Trần Mạnh Tuấn
Tôi
phải sống xa gia đình, xa mẹ, nên tôi hiểu ngày Vu lan trong
phong tục Á Đông và Việt Nam là ngày của tình cảm mẹ con
thiêng liêng. Những nhạc sĩ, nghệ sĩ chỉ có thể nói lên
tình cảm của mình bằng âm nhạc. Tôi thấy âm nhạc Phật
giáo được thể hiện qua các điệu tán gợi nhiều ý tưởng
cho sáng tạo nghệ thuật. Trong tương lai, tôi sẽ phát triển
theo hướng âm nhạc Phật giáo và mong muốn sẽ làm một CD
về mẹ. Tôi rất thích được biểu diễn trong các dịp lễ
lớn của Phật giáo. Bởi tôi hiểu, ngoài biểu diễn để
kiếm sống, âm nhạc còn cho người nghệ sĩ lòng thanh thản.
Khi
tôi du học ở nước ngoài, tôi thấy không khí ở phương
Tây lạnh lắm, nó lạnh bởi khoảng cách giữa cha mẹ con
cái và các thế hệ trong gia đình là rất lớn. Ông bà, bố
mẹ lớn tuổi ít được gần gũi các con mà phải sống riêng
hay sống trong các viện dưỡng lão. Giữa những nét đẹp
truyền thống, sự ấm cúng chia sẻ không khí tình thân trong
gia đình là những nét văn hóa mà chúng ta phải giữ gìn.
Tôi đã đi khoảng 40 nước và tôi thấy có nhiều những điều
mà mình phải học ở họ. Nhưng những phong tục Việt Nam,
từ truyền thống gia đình, sự kín đáo của người phụ
nữ, đến cách xưng hô trong giao tiếp thường ngày, đều
được tôi chia sẻ với các bạn bè nước ngoài. Đó đều
là những nét văn hóa mà người phương Tây cần phải học
hỏi.
Đối
với tôi, con cái cần phải có cơ hội học tất cả những
gì văn minh nhất, nhưng cũng phải dạy bảo cho con tình cảm
gia đình và tình mẹ, cũng như những phong tục văn hóa Việt
Nam. Bởi mình có nhiều bạn, nhiều cơ hội nhưng trong cuộc
sống thì ai cũng chỉ có một người mẹ. Người ta có thể
học tất cả những văn minh nhưng không thể quên mẹ, quên
nguồn gốc. Dù mẹ có lớn tuổi, chậm chạp nhưng lúc nào
cũng thiêng liêng vì mình được sinh ra từ mẹ, và vì đơn
giản mẹ là mẹ.
Nghệ
sĩ Ưu tú Bạch Tuyết
Mùa
Vu lan và các mùa lễ hội khác của Phật giáo đều có các
nét đẹp văn hóa. Thế nên tiếp cận Phật giáo không chỉ
ở hình thức tín ngưỡng mà còn ở những nét đẹp văn hóa
trong ứng xử. Ở thời buổi bùng nổ các thông tin trái ngược
nhau, nhiều giá trị bị đảo lộn, chính chúng ta phải ý
thức giữ gìn những nét đẹp truyền thống, mà ở đó, văn
hóa, triết học Phật giáo là những giá trị ổn định, lầu
bền.
Tôi
mất mẹ từ năm lên 8 tuổi, nên trong tâm cảm rất lẻ loi.
Tôi nghĩ sự hiếu thảo với cha mẹ không chỉ là tình cảm
của con cái với cha mẹ mà còn là tình thương yêu đối với
mọi người, mọi sinh vật. Cần phải nói thêm, với tư cách
của một người nghệ sĩ, nhiều những tác phẩm mà tôi viết
và biểu diễn, ít nhiều đều hướng về mẹ, cũng có khi
là người mẹ chung trong tâm thức của cả dân tộc. Trong
mùa Vu lan này, tôi cũng sẽ cùng một số bạn bè chia sẻ
không khí ấy bằng những hành động từ thiện cụ thể.
Là
một người mẹ, tôi cũng hiểu, cha mẹ và con cái thời nay
có nhiều khoảng cách. Nhiều bậc cha mẹ không còn là thần
tượng của con cái, từ kiến thức thức đến lối sống.
Nhưng bản thân tôi luôn lấy đời sống thường ngày của
mình làm gương cho con. Ngay từ lúc mang thai, tôi đã ý thức
điều đó bằng cách đi chùa niệm Phật và hát những bài
hát an lành. Chính vì thế tâm thức của con tôi sau này rất
thuần thiện, nhiều lúc tôi còn cảm nhận con tôi đã cho
lại tôi những bài học.
Tôi
tin Đức Phật, bởi giáo lý của Ngài luôn giúp người ta
tự hiểu mình, tự vẽ được chân dung của mình, và khi đã
hiểu mình, vẽ được chân dung của mình thì mọi nặng nề
trong cuộc sống sẽ qua đi một cách nhẹ nhàng. Tôi chỉ mong
các bạn trẻ, nên nắm bắt cơ hội được mẹ sinh ra mà
chịu khó học hành. Có học thì mới biết việc gì mình nên
làm và việc gì không. Tôi nghĩ, có hiếu không gì bằng học
cho tốt, sống cho ngoan, đó cũng là thực tiễn mong muốn của
tôi đối với con.
Nam
Thắng - Tố Nhiên thực hiện
PHỤ
NỮ VIỆT NAM
ĐỐI
DIỆN TRƯỚC CUỘC SỐNG
Thái
Kim Lan
Đức
tính hy sinh, chịu đựng, tận tụy tần tảo và trung kiên
của người phụ nữ Việt Nam đã làm rúng động biết bao
con tim. Mẹ Việt Nam đã trở nên một khái niệm cốt tủy
của tâm tình Việt Nam từ muôn đời. Nhưng có lẽ khái niệm
nào cũng chưa đủ để có thể giải bày hết những gian nan
khổ ải mà mẹ đã trải qua suốt cả đời người. Mẹ Việt
Nam gian khổ cay đắng hơn mọi ca ngợi vinh quang. Và đã là
Mẹ thì không cần vinh quang, mẹ có thể đổi vinh quang để
lấy đau khổ thay cho con. Bởi vì mẹ sống vì tình thương…
Tôi
đến đây với một tâm trạng xúc động do những tin tức
gần đây về số phận của người phụ nữ Việt Nam qua báo
chí và bảng tổng kết giáo dục về dân số do Quỹ Dân Số
Liên Hợp Quốc UNFPA tài trợ và Bộ Giáo dục Đào tạo tổ
chức. Những con số không vui cho thấy số phận của người
phụ nữ ngày hôm nay vẫn còn là vấn nạn lớn cho xã hội
Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa. Nếu người phụ nữ
không tự mình và không được xã hội tạo điều kiện nâng
đỡ thì nguy cơ toàn cầu hóa tiêu cực sẽ xảy ra cho
phụ nữ Việt Nam, có thể thân phận của họ còn éo le hơn
cả nàng Kiều. Khi chúng ta biết rằng, một trong những thành
tựu lớn của văn minh thời hiện đại và hậu hiện đại
chính là sự giải phóng phụ nữ trên quả địa cầu. Thế
giới đã ghi nhận những thay đổi tích cực về vai trò và
giá trị của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội hôm nay
(Việt Nam là một trong những nước công nhận quyền bình
đẳng nam nữ tiên tiến). Người phụ nữ Việt Nam, nói như
một người bạn Âu châu của tôi nhận xét, là biểu tượng
quý giá nhất của đất nước Việt Nam. Sự cao quý ấy cần
được đất nước và con người Việt Nam gìn giữ, bảo trọng,
không thể phung phí như một món rẻ tiền.
Trước
tiên, người phụ nữ cần ý thức rõ hơn ai cả về ý nghĩa
của cụm từ “là người phụ nữ Việt Nam” trong khung cảnh
Việt Nam, trong điều kiện đạo đức xã hội Việt Nam,
và nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay.
Phụ nữ cần được tạo nhiều cơ hội trao đổi học hỏi,
trong tất cả các tầng lớp quần chúng, vượt ra khỏi mọi
khuôn sáo đóng khung họ trong vai trò thụ động đã rỗng
hết ý nghĩa; vượt ra khỏi những định chế, ngay cả
định chế của Hội Phụ nữ, nếu Hội Phụ nữ cũng chỉ
là một cái khung gây nên sự loại trừ những người không
ở trong Hội Phụ nữ. Chính Hội Phụ nữ cũng nên mở rộng
cái vốn xã hội đã trở nên vốn đóng khung và khép kín
cho chính người phụ nữ nói chung. Cần phải đến gần hơn
với thực trạng cụ thể của người phụ nữ, từ đó tìm
ra những biện pháp bảo đảm cho người phụ nữ có
một cuộc sống xứng đáng “là người phụ nữ” trong nghĩa
không phân biệt nam nữ (chính trị), giàu nghèo, sang hèn (xã
hội, kinh tế) đồng thời vẫn “đẹp” trong bản chất
phái tính của mình.
Tôi
đã trải qua những phong trào giải phóng phụ nữ tại Âu
châu, được chứng kiến sức mạnh cũng như giơi hạn, chừng
mực cũng như sự quá khích của nó. Thành quả khả quan của
nó một phần lớn là do sự trưởng thành tư tưởng từ thời
khai sáng và tinh thần tôn trọng dân chủ của cả hai giới
tính. Có thể nói vấn đề giải phóng phụ nữ đòi
hỏi một tinh thần dân chủ tự nguyện rất cao đến từ
những người trong cuộc, trước hết từ cả bên nam giới
và ngay cả những người phụ nữ.
Ta
có thể đồng ý với một nhà khoa học xã hội, rằng: “
làm đàn bà, có nghĩa là tạo được thế quân bình giữa
đàn ông và đàn bà”, điều ấy cũng đúng cho nam giới,
và ngay cả giữa nữ giới với nhau. Chỉ có thế quân bình
qua lại giữa giá trị và vai trò của nam nữ trên mọi bình
diện, bản chất và chức năng của người phụ nữ mới được
bảo đảm.
Bản
chất và chức năng cao quý của người phụ nữ Việt Nam từ
nghìn xưa đã từng được ca ngợi trong văn chương. Đức
tính hy sinh, chịu đựng, tận tụy tần tảo và trung kiên
của người phụ nữ Việt Nam đã làm rúng động biết bao
con tim. Mẹ Việt Nam đã trở nên một khái niệm cốt tủy
của tâm tình Việt Nam từ muôn đời. Nhưng có lẽ khái niệm
nào cũng chưa đủ để có thể giải bày hết những gian nan
khổ ải mà mẹ đã trải qua suốt cả đời người. Mẹ Việt
Nam gian khổ cay đắng hơn mọi ca ngợi vinh quang. Và đã là
Mẹ thì không cần vinh quang, mẹ có thể đổi vinh quang để
lấy đau khổ thay cho con. Bởi vì mẹ sống vì TÌNH THƯƠNG.
Đây là kinh nghiệm về mẹ của tôi, nhưng có lẽ cũng là
kinh nghiệm chung về mẹ của mọi người. Những người phụ
nữ đã quên mình trong hy sinh và không đòi công bằng. Tất
cả những ca ngợi về sau đối với họ chỉ là ảo ảnh.
Ảo ảnh về đức tính người phụ nữ lắm khi bỏ quên thực
trạng đắng cay mà người phụ nữ phải gánh chịu, bỏ quên
những đôi vai còng vì gánh nặng, bỏ quên trẻ mồ côi, gái
mãi dâm, phụ nữ bị lường gạt, phụ nữ bị bạc đãi
từ tinh thần đến thể xác.
Chính
những thực trạng này đánh thức năng khiếu bẩm sinh củangười
phụ nữ: tình thương. Nếu không có tình thương không thể
làm rung động con tim. Chính vì tình thương, người phụ nữ
mới động tâm để hành động. Phải đi từ quan điểm tình
thương để tìm đích hướng cho người phụ nữ. Nhưng cũng
chính tình thương lại là điểm yếu của người phụ nữ
trong cuộc đời. Tình thương của người phụ nữ dễ bị
lạm dụng và bóc lột tàn nhẫn, nhất là một khi xã hội
bị tha hóa về đạo đức, niềm tin, về nhân bản và tình
người, và dĩ nhiên, cũng vì nghèo đói và nhất là không
được khai hóa.
Cho
nên khai hóa giáo dục là điểm tiên quyết cho người phụ
nữ. Trong tiến trình toàn cầu hóa và trong trào lưu đổi
mới xã hội hôm nay, người phụ nữ cần được nâng đỡ
để trau dồi trí tuệ, phải được khai hóa trên bình diện
tri thức, cần được hưởng những quy chế đào tạo đúng
mức, để quân bình tình cảm và thực hiện tình thương trong
sựï can đảm để sử dụng trí tuệ của chính mình. Trí
tuệ quan trọng cho sự thực hiện đúng đắn, không làm sai
lạc tình thương, như chính Đức Phật đã chỉ cho ta con đường
thực hiện giải phóng: Bi - Trí - Dũng. Khai triển trí tuệ
là triển khai bình đẳng và dân chủ, phá mọi phân biệt
đối xử và ngu dân.
Người
phụ nữ có thừa tình thương của người xiếu mẫu (Bi),
người phụ nữ có đủ can đảm để sẵn sàng hy sinh (Dũng),
và người phụ nữ có thừa thông minh để học được những
nghề nghiệp xứng đáng, cải thiện đời sống vật chất
và đi đến tự lập đối với nam giới.
Trong
tiến trình giải phóng phụ nữ tại Âu châu, hiện nay có
quan điểm cho rằng, nam giới là những người thua cuộc ở
nhiều điểm, và điểm nổi bật nhất là trên thị trường
lao động, trong lúc số phụ nữ đi làm tăng lên bằng với
tỷ lệ nam giới bị giảm xống, khuynh hướng nam giới thay
chức nội trợ cho phụ nữ càng ngày càng rõ rệt. Điều
này cho thấy, sự cải thiện đời sống và chức năng của
người phụ nữ chỉ có thể thực hiện thực sự khi có sự
tương trợ của người khác phái cũng như cùng phái, đồng
thời xã hội sống là môi trường căn bản để sự khai hóa
được nẩy mầm.
Giáo
dục khai sáng trong tình thương và tôn trọng nhân phẩm người
phụ nữ là điều kiện không thể bỏ qua hay xem khinh trong
cuộc sống hiện đại.
Trên
đây là một vài suy tư tổng quát về vấn đề của Hội
thảo. Riêng về kinh nghiệm cá nhân của một người phụ
nữ du học và lập nghiêp ở nước ngoài, tình trạng như
của tôi như người xiếc đi trên giây. Trong những lúc hiểm
nghèo thập tử nhất sinh - về phương diện tinh thần hơn
là vật chất - tôi đã có cơ may là người Phật tử dấn
thân. Với tư cách là người hành nghề dạy học, tôi có
thể truyền đạt nếp tư tưởng và đạo đức cao đẹp Đông
phương cho người Đức, và như thế đã làm giàu thêm nguồn
cảm hứng tâm linh cho người cùng chung sống. Làm mẹ, tôi
đã bước đầu tập cho con cái tình thương bằng cách niệm
Phật với con, và như thế, cho dù được giáo dục trong môi
trường “khai sáng” của nước Đức, con gái tôi không bao
giờ xa cách. Và dù có xa nhau nghìn vạn dặm, tiếng niệm
Phật làm gần mẹ con.
Bữa
cơm chung trong gia đình
Mai
Lan Lệ Ấn
Nhà
thơ Tản Đà khi luận về “ăn ngon” đã cho rằng “người
cùng ăn” và “chỗ ăn” là hai trong bốn điều kiện cần
thiết để một bữa ăn được cho là ngon: “Đồ ăn ngon
mà người cùng ăn không ngon thi cũng không ngon”! Ngoài “rau
sắn chùa Hương” hay con mực của biển Nha Trang, con cá nục
cửa Thuận An, trái thơm trái mít làng Hồ hay những thổ sản
đặc trưng trên khắp đất nước là những yếu tố vật
chất cho bữa cơm ngon; các thứ chén dĩa là những khía cạnh
mỹ thuật làm đẹp con mắt, vì ta cũng thường ăn bằng mắt.
Tản Đà đã chiêm nghiệm về cái tình “người cùng
chia sẻ bữa ăn” và không gian đầm ấm thân mật của
bữa ăn ngon, “chỗ ngồi cũng phải ngon ăn mới ngon”.
Có
thể nói, hai yếu tố quan trọng này đến từ kinh nghiệm
ban sơ về những bữa ăn chung trong gia đình, trong sự yêu
thương che chở của cha mẹ, trong không khí thân thương khi
mọi người quây quần chung quanh mâm cơm, cùng chia nhau chén
cơm con cá với anh chị em, dưới mái nhà thường vang tiếng
cười thanh xuân hay tiếng khóc sơ sinh. Những kỷ niệm “ăn
chung” trong gia đình hay đại gia đình, dù bữa cơm đạm
bạc với nước mắm kho hay cầu kỳ với cao lương mỹ vị,
cùng nhau chan chung bát canh, cùng nhau chấm chung chén nước
mắm hay nước chấm do mẹ pha, là những kỷ niệm để đời,
khó quên.
Cho
nên rốt cùng điều mà ta nhớ nhất khi xa nhà, lang thang trên
đất khách, khi trưa đến hay chiều về, dạ dày cồn cào,
thì không ai khác hơn nó, chính cái dạ dày bắt nhớ - dù
ta không muốn nhớ - đến con cá bống thệ kho khô, bát canh
rau bồng tơi bồng ngọt, vị gạo thơm dẻo trên đầu lưỡi
của mẹ đã cho ăn ngày trước. Hình ảnh “khói lam chiều”
trên mái tranh, bếp lửa vùi rơm trở nên biểu tượng hạnh
phúc gia đình trong thi ca, nhưng nỗi nhớ quặn về chính từ
khúc ruột, từ đáy lòng ấy. Ai đi xa cũng phải nhận là
nhớ nhà đi liền với thèm nhớ những món ăn mẹ nấu cho
cả gia đình. Sự gắn bó yêu thương với người thân, với
gia đình bắt đầu bằng những điều thật là cụ thể như
thế của năm giác quan: vị mặn, cay, đắng, chát, ngọt ngào
của thức ăn, chúng có sức giữ cho bộ nhớ giác quan linh
động và có thể trở về sống động trong những lúc con
người cô đơn hay thiếu thốn, chúng trào dâng trên chót lưỡi
một thứ hoài niệm đầy ứ vật chất và tinh thần. Chúng
là chứng tích nguyên ủy nhất của tình thương.
Con
người một khi đã nếm những vị của tình thương vừa
thực tế vừa bao dung của mẹ cha, thì đi đâu cũng không
thể quên được cội nguồn. Bữa cơm gia đình còn cho ta nhiều
hơn những lần chim mẹ mớm mồi cho chim con. Trên chiếc chiếu
hoa, mâm cơm ở giữa hay trên chõng tre, trên bộ ván ngựa
bằng gỗ hay quanh bàn ăn, không gian ấy là “cái tổ” của
sự đùm bọc, nó có giá trị về tính hợp quần nhân bản
như “chim có đàn cùng hót tiếng hót mới hay, ngựa có ngựa
cùng đua nước đua mới mạnh”. Nó là thứ tình gắn bó
với mái nhà gia tộc. Bạn bè tha hương khi gặp nhau ăn cơm,
thường bảo ăn một mình không thấy ngon, có anh chị em ăn
chung, bữa ăn trở nên ngon, các gương mặt cùng nhau nhìn vào
một trung tâm, vị giác khứu giác thiệt giác trở nên sôi
nổi và dạ dày, - dạ dày quan trọng cho tình thương - trở
nên linh hoạt thúc dục gắp món ăn. Ăn một mình là chỉ
ăn lấy no hoặc ăn tham, ăn với nhau mới thực là “ăn ngon”
nhờ sự tham dự của người bên cạnh. Chính sự hợp quần
này nâng phẩm chất của bữa ăn gia đình lên một tầng cao
hơn về “ngon”, ngoài ý nghĩa kinh tế của bữa ăn chung,
thường được đánh giá là tiết kiệm ngân sách gia đình,
như các bà mẹ thường nói, ăn chung “lợi chén lợi đũa”.
Ngày nay, khi điều kiện sống khả quan hơn, con người kiếm
được nhiều tiền hơn, lại ít thì giờ hơn vì bề bộn
công việc, có khuynh huớng cho rằng bữa cơm gia đình đã
hết chức vụ dè xẻn kinh tế, sẽ không còn tồn tại
nữa và nếp sống con người cũng đổi khác với ảnh hưởng
nếp sống “fast food” Âu - Mỹ. Ăn dọc đường hay ăn cơm
“take away” dần dần trở nên “mốt”, vừa nhanh vừa tiện.
Nhưng hình như trong những lúc ăn như thế, con người như
nuốt luôn cả sự lẻ loi, cô đơn vào trong dạ dày và chà
xát nó với chất xót “stress”. Nhiều chứng bệnh đau dạ
dày có lẽ đến từ những buổi ăn…thiếu chất thương
yêu.
Bữa
ăn gia đình Việt nam là biểu tượng ý nghĩa xã hội Việt
nam được hiểu như một lối sống đầy tình cảm tập thể
với cách xếp chỗ ngồi quanh một mâm tròn, bát canh
được đặt ở giữa mâm cùng với bát nước chấm chung,
khác với cách “bày bàn ăn” của Tây phương, trọng cá
nhân, phân chia rạch ròi từng phần ăn riêng rẻ, tuy cùng
ngồi chung một bàn. Nhưng Đông hay Tây, sự cùng ngồi ăn
vẫn được đánh giá là buổi họp mặt gia đình thú vị,
đầm ấm nhất, và món ăn của mẹ hay chị hay anh em, - ngày
nay đàn ông Tây phương biết nấu khéo không thua đàn bà -
thường vẫn được ngợi ca và yêu thích, vẫn là những đề
tài thích thú trong những câu chuyện gia đình, trong các cuộc
gặp gỡ bạn bè, trong lúc cùng thưởng thức những món ăn
đặc biệt tự tay nấu nướng.
Mặc
dù ngày nay, cơ cấu gia đình Tây phương không còn chặt chẽ
như xưa theo với đà phát triển kinh tế, sự phân chia bổn
phận và lao động đã thay đổi nhịp sống ăn uống, gia đình
không còn là nơi tập trung hàng ngày cho việc ăn uống, người
Âu châu vẫn còn giữ được ít nhất trong ngày một bữa
ăn chung, nhất là bữa ăn sáng trước khi đi làm hay buổi
chiều, sau giờ làm việc, đó là lúc mọi người trong gia
đình gặp nhau để trao đổi nhanh, chuyện trò và thăm hỏi,
chúc sức khoẻ trước khi bắt tay vào công việc hay trước
khi đi nghỉ, hoặc lo việc riêng cá nhân. Tiến bộ kỹ thuật
tiện lợi cho việc tổ chức đời sống cá nhân và sự
cải thiện hợp lý công việc cho phép người Tây phương có
đủ điều kiện để sống sung túc riêng cho cá nhân, nhưng
họ vẫn nuôi dưỡng đời sống tập thể và xem trọng tình
thân. Bởi vì bữa ăn chung trong gia đình là cơ hội tự nhiên
nhất để thể hiện sự hài hoà thân ái, nó đem lại ý nghĩa
và nâng cao phẩm chất sống hợp quần.
Người
Đức thường nói “Tình thương đi qua cái dạ dày”. Vâng
và ngược lại, chính cái dạ dày có sức khỏe hay không là
do tình thương, do phẩm chất ăn “ngon”, ăn vui, ăn thích,
ăn chung, cọng ngọt sẻ bùi.
Dạ
dày của con người cần phẩm chất “ăn ngon”, ngoài “ăn
no”, “ăn ních”, nó cần thức ăn tinh thần kèm theo với
con cá, miếng thịt, dưa cà… Thiếu món ăn tinh thần, thiếu
ánh mắt yêu thương của người cùng ăn, bàn tay yêu thương
của mẹ, sự đồng tình của anh em, dạ dày có thể nhuốm
bệnh - bệnh dạ dày thường do nhiều nguyên nhân tinh thần,
do sự thiếu tình thương, do stress, do thiếu tình người…
Dù
kinh tế ngày nay có thừa cho thịt bổ rượu ngon, nhưng phần
nhiều lại bỏ đi phẩm chất nuôi dưỡng con người sống
“ngon”, sống lành mạnh trong tình thương. Chúng ta có thể
sắp xếp thì giờ trong ngày cho một bữa ăn chung, thay vì
mất nhiều thì giờ ngồi trong phòng đợi khám bệnh xin thuốc
chữa dạ dày. Chọn lựa nào là khôn ngoan và có nghĩa cho
cuộc sống gia đình?
Mẹ
cứ kỳ vọng vào con đi (BS. Đỗ Hồng Ngọc)
Sáng
nay dậy thật sớm (Linh Thoại)