.
.SỐ 19 -15 THÁNG 8, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
 
SỐ 19 THÁNG 8, 2006

 


BẦU TRỜI THÁNG BẢY
Thái Kim Lan

Vu lan Huế bắt đầu bằng một nẻo đường tâm cảm huyền bí, bằng con thuyền ngược bến Linh Mụ lên điện Hòn Chén để sống những buổi lễ hóa thân như một hình thức thoát xác, chuyển hóa bằng những phút xuất thần, bằng tiếng nhạc om thòm ma quái giựt gân, một nghi lễ “chuyển bờ” từ địa ngục lên đến nhân gian, từ nhân gian lên đến cõi trời. Trong tuổi thơ, chiếc thuyền với cung đàn réo rắt đã trở nên một linh cảm về những thế giới ngoài tầm giới hạn của ba chiều không gian…

    Khi mưa ngâu tháng Bảy bất ngờ trở về làm xao động cả bầu trời mệt mỏi đang chìm lỉm trong lòng sông Hương nơi khúc quành chùa Linh Mụ, Huế bỗng rùng mình chợt tỉnh cơn mê mùa hạ. 

        Mưa trút xuống bên tê Bãng Lãng Nguyệt Biều, lùa mây từ triền núi Trường Sơn  mờ mịt quyện đồi Hà Khê, theo gió chới với trên hàng cau bên ni sông làng Xuân Hòa, sau đó không lâu, màu xanh từ đồi Thọ Cương đến vườn Kim Long, Linh Mụ, Hương Hồ, Văn Thánh bập bềnh trong màn nước, cả vùng không gian sông núi choáng ngợp trong màu hồ thủy. Từ bên ni bờ sông nhìn vọng qua màn mưa về phía núi, đỉnh Kim Phụng chập chờn lung linh như đầu một con rồng thần thoại đang dùng ảo thuật biến những luồng khí nóng xích tử ngùn ngụt như những con rắn lửa đang bóp nghẹt cỏ cây chết đứng thành những trận mưa rào sung mãn. Từ bến sông mưa tạt vào mái hiên từng làn hơi nước mát mẻ như những đợt sóng, mong manh thoáng gió hắt vào da thịt đang còn hừng hực nắng tháng Năm tháng Sáu. Sự va chạm gây một nỗi sửng sốt ngưng thần, đưa cảm xúc vào trong một bước ngoặt, nghe như có tiếng trở về của hoa lá ngoài sân ! 

        Mưa Ngâu thường hay kéo dài từ chiều đến quá khuya, sướt mướt như nỗi lòng của Chức Nữ nhớ Ngưu Lang trong những mùa trăng khuyết, ào ạt trên lá chuối lá vải lá giáng châu trong vườn cây, sầm sập trên mái nhà, nhưng âm vang nước chảy lại gây một cảm giác thoa dịu lạ lùng, và giấc ngủ đầu tiên đến êm ả sau mấy tháng hè ngộp thở…

        Buổi sáng sau cơn mưa, khí trời trong vắt như “vũ trụ choàng áo mới"(1), trong suốt đến nỗi có thể nhìn rõ được từng ngọn lá của cây nhãn cổ thụ nơi bến đò Long Thọ bên kia sông. Sự yên tĩnh trở nên nhẹ hửng, lững lờ trôi theo giòng sông trong nắng sớm. Chén nước trà ban mai uống đã thôi không vội vàng mà thong thả từng ngụm từng ngụm trong hơi đất mát rượi thoảng bên hiên. Có thể ngồi yên rồi đó! Định thần trong một giây! Hết bồn chồn cánh quạt tre phần phật! Nút áo “cổ kiềng" (2) trên cùng đã được cài cùng một lúc với thoáng gai mình chợt lạnh, nghe chân bước không gấp trên lối mòn ra ngõ nhìn sông hay lững thững quanh vườn tỉ tê thăm hoa lá. Thế rồi, giữa nhịp bước đi và dừng lại, nơi một khoảnh khắc bất định như không phải giờ của đồng hồ, có thể ngày hôm ấy hay hôm sau hay mai kia, với một chút bất ngờ có thể làm nở nụ cười toại nguyện, từ dòng sông vọng về tiếng réo rắt của một cung đàn kim cổ, âm thanh dội qua bờ bên kia rồi quay lại trên đầu những dợn sóng lăn tăn, đuổi theo con thuyền đang thong thả tay chèo ngược dòng Hương Giang lên điện Hòn Chén. Con thuyền lướt trên vùng nước bàng bạc màu xanh lục thủy trông khác ngày thường, không còn xuôi ngược tảo tần  như mọi khi, mà thong dong như một gã tài tử lỏng buông tay khấu, với những chuổi phướng xanh đỏ đủ màu phất phơ trước gió và cạp điều thắt lưng, lọng vàng sáng chói, trông ngoạn mục giữa cảnh đất trời u mặc sau cơn mưa. Cũng trong không gian mộc mạc không lời của trời mây cây cỏ trong đáy nước, âm giai nhị hồ, nguyệt cầm, sáo trúc, kèn và trống chầu văn chỏi lên những tấu khúc lạ lẫm như của những tay chơi ngoại cuộc hào hoa, kích động một thớ giây thần kinh nào đó trong cơ thể, lóe sáng trong tim một ánh vui như màu hồng sen cánh giáng của hoa đông lan đang lấp ló trong khóm lá xanh bết bùn của trận mưa ngâu trước ngõ. Nhịp chân của ai đó trên đường đi bỗng dừng lại nửa giây, như để đưa đà vọt lên cao trong một vũ điệu giựt gân, cùng lúc với cái ngảnh đầu nhìn ra sông thu nhận con thuyền trẩy hội đang chuyển động trong võng mô.

        Hình như hàng năm, nghi lễ không gian và thời gian vẫn là những vết xe quay tròn một chu kỳ, chỉ có cơn mưa, dù đã nghìn năm cổ độ, cũng như tiếng đàn vọng từ bách thiên vạn kiếp tuy đến đúng hẹn mà vẫn đột ngột, bất ngờ gây cảm, đánh nhẹ trên phím đàn bỏ quên ngày tháng, nhắc nhở lòng người rằng, từ đây cho đến khi mảnh trăng thượng tuần mới mẻ xuất hiện cùng với sao hôm là Huế đang ở trong thượng tuần tháng Bảy, mùa Vu lan đang đến! Mỗi năm và mấy mươi năm sau, vẫn mưa ngoài ngõ, vẫn tiếng đàn réo rắt trên sông vào một chiều bãng lãng với con trăng thượng tuần treo nơi đầu núi, Vu lan Huế !

        Vu lan Huế đã đến trong tuổi thơ của tôi như thế, trong bầu trời tháng Bảy của vùng đất Linh Mụ cùng với bóng dáng thân thiết vào ra của bà và của mẹ trên các lối đi về. 

        Cùng với tiếng mưa và âm vang của đàn sáo trên sông, câu chuyện cổ tích ban đêm không còn khúc khích với “con trâu cười con cọp đến rụng hết cả hàm răng”, với “nắm xôi bờm cười”, với “bắt cô trói cột” hay “trâu cột ghét trâu ăn”… Áp đầu vào ngực của bà, nghe giọng kể chuyện trầm đều dần dà đượm vẻ huyền bí mủi lòng với hồn ma Cúc Hoa thương con hiện về bắt chí cho con bên mộ trong truyện Phạm Công Cúc Hoa, hay ấm áp sùng thượng cảm kích với tấm lòng chí hiếu của Mục Kiền Liên nguyện đi cứu mẹ từ hỏa ngục. Trong cơn mộng mị, chiếc thuyền ngũ sắc trôi bồng bềnh giữa tiếng hoà tấu ngũ âm theo với giòng mưa, đong đưa như một chiếc võng, có thể “trôi” trên đất liền và “đi” bộ trên sông! Vũ trụ không còn hạn hẹp mà mở ra với nhiều tầng thế giới. Nhân gian và địa ngục chỉ cách nhau một nét chập chờn giữa ánh trăng và bóng lá, không thế giới nào thực hơn thế giới nào…

        Mấy nghìn năm thuở trước thời Đức Phật mà như mới hôm qua…Mấy tầng thế giới như vừa xích lại gần nhau… bằng tấm lòng THƯƠNG MẸ của Mục Kiền Liên Bồ tát, một trong những đệ tử gần gủi nhất của Đức Phật, có thiên khiếu nhìn thấu suốt mấy cõi trời, bằng con mắt có thể vén màn vô minh đã nhìn được mẹ đang bị trừng phạt trong chốn A tì. Mục Kiền Liên đi tìm mẹ, một “vong nhân” vì đã sống thiếu lòng nhân ái nên bị đày đọa trong chốn địa ngục tối tăm. Mục Kiền Liên đi vào điạ ngục cũng không khác chi một Orphée (3) của thần thoại Hy lạp đi tìm người yêu trong cõi chết hay một nghệ sĩ ôm đàn lang thang muôn kiếp qua nhiều cõi ngân hà để một ngày vào độ trăng rằm chay đàn cứu độ những kẻ đọa đày trở lại làm người trên thế gian. Cũng thế, chiếc bồn tên gọi là Vu lan Bồn - cái chậu chứa đựng những định lực tu chứng thâm hậu nhất của những đệ tử của Đức Phật có thể giúp chuyển nghiệp ác của một ngạ quỷ sang nghiệp lành của một con người - có mãnh lực cũng chẳng khác chi tiếng sáo của Orphee dẫn đường cho Euride trở lại thế gian hay tiếng trống chầu văn của nghệ nhân trên điện Hòn Chén đưa người đồng xuất thần nhập cốt. Vạn vật hoà đồng trong một vũ trụ không có phân ranh, “ở vào chốn không vang đi vào chón không phương… để chơi bên miền không mối, ra vào chỗ không bờ cõi …” (Trang Tử, Nam Hoa kinh, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hoá, 1994, chương XI, “Tại Hựu”, tr. 260). 

        Thế giới Vu lan đã mở ra trong trí tưởng trẻ thơ của tôi từ những mảnh cảm thức trực quan như thế, nhưng cũng từ đó, không cần giải thích thêm, đứa trẻ đã sốngVu lan, đã hiểu được qua Vu lan chữ HIẾU gắn liền với chữ THƯƠNG, không hạn hẹp mà rộng mở cho vô lượng chúng sinh: “tháng Bảy ngày Rằm xá tội vong nhân”. Không cần mở trang sách giao khoa thư vỡ lòng “tháng Giêng là tháng ăn chơi...” cho đến tháng Bảy ngày rằm… Vu lan cũng đã được cảm nhận như là một ngày lễ hội tôn giáo trong năm rất gần gũi với con người, gần gũi như tình mẹ thương con, con thương mẹ, như mưa ngoài sông, như trăng lên đầu ngõ, như tiếng nhạc lạ lùng trên sóng nước. Nhưng Vu lan cũng đồng thời là CƠ HỘI SIÊU THOÁT của con người trên thế gian có thể vượt giới hạn của mình trên bước đường chuyển hoá để giải phóng cho mình và cho người. Bằng hạnh lực của chính mình con người  có thể “xá tội vong nhân”, - “xá tội” chứ không “rửa tội” - vong nhân vô lượng vì mê lầm phải ở chốn ngục tì vô minh trở lại thành người nơi thế gian. Ý nghĩa của ngày Vu lan rộng lớn bao trùm cả vũ trụ nhân sinh, tưởng như sẽ không thấu hiểu hết được đối với những trí óc còn non nớt thơ ngây hay ngu muội, nhưng có lẽ sự diệu kỳ của bước chuyển hóa “xá tội đổi nghiệp”, đổi nghiệp “bát cơm lửa” thành nghiệp “bát cơm lành” không nằm trên bờ luận lý phân chia, mà ở nơi một tiếng đàn đang rơi xuống mặt nước sông Hương, bỗng hoá nên đơn giản!

        Vu lan Huế đơn giản và hồn nhiên như con thuyền ngược giòng Hương Giang qua chùa Linh Mụ trầm tư quán tưởng rồi bỗng ca nhạc vang lừng xanh đỏ thẳng tay chèo đến điện Hòn Chén nhảy muá lên đồng, đến nỗi cái nhìn của người Phật tử chân chính, của quý ôn quý thầy lắm khi trở nên nghiêm khắc đối với hiện tượng gần như lạc hướng này. 

        Sau mấy tháng kiết hạ giữ giới và chiêm nghiệm quán tưởng, rằm tháng Bảy là ngày trăng tròn đầu tiên được xem là ngày giác ngộ giải phóng cho tất cả chúng sinh từ con người giới hạnh cho đến những con người tha hóa, từ con người đang sống trên thế gian cho đến những hồn ma bóng quế trong chốn ngục tù tối tăm. Ngày rằm tháng Bảy là ngày tự tứ đầu tiên Phật trở lại giảng kinh và cũng là ngày Mục Kiền Liên theo lời Phật mang “bồn Vu lan“ đi quanh đảnh lễ những vị A la hán xin nhờ trợ lực cứu mẹ ra khỏi đọa đày. Với TÌNH THƯƠNG MẸ Mục Kiền Liên đã thực hiện cơ hội giải phóng giác ngộ thành Phật mở rộng đến những cõi âm ti, đem từ bi và hy vọng đến những nơi vô vọng nhất của con người. Cái chết không còn là một đe dọa sợ hãi, và những vong linh có thể hoá kiếp trở lại trên thế gian. Cho nên Vu lan là ngày hội của chúng sinh đồng đẳng!

        Cho nên lòng người náo nức niềm vui hoá kiếp sinh linh, náo nức như chính mình cũng đang hoá kiếp, khi nghĩ rằng những người khuất mặt đang chờ ngày cửa ngục được mở rộng để trở lại nhân gian, nhân gian như nơi chốn làm người đang là vị Phật sẽ thành!

        Tôi đã sống những ngày náo nức như thế từ khi mảnh trăng thượng tuần lơ lửng trên đỉnh núi Kim Phụng mỗi ngày một tròn thêm. Có một sự chờ đợi nôn nao, như người bên ni sông chờ người bên tê sông khi chợt nhận ra chiếc thuyền thấp thoáng trong tầm nhìn. Tôi đã thấy sự háo hức của bà của mẹ, của các mợ, các dì, các cô, những người đã làm mẹ nên biết thương mẹ đậm đà, nhớ mẹ từng giây, trong những ngày từ mồng chín đến mười lăm. Họ hẹn nhau đi từng đoàn đến các chùa lạy Phật. Huế có bao nhiêu chùa thì họ đi đến bấy nhiêu, cầu nguyện và đảnh lễ Phật hầu như không mệt mỏi. Đối với họ - và về sau cũng đối với tôi -  mỗi lần cúi lạy là một lần gần thêm với mẹ đã xa cách nghìn trùng, mỗi lần đem cơm cho những kẻ khốn cùng là một cơ hội chuyển chén than thành cơm trắng ngọt ngào ở nơi cõi xa nào đó chưa hề bước tới. Huế tưng bừng nơi từng gốc cây cổ thụ với các buổi cúng cơm cho vong nhân khuất mặt, những buổi cúng thị thực ngoài trời cho cả thiên thần quỷ vật. Vu lan là một ngày lễ thánh thiện nhân ái nhất trong năm với tấm lòng tự nguyện từ bi hỉ xả cho muôn loài. 

        Tôi vẫn còn nhớ nụ cười tươi rói của mợ Luân hàng năm khi kể cho tôi nghe mợ đã đi lạy Phật nơi mấy mươi chùa, và Linh Mụ sẽ là ngôi chùa cuối cùng dành cho ngày mười bốn, mười lăm. Tiếng cười trong sáng bỗng trầm xuống pha lẫn chút tinh ma cấm kỵ khi mợ báo tin đã thuê thuyền vào đêm mười bốn để chị em cùng nhau lên điện Hòn Chén coi lên đồng - mà đừng “mét” ôn Linh Mụ (HT Đôn Hậu trụ trì chùa Linh Mụ) không thôi sợ ôn la - sáng hôm sau sẽ về lễ Phật tại chùa Linh Mụ.

        Hàng năm và hàng năm đó là hành trình Vu lan Huế. Vu lan Huế bắt đầu bằng một nẻo đường tâm cảm huyền bí, bằng con thuyền ngược bến Linh Mụ lên điện Hòn Chén để sống những buổi lễ hóa thân như một hình thức thoát xác, chuyển hóa bằng những phút xuất thần, bằng tiếng nhạc om thòm ma quái giựt gân, một nghi lễ “chuyển bờ” từ địa ngục lên đến nhân gian, từ nhân gian lên đến cõi trời. Trong tuổi thơ, chiếc thuyền với cung đàn réo rắt đã trở nên một linh cảm về những thế giới ngoài tầm giới hạn của ba chiều không gian…

        Mấy mươi năm sau trở lại Huế, đã là một Phật tử thuần thành học Phật nhiều năm, tình cờ vào dịp Vu lan, cùng với con tôi lại ngược dòng Hương Giang - lần này trốn ôn Từ Đàm - chúng tôi đi thuyền lên điện Hòn Chén để xem lễ rước Cha rước Mẹ như mọi năm. Ấn tượng của các buổi lên đồng không còn huyền bí mê hoặc như trong thời thơ ấu, có một lúc tôi đã nghĩ điện Hòn Chén không thuộc vào ngày lễ Vu lan đầy ý nghĩa nhân bản và giác ngộ, nếu không có cơn mưa chợt đến trong đêm. Tiếng mưa trên sông và sóng vỗ mạn thuyền nơi bến Hòn Chén hoang vu gây một âm vang kỳ diệu như tiếng chân của những người trở lại cõi trần. Từ thuyền nhìn ra thấy sông nước mênh mông một màu đen huyền hoặc, những bong bóng nhảy múa sáng lấp lánh của muôn nghìn giọt mưa vỡ ra trên sông, bỗng hiển hiện trong tâm lời kinh “tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, như sương như điển chớp”. Sáng sớm hôm sau thuyền về bến Linh Mụ khi trăng khuya chưa tàn và hồi chuông công phu buổi sáng vừa điểm. Không khí như ở nơi Niết bàn sau những ngày quanh co trên những nẻo đường từ những cõi mộng huyển bào ảnh - với những ngụm trà ướp sói thong thả từng ngụm từng ngụm ấm và thơm, không một lời…

        Trở về nhà tôi đọc cho con nghe lời của Phật trong buổi giảng cho Mục Kiền Liên:
 
 “Này các tỳ kheo, thượng đế cư ngụ trong những gia đình nào có con cái kính yêu cha mẹ. Những hiền triết bậc nhất cư ngụ ở trong những gia đình nào có con cái kính yêu cha mẹ. Những thần linh bậc nhất cư ngụ nơi những gia đình có con cái kính yêu cha mẹ. Những người đáng tôn thờ cư ngụ trong những gia đình có con cái kính thương cha mẹ.

Này các tỳ kheo, “thượng đế” là danh xưng của mẹ và cha; này các tỳ kheo, những vị “hiền phụ bậc nhất”, đó là danh xưng của mẹ và cha, những “vị thánh bậc nhất”, đó là danh xưng của cha và mẹ; những “người đáng cầu khẩn tôn thờ”, đó là danh xưng của cha và mẹ. Nhưng vì lý do gì? Bởi vì, này các tỳ kheo, bởi vì cha mẹ đã làm rất nhiều cho các con. Cha mẹ là người sinh thành, là người dưỡng dục nuôi nấng, là người hướng dẫn con cái vào đời.

Kệ rằng: 

Thượng đế là mẹ cha 
Thầy đời là mẹ cha 
Mẹ cha nên thờ kính 
Mẹ cha thương muôn loài 
Hiền giả kính cha mẹ 
Dâng cúng nước và cơm 
Áo mặc và giường nằm 
Tắm rửa và xoa  bóp 
Săn sóc đến tay chân 
Kẻ nào dưỡng mẹ cha 
Ở đây được ngợi ca 
Của những người hiền giả 
Ở đó được hưởng phúc 
Của trời dành ban cho. 

(Kinh Anguttara-Nikaya, quyển IV, trang 70,  bản dịch từ tiếng Phạn của Nyanatiloka, dịch từ bản Đức ngữ)

Tôi đã cùng đọc kinh với con trong khu vườn Linh Mụ, khi ngoài sông thấp thoáng con thuyền tài tử chở chiếc đàn Orphée xuôi giòng Thuận An… 
 

Ghi chú: 
(1) Lấy ý từ bài thơ của Hòa Thượng Mãn Giác: 
Ô hay xuân đến bao giờ nhỉ 
Nghe tiếng hoa khai bỗng giật mình 
Sáng nay thức dậy choàng thay áo 
Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh 
(2) Cổ kiềng: cổ áo của một loại áo ngắn như kiểu áo bà ba trong Nam, cổ áo ôm sát cổ và được may viềng nẹp như cái kiềng, người Huế gọi là áo cổ kiềng
(3) Orphée hay Orpheus: nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, là một nghệ sĩ có giọng ca và đàn ly cầm rất hay, con của nàng thơ Kalliope va Apoll, Orphée có thể dùng tiếng đàn và lời ca mê hoặc ngay cả những con thú hoang dại cũng như  sỏi đá và cây cỏ. Nhờ giọng ca, Ophée thuyết phục được những vị thần ở dưới điạ ngục cho phép Eurydike người vợ thân yêu đã chết trở lại cõi trần với chàng. Trên đường đưa vợ từ địa ngục trở về, khổ thay chàng đã quên lời dặn của các vị thần không được quay sang nhìn Eurydike, không nhịn được lòng nhớ mong chàng quay sang nhìn nàng và Eurydike phải quay về địa ngục. 


CƠ HỘI TẠO DỰNG HẠNH PHÚC
Nguyễn Thế Đăng

Tất cả chúng ta đều luôn luôn bình đẳng trước những cơ hội có thể tạo ra hạnh phúc: dắt tay một cụ già qua đường, lượm giúp cái mũ của một em bé cho cha mẹ nó, liệng đi một hòn đá trên đường để người khác khỏi té ngã, cắt một cành bờ rào cho người đi đường khỏi vướng, cắt xén hàng rào dâm bụt cho người đi qua thấy sạch sẽ vui mắt, chỉ đường cho người hỏi đuờng bằng lời nói thiện cảm, về thăm mẹ đem theo một món quà nhỏ… Những chuyện nho nhỏ làm cho người khác như vậy luôn luôn tạo cho người ta những niềm vui nho nhỏ, những hạnh phúc nho nhỏ.

Buổi sáng cầm tờ báo bước vào quán cà phê lề đường. Một chiếc xe vận tải đậu bên kia đường, được chống lên để vá bánh xe. Vừa đi ngang bàn ngoài, một người nào đó thậm chí không kịp thấy mặt chỉ trên bàn: “ Nè, lượm có hai chục mét mà được bao nhiêu đây rồi”. Trên bàn là một nạm tôn cắt hình tam giác để làm lủng ruột xe. Ngồi xuống, thấy vui vui: những thứ gây ác hại đã được cất bỏ. Người chứng kiến- mà cũng không phải là người chứng kiến nữa, chỉ nghe kể lại thôi- còn thấy vui, huống là người đích thân làm việc đó.

Thậm chí không đi đâu cả, chỉ ở nhà.Nghĩ đến một hay vài người nào đó với những tư tưởng tốt lành là lòng cảm thấy vui vẻ. Nghĩ đến một công việc tốt đẹp của ai đó và mong cho nó thành tựu là lòng cảm thấy hạnh phúc. Làm điều tốt lành, nói lời tốt lành, nghĩ điều tốt lành là có được hạnh phúc. Đây là chuyện thất dễ dàng, có thể thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc.

Chúng ta không bàn đến cơ cấu nào, cách vận hành thế nào của những định luật tự nhiên tác động trên tâm sinh lý để khi phát khởi và tiến hành một việc tốt lành bằng thân, khẩu, ý thì ta có ngay niềm hạnh phúc. Điều đó đúng với tất cả mọi người, không kể tôn giáo, niềm tin, thái độ chính trị, giàu nghèo, địa vị xã hội, điều kiện hoàn cảnh. Chỉ cần điều ấy là tốt lành, nghĩa là có từ một động cơ trong sáng, một tấm lòng trong sạch, và đem lại lợi lạc cho mình và cho mọi người. Và dĩ nhiên, việc tốt lành ấy càng rộng lớn, càng làm được cho nhiều người, và càng sâu, càng ảnh hưởng sâu trong lòng người thì niềm hạnh phúc ấy càng rộng lớn, sâu xa.

Cơ hội làm điều tốt lành- mà ngôn từ xưa gọi là điều thiện- luôn luôn mở ra trước mắt mỗi người, luôn luôn sẵn sàng đem lại hạnh phúc cho mỗi người, bất kể là đang ở đâu, trong thời gian nào.

Đó là điều Đức Phật nói trong một bài kệ của kinh Pháp Cú (phẩm Hoa, câu 10)

Như nhặt từ đống hoa
Làm thành những tràng hoa
Cũng vậy thân tâm này
Hãy thâu nhặt điều thiện.

Trước đống hoa đời, trước những cơ hội luôn luôn có sẵn trước mặt của đời sống hàng ngày, chúng ta phải biết nhặt lên và xâu cho mình những tràng hoa, những chuỗi việc tốt lành và đẹp đẽ. Biết sống như vậy thì cuộc đời trước mặt chúng ta là những đống hoa, và chính thân tâm chúng ta là những tràng hoa. Biết sống như vậy là biết tạo ra hạnh phúc, cho mình và cho người, ở mọi nơi mọi lúc. Biết sống như vậy là xâu cho đời mình thành một tràng hoa bất tận.


THỰC HÀNH TÂM VỊ THA 
Tenzin Gyasto

Lòng ích kỷ làm cho chúng ta chỉ biết lừa dối và bạc đãi người khác. Muốn diệt trừ tính ích kỷ thì chỉ có cách phát triển lòng vị tha. Nếu bạn thành thật và có tấm lòng rộng mở, tự nhiên bạn sẽ cảm nhận được niềm tự tin, hiểu rõ giá trị của chính mình và sẽ không còn sợ hãi nữa.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng chỉ suy nghĩ về lòng từ, sự kiên nhẫn sẽ không ích lợi gì nếu bạn không thực tập chúng. Muốn thực tập những điều này thì hay nhất là những lúc khó khăn xuất hiện, bạn hãy thử thực tập chúng.

Và ai là người cho ta những cơ hội khó khăn để thực tập? Dĩ nhiên là không phải bạn chúng ta, mà là người đối nghịch của chúng ta. Họ là những người gây cho ta nhiều khó khăn nhất. Và nếu ta thật sự muốn học hỏi thì hãy xem họ như là những người thầy giỏi nhất!

Người thực tập hạnh từ bi và tình thương, cần phải thực tập luôn sự khoan dung, và như vậy thì người đối nghịch không thể thiếu được. Chúng ta phải cảm ơn họ, vì nhờ họ mà chúng ta phát triển được sự an bình của tinh thần. Thêm nữa, trong những trường hợp cá nhân hay cộng đồng có những thay đổi, người đối nghịch cũng có thể trở thành bạn.

Sân hận rất có hại, chúng ta cần phải thực tập để làm giảm bớt năng lực của chúng nơi tinh thần, nếu không, chúng sẽ tiếp tục làm phiền và gây khó khăn cho ta trong việc thực tập sự an lạc. Sân hận mới là kẻ thù thật sự của chúng ta. Đây là những năng lực tiệu cực mà chúng ta cần phải đối phó.

Thật là tự nhiên khi chúng ta ai ai cũng muốn có bạn. Tôi hay nói đùa là, nếu bạn thật sự muốn ích kỷ, thì bạn cần phải biết vị tha. Bạn cần phải giúp đỡ, săn sóc mọi người, lo cho họ, làm bạn với họ, mang lại nụ cười cho họ. Ngược lại nếu bạn không lo gì đến hạnh phúc của người khác, sau này bạn sẽ là người thua thiệt.

Có người nói, tình bạn hay mang đến cãi vã, giận dữ, ganh tỵ và tranh giành… Tôi không đồng ý về điểm này. Tôi nhận thấy chỉ có tình thương mới mang lại cho chúng ta những người bạn thân đúng nghĩa.

Trong xã hội vật chất hiện nay, nếu bạn có tiền và có địa vị, thì dường như bạn có rất nhiều bạn. Nhưng họ không hoàn toàn là bạn của bạn, họ là bạn của tiền và địa vị của bạn. Khi mà bạn trắng tay, mất hết quyền lực thì rất khó gặp những người bạn này nữa, họ biến mất .

Thực tế thì khi mọi việc hanh thông, chúng ta cảm thấy tự tin và có thể tự lo cho mình được, và chúng ta cảm thấy mình không cần bạn, nhưng khi địa vị và sức khỏe suy dần, thì chúng ta mới biết là mình lầm. Để chuẩn bị cho lúc ấy có được những bạn tốt, ta cần phải thực tập tính vị tha ngay từ bây giờ.

Tôi hay nói là tôi lúc nào cũng cần bạn, càng nhiều càng tốt, và mọi người hay cười tôi về điều này. Tôi yêu những nụ cười. Có rất nhiều nụ cười, nụ cười mai mỉa, nụ cười gỉa tạo, nụ cười ngoại giao. Có những nụ cười không làm chúng ta hài lòng, mà đôi lúc còn làm ta sợ hãi, nghi ngờ, phải không nào? Nhưng một nụ cười chân thật mang lại cho chúng ta bao là sự vui tươi, và tôi tin, đây là đặc điểm của con người. Nếu đây là nụ cười mà ta mong muốn thì chính chúng ta phải làm sao để cho chúng được hiện diện.

 Để kết luận, tôi muốn nói thêm: hạnh phúc cá nhân cũng góp phần không nhỏ trong việc làm cho xã hội con người tốt đẹp hơn.

Bởi vì tất cả chúng ta đều cần tình thương, vì thế khi gặp một người, dù trong trường hợp nào, chúng ta cũng có thể coi người đó như là anh, chị em của ta. Cho dù người đó có cách cư xử, cách ăn mặc khác biệt. Thật ra không có gì cách biệt giữa ta và người. Những nhu cầu căn bản tự nhiên của mọi người đều giống nhau. Vì vậy, thật là điên rồ khi mà chỉ bám vào những khác biệt bên ngoài.

Trái đất nhỏ bé này là nhà chung của chúng ta. Để bảo vệ căn nhà ấy, thì mỗi một người trong chúng ta cần phải kinh nghiệm được ý nghĩa của lòng vị tha. 

Lòng ích kỷ làm cho chúng ta chỉ biết lừa dối và bạc đãi người khác. Muốn diệt trừ tính ích kỷ thì chỉ có cách phát triển lòng vị tha. Nếu bạn thành thật và có tấm lòng rộng mở, tự nhiên bạn sẽ cảm nhận được niềm tự tin, hiểu rõ giá trị của chính mình và sẽ không còn sợ hãi nữa.

Tôi tin rằng mỗi giai cấp xã hội đều có thể là chìa khóa để mở cửa cho một thế giới hạnh phúc, an lạc. Chúng ta không cần phải theo một tôn giáo nào, hay phải tin vào một lý tưởng gì, chỉ cần mỗi một người trong chúng ta phát triển hết những đức tính tốt của con người là đủ.

Tôi cố gắng cư xử với những người tôi gặp như một người bạn lâu năm. Điều này mang lại cho tôi một niềm vui chân chất. Và đây chính là lúc để chúng ta tạo nên một thế giới hạnh phúc hơn, an lạc hơn.

Mỹ Thanh dịch


6 lợi ích của việc tập thiền (Thiền sư Thích Nhất Hạnh) 


ĐỨC PHẬT 
VÀ LỜI DẠY CỦA CHA TÔI
Nguyễn Thánh Ngã

Tôi không nhớ rõ tôi đến với Đức Phật như thế nào, nhưng cái thời khắc nhỏ nhất mà Phật đến với tôi, thì tôi không thể nào quên được! Đó là dấu ấn suốt đời, kiếp kiếp. 

Khoảng năm lên 7,8 tuổi, tôi rất thích bắt những chú kiến bỏ vào hộp diêm. Lúc thì chơi đùa với chúng, lúc thì lại giết đi. Một hôm cha tôi thấy vậy nói: "Con không nên giết hại sinh vật, dù chúng có bé nhỏ tới đâu, vì chúng cũng muốn có được niềm vui như con vậy!". Rồi cha đem những chú kiến còn lại thả cho chúng bò đi, miệng lầm rầm những điều không rõ. Ánh mắt cha thương tôi một cách lạ thường. Tôi đã nhận ra (dù còn là khờ dại) trong ánh mắt ấy, hình ảnh Đức Phật soi chiếu tâm tôi. Ngài đã đến với tôi bằng lời của cha tôi. Ngài đã tọa nhập vào tôi bằng ánh mắt của cha tôi. Sau này tôi mới vỡ lẽ như thế. Còn lúc đấy, một cách tự nhiên, thật thơ ngây, Đức Phật đến!

Ngài ngồi đó, giữa hoang địa tâm trí tôi. Cha mẹ tôi tất bật chạy lo cơm áo. Tôi lớn theo từng manh áo của mẹ. Nhưng hàng ngày mẹ luôn nhắc tôi "làm lành lánh dữ". Hàng ngày cha nhắc niệm Phật. Đức Phật của tôi vẫn còn xa tôi nhiều lắm. Cả những lúc bíu áo mẹ đi chùa, tôi vẫn không hề biết lời Phật dạy có sức mạnh tiềm ẩn trong tôi đến vậy. Tôi học cách lượm một mảnh chai giữa đường, học cách bắt một cọng cỏ qua dòng nước cho bầy kiến bò qua… Tôi làm tất cả những điều ấy mà vẫn chưa hiểu gì nhiều. Nhưng chắc chắn những “điều không có gì” đó lại thay đổi cuộc đời tôi. Hướng dẫn tôi gội rửa tâm của mình.

Gội rửa tức là làm sáng bóng một hình tượng. Nhưng vì quá mê tín, tôi xem Đức Phật của tôi như Thượng đế, tôi buộc ngài ban phát cho tôi những điều tôi cầu xin. Xin được tôi đem lòng tham. Không được tôi đem lòng nghi hoặc. Tôi chạy theo ảo ảnh của cuộc truy tìm. Tôi đem kiến thức nhà trường để đọc kinh Bát Nhã. Đức Phật trong tôi ngày một mù mịt. Tôi nghĩ rằng những quyển sách triết sẽ cứu vãn tôi. Tôi đem Khổng Khâu, Socrate, Sartre, Nietzsche… để lấn át Đức Phật của tôi. Và rồi chỉ còn là ngọn đèn leo lắt trong tâm tôi giữa những ngọn gió lớn!

Ngông nghênh với một cái đầu đầy thiền triết của “Vô môn quan”, của hiện sinh..., tôi đâm ra coi thường tất cả. Tất cả cuộc đời đều là phi lý, buồn nôn... Tôi đảo điên. Tôi mộng ảo. Tôi bế tắc. Dĩ nhiên là tôi có quyền cho phép mình độc đoán, khát vọng không tưởng, và thể hiện cả những thói ích kỷ nhỏ nhen, thù ngịch. Tôi sử dụng trình độ của mình để coi rẻ, phân ly. Tôi thoả thích chạy theo rượu chè. Cuộc đời với tôi là những sự lẩn quẩn. Tôi trở nên một người trống rỗng. 

Cách đây 4,5 năm gì đó, báo Giác Ngộ gởi tặng tôi quyển Tâm Kinh (Kinh Trái Tim). Sách quý nhưng đọc... chỉ là để đọc! Sau đó, tôi đem tặng cho một người bạn. Tặng xong tôi lại nhận được một quyển khác. Tôi đọc và tiếp tục mê tín trở lại! Trầm trọng hơn. Một hôm lang thang ở tiệm sách, cầm trên tay quyển sách “Nghĩ từ trái tim” của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc mà tôi thấy mình có một Đức Phật thật bình dị, thật đơn giản, thậm chí thật hồn nhiên nữa! Câu thơ của ông mà tôi thuộc lòng từ lâu đã ám ảnh tôi: "Sóng quằn quại đâu hiểu mình là nước!". Tôi đọc và vỡ lẽ từng chữ, từng câu. Bằng cách viết làm thất vọng nhiều thứ bằng cấp, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã giúp tôi vượt qua mê tín mà lâu nay tôi ngỡ là chánh tín. Đây là lời cảm ơn của tôi đối với người bác sĩ mà tôi chưa từng quen biết. Trong tôi thức dậy một tình yêu mới, rất hồn nhiên thơ ngây. Tôi cố gắng quét sạch mọi thành kiến, xa rời mọi triết luận. Và tôi đã có một Đức Phật cho riêng mình. Đức Phật từ thời cha tôi dạy và Đức Phật trong chữ nghĩa của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhập làm một: thật hồn nhiên, thật giản dị, nhưng rọi chiếu tâm tôi. Đức Phật của tôi luôn nhắc tôi: "Đừng tin ta khi con chưa hiểu ta!".


VU LAN VỚI NGHỆ SĨ

Đến mùa Vu lan, tâm thức mọi người lắng sâu hơn để cảm nhận về tình yêu thương của bậc sinh thành. Người nghệ sĩ nghĩ gì trong mùa Vu lan, PV VHPG đã ghi lại tâm tình của một số nghệ sĩ, trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc.

Nghệ sĩ Nhân dân Kim Cương

Vu lan là dòng sữa ngọt ngào mà tôi được nếm trải trong cuộc đời. Bởi từ thân xác, tâm hồn đến sự nghiệp tôi đều được mẹ tạo dựng cho. Mẹ tôi mất trong mùa Vu lan, nên việc tưởng nhớ công ơn sinh thành vào những ngày này đối với tôi còn có nhiều ý nghĩa đặc biệt. 

Với tư cách của một người con, người Phật tử, soạn giả, nghệ sĩ, hầu hết  kịch của tôi là câu chuyện về những người mẹ mang nhiều thân phận khác nhau. Có nhiều lý do mà kịch của tôi đều mang nặng tình mẹ. Bởi qua công tác, tôi chứng kiến nhiều người mẹ hy sinh cho con như những vị Bồ tát sống giữa cuộc đời. Do vậy, tôi thấy tình yêu nào cũng có mục đích, nhưng tình mẹ đối với con thì vô bờ, cho đi mà không có bất cứ điều kiện nào.

Con người khác với các loài cỏ cây, sinh vật là ở cái tình, mà trong các tình của thế gian thì tình mẹ con là thiêng liêng nhất. Vì vậy, mùa Vu lan càng làm cho tôi được gần mẹ hơn. Ngoài tình mẹ con, mẹ tôi (Nghệ sĩ Nhân dân Bảy Nam) còn là tri âm, tri kỷ, là người bạn diễn vô cùng ăn ý. Nhớ lại mỗi đêm diễn thành công trở về, cả hai mẹ con cùng thao thức không ngủ được vì đã đem trọn cái tình của người nghệ sĩ đến với công chúng. Lúc mẹ còn sống cứ nhớ nghĩ đến mẹ là lòng xốn xang. Còn khi mẹ mất, hai năm nay, vào mùa Vu lan, cài bông hồng trắng trên ngực là lòng cảm thấy rất hụt hẫng. Tôi nghĩ Vu lan là dịp để những người con nghĩ lại xem mình đã từng làm gì để cho mẹ buồn không. Mẹ luôn dạy chị em tôi sống phải biết vì người khác, biết chia sẻ với người khác. Các công tác từ thiện là chủng tử lành mà mẹ gieo cho chị em tôi từ nhỏ. Chúng tôi tiếp tục những tâm nguyện của mẹ, nên vừa cho khánh thành lớp dạy vi tính cho người khuyết tật. Tôi cho rằng, báo hiếu chính là phải sống sao cho xứng đáng.

Kinh nghiệm là một thứ trái đắng, chỉ mong các bạn trẻ, các em Phật tử đừng bao giờ làm cho mẹ phải buồn, vì có những lỗi nhỏ, khi mẹ mất rồi mới thấy nó ám ảnh rất nhiều. Hãy tùy điều kiện hoàn cảnh mà mua cho mẹ một món quà có ý nghĩa trong dịp Vu lan, nhưng phải hiểu vật chất dù có thể hiện ở hình thức nào cũng không quan trọng bằng cái tình mà mình gửi gắm.

Cuối cùng tôi chỉ muốn nói rằng, Vu lan còn là mùa tha thứ, là dịp để con người biết tha thứ cho nhau.

Nghệ sĩ  Saxophone Trần Mạnh Tuấn

Tôi phải sống xa gia đình, xa mẹ, nên tôi hiểu ngày Vu lan trong phong tục Á Đông và Việt Nam là ngày của tình cảm mẹ con thiêng liêng. Những nhạc sĩ, nghệ sĩ chỉ có thể nói lên tình cảm của mình bằng âm nhạc. Tôi thấy âm nhạc Phật giáo được thể hiện qua các điệu tán gợi nhiều ý tưởng cho sáng tạo nghệ thuật. Trong tương lai, tôi sẽ phát triển theo hướng âm nhạc Phật giáo và mong muốn sẽ làm một CD về mẹ. Tôi rất thích được biểu diễn trong các dịp lễ lớn của Phật giáo. Bởi tôi hiểu, ngoài biểu diễn để kiếm sống, âm nhạc còn cho người nghệ sĩ lòng thanh thản.

Khi tôi du học ở nước ngoài, tôi thấy không khí ở phương Tây lạnh lắm, nó lạnh bởi khoảng cách giữa cha mẹ con cái và các thế hệ trong gia đình là rất lớn. Ông bà, bố mẹ lớn tuổi ít được gần gũi các con mà phải sống riêng hay sống trong các viện dưỡng lão. Giữa những nét đẹp truyền thống, sự ấm cúng chia sẻ không khí tình thân trong gia đình là những nét văn hóa mà chúng ta phải giữ gìn. Tôi đã đi khoảng 40 nước và tôi thấy có nhiều những điều mà mình phải học ở họ. Nhưng những phong tục Việt Nam, từ truyền thống gia đình, sự kín đáo của người phụ nữ, đến cách xưng hô trong giao tiếp thường ngày, đều được tôi chia sẻ với các bạn bè nước ngoài. Đó đều là những nét văn hóa mà người phương Tây cần phải học hỏi.

Đối với tôi, con cái cần phải có cơ hội học tất cả những gì văn minh nhất, nhưng cũng phải dạy bảo cho con tình cảm gia đình và tình mẹ, cũng như những phong tục văn hóa Việt Nam. Bởi mình có nhiều bạn, nhiều cơ hội nhưng trong cuộc sống thì ai cũng chỉ có một người mẹ. Người ta có thể học tất cả những văn minh nhưng không thể quên mẹ, quên nguồn gốc. Dù mẹ có lớn tuổi, chậm chạp nhưng lúc nào cũng thiêng liêng vì mình được sinh ra từ mẹ, và vì đơn giản mẹ là mẹ.

Nghệ sĩ Ưu tú Bạch Tuyết

Mùa Vu lan và các mùa lễ hội khác của Phật giáo đều có các nét đẹp văn hóa. Thế nên tiếp cận Phật giáo không chỉ ở hình thức tín ngưỡng mà còn ở những nét đẹp văn hóa trong ứng xử. Ở thời buổi bùng nổ các thông tin trái ngược nhau, nhiều giá trị bị đảo lộn, chính chúng ta phải ý thức giữ gìn những nét đẹp truyền thống, mà ở đó, văn hóa, triết học Phật giáo là những giá trị ổn định, lầu bền. 

Tôi mất mẹ từ năm lên 8 tuổi, nên trong tâm cảm rất lẻ loi. Tôi nghĩ sự hiếu thảo với cha mẹ không chỉ là tình cảm của con cái với cha mẹ mà còn là tình thương yêu đối với mọi người, mọi sinh vật. Cần phải nói thêm, với tư cách của một người nghệ sĩ, nhiều những tác phẩm mà tôi viết và biểu diễn, ít nhiều đều hướng về mẹ, cũng có khi là người mẹ chung trong tâm thức của cả dân tộc. Trong mùa Vu lan này, tôi cũng sẽ cùng một số bạn bè chia sẻ không khí ấy bằng những hành động từ thiện cụ thể.

Là một người mẹ, tôi cũng hiểu, cha mẹ và con cái thời nay có nhiều khoảng cách. Nhiều bậc cha mẹ không còn là thần tượng của con cái, từ kiến thức thức đến lối sống. Nhưng bản thân tôi luôn lấy đời sống thường ngày của mình làm gương cho con. Ngay từ lúc mang thai, tôi đã ý thức điều đó bằng cách đi chùa niệm Phật và hát những bài hát an lành. Chính vì thế tâm thức của con tôi sau này rất thuần thiện, nhiều lúc tôi còn cảm nhận con tôi đã cho lại tôi những bài học. 

Tôi tin Đức Phật, bởi giáo lý của Ngài luôn giúp người ta tự hiểu mình, tự vẽ được chân dung của mình, và khi đã hiểu mình, vẽ được chân dung của mình thì mọi nặng nề trong cuộc sống sẽ qua đi một cách nhẹ nhàng. Tôi chỉ mong các bạn trẻ, nên nắm bắt cơ hội được mẹ sinh ra mà chịu khó học hành. Có học thì mới biết việc gì mình nên làm và việc gì không. Tôi nghĩ, có hiếu không gì bằng học cho tốt, sống cho ngoan, đó cũng là thực tiễn mong muốn của tôi đối với con.

Nam Thắng - Tố Nhiên thực hiện


PHỤ NỮ VIỆT NAM 
ĐỐI DIỆN TRƯỚC CUỘC SỐNG
Thái Kim Lan

Đức tính hy sinh, chịu đựng, tận tụy tần tảo và trung kiên của người phụ nữ Việt Nam đã làm rúng động biết bao con tim. Mẹ Việt Nam đã trở nên một khái niệm cốt tủy của tâm tình Việt Nam từ muôn đời. Nhưng có lẽ khái niệm nào cũng chưa đủ để có thể giải bày hết những gian nan khổ ải mà mẹ đã trải qua suốt cả đời người. Mẹ Việt Nam gian khổ cay đắng hơn mọi ca ngợi vinh quang. Và đã là Mẹ thì không cần vinh quang, mẹ có thể đổi vinh quang để lấy đau khổ thay cho con. Bởi vì mẹ sống vì tình thương…

Tôi đến đây với một tâm trạng xúc động do những tin tức gần đây về số phận của người phụ nữ Việt Nam qua báo chí và bảng tổng kết giáo dục về dân số do Quỹ Dân Số Liên Hợp Quốc UNFPA tài trợ và Bộ Giáo dục Đào tạo tổ chức. Những con số không vui cho thấy số phận của người phụ nữ ngày hôm nay vẫn còn là vấn nạn lớn cho xã hội Việt Nam trong thời đại toàn cầu hóa. Nếu người phụ nữ không tự mình và không được xã hội tạo điều kiện nâng đỡ thì nguy cơ toàn cầu hóa tiêu cực  sẽ xảy ra cho phụ nữ Việt Nam, có thể thân phận của họ còn éo le hơn cả nàng Kiều. Khi chúng ta biết rằng, một trong những thành tựu lớn của văn minh thời hiện đại và hậu hiện đại chính là sự giải phóng phụ nữ trên quả địa cầu. Thế giới đã ghi nhận những thay đổi tích cực về vai trò và giá trị của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội hôm nay (Việt Nam là một trong những nước công nhận quyền bình đẳng nam nữ tiên tiến). Người phụ nữ Việt Nam, nói như một người bạn Âu châu của tôi nhận xét, là biểu tượng quý giá nhất của đất nước Việt Nam. Sự cao quý ấy cần được đất nước và con người Việt Nam gìn giữ, bảo trọng, không thể phung phí như một món rẻ tiền. 

Trước tiên, người phụ nữ cần ý thức rõ hơn ai cả về ý nghĩa của cụm từ “là người phụ nữ Việt Nam” trong khung cảnh Việt Nam, trong điều kiện  đạo đức xã hội Việt Nam, và nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay. Phụ nữ cần được tạo nhiều cơ hội trao đổi học hỏi, trong tất cả các tầng lớp quần chúng, vượt ra khỏi mọi khuôn sáo đóng khung họ trong vai trò thụ động đã rỗng hết ý nghĩa;  vượt ra khỏi những định chế, ngay cả định chế của Hội Phụ nữ, nếu Hội Phụ nữ cũng chỉ là một cái khung gây nên sự loại trừ những người không ở trong Hội Phụ nữ. Chính Hội Phụ nữ cũng nên mở rộng cái vốn xã hội đã trở nên vốn đóng khung và khép kín cho chính người phụ nữ nói chung. Cần phải đến gần hơn với thực trạng cụ thể của người phụ nữ, từ đó tìm ra những biện pháp bảo đảm cho người phụ nữ  có một cuộc sống xứng đáng “là người phụ nữ” trong nghĩa không phân biệt nam nữ (chính trị), giàu nghèo, sang hèn (xã hội, kinh tế) đồng thời vẫn “đẹp” trong bản chất phái tính của mình.

Tôi đã trải qua những phong trào giải phóng phụ nữ tại Âu châu, được chứng kiến sức mạnh cũng như giơi hạn, chừng mực cũng như sự quá khích của nó. Thành quả khả quan của nó một phần lớn là do sự trưởng thành tư tưởng từ thời khai sáng và tinh thần tôn trọng dân chủ của cả hai giới tính. Có thể nói  vấn đề giải phóng phụ nữ đòi hỏi một tinh thần dân chủ tự nguyện rất cao đến từ những người trong cuộc, trước hết từ cả bên nam giới và ngay cả những người phụ nữ.

Ta có thể đồng ý với một nhà khoa học xã hội, rằng: “ làm đàn bà, có nghĩa là tạo được thế quân bình giữa đàn ông và đàn bà”, điều ấy cũng đúng cho nam giới, và ngay cả giữa nữ giới với nhau. Chỉ có thế quân bình qua lại giữa giá trị và vai trò của nam nữ trên mọi bình diện, bản chất và chức năng của người phụ nữ mới được bảo đảm.

Bản chất và chức năng cao quý của người phụ nữ Việt Nam từ nghìn xưa đã từng được ca ngợi trong văn chương. Đức tính hy sinh, chịu đựng, tận tụy tần tảo và trung kiên của người phụ nữ Việt Nam đã làm rúng động biết bao con tim. Mẹ Việt Nam đã trở nên một khái niệm cốt tủy của tâm tình Việt Nam từ muôn đời. Nhưng có lẽ khái niệm nào cũng chưa đủ để có thể giải bày hết những gian nan khổ ải mà mẹ đã trải qua suốt cả đời người. Mẹ Việt Nam gian khổ cay đắng hơn mọi ca ngợi vinh quang. Và đã là Mẹ thì không cần vinh quang, mẹ có thể đổi vinh quang để lấy đau khổ thay cho con. Bởi vì mẹ sống vì TÌNH THƯƠNG. Đây là kinh nghiệm về mẹ của tôi, nhưng có lẽ cũng là kinh nghiệm chung về mẹ của mọi người. Những người phụ nữ đã quên mình trong hy sinh và không đòi công bằng. Tất cả những ca ngợi về sau đối với họ chỉ là ảo ảnh. Ảo ảnh về đức tính người phụ nữ lắm khi bỏ quên thực trạng đắng cay mà người phụ nữ phải gánh chịu, bỏ quên những đôi vai còng vì gánh nặng, bỏ quên trẻ mồ côi, gái mãi dâm, phụ nữ bị lường gạt, phụ nữ bị bạc đãi từ tinh thần đến thể xác. 

Chính những thực trạng này đánh thức năng khiếu bẩm sinh củangười phụ nữ: tình thương. Nếu không có tình thương không thể làm rung động con tim. Chính vì tình thương, người phụ nữ mới động tâm để hành động. Phải đi từ quan điểm tình thương để tìm đích hướng cho người phụ nữ. Nhưng cũng chính tình thương lại là điểm yếu của người phụ nữ trong cuộc đời. Tình thương của người phụ nữ dễ bị lạm dụng và bóc lột tàn nhẫn, nhất là một khi xã hội bị tha hóa về đạo đức, niềm tin, về nhân bản và tình người, và dĩ nhiên, cũng vì nghèo đói và nhất là không được khai hóa.

Cho nên khai hóa giáo dục là điểm tiên quyết cho người phụ nữ. Trong tiến trình toàn cầu hóa và trong trào lưu đổi mới xã hội hôm nay, người phụ nữ cần được nâng đỡ để trau dồi trí tuệ, phải được khai hóa trên bình diện tri thức, cần được hưởng những quy chế đào tạo đúng mức, để quân bình tình cảm và thực hiện tình thương trong sựï can đảm để sử dụng trí tuệ của chính mình. Trí tuệ quan trọng cho sự thực hiện đúng đắn, không làm sai lạc tình thương, như chính Đức Phật đã chỉ cho ta con đường thực hiện giải phóng: Bi - Trí - Dũng. Khai triển trí tuệ là triển khai bình đẳng và dân chủ, phá mọi phân biệt đối xử và ngu dân.

Người phụ nữ có thừa tình thương của người xiếu mẫu (Bi), người phụ nữ có đủ can đảm để sẵn sàng hy sinh (Dũng), và người phụ nữ có thừa thông minh để học được những nghề nghiệp xứng đáng, cải thiện đời sống vật chất và đi đến tự lập đối với nam giới.

Trong tiến trình giải phóng phụ nữ tại Âu châu, hiện nay có quan điểm cho rằng, nam giới là những người thua cuộc ở nhiều điểm, và điểm nổi bật nhất là trên thị trường lao động, trong lúc số phụ nữ đi làm tăng lên bằng với tỷ lệ nam giới bị giảm xống, khuynh hướng nam giới thay chức nội trợ cho phụ nữ càng ngày càng rõ rệt. Điều này cho thấy, sự cải thiện đời sống và chức năng của người phụ nữ chỉ có thể thực hiện thực sự khi có sự tương trợ của người khác phái cũng như cùng phái, đồng thời xã hội sống là môi trường căn bản để sự khai hóa được nẩy mầm.

Giáo dục khai sáng trong tình thương và tôn trọng nhân phẩm người phụ nữ là điều kiện không thể bỏ qua hay xem khinh trong cuộc sống hiện đại.

Trên đây là một vài suy tư tổng quát về vấn đề của Hội thảo. Riêng về kinh nghiệm cá nhân của một người phụ nữ du học và lập nghiêp ở nước ngoài, tình trạng như của tôi như người xiếc đi trên giây. Trong những lúc hiểm nghèo thập tử nhất sinh - về phương diện tinh thần hơn là vật chất - tôi đã có cơ may là người Phật tử dấn thân. Với tư cách là người hành nghề dạy học, tôi có thể truyền đạt nếp tư tưởng và đạo đức cao đẹp Đông phương cho người Đức, và như thế đã làm giàu thêm nguồn cảm hứng tâm linh cho người cùng chung sống. Làm mẹ, tôi đã bước đầu tập cho con cái tình thương bằng cách niệm Phật với con, và như thế, cho dù được giáo dục trong môi trường “khai sáng” của nước Đức, con gái tôi không bao giờ xa cách. Và dù có xa nhau nghìn vạn dặm, tiếng niệm Phật làm gần mẹ con.


Bữa cơm chung trong gia đình
Mai Lan Lệ Ấn

Nhà thơ Tản Đà khi luận về “ăn ngon” đã cho rằng “người cùng ăn” và “chỗ ăn” là hai trong bốn điều kiện cần thiết để một bữa ăn được cho là ngon: “Đồ ăn ngon mà người cùng ăn không ngon thi cũng không ngon”! Ngoài “rau sắn chùa Hương” hay con mực của biển Nha Trang, con cá nục cửa Thuận An, trái thơm trái mít làng Hồ hay những thổ sản đặc trưng trên khắp đất nước là những yếu tố vật chất cho bữa cơm ngon; các thứ chén dĩa là những khía cạnh mỹ thuật làm đẹp con mắt, vì ta cũng thường ăn bằng mắt. Tản Đà đã chiêm nghiệm về  cái tình “người cùng chia sẻ bữa ăn” và  không gian đầm ấm thân mật của bữa ăn ngon, “chỗ ngồi cũng phải ngon ăn mới ngon”. 

Có thể nói, hai yếu tố quan trọng này đến từ kinh nghiệm ban sơ về những bữa ăn chung trong gia đình, trong sự yêu thương che chở của cha mẹ, trong không khí thân thương khi mọi người quây quần chung quanh mâm cơm, cùng chia nhau chén cơm con cá với anh chị em, dưới mái nhà thường vang tiếng cười thanh xuân hay tiếng khóc sơ sinh. Những kỷ niệm “ăn chung” trong gia đình hay đại gia đình, dù bữa cơm đạm bạc với nước mắm kho hay cầu kỳ với cao lương mỹ vị, cùng nhau chan chung bát canh, cùng nhau chấm chung chén nước mắm hay nước chấm do mẹ pha, là những kỷ niệm để đời, khó quên. 

Cho nên rốt cùng điều mà ta nhớ nhất khi xa nhà, lang thang trên đất khách, khi trưa đến hay chiều về, dạ dày cồn cào, thì không ai khác hơn nó, chính cái dạ dày bắt nhớ - dù ta không muốn nhớ - đến con cá bống thệ kho khô, bát canh rau bồng tơi bồng ngọt, vị gạo thơm dẻo trên đầu lưỡi của mẹ đã cho ăn ngày trước. Hình ảnh “khói lam chiều” trên mái tranh, bếp lửa vùi rơm trở nên biểu tượng hạnh phúc gia đình trong thi ca, nhưng nỗi nhớ quặn về chính từ khúc ruột, từ đáy lòng ấy. Ai đi xa cũng phải nhận là nhớ nhà đi liền với thèm nhớ những món ăn mẹ nấu cho cả gia đình. Sự gắn bó yêu thương với người thân, với gia đình bắt đầu bằng những điều thật là cụ thể như thế của năm giác quan: vị mặn, cay, đắng, chát, ngọt ngào của thức ăn, chúng có sức giữ cho bộ nhớ giác quan linh động và có thể trở về sống động trong những lúc con người cô đơn hay thiếu thốn, chúng trào dâng trên chót lưỡi một thứ hoài niệm đầy ứ vật chất và tinh thần. Chúng là chứng tích nguyên ủy nhất của tình thương. 

Con người một khi đã nếm những vị của tình thương vừa  thực tế vừa bao dung của mẹ cha, thì đi đâu cũng không thể quên được cội nguồn. Bữa cơm gia đình còn cho ta nhiều hơn những lần chim mẹ mớm mồi cho chim con. Trên chiếc chiếu hoa, mâm cơm ở giữa hay trên chõng tre, trên  bộ ván ngựa bằng gỗ hay quanh bàn ăn, không gian ấy là “cái tổ” của sự đùm bọc, nó có giá trị về tính hợp quần nhân bản như “chim có đàn cùng hót tiếng hót mới hay, ngựa có ngựa cùng đua nước đua mới mạnh”. Nó là thứ tình gắn bó với mái nhà gia tộc. Bạn bè tha hương khi gặp nhau ăn cơm, thường bảo ăn một mình không thấy ngon, có anh chị em ăn chung, bữa ăn trở nên ngon, các gương mặt cùng nhau nhìn vào một trung tâm, vị giác khứu giác thiệt giác trở nên sôi nổi và dạ dày, - dạ dày quan trọng cho tình thương - trở nên linh hoạt thúc dục gắp món ăn. Ăn một mình là chỉ ăn lấy no hoặc ăn tham, ăn với nhau mới thực là “ăn ngon” nhờ sự tham dự của người bên cạnh. Chính sự hợp quần này nâng phẩm chất của bữa ăn gia đình lên một tầng cao hơn về “ngon”, ngoài ý nghĩa kinh tế của bữa ăn chung, thường được đánh giá là tiết kiệm ngân sách gia đình, như các bà mẹ thường nói, ăn chung “lợi chén lợi đũa”. Ngày nay, khi điều kiện sống khả quan hơn, con người kiếm được nhiều tiền hơn, lại ít thì giờ hơn vì bề bộn công việc, có khuynh huớng cho rằng bữa cơm gia đình đã hết chức vụ  dè xẻn kinh tế, sẽ không còn tồn tại nữa và nếp sống con người cũng đổi khác với ảnh hưởng nếp sống “fast food” Âu - Mỹ. Ăn dọc đường hay ăn cơm “take away” dần dần trở nên “mốt”, vừa nhanh vừa tiện. Nhưng hình như trong những lúc ăn như thế, con người như nuốt luôn cả sự lẻ loi, cô đơn vào trong dạ dày và chà xát nó với chất xót “stress”. Nhiều chứng bệnh đau dạ dày có lẽ đến từ những buổi ăn…thiếu chất thương yêu.

Bữa ăn gia đình Việt nam là biểu tượng ý nghĩa xã hội Việt nam được hiểu như một lối sống đầy tình cảm tập thể với cách xếp chỗ ngồi quanh một mâm tròn, bát canh  được đặt ở giữa mâm cùng với bát nước chấm chung, khác với cách “bày bàn ăn” của Tây phương, trọng cá nhân, phân chia rạch ròi từng phần ăn riêng rẻ, tuy cùng ngồi chung một bàn. Nhưng Đông hay Tây, sự cùng ngồi ăn vẫn được đánh giá là buổi họp mặt gia đình thú vị, đầm ấm nhất, và món ăn của mẹ hay chị hay anh em, - ngày nay đàn ông Tây phương biết nấu khéo không thua đàn bà - thường vẫn được ngợi ca và yêu thích, vẫn là những đề tài thích thú trong những câu chuyện gia đình, trong các cuộc gặp gỡ bạn bè, trong lúc cùng thưởng thức những món ăn đặc biệt tự tay nấu nướng.

Mặc dù ngày nay, cơ cấu gia đình Tây phương không còn chặt chẽ như xưa theo với đà phát triển kinh tế, sự phân chia bổn phận và lao động đã thay đổi nhịp sống ăn uống, gia đình không còn là nơi tập trung hàng ngày cho việc ăn uống, người Âu châu vẫn còn giữ được ít nhất trong ngày một bữa ăn chung, nhất là bữa ăn sáng trước khi đi làm hay buổi chiều, sau giờ làm việc, đó là lúc mọi người trong gia đình gặp nhau để trao đổi nhanh, chuyện trò và thăm hỏi, chúc sức khoẻ  trước khi bắt tay vào công việc hay trước khi đi nghỉ, hoặc lo việc riêng cá nhân. Tiến bộ kỹ thuật tiện lợi cho việc tổ chức đời  sống cá nhân và sự cải thiện hợp lý công việc cho phép người Tây phương có đủ điều kiện để sống sung túc riêng cho cá nhân, nhưng họ vẫn nuôi dưỡng đời sống tập thể và xem trọng tình thân. Bởi vì bữa ăn chung trong gia đình là cơ hội tự nhiên nhất để thể hiện sự hài hoà thân ái, nó đem lại ý nghĩa và nâng cao phẩm chất sống hợp quần.

Người Đức thường nói “Tình thương đi qua cái dạ dày”. Vâng và ngược lại, chính cái dạ dày có sức khỏe hay không là do tình thương, do phẩm chất ăn “ngon”, ăn vui, ăn thích, ăn chung, cọng ngọt sẻ bùi. 

Dạ dày của con người cần phẩm chất “ăn ngon”, ngoài “ăn no”, “ăn ních”, nó cần thức ăn tinh thần kèm theo với con cá, miếng thịt, dưa cà… Thiếu món ăn tinh thần, thiếu ánh mắt yêu thương của người cùng ăn, bàn tay yêu thương của mẹ, sự đồng tình của anh em, dạ dày có thể nhuốm bệnh - bệnh dạ dày thường do nhiều nguyên nhân tinh thần, do sự thiếu tình thương, do stress, do thiếu tình người…

Dù kinh tế ngày nay có thừa cho thịt bổ rượu ngon, nhưng phần nhiều lại bỏ đi phẩm chất nuôi dưỡng con người sống “ngon”, sống lành mạnh trong tình thương. Chúng ta có thể sắp xếp thì giờ trong ngày cho một bữa ăn chung, thay vì mất nhiều thì giờ ngồi trong phòng đợi khám bệnh xin thuốc chữa dạ dày. Chọn lựa nào là khôn ngoan và có nghĩa cho cuộc sống gia đình? 


Mẹ cứ kỳ vọng vào con đi (BS. Đỗ Hồng Ngọc) 

Sáng nay dậy thật sớm (Linh Thoại) 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 19-15 THÁNG 8 2006


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)