BA
VÀ MOBILE
(Viết
nhân sinh nhật ba)
Thiên
Ngân
Từ
ngày ba sắm mobile, tôi (chứ không phải ba) trở thành cư dân
của thế hệ "ngón tay cái". Mỗi lần ba lên phố, hai cha con
gặp nhau, y như rằng tôi được phen lấy máy của ba nhắn
chíu chít cho bạn bè dù thân, dù sơ. Hễ ai có mobile là tôi
nhắn, nhắn cho đã cái tay, vậy!
Ngày
tôi mua mobile, ba tôi ... "xuống đời". Người ta xài đồ điện
tử thì lên đời, chỉ có ba tôi là trái ngược. Hồi trước,
chỗ làm sắm cho ba cái Nokia 2300 đập hộp. Lớp 11, đua đòi,
tôi cắc ca cắc củm tiền đăng thơ được chín trăm ngàn,
mua một con Nokia cóc già lụ khụ (thậm chí còn không nhớ
nổi nó tên gì). Ba "ngoan ngoãn" (từ dùng của mẹ) đưa cho
tôi cái mobile mới của ba, rồi lụi hụi gắn sim vào cái
điện thoại "mới mà cũ" kia.
Tôi
có máy riêng, nhưng luôn bị lâm vào tình trạng "chết lâm
sàng" do tám quá. Và thế là, cái may của ba "vào cuộc". Tôi
nhắn máy này hết tiền, nhảy qua nhắn máy kia, nhắn qua nhắn
lại ầm ĩ, riết rồi những người thân thiết với tôi ai
cũng lưu 2 số, 1 của ba "nó", một của "nó". Thương ba lắm
là những lần gặp tôi, ba chìa máy "Tin nhắn của con nè!"
Những cái tin bạn bè gửi từ lâu ngày ba chưa mở, đợi
tôi đọc. Có khi bạn bè tôi nhắn tin "thắm thiết", tôi cà
rỡn chọc ba, nói đây không phải tin của con, ai gửi cho ba
mà lâm li bi đát dữ vậy; là ba tôi trợn mắt phân bua liền,
ba không biết số này, thiệt đó. Bị tôi chọc riết, ba cáu
quá đòi gọi lại cho cái đứa nhắn tin, tôi hoảng hồn sợ
bể mánh, mới thôi không chọc nữa.
Một
tháng tôi không gặp ba, ba nạp thẻ một trăm ngàn mà xài
hoài không hết. Còn tháng nào tôi hay về thì... thôi rồi.
Có một quy luật bất thành văn, máy tôi để tôi nhắn, còn
máy ba để tôi... gọi. Có những lần ba cũng sốt ruột khi
thấy tôi "trên trời dưới đất" trong điện thoại, ca thán
"Thôi chứ cô, cô để tui gọi với chứ cô". Tôi ngọt nhạt
"Ba nạp cả đống tiền mà có gọi cho ai đâu, để con gọi
giùm cho" là ba tôi đuối lý, chịu thua. Một sự chịu thua
rất ư là... chịu thua.
Thi
cử, tôi tự nguyện nộp mobile. Ba hân hoan lấy lại con máy
đáng-lẽ-là-của-mình, vuốt vuốt, bấm bấm. Nhưng tiếng
là nộp máy, bạn bè thân thiết chỉ thay đổi một cử chỉ,
là thay vì gọi "nó" thì gọi cho ba "nó". Ba nhận cuộc gọi,
nhận tin nhắn rồi chuyển máy cho tôi như một vị thư ký
cần mẫn. Có những lần bạn tôi khùng bất tử, 2,3 giờ
đêm nhắn tin, ba hoảng hồn bật dậy tưởng tới giờ báo
thức coi đá banh. Vậy là dậy luôn. Sáng ra mắt nhắm mắt
mở than mất ngủ, mẹ hỏi "Anh làm gì mà cả đêm không ngủ"
ba chỉ tôi phân bua "Thì bạn nó nhắn tin, anh dậy luôn chứ
sao!"
Tôi
"lên đời" máy, chiếc Nokia 2300 cũ lại quay về với ba. Thỉnh
thoảng, ba mượn máy mới của tôi "nghịch một tí". Ba mày
mò bấm chức năng ghi âm, hắng giọng "Cely ơi, ba gọi!". Ba
nói để cái đó làm nhạc chuông riêng, mỗi lần ba gọi thì
biết. Tôi rùng mình tưởng tượng ra một ngày mình đang đâu
đó xa nhà, nghe chuông điện thoại vang lên giọng ba "Cely ơi,
ba gọi!", thì lúc đó làm sao để kìm nước mắt?!
Sinh
nhật ba, sao tự nhiên nói chuyện mobile?
Là
vì sáng nay, lần đầu tiên tôi nhắn tin cho ba, không phải
để xin "Cho con chơi thêm chút nữa", mà để nói rằng "con
thương ba".
Là
vì không bao giờ tôi kể hết được những kỷ niệm về
ba. Chỉ một vật dụng đơn giản như chiếc mobile và những
câu chuyện quanh nó cũng đủ để biết ba thương tôi tới
nhường nào...
Nhìn
và thấy nhau (Trúc Đông)
Đi
dọc dòng sông Phật giáo
Thăm
các miền đất Phật
ở
đôi bờ Mê Kông
(tiếp theo)
Trần
Đức Tuấn
Khi
tìm hiểu các lĩnh vực văn hóa, xã hội của cư dân đôi
bờ con sông dài 4880 cây số, đoàn làm phim MKKS bị cuốn hút
rấr mạnh vào 3 yếu tố hàng đầu là chủng tộc, tôn giáo
và kiến trúc, trong đó tôn giáo mà cụ thể là Phật giáo
giữ vai trò liên kết như một hệ tư tưởng xuyên suốt,
tạo nên giá trị tinh thần và vẻ đẹp nhân văn của dòng
sông vĩ đại. Tuy nhiên, một tánh thể lưu vực rộng mênh
mông bao trùm lên 6 nước như thế phải mang tính đa sắc tộc
và đa tôn giáo. “Đa sắc tộc” thì rất rõ nhưng “ đa
tôn giáo” thì khá mờ bởi sắc màu tôn giáo nổi bật và
thống trị suốt chiều dài dòng sông chính là Phật giáo.
Ngoài đạo Phật và các tín ngưỡng dân gian Mê Kông còn có
Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Đạo giáo, Khổng giáo vân vân..
nhưng không một tôn giáo nào có thể so sánh được với Phật
giáo về tính phổ biến, sự liên tục về địa lý và mức
độ sùng tín của tín đồ. Từ những cây số đầu tiê dưới
chân núi Tuyết trên cao nguyên Thanh Hải băng giá đến những
dòng chảy cuối cùng trên đồng bằng sông Cửu Long nơi đâu
cũng thấy chùa chiền, tu sĩ và Phật tử. Chính vì thế chúng
tôi gọi Mê Kông là “ Dòng sông Phật giáo”. Ở đây có
một sự ảnh hưởng qua lại rất rõ giữa Phật giáo và sắc
tộc. Nếu như Phật giáo có vai trò thống nhất tín ngưỡng
của cư dân thì chính sắc tộc đã làm cho Phật giáo trở
nên đa dạng. Có thể hình dung các “phân đoạn” sau đây
của dòng sông về mặt tín ngưỡng Phật giáo:
-Phật
giáo Tạng truyền kéo dài suốt một dải từ thượng nguồn
Thanh Hải, qua Tây Tạng tới miền Bắc Vân Nam của Trung
Quốc.
-Phật
giáo Đại Thừa ở miền Trung Vân Nam và đồng bằng sông
Cửu Long.
-Phật
giáo Tiểu Thừa ở miền Nam Vân Nam, Mianmar, Lào, Thái Lan,
Campuchia và đồng bằng sông Cửu Long. Riêng Phật giáo Tiểu
thừa phát triển trên một nửa chiều dài của Mê Kông thuộc
lãnh thổ của cả 6 nước lại khá đa dạng.
Trước
hết xin được nói về Phật giáo Tạng Truyền +, còn có tên
là Lạt Ma Giáo. Đây là tín ngưỡng gắn liền với một dân
tộc rất nổi tiếng trên thế giới: dân tộc Tạng. Địa
bàn cư trú chủ yếu của họ là miền “ Nóc nhà thế
giới” bao gồm Khu tự trị Tây Tạng, tỉnh Thanh Hải, một
phần các tỉnh Tứ Xuyên, Cam Túc, Vân Nam vân vân.. phổ
biến ở độ cao từ trên 3000 mét đến năm sáu ngàn mét so
với mặt biển, quanh năm giá lạnh. Họ sống rải rác trên
một diện tích đất đai rộng lớn với nhiều triệu cây
số vuông gồm nhiều nhánh tộc nhưng có chung một nền văn
hóa Phật giáo, một tính cách rất mạnh mẽ và lối sống
rất phóng khoáng. Lạt Ma Giáo là sự kết hợp giữa đạo
Phật du nhập từ bên ngoài với tín ngưỡng bản địa
cổ truyền gọi là đạo “Bon” của người Tạng. Bước
vào lãnh địa của người Tạng và cõi Phật của Lạt
Ma giáo bạn sẽ lập tức có cảm giác lạc vào một thế
giới khác và một thời đại khác, vừa huyền bí mơ hồ
lại vừa xác thực, thiêng liêng. Đền đài Phật giáo Tạng
Truyền là một thế giới bồng bềnh trong mây tuyết,
âm thanh nghi lễ tôn giáo là tiếng vọng mênh mông của quá
khứ, niềm tin là sức mạnh bất khả xâm phạm thống trị
khắp thảo nguyên và núi đồi. Loạt ký sự “Đi dọc dòng
sông Phật giáo” sẽ đăng một số bài đáng kể để
mời quý vị tời thăm sứ sở thần bí ở tận lưng
trời này và Vương quốc Phật giáo Tạng truyền của họ.
Sông
Mê Kông bắt nguồn từ những dòng chảy đầu tiên ở sâu
trong vùng núi Tuyết thuộc tỉnh Thanh Hải. Trên đường đi
nó tiếp nhận vô số các dòng nước khác, chảy qua miền
cực Đông của Khu tự trị Tây Tạng, rồi đổ vào phía Bắc
tỉnh Vân Nam. Tại vùng Đức Khâm và Sangrila huyền thoại,
toàn bộ miền lưu vực bao lấy chiều dài gần 2000 cây số
đó của dòng chính và của các phụ lưu là lãnh địa của
người Tạng và do vậy là vương quốc của Phật giáo Tạng
Truyền.
Từ
Lệ Giang trở xuống là địa bàn cư trú của người Hán và
các tộc thiểu số khác nên đền chùa Phật giáo ở đây
thuộc hệ phái Đại Thừa như phần lớn các kiến trúc Phật
giáo Trung Hoa mà ta vẫn thường thấy.
Bắt
đầu từ vùng cực Tây Nam vân Nam, đặc biệt là khu tự trị
Thái tộc Xi Xoang Ba Na, đến biên giối Trung- Miến sắc thái
Phật giáo đã có sự thay đổi rất cơ bản, đó là Phật
giáo Tiểu thừa. Từ đây đến chốn tận cùng của dòng chảy
tức miền duyên hải Tây Nam Bộ của Việt Nam sự ngự trị
của Phật giáo tiểu thừa được khẳng định. Cả đôi bờ
tả hữu bao gồm đất của châu Xi Xoang Ba Na (còn gọi là
Tây song bản nạp), Bang shan của Miến Điện (Myanmar), Lào,
Thái Lan và Campuchia, những ngôi chùa mái cao, nhiều lớp so
le, ngói đỏ, tường trắng, họa tiết vàng tươi rực rỡ
chiếm lĩnh hầu hết các kiến trúc tôn giáo. Riêng tại đồng
bằng sông Cửu Long, các ngôi chùa Tiểu thừa bắt đầu xen
kẽ với các kiến trúc Đại Thừa vốn là tín ngưỡng
Phật giáo phổ biến trên toàn cõi Việt Nam.
Tiếp
tục nội dung “Thăm các miền đất Phật ở đôi bờ Mê
Kông”, số báo này xin giới thiệu với quý vị một số
chuyến đi con thoi của đoàn làm phim “ Mê Kông ký sự”
giữa đôi bờ Lào - Thái cùng với một số công trình
kiến trúc Phật giáo mà chúng tôi có dịp ghé thăm. Tất cả
có 5 tầng vượt Mê Kông từ Lào sang Thái để khảo sát dòng
sông tại các địa điểm: Khu vực “Tam giác vàng”, Thủ
đô Viêng Chăn, tỉnh Khăm Muộn, tỉnh Xavannakhet và tỉnh Chăm
Pa Sắc. Đối diện với chúng là các tỉnh: Chiêng Rai, Nọong
Khai, U Đon, Na Khon Pha Nom, Xa Con Na Khon, Mục Đa hản và U Đon
Ratchathani của Thái Lan. Tất cả các tỉnh hữu ngạn Mê Kông
này nằm trong vùng Đông Bắc Thái Lan rộng lớn nơi có nhiều
Việt kiều sinh sống từ lâu. Phần lớn người Việt sống
ở đây là di cư từ lào sang từ thời chống Pháp. Lịch sử
vùng Đông Bắc Thái khá đặc sắc trong đó nổi bật là sự
chuyển nhượng lãnh thổ giữa Thái và Lào dẫn tới việc
đại đa số người Lào hiện sống trên đất Thái chứ
không phải đất Lào. Phần lớn vùng Đông Bắc Thái Lan(còn
gọi là Isan) xưa kia thuộc lãnh thổ Lào. Sau này, với sự
thỏa thuận giữa Thái Lan và các cường quốc phương Tây,
hầu hết vùng lãnh thổ bờ hữu Mê Kông rộng lớn này của
Lào với phần lớn cư dân Lào tộc đã thuộc quyền cai quản
của Băng Cốc. Cư dân đôi bờ nói chuyện với nhau không
cần phiên dịch, phong tục tập quán và kiến trúc tôn giáo
có rất nhiều nét tương đồng.
Thà
Khẹc là tỉnh lỵ của tỉnh Khăm Muộn thuộc miền Trung nước
Lào, nơi có rất nhiều bà con Việt kiều người Quảng Bình
đang sinh sống. Đối diện bên kia bờ Mê Kông là thành phố
Na Khon, Pha Nôm, tỉnh lỵ của tỉnh cùng tên thuộc Thái Lan.
Chúng tôi tới thăm một khu vựa của người Việt, nơi có
Trường tiểu học dạy bằng tiếng Việt tại Thà Khẹc có
đền thờ Trần Hưng Đạo và có ngôi chùa Bồ Đề thep
phái Bắc Tông của đạo Phật. Ở Lào. Những nơi có đông
Việt kiều thường thì bà con xây chùa riêng, những nơi khác
người Việt đến lễ Phật tại các chùa của người Lào.
Tại
đôi bờ Mê Kông đoạn này, mỗi thành phố có một ngôi tháp
rất tiêu biểu, đều là những kiến trúc Phật giáo nổi
tiếng được biết đến với cái tên rất thơ mộng là “
Đôi Tháp Tình Yêu”. Toà tháp bên Lào có tên “ Xì Khol Ta
Boong” là trung tâm lễ hội và tâm linh của cả vùng Khăm
Muộn, một đặc thù về kiến trúc Phật giáo của Đông Phương.
Toà tháp bên Thái mang tên “Pha Nôm” xây cùng thời với
vạt phu là di sản văn hóa thế giới ở Chăm Pa Sắc. Chính
hai ngôi tháp cổ này cùng với những lễ hội mà chúng là
trung tâm đã góp phần tạo nên sự gắn bó thân thiện giữa
cư dân đôi bờ Mê Kông thuộc hai quốc gia khác nhau. Hàng
năm có cuộc đua thuyền chung do 2 bên thay nhau tổ chức
Chúng
tôi vượt sông trên con tàu của một phụ nữ Việt kiều
sinh sống ở Na Khon Pha Non. Tháng 3 năm 1946 trên đoạn sông
này đã xảy ra một sự kiện bi thảm: một ngàn xác chết
của người Việt đã phủ kín mặt sông trong trện ném bom
của quân Pháp ngăn cản hàng chục ngàn Việt kiều vượt
sông sang Thái lánh nạn. Người lái xe đưa chúng tôi đi sâu
vào đất Thái cũng là một Việt kiều ở Thái lan. Rời Na
Khon Pha Nom, chúng tôi tới thăm một thành phố láng giềng
ở sâu trong nội địa khỏang 100 cây số, đó là Xa Con Na
Khon, nơi có một ngôi chùa rất đẹp : Chùa Pra Thạt Xen Crum.
Đây là ngôi chùa lớn, lộng lẫy và bề thế như một lâu
đài với 3 màu tương phản nổi bật tôn tạo lẫn nhau
là trắng ngà, đỏ tươi và vàng rực lung linh cả một góc
trời xa con thanh bình và thơ mộng. Chùa xây theo kiểu 3 lớp
mái sole chồng lên nhau đầy ấn tượng về sự bền vững,
linh thiêng và an bình của đạo Phật. Ngôi tháp trắng, chóp
xanh màu lá cây, cao 24 mét, có tàng trữ di chỉ của quốc
vương Khơ Me là nét đặc sắc của ngôi chùa. Ở Thái Lan,
cùng với nhà nước và nền quân chủ, đạo Phật là một
trong ba cột trụ chính của đất nước. Vào thế kỷ thứ
13 Phật giáo đã trở thành quốc giáo. Tuy nhiên, do vị trí
địa lý và sự biến thiên của lịch sử, nền văn hóa bản
địa xa con chịu ảnh hưởng khá nhiều của văn hóa Ấn Độ,
Lào và Khơ Me. Ví dụ toà tháp trắng chóp xanh trong chùa Pra
Thạt Xen Chum là một kiến trúc thuần Lào. Phần trên cùng
của tháp gợi ta liên tưởng tới Thạt Luổng ở Viêng Chăn.
Riêng đỉnh chủa lại được kết cấu bằng đá ong Khơ Me.
Ngoài ra trong thành phố còn có một số đền đài Ấn Độ
giáo, một số ngôi chùa Khơ Me với nhiều họa tiết điêu
khắc rất tinh xảo. Đó là những chấm phá rất hài hòa trong
toàn bộ nền văn minh truyền thồng của quốc gia lùng danh
này ở Đông Nam Á.
Có
thể nói, dòng Mê Kông lững lờ giữa đôi bờ Lào- Thái là
bức trường họa tuyệt vời về cảnh sắc thiên nhiên và
về nền Phật giáo lung linh huyền ảo. Nếu như sông nước
Mê Kông, may ngàn gió núi lập nên một góc trời riêng thanh
bình tĩnh lặng cho các bộ tộc Lào – Thái thì đạo Phật
đã đem cho họ sự an bình quý giá về tâm hồn, góp phần
tạo dựng nên một nền đạo đức mẫu mực, một tính cách
hân sinh hiền hòa phóng khoáng và một nền học vấn sâu sắc
cho cư dân. Thấp thoáng giữa tán rừng hoặc sừng sững giữa
vườn cổ thụ là những bông hoa nghệ thuật kiến trúc nguy
nga, tráng lệ , trầm mặc, ngàn năm soi bóng bên dòng chảy
êm đềm. Đó chính là bức chân dung sinh động đầy sức
gợi cảm và suy tưởng về một lẽ sống, một nền triết
học đã âm thầm tồn tại, phát triển và đứng vững suốt
hai mươi lăm thế kỷ.
HÒA
THƯỢNG ĐẠT BỔN
VÀ
CHÙA KIM CHƯƠNG Ở GIA ĐỊNH
Trần
Đình Sơn
Sách
“Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức, thời
Gia Long (1802-1819), có ghi: “Chùa Kim Chương ở cách dinh
trấn hơn 4 dặm về phía Nam, phía Bắc đường quan.Chính giữa
là điện Phật, trước sau, Đông Tây xây cổng chùa, nhà tăng,
nhà kinh, viện hương, nhà ăn đều chạm khắc, tô vẽ rạng
rỡ tốt đẹp. Phía bắc chùa có mạch nước ngầm, suốt
4 mùa thấm ướt đường đi. Vào năm Ất Sửu (1745), năm thứ
18 triều vua Thế Tông có vị du tăng ở Quy Nhơn là Hòa thượng
Đạt Bổn đến ở đó xây chùa. Được vua ban tấm bảng
đề: Sắc Tứ Kim Chương Tự. Hòa thượng Đạt Bổn viên
tịch truyền lại cho người học trò nối pháp là Quang Triệt.
Năm Ất Mùi (1775), tướng quân Lý Tài, đạo quân Hòa Nghĩa
tôn lập Mục Vương (1) tại đây, nên lại được ban sắc
tứ. Sư Quang Triệt tịch, sư Quang Trạm kế thế; Quang Trạm
tịch, truyền cho sư Quang Tuệ trú trì. Năm Đinh Dậu, Gia Long
thứ 12 (1813), phó tướng quân thần võ là Trần Nhân Thái
tuân theo di chỉ của bà Cao hoàng hậu(2)đem một vạn quan
tiền lo việc sửa chữa chùa chiền. Kinh tạng, chuông trống
tất cả đều được chỉnh đốn, bổ sung trang nghiêm. Đến
nay trở thành ngôi chùa danh tiếng ở thành Gia Định”.
Thời
Tự Đức (1848-1883), sách “Đại nam nhất thống chí”
của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi: “Chùa Thiên Trường
ở tại thôn Tân Triêm, huyện Bình Dương. Phía Đông Nam chùa
có mạch nước ngọt chảy ngầm, suốt bốn mùa ẩm ướt,
thấm khắp đường đi. Triều trước vào năm Ất Hợi (1755),
có nhà sư du hóa là Đạt Bổn xây dựng chùa này, được
ban tên: Sắc Tứ Phổ Quang Thiên Sơn Tự. Năm Ất Mùi, Thừa
Thiên Cao hoàng hậu cúng một vạn quan tiền để trùng tu chùa”.
Sau
khi giặc Pháp chiếm Nam Kỳ (từ năm 1860 trở về sau), chùa
Kim Chương và các ngôi chùa to lớn nổi tiếng nhất ở Gia
Định lần lượt bị chúng chiếm đoạt, triệt phá mất tích.
Do đó chúng tôi xin dịch giới thiệu bài cổ văn sau đây,
nhằm bổ sung sử liệu về Phật giáo ở Nam Bộ.
Bài
tựa khắc lại bộ kinh “Pháp Hoa khoa chú”:
Tôi
nay chọn khắc lại bộ “Khoa chú” (3), vì sao?
Xưa
nay các bậc hiền triết chú giải kinh Pháp Hoa tuy nhiều, nhưng
chỉ có bản chú của tông Thiên Thai là ý chỉ thông suốt
nhất. Nguyên bởi Đại sư Trí Giả (4) chứng được Pháp
Hoa tam muội, tương hợp với tâm Phật, mở rộng được trí
Phật. Vì vậy hai bộ kinh “Huyền Nghĩa và Văn Cú” (5) lời
lời hiện rõ thể tính, câu câu sáng suốt thần kỳ. Giống
như họ Hy - Hòa (6) khảo xét hiện tượng muôn vật chính
xác, rõ ràng, không có chỗ tối tăm nào không được soi sáng.
Vả lại lời văn linh động, nghĩa lý sâu xa. Sau đó Pháp
sư Nhất Am - Như Giả (7) xuất hiện, nghĩ rằng gặp thời
mạt pháp lo lắng cho người học vì hiểu biết nông cạn
mà khó lĩnh hội được, trố mắt lầm lạc, lòng sinh buồn
chán. Vì vậy, Pháp sư mới cắt bỏ phần rườm rà, chọn
lọc điều thiết yếu, đối chiếu, nối kết nhau, chia mục,
phân khoa làm cho nội dung thông suốt. Để lại lời dạy rộng
rãi cho người học đời sau, ngầm mở bày cho hàng sơ cơ,
nếu biết quyết chí cầu tìm đạo lý thâm sâu tức thu được
ngọc báu trong áo. Vì việc đó mà tôi khắc lại bộ kinh
này vậy.
Phần
tôi, trải bốn mươi năm qua thường xem Giới Hoàn (8) mươi
lần, Hội Nghĩa (9) năm lượt. Riêng mình cảm thấy hoang mang,
không biết căn cứ vào đâu mà bước vào chỗ rốt ráo. Như
chưa rõ được đầu, cuối của “bản, tích” (10); gốc,
ngọn của “quyền, thật” (11). Đến năm 52, 53 tuổi may
mắn được thấy bộ kinh này, thường lắng lòng xem xét,
dần dần mở mang trí tuệ, hiểu rõ ý chỉ của kinh. Chương
tiết rõ ràng, giống như đi đêm nương vào đuốc của người;
hoặc tựa ở trong nhà tối chợt thấy đèn sáng tỏ, vui mừng
không tả xiết, mở toang được trí tuệ. Đức Phật nhìn
bốn loài chúng sinh như nhìn con thơ; thương xót khắp ba cõi
như nhau. Hết thảy Phật pháp, pháp pháp đều là pháp bình
đẳng. Hết thảy người đời, người người, đều là người
có đủ tính giác ngộ.Chúng sinh với Phật giống nhau, ta và
người không khác. Trong lòng tôi luôn luôn ghi nhớ lý ấy,
đêm lặng, canh thâu âm thầm nghĩ ngợi. Đất lành phương
Nam, đạo vua sáng tỏ khắp trời, bánh xe pháp thường xuyên
xoay chuyển. Ở kinh thành (Phú Xuân) chính hóa thấm nhuần,
nơi xa xôi cũng được tốt đẹp. Khoa chú chưa đầy đủ
tôi riêng than thở, không biết nơi nào có duyên, chỉ có quyết
tâm biết đến lúc nào mới khắc lại được!
Mùa
xuân năm Mậu Dần (1758), tôi đi xa vào Gia Định, chẳng phải
có ý muốn làm người rãnh rỗi. Mùa thu năm Canh Thìn
(1760), tình cờ gặp duyên nhỏ mời đến dự pháp hội ở
chùa Châu Lâm, thỉnh tôi giải thuyết về Diệu Pháp được
hơn 10 ngày. Một hôm vào canh 3, mộng thấy nhà sư đến bảo:
“Muốn khắc lại bộ kinh này thì nên ở lại nơi đây bắt
đầu công việc”. Đến nay đã 66 tuổi (1762), tuy khí lực
sút giảm, già yếu nhưng tôi không ngại đắng cay, lao nhọc,
phát đạo tâm hùng mạnh, vung ngọn bút sắc bén viết thẳng
vài lời, nhằm tìm kiếm duyên lành rộng rãi, cầm lấy bài
văn này đi các nơi xin quyên góp của cải.
Rất
mong:
Các
vị quan lớn hộ pháp, các bậc giàu có, sang trọng cùng tất
cả tín đồ nam, nữ phát lòng hoan hỷ, trích bớt tiền tài
huyễn ảo cúng dường Diệu Pháp. Để dùng tài sản bố thí
đó, mời nhà khắc bản in. Nguyện cho công việc chạm khắc
hoàn thành, phát tâm lúc đầu của tôi không thay đổi. In
ra 300 bộ, xin cúng vào các chùa chiền danh tiếng, bao bọc
thành 2100 quyển để lưu thông khắp trong nước.
Cúi
mong:
Ở
thế gian và ngoài thế gian cùng thấm nhuần các lớp sóng
trong biển chánh pháp. Loài người và không phải loài người
đều được uống vị kỳ diệu “đề hồ”. Hoặc nghe chỉ
vi lời mà rõ nghĩa, một câu thâm nhập tinh thần, ngộ được
ẩn dụ Liên hoa. Lấy quyền, thật thơng hiểu lời giải thích
Diệu Pháp là chơn như, không thay đổi. Được vậy thì 6
căn thanh tịnh, 4 đức phân minh (12) tức thì không vướng
mắc vào hóa thành (13) để vượt thẳng vào bảo sở (14).
Đem hết những điều thắng lợi này hồi hướng quả vị
Bồ đề. Trên xin báo đền công đức Tam Bảo, thứ đáp tạ
bốn ơn nặng (của cha mẹ, sư trưởng, chính quyền và thí
chủ). Cuối cùng khắp cả pháp giới chúng sinh, thu nhận được
sự lợi ích vô cùng, loài hữu tình và vô tình đều thành
Phật đạo.
Đó
chính là lời nói: “trước ba ba sau cũng ba, ba” (15). Nên
có bài tựa này.
Viết
vào ngày Phật đản, tháng 4 năm Nhâm Ngọ, triều vua Cảnh
Hưng thứ 23 (1762). Phương trượng chùa Bửu Quang ở phủ Quy
Nhơn là Sa môn Tế Chơn hiệu Đạt Bổn đạo nhơn. Bản khắc
kinh tại chùa Diên Phước, dinh Phiên Trấn, phủ Gia Định.
Bài
văn trên cung cấp những thông tin chính xác, giúp chúng ta biết
rõ hơn về:
- Hoà
thượng Đạt Bổn: Căn cứ theo niên biểu trong bài văn, có
lẽ ngài sinh vào khoảng năm Bính Tý (1696) đời Minh vương
Nguyễn Phước Chu (Lê Chính Hòa thứ 17), xuất gia có pháp
danh Tế Chơn, đời thứ 2 thiền phái Liễu Quán ở Đàng Trong
(đời thứ 36 thiền phái Lâm Tế). Ngài từng làm phương trượng
(tức trú trì) chùa Bửu Quang ở phủ Quy nhơn. Năm Mậu dần
(1758), ngài đi vào Gia Định tham dự các pháp hội. Năm Nhâm
Ngọ, Cảnh Hưng thứ 23, đời Võ vương Nguyễn Phước Hoạt
(1762), Hòa thượng Đạt Bổn đã 66 tuổi mới viết bài tựa
khắc lại bộ kinh “Diệu Pháp Liên Hoa khoa chú”, tại chùa
Diên Phước ở dinh Phiên trấn, phủ Gia Định.
- Chùa
Kim Chương: Theo bản chép tay sách “Gia Định thành thông chí”:
Hòa thượng Đạt Bổn lập chùa Kim Chương vào đời Thế
Tông thứ 18, năm Ất Sửu (1745). Theo tôi, điều này do việc
sao chép sai lầm, vì năm thứ 18 đời Thế Tông (tức Võ vương
Nguyễn Phước Hoạt) phải là năm Đinh sửu (1757).
Tuy
nhiên, so với niên biểu do chính Hòa thượng ghi thì năm Mậu
dần (1758), ngài mới vào Gia Định. Có thể lúc đầu ngài
tạm trú tại các chùa cùng môn phái Liễu Quán, sau đó mới
làm thảo am riêng. Đến năm Nhâm ngọ (1762), lúc viết bài
tựa khắc lại bộ kinh, ngài vẫn còn xưng là Phương trượng
chùa Bửu Quang, phủ Quy nhơn. Như vậy, chùa Kim Chương phải
được kiến tạo và sắc tứ sau năm 1762. Qua đối chiếu
xem xét, chúng tôi thấy năm lập chùa và năm được sắc tứ
thích hợp nhất là năm Kỷ Sửu (1769), Cảnh Hưng thứ 30,
đời Định vương Nguyễn Phước Thuần. (Cũng không thể là
năm Ất Hợi-1755 như ghi trong sách Đại Nam nhất thống chí
của Quốc sử quán triều Nguyễn)
- Tên
chùa nhiều lần thay đổi:
Thời
Gia Long (1802-1819), sách “Gia Định thành thông chí” ghi: Sắc
Tứ Kim Chương TưÏ; sách “Đại Nam nhất thống chí” đời
Tự Đức (1848-1883) ghi: Thiên Trường Tự và Sắc Tứ Phổ
Quang Thiên Sơn Tự. Vì sao?
Theo
chúng tôi, lúc đầu Hòa thượng Đạt Bổn khai sơn đặt tên
chùa là Kim Chương và được Định vương ban sắc tứ. Đến
lúc Nguyễn Phước Dương chạy vào Nam, Lý Tài rước về chùa
Kim Chương tôn lên làm Tân Chính vương thì chùa được sắc
tứ lần thứ hai: Phổ Quang Thiên Sơn Tự. Thời Gia Long, năm
Ất Hợi (1815), tuân theo di chúc của bà Thừa Thiên Cao Hoàng
hậu (Tống Thị Lan), Phó tướng thần Võ quân Trần Nhân Thái
lo việc đại trùng tu chùa. Từ đó chùa được đổi thành
Thiên Trường Tự. Điều này cũng như ở kinh đô Huế, bà
Hiếu Khương (mẹ vua Gia Long), năm Mậu Thìn (1808), cúng
tiền trùng tu chùa Báo Quốc, sau đó đổi thành Sắc
Tứ Thiên Thọ Tự.
Căn
cứ theo các bản đồ và sách vở xưa còn lưu lại, vị trí
chùa Kim Chương được xác định nằm trong khu vực thành Ô-ma,
đường Nguyễn Trãi, quận 5, TP.HCM ngày nay. Theo ông Trương
Ngọc Tường, sau khi Pháp đánh chiếm Gia Định chư tăng chùa
Kim Chương chạy về xã Mỹ Thiện (nay là Thiện Trí), dựng
lại ngôi chùa và đặt tên là Hội Thọ Tự. Đến nay tại
chùa Hội Thọ vẫn còn bảo tồn được một số tượng Phật,
Thánh, long vị các Tổ sư nguyên từ chùa Kim Chương mang về.
Rất
mong sau khi chúng tôi công bố bài báo này, những vị nào còn
biết được thêm thông tin về Hòa thượng Tế Chơn-Đạt
Bổn; chùa Bửu Quang ở Quy Nhơn; chùa Diên Phước ở Gia Định…
xin hãy công bố tiếp thông tin để việc nghiên cứu về Phật
giáo ở Nam Bộ được rõ ràng, chính xác hơn. Đó là cách
báo đền ơn đức tiền nhân và chư Tổ một cách tốt đẹp
nhất.
Ghi
chú:
1.
Mục vương: tức hoàng tôn Nguyễn Phước Dương, năm 1776 trốn
Tây Sơn chạy vào Gia Định, được Lý Tài rước về chùa
Kim Chương lập làm Tân Chính vương. Năm 1777, Nguyễn Huệ
đem quân vào đánh chiếm Gia Định, bắt được Tân Chính
vương và Thái Thượng vương Nguyễn Phước Thuần, đưa về
giết tại chùa Kim Chương. Đời Gia Long truy phong hiệu Mục
vương.
2.
Bà là hoàng hậu Tống Thị Lan, vợ của vua Gia Long, mất năm
Giáp Tuất (1814). Do đó năm Ất Hợi (1815), Trần Nhân Thái
tuân theo di chúc của bà vào trùng tu lại chùa Kim Chương.
Sách Gia Định thành thông chí chép nhầm thành năm Đinh Dậu,
Đại Nam nhất thống chí cũng ghi nhầm là năm Ất Mùi.
3.
Khoa chú: tức bộ Pháp Hoa Khoa Chú gồm 7 quyển do Đại
sư Nhất Như ở chùa Thượng Thiên Trúc đời Minh soạn, còn
gọi là Nhất Như tân chú.
4.
Trí Khải (538-597): họ Trần, tự Đức An, sinh vào đời Tùy,
ở Hoa Dung, Kinh Châu, Trung Quốc, được tôn xưng là Trí Giả
hay Thiên Thai Đại sư, sơ tổ tông Thiên Thai.
5.
Huyền nghĩa và Văn cú: tức bộ Pháp Hoa huyền nghĩa và bộ
Pháp Hoa văn cú do Đại sư Trí Khải soạn.
6.
Hy-Hòa: họ Hy và họ Hòa ở thời vua Nghiêu, chuyên khảo xét
thiên văn,lịch pháp.
7.
Nhất Am-Như Giả: tức Đại sư Nhất Như (1352-1425), họ Tôn,
người Thượng Ngu, Triết Giang, Trung Quốc, trụ trì chùa Thượng
Thiên Trúc, vâng chiếu vua soạn Đại Minh tam tạng pháp số
và Pháp hoa khoa chú.
8.
Giới Hoàn: cao tăng đời Tống, người Thiệu Hưng, Triết
Giang, Trung Quốc. Sư trụ trì chùa Khai Nguyên ở Ôn Lăng, tinh
thông yếu chỉ Pháp Hoa của ngài Trí Khải và Hoa Nghiêm của
ngài Hiền Thủ. Tác phẩm “Diệu Pháp Liên Hoa kinh giải”.
9.
Hội nghĩa: bộ Pháp Hoa kinh hội nghĩa gồm 16 quyển, do Đại
sư Trí Húc đời Minh soạn.
10.
Bản, Tích: Bản môn và Tích môn do Đại sư Trí Khải, sơ
tổ tông Thiên Thai lập ra.
-
Bản: bản địa, nghĩa là đã thành tựu từ lâu, chỉ cho
thực thể.
-
Tích: thùy tích, nghĩa là mới thành tựu, chỉ cho bóng dáng
của thực thể.
11.
Quyền,Thật:
-
Quyền: giả lập, tạm mượn, không thực.
-
Thật: như thực, rốt ráo, bền chắc.
Tông
Thiên Thai chủ trương viên giáo nói như trong kinh Pháp Hoa là
Thật giáo. Còn tạng giáo, thông giáo, biệt giáo nói trong
các kinh khác là Quyền giáo. Cho nên gọi là “tam quyền, nhất
thật”.
12.
Lục căn thanh tịnh, tứ đức phân minh:
-
6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Theo tông Thiên Thai
thì địa vị thập tín trong Biệt giáo là 6 căn thanh tịnh
vị. Thực hành 5 hạnh: thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên
chép kinh điển thì có thể nương theo năng lực của kinh mà
làm cho 6 căn được trong sạch.
-
4 đức của pháp thân Phật: Thường (không bao giờ thay đổi);
Lạc (ở trong sự an vui tuyệt đối của Niết bàn); Ngã (xa
lìa vọng chấp, tự tại vô ngại); Tịnh (xa lìa cấu trược,
vô nhiễm, vắng lặng).
13.
Hóa thành: ví dụ thành quách do sự biến hóa mà hiện ra;
1 trong 7 thí dụ của kinh Pháp Hoa.
14.
Bảo sở: chỉ cho Niết bàn cứu cánh, nơi an trụ rốt ráo
chân thực của chư Phật.
15.
“Tiền tam tam hậu diệc tam tam” (Trước 3,3 sau cũng 3,3)
là câu đối đáp giữa Thiền sư Vô Trước (tức Văn Hỷ,
đời Đường) với hóa thân của Bồ tát Văn Thù tại Ngũ
Đài Sơn. Về sau câu ấy trở thành thuật ngữ thiền.
Đạo
Phật trong thời đại mới… (Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn)
MỘT
CON ĐƯỜNG, MỘT THUNG LŨNG
Cao
Huy Thuần
Con
đường mang tên là "Nhóm Manouchian". Thung lũng thì không có
tên. Con đường, vì có tên, cho nên có khai sinh, có hộ khẩu.
Thung lũng, không có tên, cho nên cũng không có tuổi, không
biết nằm ở đâu, nằm đâu cũng được. Có tên hay không
tên, cả hai đều nói lên một chuyện : chuyện chiến tranh.
Con
đường "Nhóm Manouchian" nằm ở quận 20, thành phố Paris. Được
khánh thành năm 1955, nó ghi lại một sự kiện lịch sử của
thế chiến thứ hai, tuyên dương một người, một nhóm người,
đã hy sinh trong kháng chiến giải phóng nước Pháp khỏi đô
hộ của Đức quốc xã. Đó là một người, một nhóm người
ngoại quốc, đến từ nhiều nơi. Một người, một nhóm người,
không có tên trong quê hương mình khi sống, nhưng khi chết
lại để tên cho quê hương người.
Missak
Manouchian là người Arménie, sinh ở Thổ Nhĩ Kỳ. Mồ côi từ
bé, cha anh bị lính giết, mẹ anh chết trong một trận đói.
Cùng với dân tộc Arménie, anh mang trong đầu từ khi chín tuổi
dấu ấn của kỳ thị diệt chủng mà nước Thổ Nhĩ Kỳ
đã áp dụng đối với dân tộc của anh. Năm 19 tuổi, Manouchian
qua Pháp, làm thợ, tự học, làm thơ, làm báo. Anh gia nhập
đảng Cộng sản Pháp năm 1934, lúc 28 tuổi, sinh hoạt trong
tổ công nhân ngụ cư. Năm 1940, khi Pháp thua trận, tổ ấy
tham gia kháng chiến bí mật, anh chỉ huy một mạng lưới du
kích 23 người trong đó có một phụ nữ, phá hoại những
cơ sở của Đức trong thành phố, đặt bom, giật mìn, phá
đường sắt, phục kích quân đội Đức, gây bất an cho chính
quyền cộng tác với địch. Ngày 16-11-1943, Manouchian bí mật
đến nơi hẹn với cấp chỉ huy trên bờ sông Seine, anh không
ngờ có kẻ phản bội ngầm báo với mật vụ, cả anh và
tổ 23 người sa tuốt vào lưới.
Nhà
cầm quyền Đức tổ chức ba ngày xử án rầm rộ, với báo
chí, phim ảnh rôm rả, cốt làm dân chúng Pháp thù ghét bọn
khủng bố ngoại quốc đang đe dọa an ninh của họ. Sự thật
rành rành ra đấy: trong 23 người của nhóm, 8 là Ba Lan, 5 là
Ý, 3 là Hung, 2 là Arménie, 1 Tây Ban Nha, 1 Rumani, chỉ 3 người
là Pháp. Tệ hơn nữa, 9 người trong bọn họ là máu Do Thái
và tất cả đều là cộng sản hoặc thân cộng.
Tường
thành phố khắp nước Pháp tràn ngập bích chương đỏ in
ảnh và tên những người ngoại quốc dã man đó. Bộ máy
tuyên truyền của Đức nghiên cứu bích chương rất kỹ: phải
là màu đỏ như máu đã chảy từ bàn tay thảm sát của bọn
họ; phải ghi rõ "sát nhân thường phạm", không phải quân
giải phóng; phải in toàn ảnh râu tóc xồm xoàm, và dưới
mỗi tấm ảnh dữ tợn đó ghi một tên ngoại quốc; không
in ảnh và tên của ba người Pháp; ghi thành tích sát hại
và số nạn nhân dưới tên mỗi người... Bích chương dán
tường được hỗ trợ thêm bằng truyền đơn, mặt sau viết
:"nếu người Pháp ăn cắp, phá hoại, giết người, đó là
vì bị ngoại quốc điều khiển; chính người thất nghiệp
và kẻ sát nhân chuyên nghiệp đã thừa hành lệnh của chúng;
chính bọn Do Thái xúi họ". Qua bích chương, bộ máy tuyên
truyền nhắm triệt hạ uy tín của kháng chiến, biến kháng
chiến thành tổ chức khủng bố chống lại nước Pháp và
dân Pháp, khai thác triệt để khuynh hướng bài ngoại, bài
Do Thái, bài bôn sê vích tiềm tàng trong đầu một phần dân
chúng.
Ngày
21-2-1944, Manouchian và 21 đồng đội bị xử bắn; người đồng
chí phụ nữ duy nhất bị chặt đầu tại Đức. Trước khi
chết, Manouchian để lại một bức thư cho vợ. Mấy ai trước
khi bị bắn mà viết được một thư như thế này, bình thản,
trong sáng, hồn nhiên tin ở tương lai, ở hạnh phúc của những
người ở lại:
"Mélinée
yêu dấu, em mồ côi yêu dấu của anh,
Trong
vài giờ nữa, anh sẽ không còn ở trên cõi đời này. Các
bạn và anh sẽ bị bắn vào chiều nay lúc 3 giờ. Chuyện này
đến với anh như một biến cố trong đời, anh không tin nhưng
anh biết rằng không bao giờ anh nhìn thấy em nữa.
Anh
viết gì cho em đây? Trong anh, cái gì cũng mập mờ, nhưng đồng
thời cái gì cũng rất sáng tỏ.
Anh
gia nhập Giải phóng quân như lính tự nguyện và anh chết
sát kề ngày Chiến Thắng và đích cuối cùng. Hạnh phúc cho
ai còn sống sau anh và hưởng được êm ả của Tự Do và
Hòa Bình ngày mai sắp đến. Anh tin chắc dân tộc Pháp và
tất cả chiến sĩ của Tự Do sẽ biết tưởng nhớ đến
anh và bạn bè của anh trong vinh dự cao quý. Trước khi chết,
anh nói to rằng anh không nuôi một hận thù nào đối với
dân tộc Đức và đối với bất cứ ai, mỗi người sẽ nhận
lãnh thưởng phạt xứng đáng với hành động mình làm. Dân
tộc Đức và tất cả mọi dân tộc khác sẽ sống trong hòa
bình và tình huynh đệ sau chiến tranh sẽ chấm dứt nay mai.
Hạnh phúc cho tất cả... Anh chỉ ngậm ngùi tiếc vô cùng
đã không làm cho em sung sướng, anh muốn có một đứa con
với em, cũng như em đã từng mong muốn như thế. Bởi vậy,
anh mong em sẽ lấy chồng sau chiến tranh, em nhé, và có một
đứa con để anh vui, và để thực hiện ý muốn cuối cùng
của anh, em hãy cưới người nào có thể làm em sung sướng.
Tất cả gia tài, tất cả của cải của anh, anh để lại
cho em và chị của em và các cháu của anh. Sau chiến tranh,
em sẽ hưởng quyền trợ cấp chiến tranh như là vợ của
anh, vì anh chết như lính chính quy của quân đội giải phóng
Pháp.
Với
trợ giúp của bạn bè còn nhớ đến anh, em in thơ và những
bài viết của anh, đáng đọc. Nếu được, em mang những kỷ
niệm của anh về trao lại cho thân nhân của anh ở Arménie.
Chốc nữa đây, anh sẽ chết với 23 đồng chí, chết trong
can đảm và thanh thản của một người có lương tâm yên
ổn, bởi vì bản thân anh chưa hề làm hại ai, và nếu anh
có làm hại ai, anh đã làm không hận thù. Hôm nay, mặt trời
đang sáng. Anh nhìn mặt trời và thiên nhiên đẹp đẽ mà
anh đã yêu quý hết mình để nói lời từ giã với cuộc
đời và với em, vợ yêu dấu của anh, và với bạn bè thân
yêu của anh. Anh tha thứ cho bất cứ ai đã làm hại anh hoặc
muốn làm hại anh, trừ người đã phản bội chúng ta để
cứu mạng và những người đã bán đứng chúng ta. Anh ôm
em chặt trong lòng, và cùng với em, ôm chị của em và tất
cả bạn bè đã biết anh từ gần, từ xa, anh siết chặt tất
cả trong tim anh. Vĩnh biệt. Bạn của em, đồng chí của em,
chồng của em".
Mười
một năm sau khi Manouchian bị bắn, thành phố Paris hiến tặng
nhóm của ông một con đường: đường "Groupe Manouchian". Trừ
những danh nhân trong lịch sử, có bao nhiêu khách bộ hành
đọc tên đường mà thắc mắc tự hỏi đó là ai. Manouchian
may mắn hơn nhiều vì tên anh bất tử nhờ một bài thơ. Năm
1955, khi khánh thành con đường, Aragon viết bài thơ bất hủ
"Bích chương đỏ" đã nổi tiếng trong văn học lại càng
nổi tiếng hơn nữa khi bài thơ được Léo Ferré phổ nhạc
và hát. Đoạn cảm động nhất trong bài thơ là đoạn Aragon
thi hóa bức thư của Manouchian. Nhưng, đối với tai và tim
người Pháp, rung động sâu hơn nữa đến từ những đoạn
gợi lên tình tự quốc gia, khi nhà thơ vinh danh các người
ngoại quốc đã chết cho nước Pháp. Aragon đã Pháp hóa cái
chết của Manouchian? Đã chính trị hóa một lời trăn trối?
Câu
hỏi có lẽ đã không được đặt ra nếu Aragon chỉ là thi
sĩ. Nhưng Aragon, thi sĩ quá lớn, lại là đảng viên cao cấp
của đảng cộng sản. Có người đọc thơ chỉ thấy Aragon.
Cũng có người đọc thơ chỉ thấy đảng cộng sản. Được
vinh danh, chắc Manouchian cũng ngậm cười nơi chín suối. Nhưng
nghe tranh cãi, không biết anh cười nụ hay cười thầm.
Aragon
là nhà thơ lớn trung thành với đảng cộng sản Pháp suốt
đời, khác với nhiều văn thi sĩ và trí thức khác nửa đường
đứt gánh với đảng, hoặc vì thất vọng trước kinh nghiệm
xương máu của Liên Xô, hoặc vì bất đồng quan điểm với
lãnh đạo. Dù sao, khi bài thơ được phổ biến - 11 năm sau
ngày giải phóng và 2 năm sau khi Stalin chết - nhà độc tài
vẫn chưa bị hạ bệ và dân tộc Pháp vẫn còn chưa quên
nhục nhã đầu hàng. Một phần cánh hữu đã hợp tác với
kẻ thù để dựng lên chế độ lệ thuộc; cánh tả, mà oanh
liệt nhất là đảng cộng sản, đã tham gia kháng chiến trong
lòng địch, hy sinh lớn nhất, chết vì nước nhiều nhất,
tổn thất nặng nề nhất, đến độ đảng cộng sản được
gọi là "đảng của những người bị địch bắn".
Nguyên
thủy, đảng cộng sản Pháp, cũng giống như các đảng cộng
sản khác ở Âu châu, đã được dựng và lớn lên với lý
tưởng vô sản quốc tế, không tương hợp với chủ nghĩa
quốc gia. Lý tưởng quốc tế đó bị đổ vỡ trước khi
thế chiến thứ nhất bùng nổ, lúc hai đảng lớn nhất ở
Âu châu, Pháp và Đức, không ngăn nổi thủy triều dân tộc
chủ nghĩa ào ào tràn ngập lòng người, kể cả lòng đảng
viên. Hàng triệu người đã chết trong chiến tranh 1914-18 "tưởng
là chết cho tổ quốc, hóa ra là chết cho bọn kỹ nghệ gia".
Đó là câu nói của văn hào Anatole France. Mỉa mai hơn, và
cay đắng hơn, câu kết luận của Marx dưới "Tuyên ngôn cộng
sản" được người đời sửa lại để diễu cợt thực tế:
"Vô sản toàn thế giới, hãy tàn sát chém giết nhau!"
Aragon,
y sĩ giữa trận tuyến, đã nhìn chiến tranh với mắt của
một người tỉnh táo, chỉ thấy chết chóc vô nghĩa cho một
thứ quốc gia chủ nghĩa rỗng tuếch. Kinh nghiệm chiến trường
của ông chắc không xa lạ gì với dấn thân chính trị, khi
ông chọn đảng cộng sản, như rất nhiều trí thức khác
lúc đó, để định hướng cho lý tưởng của mình.
Nhưng
chiến tranh 14-18 không giống chiến tranh 40-45. Chiến tranh thứ
nhất là chiến tranh trong lòng chủ nghĩa tư bản, giữa các
nước tư bản kỹ nghệ, để thống trị đế quốc. Chiến
tranh thứ hai nhắm vào một kẻ địch chủ trương một lý
thuyết phi nhân. Đối với Pháp, đó còn là chiến tranh giài
phóng đất nước. Lý thuyết phi nhân giết chết tự do con
người. Chiến tranh xâm lược giết chết tự do tập thể.
Đối với người Pháp yêu nước, kháng chiến là chính nghĩa
vì mục đích là giành lại độc lập quốc gia. Đối với
người yêu tự do, chiến tranh chống phát xít là chính nghĩa
vì để bảo vệ nhân phẩm. Lý tưởng quốc tế và lý tưởng
quốc gia trùng hợp với nhau trong chiến đấu như cá với
nước, khiến đảng cộng sản Pháp thoải mái với mình, với
người, với lý thuyết, với hành động, trong một cuộc kháng
chiến oai vang. Và Aragon thoải mái với thi tứ, thành thật
với mình, thành thật với thơ, để ca tụng cái chết cho
nước Pháp, chết vẫn gọi tên nước Pháp trên môi. Chiến
tranh có ý nghĩa, cái chết có ý nghĩa, quốc gia có ý nghĩa,
bảng đồng bia đá có ý nghĩa. Đảng cộng sản Pháp tiêu
biểu xứng đáng cho tất cả những giá trị đó. Và bài thơ
"Bích chương đỏ" toát ra sức mạnh của một bài hịch yêu
nước.
Thế
nhưng hơi thở quốc gia đó của bài thơ không làm một số
người bằng lòng. Họ hỏi: Aragon có đi hơi xa không khi gọi
những người ngoại quốc đó là những người "đã thành
người Pháp vì chọn lựa"? Họ nêu một nghi vấn: trên một
bích chương, ai đó trong đêm đã viết một chữ thật to bằng
than: "Tuẩn Tiết", chi tiết đó đã được tường thuật giữa
chiến tranh trong một tờ báo đảng, tại sao "tuẩn tiết"
biến thành "chết vì nước Pháp" trong bài thơ? Những người
ngoại quốc đó chết cho nước Pháp hay chết cho tự do? Lý
luận đó không phải thiếu căn cứ. Trong nhóm Manouchian, các
người Do Thái chống lại cái gì mãnh liệt nhất nếu không
phải là chính sách Đức quốc xã tận diệt dân tộc họ,
tận diệt chất người trong con người? Nhiều người trong
nhóm trước đó đã từng tự nguyện gia nhập "Quốc tế quân"
qua Tây Ban Nha chiến đấu chống độc tài Franco, bảo vệ
nền Cộng Hòa vừa bú mớm; họ gia nhập kháng chiến Pháp
phải chăng cũng để tiếp nối bản trường ca quốc tế chủ
nghĩa? Chẳng lẽ những người Hung, Ba Lan, Rumani trong nhóm
không nghĩ rằng nước của họ cũng là nạn nhân của Hitler?
Và Manouchian, nạn nhân của áp bức trong chính quê hương của
anh, anh tranh đấu vì ai trước hết? Chỉ cần đọc lại bức
thư cuối cùng của anh, tình nghĩa anh em quốc tế nồng nàn
trong đó: "dân tộc Đức và tất cả các dân tộc khác sẽ
sống trong hòa bình và tình huynh đệ sau chiến tranh sẽ chấm
dứt nay mai. Hạnh phúc cho tất cả..." Mở đầu bức thư,
hai lần liên tiếp kề nhau, chữ Tự Do viết hoa nở như hai
đóa hoa thắm. Tình cảm gì thân thiết nhất tỏa ra ngọt
ngào trong bức thư nếu không phải là tình cảm hiến cho?
Cho vợ, cho bạn, cho tự do, cho hòa bình, cho công lý, cho cả
đất trời, cho cả mọi người: phải chăng Manouchian chết
cho cả nhân loại, cái chết đó còn đẹp hơn cái chết cho
một nước?
Thật
khó làm vừa lòng tất cả mọi người, dù là một bài thơ
rất hay, khi có chút chính trị vướng vào một câu, một chữ.
Riêng tôi, tôi đem lòng yêu nước của tôi để đọc Aragon,
và thú thật, rất chủ quan, tôi không thấy vướng víu mây
chính trị trong bài thơ xanh ngát ấy. Tình yêu nước trong
sáng nơi tôi dễ cảm thông với tình yêu nước trong sáng
nơi nhà thơ. Nhưng cũng thú thật, rất chủ quan, tôi xúc động
nhất khi Aragon thi hóa bức thư cuối cùng của người ngã
xuống. "Hạnh phúc cho tất cả..." Cho người yêu, cho cả kẻ
thù. Trong công tác phá hoại, tay của người ngã xuống đã
bao nhiêu lần vấy máu, nhưng anh không có cảm tưởng đã
làm hại ai vì lòng anh không thù hận, anh chết thanh thản.
Lòng anh, cũng như cả ngày hôm ấy, mặt trời chiếu sáng.
Anh làm chiến tranh nhưng lòng anh thanh bình. Cuộc đời đáng
lẽ cũng thanh bình như thế, như thôn xóm Erivan yên lành trong
ký ức hoài hương của anh. Thơ của Aragon có hay bao nhiêu
đi nữa chưa chắc đã gây rung cảm sâu như bức thư từ giã
người yêu.
Dịch
thơ, nhất là thơ hay, lại là thơ vần, là việc làm tuyệt
vọng. Nhưng không dịch thơ ra thơ thì không kể được chuyện
con đường. Cho nên, dù bất lực, vẫn phải cố theo sát nghĩa.
Bích
chương đỏ
Mười
một năm, mười một năm rồi nhỉ
Đất
vùi thây nào ai biết các anh
Sống
không cần danh, chết không cầu nguyện
Mắt
mở tròn, tay khí giới đấu tranh.
Địch
phơi mặt anh trên tường thành phố
Bích
chương đỏ ngầu, râu tóc hôi tanh
Tên
các anh lạ như man rợ
Như
quỹ từ đâu tàn sát dân lành.
Có
ai trên đường biết anh chọn Pháp?
Người
đi qua tránh mặt không nhìn
Nhưng
trong đêm ngón tay nào lạc lối
Viết
dưới tên anh "Chết Vì Nước" quang vinh.
Trời
đất trắng tinh một màu tuyết trắng
Vĩnh
biệt các anh tuyết trắng sáng ngời
Bỗng
một người trong các anh lên tiếng:
"Hạnh
phúc cho ai còn sống nơi nơi!
Dân
Đức ơi, ta không hận các người!"
Vĩnh
biệt khổ, vĩnh biệt vui, vĩnh biệt hoa hồng
Vĩnh
biệt cuộc đời, vĩnh biệt mặt trời và gió
Em
yêu, hãy lấy chồng và nhớ đến anh
Hạnh
phúc nhé em trong sắc màu rạng rỡ
Khi
Erivan đã hết chiến tranh
Mặt
trời mùa đông sáng rực trên cành
Ôi
đẹp quá thiên nhiên, tim anh tung vỡ
Chân
ta bước và Công Bằng rộ nở
Ôi
Mélinée, em yêu dấu mồ côi
Sống
nhé em và tặng con nhỏ cho đời.
Các
anh hăm ba người khi súng nổ
Hăm
ba người hiến tuổi thanh xuân
Hăm
ba kẻ nước ngoài nhưng anh em ta đấy
Hăm
ba tình nhân yêu đến chết ngàn lần
Hăm
ba người gọi nước Pháp thiết thân.
Thế
hệ chúng tôi, khi sinh ra, nước vẫn còn nô lệ. Nếu độc
lập là thiêng liêng, chiến tranh giành độc lập hẳn là tất
yếu. Lớn lên từ người dân nô lệ, chúng tôi không thể,
mà cũng không có quyền, kết án chiến tranh một cách trừu
tượng, dù chiến tranh là chết chóc, dù chiến tranh luôn luôn
có những mặt tiêu cực, kể cả chiến tranh chính nghĩa. Chiến
tranh làm nên lịch sử, và không dân tộc nào không có lịch
sử, không lịch sử nào không viết bằng máu. Nếu có ai hỏi
tôi: chiến tranh có nghĩa lý gì không?, tôi nói: có. Có!
Nhưng
đâu có phải chiến tranh nào cũng là chiến tranh giải phóng,
chiến tranh tự vệ, chiến tranh chống áp bức? Đâu có phải
chiến tranh nào cũng trong sáng để nhận lãnh xứng đáng cái
chết của con người? Lịch sử thế giới và lịch sử mọi
quốc gia cũng được viết bằng những chiến tranh danh nghĩa
nhá nhem, đêm chẳng ra đêm, ngày chẳng ra ngày, đêm không
ở hẳn bên đó, ngày không ở hẳn bên này. Trong những trường
hợp đó, lấy gì biện minh cho cái chết? Tôi chết cho ai và
để làm gì? Tại sao tôi phải giết người, tại sao người
phải giết tôi? Ai có chút suy nghĩ không khỏi đặt thêm câu
hỏi cao hơn về kiếp người: tại sao con người chém giết
nhau? Đó là luật rừng hay luật người? Luật của sinh tồn
hay luật của lòng tham? Có cái gì quý hơn mạng sống? Ai có
quyền cắt đứt mạng sống của một người vô tội, bình
thường? Ai có quyền đưa góa bụa vào má hồng, mồ côi vào
tuổi thơ?
Tôi
không cần phải đọc cả trăm pho sách để trả lời những
câu hỏi không nguôi đó. Bao nhiêu triết gia, bao nhiêu văn
hào đã nói lên cái vô lý của bao nhiêu chiến tranh, cái vô
lý của chính chiến tranh. Nhưng nói cái vô lý, đâu cần lắm
lời? Đâu cần tranh cãi như chuyện bích chương? Sau con đường
có tên và có bao nhiêu cái lý của chiến tranh, đây là thung
lũng không tên, không lời, im hơi bặt tiếng vì đang ôm một
cảnh tượng phi lý trong lòng. Chuyện của con đường quá
nhiều xôn xao. Chuyện của thung lũng là im lặng. Im lặng như
một người đang ngủ. Người đang ngủ trong bài thơ của
Rimbaud.
Người
ngủ trong thung lũng
Đây
lũng xanh có con sông hát
Bọt
sóng tung giăng lưới trắng cỏ bờ
Ngạo
nghễ núi cao mặt trời chói sáng
Thung
lũng nằm nắng trải rêu tơ.
Chú
lính ngủ, đầu trần, miệng mở,
Cổ
vờn chơi với đám cỏ tranh.
Mây
trôi trên trời và lá tươi lót nệm,
Nắng
chan hòa soi mặt nhạt xanh.
Chân
duỗi dài trong hoa huệ tím
Anh
ngủ. Như bé đau cười ngủ trong nôi.
Đất
trời ơi hãy ru thêm nắng ấm:
Giấc
ngủ kia đã thấm lạnh rồi.
Hoa
lá thơm không làm rung mũi,
Giữa
mặt trời anh ngủ. Ngực dưới tay
Lặng
yên. Và lặng yên hai hố sâu
Đổ
máu. Trên sườn bên phải. Ngủ say.
Chiến
tranh chỉ nằm trong một câu, chưa hết một câu, chỉ vài
chữ. Toàn bài thơ là thiên nhiên thanh bình màu sắc. Giọng
thơ dửng dưng, như không có gì. Có gì đâu, hai lổ máu giữa
lũng xanh. Mà sao có hai lổ máu như vậy giữa cuộc đời êm
ả này?
Nếu
cái thung lũng hỏi tôi: chiến tranh có nghĩa lý gì không, tôi
sẽ trả lời với nó gì đây?
CHẤM
DỨT SỰ THÀNH KIẾN
CỦA
CÁC GIÁC QUAN
Tại
sao chúng ta chấp nhận một sự vật bất kỳ là một thực
thể? Bởi vì chúng ta có thể nhìn thấy và sờ chạm nó.
Mọi người đều có một thành kiến rõ rệt về các vật
thể có kích thước 3 chiều; thành kiến này có được là
do năm giác quan báo lại cho chúng ta. Thị giác, thính giác,
xúc giác, vị giác và khứu giác cúc cung tận tụy chỉ để
xác tín mỗi thông điệp này: sự vật là những gì được
hình dung qua 5 giác quan. Thể theo thực tế này, trái đất
thì phẳng, mặt đất dưới chân bạn thì đứng yên, mặt
trời mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây; tất cả
như vậy bởi vì đó là hình thức mà 5 giác quan có thể nhận
biết. Chừng nào mà người ta chấp nhận và không thắc mắc
gì về những sự kiện do 5 giác quan đem lại thì những sự
kiện đó vẫn ổn cố và không thể quan niệm khác đi được.
Einstein
đã ý thức rằng, thời gian và không gian cũng là sản phẩm
của 5 giác quan. Chúng ta nhìn thấy và sờ chạm các vật thể
choán 3 chiều không gian, và các biến cố thì theo chiều tuần
tự mà xảy ra trong kinh nghiệm chúng ta. Tuy nhiên, Einstein và
các đồng nghiệp của ông đã lột trần được lớp vỏ
hình thức này. Họ đã kết hợp không gian và thời gian vào
một khoa hình học mới, hình học này không có bắt đầu
hay kết thúc, không đường biên, không trọng khối. Mỗi vật
thể rắn trong vũ trụ bấy giờ hiện ra như một bó năng
lượng rung động trong khoảng không vô tận.
Mô
thức không gian-thời gian theo quan niệm cũ đã vỡ tan và được
thay bằng một trường lưu chuyển vô tận của các biến dịch
thường xuyên. Trường lượng tử này không cách biệt chúng
ta - nó chính là chúng ta. Ở nơi nào mà mà thiên nhiên tạo
ra tinh tú, ngân hà, các hạt vi lượng, các hạt cơ bản thì
những nơi đó bạn và tôi kiến tạo nên hình thể của mình.
Ưu điểm lớn lao của thế giới quan mới mẻ này là nó vô
cùng sáng tạo - thân thể con người, giống như mọi thứ
khác trong vũ trụ, được thường xuyên tạo mới sau mỗi
giây đồng hồ. Mặc dù các giác quan của bạn cho biết rằng
cơ thể của bạn là một khối rắn tồn tại trong không gian
và thời gian, điều này chỉ là cách nhìn nông cạn nhất
về thực tại. Cơ thể của bạn là một điều gì khác kỳ
diệu hơn nhiều - là một tổ chức sống động được thúc
đẩy bởi tâm thức. Tâm thức này dâng hiến cho việc theo
dõi và điều chỉnh những biến dịch hằng xảy ra bên trong
cơ thể của bạn.
Từ
tâm thức này, sự lão hóa của con người dường như trở
thành một chuyện bất khả. Thoạt trông thì một trẻ sơ
sinh yếu đuối và bất lực, nhưng thật ra nó được bảo
vệ một cách tuyệt vời khỏi sự tàn phá của thời gian.
Nếu một hài nhi có thể duy trì trạng thái miễn nhiễm gần
như hoàn hảo của nó thì chúng ta có thể sống thọ ít nhất
là hai trăm tuổi, theo sự lượng định của các nhà sinh lý
học. Nếu một hài nhi có thể giữ gìn cho các động mạch
của nó luôn được êm mượt, suôn sẻ, mềm mại như lụa
thì cholesterol (chất béo gây xơ cứng động mạch) chẳng biết
tìm đâu ra chỗ để trú ngụ và lúc đó bệnh tim sẽ là
một chứng bệnh chưa từng xảy ra với con người. Năm mươi
ngàn tỷ tế bào của một trẻ sơ sinh đều trong lành và
không gợn chút độc tố; những tế bào như vậy không có
lý do gì để già cỗi bởi vì chúng hoạt động một cách
hoàn hảo và chúng không chứa đựng thứ gì manh nha phá hoại
hoạt động này. Không phải những tế bào của một
hài nhi là mới hoàn toàn - những nguyên tử bên trong chúng
đã lưu chuyển trong vũ trụ hàng tỷ năm nay rồi, tuy nhiên,
hài nhi được tạo mới bằng một cơ quan trí năng vô hình
có khả năng thu thập, phân tích thông tin và định dạng cho
hài nhi có được một hình thái của sự sống không lẫn
vào đâu được. Trường năng lượng vô tận đã sáng tác
ra một vũ điệu mới, một giai điệu rung động riêng cho
cơ thể trẻ sơ sinh.
Lão
hóa là dấu hiệu cho thấy sự mất đi của cơ quan trí năng
này. Vật lý học lượng tử bảo chúng ta rằng cuộc khiêu
vũ của tự nhiên không có hồi kết thúc - trường năng lượng
và thông tin của vũ trụ luôn luôn biến đổi hình thái của
chính nó và trở thành một trường vũ trụ mới sau mỗi giây
đồng hồ. Cơ thể của chúng ta tuân theo một động lực
sáng tạo tương tự. Người ta lượng định là mỗi giây
đồng hồ có khoảng sáu ngàn tỷ phản ứng xảy ra trong một
tế bào. Nếu dòng biến đổi hình thái này ngưng nghỉ
thì các tế bào của bạn sẽ rối loạn hoạt động ngay,
điều này đồng nghĩa với sự lão hóa.
Bánh
mì để lâu ngày bị ôi bởi vì nó phơi ra đó, làm mồi cho
hơi nước, vi nấm trong không khí, phản ứng ô-xít hóa và
nhiều quá trình hóa học phân hủy khác nữa. Một vách núi
đá vôi sẽ rạn vỡ thành từng mảng qua thời gian vì mưa
gió dãi dầu, và bản thân nó không có cách nào tự hồi phục.
Cơ thể chúng ta cũng chịu đựng quá trình ô-xít hóa và bị
vi nấm cùng các mầm bệnh khác tấn công, cũng dãi dầu mưa
gió. Nhưng khác với chiếc bánh mì hoặc vách đá vôi, chúng
ta có khả năng tự hồi phục. Xương cốt của chúng ta không
chỉ lưu trữ can-xi theo cách của đá vôi mà chúng còn lưu
chuyển can-xi nữa. Những nguyên tử can-xi tươi tắn thâm nhập
xương cốt chúng ta và từ đó góp phần hình thành nên máu,
da hoặc những loại tế bào khác mà cơ thể cần.
Để
có thể sống còn, cơ thể của bạn phải thuận theo dòng
biến dịch. Vào lúc này, bạn đang thở ra những nguyên tử
hy-đrô, ô-xy, các-bon, và ni-tơ mà chỉ mới ngay đây thôi
chúng còn bị giam kín ở dạng thành phần của một chất
rắn; dạ dày, gan, tim, phổi, và não của bạn không ngừng
tan biến vào trong không khí một cách nhanh chóng, nhưng đồng
thời chúng cũng được thay thế bằng một tình trạng mới
một cách nhanh chóng và không ngừng như vậy. Da của bạn
tự thay thế mỗi tháng một lần, niêm mạc dạ dày thì năm
ngày một lần, gan sáu tuần một lần và xương sống thì
ba tháng một lần. Đối với mắt trần thì những cơ quan
này trông chẳng có gì thay đổi nhưng thật ra chúng luôn luôn
biến dịch. Cứ khoảng 12 tháng thì 98% các tế bào trong cơ
thể bạn sẽ được thay thế bằng những cái mới.
Đa
số những thay đổi bất tận này nhằm phục vụ cho lợi
ích của bạn. Trong số một triệu phân hóa tố (enzyme) thì
chỉ có một phân hóa tố là có phản ứng với một axit amin
chưa được hoàn hảo lắm; trong một tỷ tế bào thần kinh
thì chỉ có một tế bào hoạt động vô hiệu quả; trên một
chuỗi ADN mã hóa bởi hàng tỷ mẫu thông tin di truyền chỉ
có một mẫu là có thể lâm vào tình trạng mất khả năng
tự hồi phục khi có tổn thương xảy ra. Những lỗi
hiếm hoi này không được cảm giác thấy và bạn có thể
nghĩ rằng chúng chẳng đáng là bao. Cơ thể con người giống
như một kịch sĩ vĩ đại diễn xuất các vở kịch của Shakespeare,
có thể đóng vai Hamlet một ngàn lần mà chỉ nói vấp có
một vần (syllable). Nhưng những tổn thương vô hình xảy
ra khi cơ thể đang trong tình trạng hoàn hảo thì quả thật
đáng kể. Độ chính xác của các tế bào giảm dần từng
chút một. Những tế bào từng trẻ mãi không già nay
trở nên sa sút đi một ít. Và chúng ta già đi.
Vào
tuổi 30, cơ thể của một người bình thường bắt đầu
chịu tác động của sự lão hóa với tốc độ rất chậm
là 1% một năm: các vết nhăn trên da xuất hiện, da mất đi
sắc thái tươi mát hoàn hảo của nó và các bắp thịt bắt
đầu chảy xệ. Thay vì mô cơ phải chiếm trọng lượng gấp
3 lần mô mỡ thì hai mô này bắt đầu ngang ngửa nhau về
trọng lượng, thị giác và thính giác nhụt dần, xương mỏng
đi và giòn ra. Thể lực và khả năng chịu đựng bị sa sút
từ từ làm cho cơ thể cảm thấy khó nhọc hơn so với trước
kia khi thực hiện cùng một lượng công việc. Rồi huyết
áp bắt đầu tăng và nhiều chất sinh hóa trong cơ thể không
còn tác dụng hoàn hảo như trước nữa; mối quan ngại lớn
nhất là chất mỡ trong máu (cholesterol), chất này cứ đều
đều tăng theo năm tháng, ngấm ngầm hình thành bệnh tim làm
chết nhiều người hơn bất cứ một tai họa nào. Ở chỗ
khác, các tế bào bắt đầu đột biến tạo nên những khối
u ác tính làm cho cứ khoảng 3 người thì có một người chết,
nhất là sau tuổi 65.
Theo
thời gian, những thay đổi này gây nên những ảnh hưởng
nghiêm trọng. Chúng như là những đợt sóng lăn tăn góp lại
thành cơn thủy triều tuổi già. Tuy nhiên, tại một thời
điểm cho trước, sự lão hóa chỉ chiếm mỗi năm khoảng
1% so với toàn bộ thay đổi xảy ra bên trong cơ thể. Nói
cách khác, 99% năng lượng và trí tuệ mà bạn sở hữu vẫn
còn nguyên vẹn, không bị sự lão hóa đụng đến. Nếu ta
xem cơ thể như một quá trình tiến triển thì việc loại
bỏ 1% rối loạn chức năng này sẽ quét sạch con bệnh gây
ra sự già nua. Nhưng làm thế nào để đạt được điều
này? Để trả lời, chúng ta phải tìm cho được công tắc
điều khiển quá trình hoạt động trí tuệ của cơ thể.
Khái
niệm thực tại mà vật lý lượng tử đem đến làm cho con
người lần đầu tiên có thể điều khiển trí năng vô hình
vốn là nền tảng của thế giới vật chất hữu hình. Einstein
dạy ta rằng thể xác, giống như mọi đối tượng vật lý
khác, chỉ là một ảo tưởng, và sự cố gắng điều khiển
nó cũng tựa như chuyện thả mồi bắt bóng. Chính thế giới
mà chúng ta không thấy được mới là thế giới thực, và
khi mong muốn khám phá các giai tầng vô hình của cơ thể,
chúng ta có thể khai thác nguồn năng lực sáng tạo vô cùng
vốn tiềm ẩn trong ta.
Vương
Mộng Giác dịch
(Theo
Ageless Body, Timeless Mind của Deepak Chopra, M.D)
TỪ
MỘT GIẤC MƠ...
(Phỏng
vấn Tiến sĩ Trần Tiễn Khanh
về
việc ứng dụng máy tính trong công tác dịch thuật kinh điển
Phật giáo)
Máy
móc hóa công tác dịch thuật kinh điển Phật giáo Việt Nam
là ý tưởng táo bạo của GSTS Lê Mạnh Thát cách đây hơn
30 năm, được đề cập trong một bài viết trên tạp chí
Tư tưởng của Đại học Vạn Hạnh. Thời bấy giờ, đó
chỉ là “giấc mơ”. Khi nghe đến việc ứng dụng máy tính
trong công tác dịch thuật kinh điển, không ít người đã
hoài nghi và cho là ảo tưởng. Nay giấc mơ đó đã đi vào
thực tế, với sự mở đầu của Tiến sĩ Trần Tiễn Khanh,
người vốn được biết đến với vai trò nhà dự báo khí
tượng thủy văn uy tín ở Mỹ, và nhóm Tuệ Quang. Nhân chuyến
về nước để triển khai cụ thể chương trình hiệu đính
và tham dự hội thảo tại Viện Nghiên cứu Phật học VN giữa
tháng 7 vừa qua, anh đã dành cho VHPG một buổi trò chuyện.
Ý
tưởng dịch kinh bằng máy vi tính đến với anh từ lúc nào?
Khoảng
vào năm 1982, trong một cuộc trò chuyện tình cờ giữa tôi
và người anh của tôi (bác sĩ Trần Tiễn Huyến, Mỹ – PV),
tôi thấy anh trai tôi dịch kinh Phật từ chữ Hán một cách
rất khó khăn và mất nhiều thì giờ. Ý tưởng dịch kinh
bằng máy tính nảy sinh trong tôi từ đó, trước hết là để
giúp anh tôi mà thôi. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, máy vi
tính chưa phổ biến lắm, ngay tại trên đất Mỹ, và cũng
chưa có những chương trình phần mền (software) để phục
vụ cho những công việc phức tạp như dịch thuật.
Mãi
đến năm 2004, tôi biết được ở Đài Loan đã hoàn thành
phiên bản điện tử Đại tạng kinh Đại Chính tân tu và
tôi đã may mắn có được phiên bản này. Ý nghĩ đầu tiên
là làm sao để có thể phiên âm, lược dịch (dịch thô) những
bản kinh mình muốn lại thôi thúc tôi. Một cơ duyên khác,
tôi có được phiên bản điện tử của bộ Tự điển Hán
– Việt của nhà nghiên cứu Phật học nổi tiếng Thiều
Chửu. Khi tôi đưa vào máy tính, cho máy dịch một số đoạn
thì hết sức vui mừng vì máy đã dịch gần giống với bản
dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh, với những bộ kinh
quen thuộc mà tôi biết.
Tôi
đã thử thống kê chữ, thấy rằng bộ Tự điển Hán-Việt
của cụ Thiều Chửu có khoảng 8000 chữ thì Đại tạng kinh
Đại Chính tân tu sử dụng đến 7000 chữ. Đây là điều
thú vị. Tuy nhiên, phiên âm và nghĩa tiếng Việt trong trong
bộ tự điển này lại hơi cổ, nên tôi đã có sự chỉnh
sửa đôi chỗ.
Anh
có thể cho ví dụ.
Chẳng
hạn chữ Thích Ca được phiên âm là “Thích Già”, Mâu Ni
thì phiên âm là “Mưu Ni”... Tôi đổi qua và bổ túc thêm
các từ hiện đại và phổ thông.
Bản
kinh đầu tiên mà anh cho máy tính dịch thử là...
Kinh
Di Đà.
Máy
móc, dẫu hiện đại cỡ nào cũng là máy móc, làm sao để
anh làm cho máy tính nhận dạng cách phân đoạn, ngắt câu,
các danh từ riêng, danh từ chung, từ phiên âm... trong văn bản
chữ Hán, nhất là Hán cổ, vốn không dễ nhận biết, ngay
cả đối với con người...
¬Đúng
vậy. Do đó, việc trước hết là tôi căn cứ trên các bản
dịch hiện có của Hòa thượng Thích Trí Tịnh và chư tôn
đức khác, chọn từ, phân loại và nhập vào dữ liệu của
máy tính. Khi số lượng này càng lớn trong dữ liệu, thì
máy tính càng tỏ ra “thông minh” hơn. Chẳng hạn khi gặp
các cụm âm tiết phiên âm từ Phạn ngữ, như Bồ-đề-tát-đỏa,
Ma-ha, Bồ-tát, Phật-đà-gia..., máy tính sẽ nhận ra ngay mà
không “ngớ ngẩn” dịch từng chữ. Tất nhiên, do dữ liệu
vẫn còn hạn chế, nên không thể tránh được một số trường
hợp hiểu nhầm ngớ ngẩn. Điều này chắc chắn cần phải
có con người tham dự vào.
Đối
với việc phiên âm, điểm mạnh mà chúng tôi thấy được
là máy tính đã phiên âm gần chính xác, ưu điểm là không
hề bỏ sót. Một tiện ích khác nữa là khi đã ra phiên bản
microsoft thì sẽ rất dễ dàng cho người hiệu đính trong việc
đối chiếu với nguyên bản chữ Hán, phiên âm với phần
dịch nghĩa (lược dịch của máy tính), dễ dàng trong việc
biên tập, thêm, bớt, đảo vị trí từ, cụm từ cũng như
thay đổi từ (cụm từ) hàng loạt qua công cụ thông thường
mà ai biết sơ về máy tính cũng đều có thể làm được.
Công
việc dịch thuật bằng máy tính của anh đến nay có kết
quả như thế nào?
Chúng
tôi đã phiên âm, lược dịch bằng máy tính đến nay, về
phần kinh tạng, xem như đã hoàn tất với 2372 bộ kinh/9035
quyển trong Hán tạng (được phân thành 9035 phiên bản dùng
với MS-Word. Việc phiên âm, dịch (thô) bằng máy chỉ diễn
ra trong 28 giờ! Kinh ngắn như kinh A Di Đà thì chỉ diễn ra
trong 10 giây, còn kinh dài như bộ Đậi Bát Nhã (600 quyển)
thì chỉ mất 50 phút.
Hiện
nay, chương trình của chúng tôi được sự ủng hộ của Viện
Nghiên cứu Phật học VN tại TP.HCM và các nhóm dịch thuật
của chư Tăng Ni tại TP.HCM và Huế cũng như nhiều bậc tôn
túc ở hải ngoại.
Trước
mắt, chúng tôi sẽ chờ bản hiệu đính sơ bộ, căn cứ trên
đó để đưa thêm dữ liệu vào máy tính; công đoạn này
sẽ thực hiện đến khi được sự chấp nhận của chư tôn
đức chứng minh, dự kiến đến giữa tháng 6/2008, sẽ có
bản điện tử Kinh tạng được dịch từ chữ Hán.
Như
vậy, song song với chữ Hán, có thể đưa thêm các ngôn ngữ
khác vào?
Đúng
vậy. Hiện nay, tôi đang thử đưa thêm Anh ngữ và Pháp ngữ.
Điều này tôi thấy không phức tạp lắm khi hiện nay chúng
ta đã có các bộ tự điển Phật học bằng nhiều ngôn ngữ
khác nhau. Việc có một kinh tạng đa ngữ dễ dàng cho giới
nghiên cứu đối chiếu là điều không quá tầm tay khi chúng
ta có phương tiện hiện đại với bộ xử lý mạnh và tinh
tế như hiện nay nữa.
Những
khó khăn và thuận lợi khi anh thực hiện?
Tôi
là một cư sĩ, có một công việc phải làm và còn lo cơm
ăn áo mặc cho vợ con, nhưng tôi được may mắn là công việc
của mình hiện tại (dự báo khí tượng thủy văn – PV) buộc
tôi phải trang bị máy tính thuộc dạng hiện đại và có
tốc độ xử lý mạnh, nên mới có phương tiện đủ để
thực hiện Phật sự trên. Một điều may mắn nữa trong cuộc
đời của tôi là tôi có một người vợ, một Phật tử có
tâm đạo thuần thành, đã hỗ trợ tinh thần cho tôi rất
nhiều. Tôi cũng được sự ủng hộ của các anh chị trong
gia đình, đặc biệt là chư tôn đức Tăng Ni.
Cái
khó khăn là về nhân lực và thời gian. Hiện nay, về kỹ
thuật, chỉ có một mình tôi. Nếu có thêm nhân lực và thời
gian, tôi nghĩ công việc trên có thể sẽ có kết quả tốt
hơn nữa.
Hiện
tại các anh em trong gia đình tôi thành lập Tuệ Quang Foundation
nhằm thúc đẩy chương trình đi tốt hơn. Chương trình này
được giới thiệu rộng rãi trên trang nhà: www.daitangvietnam.com.
Anh
có thể nói tâm nguyện khi thực hiện chương trình?
Đạo
Phật đến nước ta đã hơn 2000 năm, nhưng cho đến nay, chúng
ta, những người Phật tử Việt Nam vẫn chưa có Kinh tạng
bằng chữ Việt. Với sự hỗ trợ của máy tính với các
chương trình phần mềm đặc thù, có thể hỗ trợ thúc đẩy
việc sớm có một Đại tạng (chấp nhận được). Máy móc
vẫn là máy móc, dù cho chúng ta đưa nhiều dữ liệu vào khiến
nó “thông minh” hơn, thì vẫn cần đến con người, người
hiệu đính. Điều này chúng tôi trông chờ vào chư tôn đức
và các bậc thiện tri thức, các nhà nghiên cứu. Để có một
Đại tạng kinh Việt Nam, chúng tôi nghĩ cần đến nhiều tâm
lực và thời gian, với sự hỗ trợ về kỹ thuật, tạm thời
sẽ có một phiên bản có thể đọc và hiểu, nói chung là
chấp nhận được. Còn việc hoàn thiện nó, chúng tôi nghĩ
không chỉ vài năm, hay một đời mà có thể 2-3 đời nữa.
Ước nguyện của chúng tôi là mong sớm có một Đại tạng
kinh Việt Nam.
Cảm
ơn anh về cuộc trò chuyện này.
Việc
dịch máy kinh điển Phật giáo của chúng ta là một giấc
mơ, mà tôi đã đề cập tới cách đây trên 30 năm. Nay anh
đã bước đầu thực hiện giấc mơ này thì thật là một
phước lớn cho Phật giáo Việt Nam chúng ta. Những gì còn
trắc trở, tôi xin góp sức cùng anh và các anh em khác để
giải quyết và vượt qua.
Trích
thư GSTS. Lê Mạnh Thát, Phó Viện trưởng Thường trực
Viện Nghiên cứu Phật học VN gởi TS Trần Tiễn Khanh
ĐÁP
SỐ CUỘC ĐỜI
(Tiếp
theo VHPG số 18 và hết)
Thảo
Vy
Rất
ít người có “vận may” được làm một công việc yêu
thích ngay từ đầu. Khi bước vào cuộc sống đa số đều
phải làm việc không như ý muốn. Thực tế là vậy. Cho nên
để yêu thích công việc, người ta chỉ còn mỗi cách là
tự bản thân mình phải cố gắng, phải nỗ lực. Và việc
nỗ lực để “thấy thích” là điều quan trọng đầu tiên
để chúng ta có thể kiên trì theo đuổi công việc trong một
thời gian dài.
Khắp
cả cuốn sách, ông luôn luôn nhắc tới yếu tố này vì, dưới
sự dẫn đạo của “cách tư duy”, yếu tố này do bản thân
mọi người quyết định được. Ông viết: "Bản thân năng
lực đã không bằng người thì bù lại lòng nhiệt tình phải
hơn người. Cứ có lòng nhiệt tình và ham muốn làm việc
để không thua kém ai thì dù đầu óc có bình thường thì
chắc chắn sẽ hơn khối người đầu óc thông minh nhưng lười
biếng”. Trong phần nói về sáu phép sửa mình (lục độ)
ông viết: "Phép tinh tiến dạy cho con người phải nỗ lực
hàng ngày và chịu khó hàng ngày. Đối với các bạn trẻ
thì tôi nghĩ tinh tiến tức là nỗ lực làm việc và học
tập”. Ông tổng kết: "Hiện nay trong công ty Kyocera có rất
nhiều người giỏi từng tốt nghiệp các trường đại học
hàng đầu đang làm việc. Nhưng đồng thời, trong số các
cán bộ giữ vị trí trọng trách cũng có không ít người
mới tốt nghiệp phổ thông. Những người này đều rất con
người. Họ đứng trên tuyến đầu, xả thân trong công việc,
dẫn dắt công ty đi lên. Có thể nói: kiên trì biến người
bình thường thành người phi thường”.
Lòng
nhiệt tình mà Inamori Kazuo nói tới chính là sự không phóng
dật. Nó thể hiện trước hết ở sự cẩn thận trong công
việc. Ông cho rằng người cẩn thận, biết lắng nghe ý kiến
của người đi trước, của cấp trên, biết sửa chữa khuyết
điểm của mình là người có dũng khí, có tinh thần tranh
đấu. Ông kể chuyện về Oba, nhà thám hiểm Nam cực. Câu
chuyện được kể lại: "Tôi có hỏi ông: Chắc ông phải
mạo hiểm lắm trong suốt chuyến đi băng qua Bắc cực và
Nam cực. Ông thật sự là người có dũng khí và lòng quả
cảm”. Tức thì ông Oba đáp ngay: "Ông nhầm rồi. Tôi không
có được dũng khí như ông nói đâu. Thực sự tôi là kẻ
nhút nhát”… Nghe chuyện ông kể, tôi nghĩ trong thám hiểm,
trong kinh doanh và trong nghiên cứu cũng như nhau. Người đi
được đến cùng chặng đường là người thận trọng, thận
trọng đến mức nhút nhát, và là người chuẩn bị đầy
đủ, tỉ mỉ nhất trước khi bắt tay vào bất cứ việc gì
” .
Ông
kể lại một kinh nghiệm về sự cẩn thận. Lúc đầu khi
đi làm, ông kể: “quanh đi quẩn lại tôi cứ phải làm đi
làm lại một công việc buồn chán, như dùng cái chày bằng
đá để trộn hỗn hợp hay quay cối xay nghiền nguyên liệu.
Người ta bỏ vào cối những viên bi sắt to nặng. Khi quay
cối, những viên bi sắt ấy va vào nhau lộc cộc và nghiền
vụn nguyên liệu trong cối”. Một ngày nọ, ông nhìn thấy
một đồng nghiệp lớn tuổi: “suốt ngày dùng chổi lông
cọ rửa kỹ lưỡng cối nghiền… Những viên bi sắt thường
bị sứt mẻ nhiều chỗ. Bột nguyên liệu của mẻ nghiền
trước thường bám chặt vào những chỗ sứt đó, phải cọ
cho thật sạch. Ông ấy cẩn thận lấy một thanh sắt mỏng
dẹt, nhọn đầu, cậy từng tí, từng tí một, rồi lấy chổi
lông quét cho đến khi sạch hẳn mới thôi”. Khi đó Inamori
dè bỉu: "Tốt nghiệp đại học, lại có tuổi rồi mà phải
làm cái việc cọ rửa vớ vẩn như thế, không thấy chán
sao…”. Thế nhưng, khi kiểm tra các kết quả thí nghiệm,
thì chỉ riêng Inamori là ít khi thành công. Ông rất thất vọng
và không hiểu vì sao. Bất chợt, hình ảnh cặm cụi của
bậc đàn anh xuất hiện: “Thì ra chính cái việc rửa cái
cối nghiền quấy quá cho xong đã làm cho thí nghiệm của tôi
bị sai lệch. Những vụn nguyên liệu từ lần thí nghiệm
trước vẫn còn bám vào trong cối làm tính chất của gốm
thay đổi hẳn. Té ra là vậy. Ngay cả những công việc tưởng
như tầm thường như cọ rửa dụng cụ thí nghiệm cũng hết
sức quan trọng, và phải được thực hiện chu đáo… Bình
thường người đồng nghiệp lớn tuổi ấy rất ít lời,
lúc nào cũng chỉ lẳng lặng chùi rửa, kỳ cọ và lau dụng
cụ. Hình ảnh khiêm nhường ấy làm tôi làm tôi sáng mắt
ra nhiều”.
Một
trong những việc để khắc phục nhược điểm của bản thân
là phải học lại căn bản từ đầu. Ông cho rằng con người
ta có hai loại, giống như lúa ngắn ngày và lúa dài ngày.
Có người phát triển sớm, có người phát triển muộn. Những
người thuộc loại “lúa dài ngày” thường không đạt kết
quả tốt lúc đầu và thường hổng kiến thức cơ bản. Đối
với những người này, nếu quyết tâm học lại căn bản
thì vẫn cải thiện được tình hình. Ông kể: "Tôi vốn là
đứa không hứng thú học hành ngay từ những năm tiểu học.
Bài tập về nhà tôi chẳng buồn ngó tới chứ đừng nói
gì tới ôn tập hoặc chuẩn bị bài trước giờ lên lớp.”
Tuy nhiên, khi hiểu rõ mình không thích môn toán vì hổng kiến
thức từ những năm cấp một, ông tuy đã học cấp hai rồi
nhưng vẫn học lại môn toán từ lớp 3. Sau đó: "Trên thực
tế, từ môn học bị tôi ghét nhất, môn toán trở thành môn
sở trường của tôi, là cơ sở để tôi theo học đại học
khoa tự nhiên. Về sau, nó còn liên quan tới cả việc lập
ra công ty Kyocera- chuyên tạo ra kỹ thuật cao”. Ông tâm sự:
"Trong số các bạn, có lẽ cũng có nhiều người chán nản
vì cho rằng có cố cũng không khá được. Tôi nghĩ hơi khác.
Các bạn thử xem lại mình xem: có bị hổng kiến thức không?...
Khi đã biết rõ, thay vì dằn vặt trăn trở các bạn hãy học
lại kiến thức cơ bản xem sao. Cũng có bạn sẽ cho rằng
còn thời gian đâu để học lại nữa. Nhưng chính những nỗ
lực âm thầm đó sẽ ra hoa kết quả sau này… Cho dù phải
đi đường vòng, tôi vẫn muốn khuyên các bạn hãy trở về
vạch xuất phát và làm lại từ đầu”.
Lòng
nhiệt tình còn thể hiện ở yếu tố nỗ lực. Ông kể: "Chuyện
xảy ra vào một ngày nọ. Lúc đó khoảng 2 giờ sáng... Bất
chợt tôi thấy một nhân viên kỹ thuật đứng khóc trước
lò nung điện… Tôi hỏi: "Thế trước lúc nung, cậu đã “cầu
Trời khấn Phật phù hộ chưa?”. Cầu trời khấn Phật phù
hộ độ trì theo ông nghĩa là chỉ còn cách cố nữa, cố
đến cùng mà thôi. “Thế rồi sau một hồi lẩm bẩm lời
khuyên của tôi: "Cầu trời khấn Phật chưa, Cầu trời khấn
Phật chưa”, anh ta gật đầu và đáp: "Tôi hiểu thưa giám
đốc. Tôi sẽ làm lại lần nữa”. Và anh ta làm lại từ
đầu. Lặp đi lặp lại suốt quá trình như vậy, cuối cùng
chúng tôi đã khắc phục được vấn đề nan giải”.
Ông đề cao ý thức nỗ lực: "Trong học tập, trong công việc
nhiều khi nỗ lực rồi mà vẫn không thành công. Những lúc
đó, nếu chúng ta thử tiếp tục cố gắng, cố gắng đến
mức tối đa mà vẫn không thành thì sau đó có bỏ cuộc mới
không ân hận”.
Lòng
nhiệt tình cần phải được nuôi dưỡng. Để có thể theo
đuổi và duy trì được nhiệt tình làm việc trong một thời
gian dài thì theo Inamori cần phải có một số “bí quyết”.
Bí
quyết đầu tiên, theo ông, là tạo sự yêu thích công việc.
Ông xác định rõ khi bắt đầu chuyển sang trạng thái tích
cực: "Bỏ đi hay ở lại công ty thì cũng đều thế cả. Nếu
ở chỗ nào mình cũng kêu ca, than thân trách phận chẳng đâu
vào đâu thì cuộc đời mình chẳng bao giờ tốt đẹp lên
được”. Ông viết: "Tôi nghĩ rằng đời người mấy ai có
“vận may” được làm một công việc yêu thích ngay từ
đầu. Khi bước vào đời đa số đều phải làm việc không
như ý muốn. Thực tế là vậy. Cho nên để yêu thích công
việc, người ta chỉ còn mỗi cách là tự bản thân mình phải
cố gắng, phải nỗ lực. Và việc nỗ lực để “thấy thích”
là điều quan trọng đầu tiên để bạn có thể kiên trì
theo đuổi công việc trong một thời gian dài”.
Bí
quyết thứ hai ông đề cập là liên tục suy nghĩ và sáng
tạo không ngừng; ngày mai phải tốt hơn hôm nay và ngày kia
phải tốt hơn ngày mai. Phải để tâm sao cho công việc mỗi
ngày một tiến lên dù một chút nhỏ nhoi. Câu hỏi đặt ra
là: "còn có cách nào tốt hơn nữa không?”.
“Không
ngừng suy nghĩ và sáng tạo mỗi ngày” là bí quyết thứ
hai. Inamori đưa ra một khẩu hiệu: "Cố gắng hết mình cho
ngày hôm nay”. Đây chính là tinh thần Phật giáo: "quá khứ
đã qua, tương lai chưa tới, hiện tại đừng vọng tưởng”.
Công ty Kyocera của ông chưa bao giờ có một kế hoạch dài
hạn. Ông giải thích: "Dù có lập ra một kế hoạch to tát
vĩ đại nhưng nếu không thực hiện đúng như kế hoạch thì
người ta dễ rơi vào tâm trạng mệt mỏi, chán chường. Đôi
khi còn khiến họ buông xuôi đầu hàng. Nguy cơ đó khiến
cho suy nghĩ trở nên tiêu cực. Vì thế bao giờ tôi cũng chỉ
lập kế hoạch rõ ràng cho một ngày và cố gắng hết mình
đạt được mục tiêu đề ra trong ngày ấy”. Cố gắng hết
mình cho ngày hôm nay thì sẽ thấy ngày mai. Cố gắng hết
mình cho tháng này thì sẽ thấy tháng sau. Cố gắng hết mình
cho năm nay thì sẽ thấy năm sau. Ông viết: "Tôi tuân theo và
thực hành tâm niệm này 40 năm trời, và chưa khi nào thấy
chán nản trong công việc”.
Bí
quyết thứ ba là phải có tinh thần lạc quan vui vẻ. Để
có thể thấy yêu thích công việc cần phải khuếch đại
niềm vui khi thu được một thành công nhỏ trong công việc.
Ông kể: "Tôi vẫn thường khoái ra mặt khi được xếp khen
ngợi… Cứ mỗi lần có kết quả thí nghiệm đúng như dự
tính là tôi vui mừng tột độ. Những lúc như thế tôi luôn
nhảy cẫng lên và reo hò thật to”. Một phụ tá của ông
phản ứng với việc đó: "Cứ hơi một tí là anh lại nhẩy
cẫng lên. Đời một thằng đàn ông không có nhiều niềm
vui đến mức phải nhảy lên như thế đâu. Mới có một chút
kết quả thí nghiệm là anh lại sướng như phát rồ ấy.
Xin lỗi, tôi không nghĩ loại người như anh lại là sếp của
tôi”. Ông trả lời: "Cứ nhìn sự việc bằng con mắt lạnh
lùng như cậu thì cuộc đời này tối tăm lắm. Niềm vui sướng
mỗi khi thu được kết quả tốt đưa lại cho tôi luồng sinh
khí mới, đem lại cho tôi niềm tin trong cuộc sống. Cậu cứ
nghĩ xem, nếu không có những niềm vui như thế thì làm sao
có thể âm thầm nỗ lực và kiên trì làm cái công việc chán
ngắt như cái việc nghiên cứu gốm này? Nếu không có niềm
vui đó thì thử hỏi liệu có ai chịu dấn thân vào nghiên
cứu khi tiền lương thì thấp, tiền thưởng cũng không có
ở công ty èo uột này?”
Bí
quyết thứ tư là phải thích nơi mình làm việc. Ông viết:
"Lúc mới bước vào đời, công ty đầu tiên tôi đến làm
việc là một công ty thua lỗ, nên muốn thích cũng không thể
thích nổi. Tôi phải tự trấn an mình bằng cách cố gắng
không để tâm lý chán ghét công ty vương vấn trong đầu.
Và khi gạt bỏ được tâm lý đó cũng là bước khởi đầu
để tôi thích công việc về sau”. Ông nói thêm: "Khi
không được vào học hay làm việc ở một nơi mình mong muốn…
thì con người ta hay nẩy sinh tâm lý đứng núi này trông núi
nọ. Thấy chỗ khác cái gì cũng tốt, chỗ mình cái gì cũng
dở. Nhưng điều quan trọng là phải nhanh chóng gạt bỏ hay
thoát khỏi não trạng: "tôi không sao thích nổi công việc
chán ngắt này, tôi không thể thích nổi chỗ làm này, tôi
không thích học trường này”. Thoát được não trạng đó
thì cuộc đời ta mới có thể thay đổi to lớn”.
Gần
đây, trên các phương tiện truyền thông đại chúng, chúng
ta thường thấy những lời kêu gọi giới trẻ Việt Nam cần
phải có những khát vọng vĩ đại, những hoài bão to lớn.
Tuy nhiên, những điều vĩ đại lại bắt đầu bằng những
việc bình thường. Inamori nhắn nhủ thế hệ trẻ: "Trước
hết, các bạn nên biết rằng điều vĩ đại chỉ sinh ra từ
những nỗ lực âm thầm từng bước… Không có chiếc thang
máy tiện lợi nào dành riêng cho cuộc đời mình cả. Chỉ
có thể đi lên bằng đôi chân của chính mình và bằng sức
lực của chính mình. Đừng ảo tưởng sẽ có con đường
đi tắt, đừng ảo tưởng sẽ có thủ đoạn chớp cơ hội
để biến ước mơ thành hiện thực. Phương pháp tốt nhất
thực hiện giấc mơ là tiến từng bước, từng bước chắc
chắn như con ốc sên trên con đường thực hiện. Chính những
thành quả nhỏ nhoi sinh ra nhờ nỗ lực âm thầm mỗi ngày
sẽ kéo theo những thành quả và nỗ lực mới, rồi đến
một ngày bạn chợt nhận thấy nó chất cao như ngọn núi
sừng sững không thể ngờ tới”. Đó là một phương pháp
xác thực để biến giấc mơ thành hiện thực.
THỜI
GIAN VÀ NHÂN QUẢ
Nam
Quốc
Khi
xã hội có bất cứ hiện tượng gì tiêu cực xảy ra, lúc
cần phải thể hiện trách nhiệm cá nhân trước vấn đề
này, người ta thường nói: “ Chúng ta đã và đang thực hiện,
vấn đề là cần phải có thời gian…”.
Nghe
câu nói trên, nhiều người dù chưa thỏa mãn nhưng vẫn có
thể tạm yên tâm. Nhưng thời gian là bao lâu để cải thiện
tình hình thì ít ai đưa ra một cách cụ thể. Có thể phần
nào nhận ra ở cách nói ấy sự thực hiện thiếu đồng bộ,
nên thời gian hứa hẹn chỉ nhằm để thực hiện lại những
điều đã lịch trình hơn là việc bắt tay vào điều chỉnh
cho một nhận thức đúng tốt hơn. Vì ít ai có thể tự nhận
rằng mình đã sai ngay từ khâu lên kế hoạch. Và như vậy,
thời gian và tiền của vẫn tiếp tục bị lãng phí. Nhưng
lãng phí trong kinh tế còn có cơ hội bù đắp lại được,
còn suy mòn về văn hóa, lối sống thì ảnh hưởng lâu dài
đến nhiều thế hệ, mà hậu quả trực tiếp nhất vẫn là
giới trẻ phải gánh chịu.
Diễn
tiến của cuộc sống thì luôn phức tạp và không dừng lại,
mà mức độ ảnh hưởng của những yếu tố môi trường
xã hội trong thực tiễn đối với từng cá nhân là rất cao,
đôi khi vượt trên cả những tác động của giáo dục. Chẳng
hạn, gia đình và xã hội mất rất nhiều thời gian, công
sức, tiền của để đào tạo ra một con người, nhưng khi
họ vừa rời ghế nhà trường, bước chân vào đời, thì
chỉ cần một phần tác động rất nhỏ từ thực tiễn cuộc
sống có thể cuốn hút và gần như phá vỡ nhiều những “chuẩn
mực” mà họ đã được học. Không ít người thừa nhận
rằng, nền kinh tế thị trường, sự sùng bái khoa học kỹ
thuật luôn có những tác động tiêu cực không thể tránh
khỏi đi kèm. Nhưng nhiều bậc cha mẹ vẫn không ngừng khuyến
khích, thậm chí tạo nhiều áp lực để con cái dấn thân
vào lĩnh vực này, nhằm có được những công việc có thu
nhập cao, nhiều cơ hội thăng tiến, và tạo ra nhiều lợi
nhuận cho bản thân... Cho đến khi họ bị vật chất cám dỗ
và xa ngã thì chúng ta lại đổ hết trách nhiệm lên đầu
họ…
Bà
Nguyễn Thị Oanh, thạc sĩ phát triển cộng đồng, có lần
đã phát biểu công khai trên báo chí: “Lĩnh vực khoa học
kinh tế đang phát triển rất nhanh, nhưng tôi khẳng định
đất nước sẽ khó đi lên và không thể phát triển bền
vững nếu lớp trẻ chỉ học về kinh tế, khoa học kỹ thuật
mà không coi trọng học và rèn luyện đạo đức làm người…
Cái đạo đức con người đơn giản mà hết sức cơ bản:
chớ giết người, chớ ăn cắp của người, chớ nói dối,
tà dâm… Trong xã hội ta, người nói dối, ăn cắp một cách
thản nhiên. Tôi đã suy nghĩ khá nhiều về vấn đề này và
dường như khi bài trừ tư tưởng phong kiến thì những giá
trị nhân bản, những bài học làm người cũng bị bỏ quên
luôn. Không thể có chính trị tốt mà không có đạo đức
tốt…”. Sở dĩ những điều đó trở nên phổ biến vì
sự giáo dục của chúng ta hầu như đang khuyến khích lớp
trẻ chạy theo một lối sống xem trọng vật chất, khoa học
kỹ thuật, lợi nhuận, hưởng thụ, thực dụng…, hơn là
những bài học để họ tự biết cách làm người trước
đã.
Vẫn
còn đó những giá trị vượt thời gian, vấn đề là chúng
ta sẽ áp dụng như thế nào vào trong nhận thức, lối sống
của thế hệ trẻ. Thời gian là thước đo cho một hệ quả
nhưng thời gian cũng chính là cái đang diễn ra, mà cái đang
diễn ra ấy có thể vừa là kết quả vừa là nguyên nhân.
Vậy không thể chờ thời gian cho một nguyên nhân trong khi
nó đã nảy mầm và cần ngay sự chăm sóc đặc biệt. Bởi
sự thật của diễn tiến xã hội diễn ra nhanh hơn gấp nhiều
lần chúng ta dự báo. Nếu chúng ta không thay đổi nhận thức
này thì những dự tính đặt ra cho một lĩnh vực chỉ là
sự đầu tư thiếu chiều sâu, đuổi theo thời gian bằng
thói quen “nước đến đâu bầu đến đó”, chứù không
phải là chúng ta đang làm chủ thời gian. Bởi làm chủ thời
gian chính là tạo điều kiện cho nhân quả tốt đồng thời
xuất hiện và nhân quả xấu cùng lúc được cải thiện.
Như vậy, trong sự điều chỉnh mang tính cần kíp, thời gian
cần được nhận thức như là một yếu tố nhân quả đồng
thời, tránh hiểu nó theo một trật tự máy móc: có nguyên
nhân rồi mới có kết quả, hay nguyên nhân chính là kế hoạch
trong một thời gian và kết quả là cái thu được sau kế
hoạch. Bởi cái quả ấy lại chính là nhân cho cái quả tiếp
nối sau đó. Nếu cái vừa là kết quả, vừa là nguyên nhân
ấy còn chờ thời gian nữa thì cái nhân ấy đã trở thành
một quả khác mất rồi, và cái quả ấy chắc chắn sẽ teo
đét…
Trong
đào tạo con người, nếu để cho một thế hệ bị teo đét
về văn hóa lối sống thì nhiều thế hệ sẽ bị ảnh hưởng
theo. Từ ngày đất nước thống nhất đến nay, chúng ta có
gần hai thế hệ; từ khi đất nước đổi mới (1986) đến
nay, chúng ta có hơn một thế hệ. Đó đều là những cột
mốc quan trọng hứa hẹn mang lại sự tiến bộ. Nhưng cũng
chính thời gian này, chúng ta phải bàn luận và lo nghĩ
rất nhiều về những vấn nạn xã hội, mà sự suy mòn đạo
đức lối sống trong nhiều tầng lớp, đặc biệt ở giới
trẻ luôn là vấn đề trọng tâm, nóng hổi.
Làm
chủ thời gian chính là làm chủ thời gian nhận thức, hành
động, làm chủ không gian văn hóa, và cần phải xác định
ngay những giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống làm
nền tảng căn bản. Bởi vì trong hội nhập, văn hóa là điểm
tựa cho mọi sự phát triển bền vững. Chúng ta đã tốn quá
nhiều phương tiện giấy mực để nói, nói rất hay, rất
bài bản mà chúng ta vẫn phải chạy theo thời gian để mong
cải thiện cuộc sống xã hội ở cả hai mặt vật chất và
tinh thần. Tuy nhiên, nếu vẫn còn những người thiếu nhận
thức về giáo dục mà đi làm giáo dục, thiếu nhận thức
về văn hóa mà đi làm văn hóa, thiếu nhân cách làm người
mà đi dạy làm người…, thì chuyện tốn công sức, tiền
của, thời gian và giấy mực sẽ còn tiếp diễn. Và càng
tạo ra nhiều “bộ óc” cứ gặp việc gì khó khăn cũng
cần một thứ thời gian… không xác định, bất chấp diễn
trình nhân quả như thế thì càng tạo ra sự lãng phí cho xã
hội. Nếu có thể làm chủ thời gian bằng chính những nhận
thức và hành động tốt đẹp trong hiện tại thì những nhân
quả tốt đẹp cũng sẽ tỷ lệ thuận với điều đó. Dĩ
nhiên “sửa sai” chỉ là chuyện bất đắc dĩ, không ai mong
muốn nó sẽ xảy ra.