.
.SỐ 19 -15 THÁNG 8, 2006.
TRANG CHỦ
SỐ HIỆN TẠI
CÁC SỐ TRƯỚC
CHUYÊN MỤC
BAN BIÊN TẬP
LIÊN HỆ ĐẶT BÁO
 
 
SỐ 19 THÁNG 8, 2006

 

BA VÀ MOBILE
(Viết nhân sinh nhật ba)
Thiên Ngân

Từ ngày ba sắm mobile, tôi (chứ không phải ba) trở thành cư dân của thế hệ "ngón tay cái". Mỗi lần ba lên phố, hai cha con gặp nhau, y như rằng tôi được phen lấy máy của ba nhắn chíu chít cho bạn bè dù thân, dù sơ. Hễ ai có mobile là tôi nhắn, nhắn cho đã cái tay, vậy!

Ngày tôi mua mobile, ba tôi ... "xuống đời". Người ta xài đồ điện tử thì lên đời, chỉ có ba tôi là trái ngược. Hồi trước, chỗ làm sắm cho ba cái Nokia 2300 đập hộp. Lớp 11, đua đòi, tôi cắc ca cắc củm tiền đăng thơ được chín trăm ngàn, mua một con Nokia cóc già lụ khụ (thậm chí còn không nhớ nổi nó tên gì). Ba "ngoan ngoãn" (từ dùng của mẹ) đưa cho tôi cái mobile mới của ba, rồi lụi hụi gắn sim vào cái điện thoại "mới mà cũ" kia. 

Tôi có máy riêng, nhưng luôn bị lâm vào tình trạng "chết lâm sàng" do tám quá. Và thế là, cái may của ba "vào cuộc". Tôi nhắn máy này hết tiền, nhảy qua nhắn máy kia, nhắn qua nhắn lại ầm ĩ, riết rồi những người thân thiết với tôi ai cũng lưu 2 số, 1 của ba "nó", một của "nó". Thương ba lắm là những lần gặp tôi, ba chìa máy "Tin nhắn của con nè!" Những cái tin bạn bè gửi từ lâu ngày ba chưa mở, đợi tôi đọc. Có khi bạn bè tôi nhắn tin "thắm thiết", tôi cà rỡn chọc ba, nói đây không phải tin của con, ai gửi cho ba mà lâm li bi đát dữ vậy; là ba tôi trợn mắt phân bua liền, ba không biết số này, thiệt đó. Bị tôi chọc riết, ba cáu quá đòi gọi lại cho cái đứa nhắn tin, tôi hoảng hồn sợ bể mánh, mới thôi không chọc nữa. 

Một tháng tôi không gặp ba, ba nạp thẻ một trăm ngàn mà xài hoài không hết. Còn tháng nào tôi hay về thì... thôi rồi. Có một quy luật bất thành văn, máy tôi để tôi nhắn, còn máy ba để tôi... gọi. Có những lần ba cũng sốt ruột khi thấy tôi "trên trời dưới đất" trong điện thoại, ca thán "Thôi chứ cô, cô để tui gọi với chứ cô". Tôi ngọt nhạt "Ba nạp cả đống tiền mà có gọi cho ai đâu, để con gọi giùm cho" là ba tôi đuối lý, chịu thua. Một sự chịu thua rất ư là... chịu thua. 

Thi cử, tôi tự nguyện nộp mobile. Ba hân hoan lấy lại con máy đáng-lẽ-là-của-mình, vuốt vuốt, bấm bấm. Nhưng tiếng là nộp máy, bạn bè thân thiết chỉ thay đổi một cử chỉ, là thay vì gọi "nó" thì gọi cho ba "nó". Ba nhận cuộc gọi, nhận tin nhắn rồi chuyển máy cho tôi như một vị thư ký cần mẫn. Có những lần bạn tôi khùng bất tử, 2,3 giờ đêm nhắn tin, ba hoảng hồn bật dậy tưởng tới giờ báo thức coi đá banh. Vậy là dậy luôn. Sáng ra mắt nhắm mắt mở than mất ngủ, mẹ hỏi "Anh làm gì mà cả đêm không ngủ" ba chỉ tôi phân bua "Thì bạn nó nhắn tin, anh dậy luôn chứ sao!"

Tôi "lên đời" máy, chiếc Nokia 2300 cũ lại quay về với ba. Thỉnh thoảng, ba mượn máy mới của tôi "nghịch một tí". Ba mày mò bấm chức năng ghi âm, hắng giọng "Cely ơi, ba gọi!". Ba nói để cái đó làm nhạc chuông riêng, mỗi lần ba gọi thì biết. Tôi rùng mình tưởng tượng ra một ngày mình đang đâu đó xa nhà, nghe chuông điện thoại vang lên giọng ba "Cely ơi, ba gọi!", thì lúc đó làm sao để kìm nước mắt?!

Sinh nhật ba, sao tự nhiên nói chuyện mobile? 

Là vì sáng nay, lần đầu tiên tôi nhắn tin cho ba, không phải để xin "Cho con chơi thêm chút nữa", mà để nói rằng "con thương ba".

Là vì không bao giờ tôi kể hết được những kỷ niệm về ba. Chỉ một vật dụng đơn giản như chiếc mobile và những câu chuyện quanh nó cũng đủ để biết ba thương tôi tới nhường nào...


Nhìn và thấy nhau (Trúc Đông) 


Đi dọc dòng sông Phật giáo
Thăm các miền đất Phật 
ở đôi bờ Mê Kông
(tiếp theo)
Trần Đức Tuấn

Khi tìm hiểu các lĩnh vực văn hóa, xã hội của cư dân đôi bờ con sông dài 4880 cây số, đoàn làm phim MKKS bị cuốn hút rấr mạnh vào 3 yếu tố hàng đầu là chủng tộc, tôn giáo và kiến trúc, trong đó tôn giáo mà cụ thể là Phật giáo giữ vai trò liên kết như một hệ tư tưởng xuyên suốt, tạo nên giá trị tinh thần và vẻ đẹp nhân văn của dòng sông vĩ đại. Tuy nhiên, một tánh thể lưu vực rộng mênh mông bao trùm lên 6 nước như thế phải mang tính đa sắc tộc và đa tôn giáo. “Đa sắc tộc” thì rất rõ nhưng “ đa tôn giáo” thì khá mờ bởi sắc màu tôn giáo nổi bật và thống trị suốt chiều dài dòng sông chính là Phật giáo. Ngoài đạo Phật và các tín ngưỡng dân gian Mê Kông còn có Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Đạo giáo, Khổng giáo vân vân.. nhưng không một tôn giáo nào có thể so sánh được với Phật giáo về tính phổ biến, sự liên tục về địa lý và mức độ sùng tín của tín đồ. Từ những cây số đầu tiê dưới chân núi Tuyết trên cao nguyên Thanh Hải băng giá đến những dòng chảy cuối cùng trên đồng bằng sông Cửu Long nơi đâu cũng thấy chùa chiền, tu sĩ và Phật tử. Chính vì thế chúng tôi gọi Mê Kông là “ Dòng sông Phật giáo”. Ở đây có một sự ảnh hưởng qua lại rất rõ giữa Phật giáo và sắc tộc. Nếu như Phật giáo có vai trò thống nhất tín ngưỡng của cư dân thì chính sắc tộc đã làm cho Phật giáo trở nên đa dạng. Có thể hình dung các “phân đoạn” sau đây của dòng sông về mặt tín ngưỡng Phật giáo:

-Phật giáo Tạng truyền kéo dài suốt một dải từ thượng nguồn Thanh Hải, qua Tây Tạng  tới miền Bắc Vân Nam của Trung Quốc.

-Phật giáo Đại Thừa ở miền Trung Vân Nam và đồng bằng sông Cửu Long.

-Phật giáo Tiểu Thừa ở miền Nam Vân Nam, Mianmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và đồng bằng sông Cửu Long. Riêng Phật giáo Tiểu thừa phát triển trên một nửa chiều dài của Mê Kông thuộc lãnh thổ của cả 6 nước lại khá đa dạng.

Trước hết xin được nói về Phật giáo Tạng Truyền +, còn có tên là Lạt Ma Giáo. Đây là tín ngưỡng gắn liền với một dân tộc rất nổi tiếng trên thế giới: dân tộc Tạng. Địa bàn cư trú chủ yếu của họ  là miền “ Nóc nhà thế giới” bao gồm Khu tự trị Tây Tạng, tỉnh Thanh Hải, một phần các tỉnh Tứ Xuyên, Cam Túc, Vân Nam vân vân..  phổ biến ở độ cao từ trên 3000 mét đến năm sáu ngàn mét so với mặt biển, quanh năm giá lạnh. Họ sống rải rác trên một diện tích đất đai rộng lớn với nhiều triệu cây số vuông gồm nhiều nhánh tộc nhưng có chung một nền văn hóa Phật giáo, một tính cách rất mạnh mẽ và lối sống rất phóng khoáng. Lạt Ma Giáo là sự kết hợp giữa đạo  Phật du nhập từ bên ngoài với tín ngưỡng  bản địa cổ truyền gọi là đạo “Bon” của người Tạng. Bước vào lãnh địa của người Tạng  và cõi Phật của Lạt Ma giáo bạn sẽ lập tức có cảm giác lạc vào một thế giới khác và một thời đại khác, vừa huyền bí mơ hồ lại vừa xác thực, thiêng liêng. Đền đài Phật giáo Tạng Truyền  là một thế giới bồng bềnh trong mây tuyết, âm thanh nghi lễ tôn giáo là tiếng vọng mênh mông của quá khứ, niềm tin là sức mạnh bất khả xâm phạm thống trị khắp thảo nguyên và núi đồi. Loạt ký sự “Đi dọc dòng sông Phật giáo” sẽ đăng một số bài đáng kể  để mời quý vị tời thăm sứ sở  thần bí ở tận lưng trời này và Vương quốc Phật giáo Tạng truyền của họ.

Sông Mê Kông bắt nguồn từ những dòng chảy đầu tiên ở sâu trong vùng núi Tuyết thuộc tỉnh Thanh Hải. Trên đường đi nó tiếp nhận vô số các dòng nước khác, chảy qua miền cực Đông của Khu tự trị Tây Tạng, rồi đổ vào phía Bắc tỉnh Vân Nam. Tại vùng Đức Khâm và Sangrila huyền thoại, toàn bộ miền lưu vực bao lấy chiều dài gần 2000 cây số đó của dòng chính và của các phụ lưu là lãnh địa của người Tạng và do vậy là vương quốc của Phật giáo Tạng Truyền.

Từ Lệ Giang trở xuống là địa bàn cư trú của người Hán và các tộc thiểu số khác nên đền chùa Phật giáo ở đây thuộc hệ phái Đại Thừa như phần lớn các kiến trúc Phật giáo Trung Hoa mà ta vẫn thường thấy.

Bắt đầu từ vùng cực Tây Nam vân Nam, đặc biệt là khu tự trị Thái tộc Xi Xoang Ba Na, đến biên giối Trung- Miến sắc thái Phật giáo đã có sự thay đổi rất cơ bản, đó là Phật giáo Tiểu thừa. Từ đây đến chốn tận cùng của dòng chảy tức miền duyên hải Tây Nam Bộ của Việt Nam sự ngự trị của Phật giáo tiểu thừa được khẳng định. Cả đôi bờ tả hữu bao gồm đất của châu Xi Xoang Ba Na (còn gọi là Tây song bản nạp), Bang shan của Miến Điện (Myanmar), Lào, Thái Lan và Campuchia, những ngôi chùa mái cao, nhiều lớp so le, ngói đỏ, tường trắng, họa tiết vàng tươi rực rỡ chiếm lĩnh hầu hết các kiến trúc tôn giáo. Riêng tại đồng bằng sông Cửu Long, các ngôi chùa Tiểu thừa bắt đầu xen kẽ  với các kiến trúc Đại Thừa vốn là tín ngưỡng Phật giáo phổ biến trên toàn cõi Việt Nam.

Tiếp tục nội dung “Thăm các miền đất Phật ở đôi bờ Mê Kông”, số báo này xin giới thiệu với quý vị một số chuyến đi con thoi của đoàn làm phim “ Mê Kông ký sự” giữa đôi bờ Lào - Thái  cùng với một số công trình kiến trúc Phật giáo mà chúng tôi có dịp ghé thăm. Tất cả có 5 tầng vượt Mê Kông từ Lào sang Thái để khảo sát dòng sông tại các địa điểm: Khu vực “Tam giác vàng”, Thủ đô Viêng Chăn, tỉnh Khăm Muộn, tỉnh Xavannakhet và tỉnh Chăm Pa Sắc. Đối diện với chúng là các tỉnh: Chiêng Rai, Nọong Khai, U Đon, Na Khon Pha Nom, Xa Con Na Khon, Mục Đa hản và U Đon Ratchathani của Thái Lan. Tất cả các tỉnh hữu ngạn Mê Kông này nằm trong vùng Đông Bắc Thái Lan rộng lớn nơi có nhiều Việt kiều sinh sống từ lâu. Phần lớn người Việt sống ở đây là di cư từ lào sang từ thời chống Pháp. Lịch sử vùng Đông Bắc Thái khá đặc sắc trong đó nổi bật là sự chuyển nhượng lãnh thổ giữa Thái và Lào dẫn tới việc đại đa số người Lào  hiện sống trên đất Thái chứ không phải đất Lào. Phần lớn vùng Đông Bắc Thái Lan(còn gọi là Isan) xưa kia thuộc lãnh thổ Lào. Sau này, với sự thỏa thuận giữa Thái Lan và các cường quốc phương Tây, hầu hết vùng lãnh thổ bờ hữu Mê Kông rộng lớn này của Lào với phần lớn cư dân Lào tộc đã thuộc quyền cai quản của Băng Cốc. Cư dân đôi bờ nói chuyện với nhau không cần phiên dịch, phong tục tập quán và kiến trúc tôn giáo có rất nhiều nét tương đồng.

Thà Khẹc là tỉnh lỵ của tỉnh Khăm Muộn thuộc miền Trung nước Lào, nơi có rất nhiều bà con Việt kiều người Quảng Bình đang sinh sống. Đối diện bên kia bờ Mê Kông là thành phố Na Khon, Pha Nôm, tỉnh lỵ của tỉnh cùng tên thuộc Thái Lan. Chúng tôi tới thăm một khu vựa của người Việt, nơi có Trường tiểu học dạy bằng tiếng Việt tại Thà Khẹc có đền thờ Trần Hưng Đạo và có ngôi chùa Bồ Đề  thep phái Bắc Tông của đạo Phật. Ở Lào. Những nơi có đông Việt kiều thường thì bà con xây chùa riêng, những nơi khác người Việt đến lễ Phật tại các chùa của người Lào.

Tại đôi bờ Mê Kông đoạn này, mỗi thành phố có một ngôi tháp rất tiêu biểu, đều là những kiến trúc Phật giáo nổi tiếng được biết đến với cái tên rất thơ mộng là “ Đôi Tháp Tình Yêu”. Toà tháp bên Lào có tên “ Xì Khol Ta Boong” là trung tâm lễ hội và tâm linh của cả vùng Khăm Muộn, một đặc thù về kiến trúc Phật giáo của Đông Phương. Toà tháp bên Thái mang tên “Pha Nôm” xây cùng thời với vạt phu là di sản văn hóa thế giới ở Chăm Pa Sắc. Chính hai ngôi tháp cổ này cùng với những lễ hội mà chúng là trung tâm đã góp phần tạo nên sự gắn bó thân thiện giữa cư dân đôi bờ Mê Kông thuộc hai quốc gia khác nhau. Hàng năm có cuộc đua thuyền chung do 2 bên thay nhau tổ chức

Chúng tôi vượt sông trên con tàu của một phụ nữ Việt kiều sinh sống ở Na Khon Pha Non. Tháng 3 năm 1946 trên đoạn sông này đã xảy ra một sự kiện bi thảm: một ngàn xác chết của người Việt đã phủ kín mặt sông trong trện ném bom của quân Pháp ngăn cản hàng chục ngàn Việt kiều vượt sông sang Thái lánh nạn. Người lái xe đưa chúng tôi đi sâu vào đất Thái cũng là một Việt kiều ở Thái lan. Rời Na Khon Pha Nom, chúng tôi tới thăm một thành phố láng giềng ở sâu trong nội địa khỏang 100 cây số, đó là Xa Con Na Khon, nơi có một ngôi chùa rất đẹp : Chùa Pra Thạt Xen Crum. Đây là ngôi chùa lớn, lộng lẫy và bề thế như một lâu đài với 3 màu tương phản nổi bật  tôn tạo lẫn nhau là trắng ngà, đỏ tươi và vàng rực lung linh cả một góc trời xa con thanh bình và thơ mộng. Chùa xây theo kiểu 3 lớp mái sole chồng lên nhau đầy ấn tượng về sự bền vững, linh thiêng và an bình của đạo Phật. Ngôi tháp trắng, chóp xanh màu lá cây, cao 24 mét, có tàng trữ di chỉ của quốc vương Khơ Me là nét đặc sắc của ngôi chùa. Ở Thái Lan, cùng với nhà nước và nền quân chủ, đạo Phật là một trong ba cột trụ chính của đất nước. Vào thế kỷ thứ 13 Phật giáo đã trở thành quốc giáo. Tuy nhiên, do vị trí địa lý và sự biến thiên của lịch sử, nền văn hóa bản địa xa con chịu ảnh hưởng khá nhiều của văn hóa Ấn Độ, Lào và Khơ Me. Ví dụ toà tháp trắng chóp xanh trong chùa Pra Thạt Xen Chum là một kiến trúc thuần Lào. Phần trên cùng của tháp gợi ta liên tưởng tới Thạt Luổng ở Viêng Chăn. Riêng đỉnh chủa lại được kết cấu bằng đá ong Khơ Me. Ngoài ra trong thành phố còn có một số đền đài Ấn Độ giáo, một số ngôi chùa Khơ Me với nhiều họa tiết điêu khắc rất tinh xảo. Đó là những chấm phá rất hài hòa trong toàn bộ nền văn minh truyền thồng của quốc gia lùng danh này ở Đông Nam Á.

Có thể nói, dòng Mê Kông lững lờ giữa đôi bờ Lào- Thái là bức trường họa tuyệt vời về cảnh sắc thiên nhiên và về nền Phật giáo lung linh huyền ảo. Nếu như sông nước Mê Kông, may ngàn gió núi lập nên một góc trời riêng thanh bình tĩnh lặng cho các bộ tộc Lào – Thái thì đạo Phật đã đem cho họ sự an bình quý giá về tâm hồn, góp phần tạo dựng nên một nền đạo đức mẫu mực, một tính cách hân sinh hiền hòa phóng khoáng và một nền học vấn sâu sắc cho cư dân. Thấp thoáng giữa tán rừng hoặc sừng sững giữa vườn cổ thụ là những bông hoa nghệ thuật kiến trúc nguy nga, tráng lệ , trầm mặc, ngàn năm soi bóng bên dòng chảy êm đềm. Đó chính là bức chân dung sinh động đầy sức gợi cảm và suy tưởng về một lẽ sống, một nền triết học đã âm thầm tồn tại, phát triển và đứng vững suốt hai mươi lăm thế kỷ.


HÒA THƯỢNG ĐẠT BỔN 
VÀ CHÙA KIM CHƯƠNG Ở GIA ĐỊNH
Trần Đình Sơn

Sách “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức, thời Gia Long (1802-1819), có ghi: “Chùa Kim Chương ở cách dinh trấn hơn 4 dặm về phía Nam, phía Bắc đường quan.Chính giữa là điện Phật, trước sau, Đông Tây xây cổng chùa, nhà tăng, nhà kinh, viện hương, nhà ăn đều chạm khắc, tô vẽ rạng rỡ tốt đẹp. Phía bắc chùa có mạch nước ngầm, suốt 4 mùa thấm ướt đường đi. Vào năm Ất Sửu (1745), năm thứ 18 triều vua Thế Tông có vị du tăng ở Quy Nhơn là Hòa thượng Đạt Bổn đến ở đó xây chùa. Được vua ban tấm bảng đề: Sắc Tứ Kim Chương Tự. Hòa thượng Đạt Bổn viên tịch truyền lại cho người học trò nối pháp là Quang Triệt. Năm Ất Mùi (1775), tướng quân Lý Tài, đạo quân Hòa Nghĩa tôn lập Mục Vương (1) tại đây, nên lại được ban sắc tứ. Sư Quang Triệt tịch, sư Quang Trạm kế thế; Quang Trạm tịch, truyền cho sư Quang Tuệ trú trì. Năm Đinh Dậu, Gia Long thứ 12 (1813), phó tướng quân thần võ là Trần Nhân Thái tuân theo di chỉ của bà Cao hoàng hậu(2)đem một vạn quan tiền lo việc sửa chữa chùa chiền. Kinh tạng, chuông trống tất cả đều được chỉnh đốn, bổ sung trang nghiêm. Đến nay trở thành ngôi chùa danh tiếng ở thành Gia Định”.

Thời Tự Đức (1848-1883), sách “Đại nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi: “Chùa Thiên Trường ở tại thôn Tân Triêm, huyện Bình Dương. Phía Đông Nam chùa có mạch nước ngọt chảy ngầm, suốt bốn mùa ẩm ướt, thấm khắp đường đi. Triều trước vào năm Ất Hợi (1755), có nhà sư du hóa là Đạt Bổn xây dựng chùa này, được ban tên: Sắc Tứ Phổ Quang Thiên Sơn Tự. Năm Ất Mùi, Thừa Thiên Cao hoàng hậu cúng một vạn quan tiền để trùng tu chùa”.

Sau khi giặc Pháp chiếm Nam Kỳ (từ năm 1860 trở về sau), chùa Kim Chương và các ngôi chùa to lớn nổi tiếng nhất ở Gia Định lần lượt bị chúng chiếm đoạt, triệt phá mất tích. Do đó chúng tôi xin dịch giới thiệu bài cổ văn sau đây, nhằm bổ sung sử liệu về Phật giáo ở Nam Bộ.

Bài tựa khắc lại bộ kinh “Pháp Hoa khoa chú”:

Tôi nay chọn khắc lại bộ “Khoa chú” (3), vì sao?

Xưa nay các bậc hiền triết chú giải kinh Pháp Hoa tuy nhiều, nhưng chỉ có bản chú của tông Thiên Thai là ý chỉ thông suốt nhất. Nguyên bởi Đại sư Trí Giả (4) chứng được Pháp Hoa tam muội, tương hợp với tâm Phật, mở rộng được trí Phật. Vì vậy hai bộ kinh “Huyền Nghĩa và Văn Cú” (5) lời lời hiện rõ thể tính, câu câu sáng suốt thần kỳ. Giống như họ Hy - Hòa (6) khảo xét hiện tượng muôn vật chính xác, rõ ràng, không có chỗ tối tăm nào không được soi sáng. Vả lại lời văn linh động, nghĩa lý sâu xa. Sau đó Pháp sư Nhất Am - Như Giả (7) xuất hiện, nghĩ rằng gặp thời mạt pháp lo lắng cho người học vì hiểu biết nông cạn mà khó lĩnh hội được, trố mắt lầm lạc, lòng sinh buồn chán. Vì vậy, Pháp sư mới cắt bỏ phần rườm rà, chọn lọc điều thiết yếu, đối chiếu, nối kết nhau, chia mục, phân khoa làm cho nội dung thông suốt. Để lại lời dạy rộng rãi cho người học đời sau, ngầm mở bày cho hàng sơ cơ, nếu biết quyết chí cầu tìm đạo lý thâm sâu tức thu được ngọc báu trong áo. Vì việc đó mà tôi khắc lại bộ kinh này vậy.

Phần tôi, trải bốn mươi năm qua thường xem Giới Hoàn (8) mươi lần, Hội Nghĩa (9) năm lượt. Riêng mình cảm thấy hoang mang, không biết căn cứ vào đâu mà bước vào chỗ rốt ráo. Như chưa rõ được đầu, cuối của “bản, tích” (10); gốc, ngọn của “quyền, thật” (11). Đến năm 52, 53 tuổi may mắn được thấy bộ kinh này, thường lắng lòng xem xét, dần dần mở mang trí tuệ, hiểu rõ ý chỉ của kinh. Chương tiết rõ ràng, giống như đi đêm nương vào đuốc của người; hoặc tựa ở trong nhà tối chợt thấy đèn sáng tỏ, vui mừng không tả xiết, mở toang được trí tuệ. Đức Phật nhìn bốn loài chúng sinh như nhìn con thơ; thương xót khắp ba cõi như nhau. Hết thảy Phật pháp, pháp pháp đều là pháp bình đẳng. Hết thảy người đời, người người, đều là người có đủ tính giác ngộ.Chúng sinh với Phật giống nhau, ta và người không khác. Trong lòng tôi luôn luôn ghi nhớ lý ấy, đêm lặng, canh thâu âm thầm nghĩ ngợi. Đất lành phương Nam, đạo vua sáng tỏ khắp trời, bánh xe pháp thường xuyên xoay chuyển. Ở kinh thành (Phú Xuân) chính hóa thấm nhuần, nơi xa xôi cũng được tốt đẹp. Khoa chú chưa đầy đủ tôi riêng than thở, không biết nơi nào có duyên, chỉ có quyết tâm biết đến lúc nào mới khắc lại được! 

Mùa xuân năm Mậu Dần (1758), tôi đi xa vào Gia Định, chẳng phải có ý  muốn làm người rãnh rỗi. Mùa thu năm Canh Thìn (1760), tình cờ gặp duyên nhỏ mời đến dự pháp hội ở chùa Châu Lâm, thỉnh tôi giải thuyết về Diệu Pháp được hơn 10 ngày. Một hôm vào canh 3, mộng thấy nhà sư đến bảo: “Muốn khắc lại bộ kinh này thì nên ở lại nơi đây bắt đầu công việc”. Đến nay đã 66 tuổi (1762), tuy khí lực sút giảm, già yếu nhưng tôi không ngại đắng cay, lao nhọc, phát đạo tâm hùng mạnh, vung ngọn bút sắc bén viết thẳng vài lời, nhằm tìm kiếm duyên lành rộng rãi, cầm lấy bài văn này đi các nơi xin quyên góp của cải.

Rất mong: 

Các vị quan lớn hộ pháp, các bậc giàu có, sang trọng cùng tất cả tín đồ nam, nữ phát lòng hoan hỷ, trích bớt tiền tài huyễn ảo cúng dường Diệu Pháp. Để dùng tài sản bố thí đó, mời nhà khắc bản in. Nguyện cho công việc chạm khắc hoàn thành, phát tâm lúc đầu của tôi không thay đổi. In ra 300 bộ, xin cúng vào các chùa chiền danh tiếng, bao bọc thành 2100 quyển để lưu thông khắp trong nước.

Cúi mong:

Ở thế gian và ngoài thế gian cùng thấm nhuần các lớp sóng trong biển chánh pháp. Loài người và không phải loài người đều được uống vị kỳ diệu “đề hồ”. Hoặc nghe chỉ vi lời mà rõ nghĩa, một câu thâm nhập tinh thần, ngộ được ẩn dụ Liên hoa. Lấy quyền, thật thơng hiểu lời giải thích Diệu Pháp là chơn như, không thay đổi. Được vậy thì 6 căn thanh tịnh, 4 đức phân minh (12) tức thì không vướng mắc vào hóa thành (13) để vượt thẳng vào bảo sở (14). Đem hết những điều thắng lợi này hồi hướng quả vị Bồ đề. Trên xin báo đền công đức Tam Bảo, thứ đáp tạ bốn ơn nặng (của cha mẹ, sư trưởng, chính quyền và thí chủ). Cuối cùng khắp cả pháp giới chúng sinh, thu nhận được sự lợi ích vô cùng, loài hữu tình và vô tình đều thành Phật đạo.

Đó chính là lời nói: “trước ba ba sau cũng ba, ba” (15). Nên có bài tựa này.

Viết vào ngày Phật đản, tháng 4 năm Nhâm Ngọ, triều vua Cảnh Hưng thứ 23 (1762). Phương trượng chùa Bửu Quang ở phủ Quy Nhơn là Sa môn Tế Chơn hiệu Đạt Bổn đạo nhơn. Bản khắc kinh tại chùa Diên Phước, dinh Phiên Trấn, phủ Gia Định.

Bài văn trên cung cấp những thông tin chính xác, giúp chúng ta biết rõ hơn về:

- Hoà thượng Đạt Bổn: Căn cứ theo niên biểu trong bài văn, có lẽ ngài sinh vào khoảng năm Bính Tý (1696) đời Minh vương Nguyễn Phước Chu (Lê Chính Hòa thứ 17), xuất gia có pháp danh Tế Chơn, đời thứ 2 thiền phái Liễu Quán ở Đàng Trong (đời thứ 36 thiền phái Lâm Tế). Ngài từng làm phương trượng (tức trú trì) chùa Bửu Quang ở phủ Quy nhơn. Năm Mậu dần (1758), ngài đi vào Gia Định tham dự các pháp hội. Năm Nhâm Ngọ, Cảnh Hưng thứ 23, đời Võ vương Nguyễn Phước Hoạt (1762), Hòa thượng Đạt Bổn đã 66 tuổi mới viết bài tựa khắc lại bộ kinh “Diệu Pháp Liên Hoa khoa chú”, tại chùa Diên Phước ở dinh Phiên trấn, phủ Gia Định.

- Chùa Kim Chương: Theo bản chép tay sách “Gia Định thành thông chí”: Hòa thượng Đạt Bổn lập chùa Kim Chương vào đời Thế Tông thứ 18, năm Ất Sửu (1745). Theo tôi, điều này do việc sao chép sai lầm, vì năm thứ 18 đời Thế Tông (tức Võ vương Nguyễn Phước Hoạt) phải là năm Đinh sửu (1757).

Tuy nhiên, so với niên biểu do chính Hòa thượng ghi thì năm Mậu dần (1758), ngài mới vào Gia Định. Có thể lúc đầu ngài tạm trú tại các chùa cùng môn phái Liễu Quán, sau đó mới làm thảo am riêng. Đến năm Nhâm ngọ (1762), lúc viết bài tựa khắc lại bộ kinh, ngài vẫn còn xưng là Phương trượng chùa Bửu Quang, phủ Quy nhơn. Như vậy, chùa Kim Chương phải được kiến tạo và sắc tứ sau năm 1762. Qua đối chiếu xem xét, chúng tôi thấy năm lập chùa và năm được sắc tứ thích hợp nhất là năm Kỷ Sửu (1769), Cảnh Hưng thứ 30, đời Định vương Nguyễn Phước Thuần. (Cũng không thể là năm Ất Hợi-1755 như ghi trong sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn)

- Tên chùa nhiều lần thay đổi:

Thời Gia Long (1802-1819), sách “Gia Định thành thông chí” ghi: Sắc Tứ Kim Chương TưÏ; sách “Đại Nam nhất thống chí” đời Tự Đức (1848-1883) ghi: Thiên Trường Tự và Sắc Tứ Phổ Quang Thiên Sơn Tự. Vì sao?

Theo chúng tôi, lúc đầu Hòa thượng Đạt Bổn khai sơn đặt tên chùa là Kim Chương và được Định vương ban sắc tứ. Đến lúc Nguyễn Phước Dương chạy vào Nam, Lý Tài rước về chùa Kim Chương tôn lên làm Tân Chính vương thì chùa được sắc tứ lần thứ hai: Phổ Quang Thiên Sơn Tự. Thời Gia Long, năm Ất Hợi (1815), tuân theo di chúc của bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (Tống Thị Lan), Phó tướng thần Võ quân Trần Nhân Thái lo việc đại trùng tu chùa. Từ đó chùa được đổi thành Thiên Trường Tự. Điều này cũng như ở kinh đô Huế, bà Hiếu Khương (mẹ vua Gia Long), năm  Mậu Thìn (1808), cúng tiền trùng tu  chùa Báo Quốc, sau đó đổi thành Sắc Tứ Thiên Thọ Tự.

Căn cứ theo các bản đồ và sách vở xưa còn lưu lại, vị trí chùa Kim Chương được xác định nằm trong khu vực thành Ô-ma, đường Nguyễn Trãi, quận 5, TP.HCM ngày nay. Theo ông Trương Ngọc Tường, sau khi Pháp đánh chiếm Gia Định chư tăng chùa Kim Chương chạy về xã Mỹ Thiện (nay là Thiện Trí), dựng lại ngôi chùa và đặt tên là Hội Thọ Tự. Đến nay tại chùa Hội Thọ vẫn còn bảo tồn được một số tượng Phật, Thánh, long vị các Tổ sư nguyên từ chùa Kim Chương mang về. 

Rất mong sau khi chúng tôi công bố bài báo này, những vị nào còn biết được thêm thông tin về Hòa thượng Tế Chơn-Đạt Bổn; chùa Bửu Quang ở Quy Nhơn; chùa Diên Phước ở Gia Định… xin hãy công bố tiếp thông tin để việc nghiên cứu về Phật giáo ở Nam Bộ được rõ ràng, chính xác hơn. Đó là cách báo đền ơn đức tiền nhân và chư Tổ một cách tốt đẹp nhất.

Ghi chú:
1. Mục vương: tức hoàng tôn Nguyễn Phước Dương, năm 1776 trốn Tây Sơn chạy vào Gia Định, được Lý Tài rước về chùa Kim Chương lập làm Tân Chính vương. Năm 1777, Nguyễn Huệ đem quân vào đánh chiếm Gia Định, bắt được Tân Chính vương và Thái Thượng vương Nguyễn Phước Thuần, đưa về giết tại chùa Kim Chương. Đời Gia Long truy phong hiệu Mục vương.
2. Bà là hoàng hậu Tống Thị Lan, vợ của vua Gia Long, mất năm Giáp Tuất (1814). Do đó năm Ất Hợi (1815), Trần Nhân Thái tuân theo di chúc của bà vào trùng tu lại chùa Kim Chương. Sách Gia Định thành thông chí chép nhầm thành năm Đinh Dậu, Đại Nam nhất thống chí cũng ghi nhầm là năm Ất Mùi.
3. Khoa chú: tức bộ Pháp Hoa Khoa Chú gồm 7 quyển  do Đại sư Nhất Như ở chùa Thượng Thiên Trúc đời Minh soạn, còn gọi là Nhất Như tân chú.
4. Trí Khải (538-597): họ Trần, tự Đức An, sinh vào đời Tùy, ở Hoa Dung, Kinh Châu, Trung Quốc, được tôn xưng là Trí Giả hay Thiên Thai Đại sư, sơ tổ tông Thiên Thai.
5. Huyền nghĩa và Văn cú: tức bộ Pháp Hoa huyền nghĩa và bộ Pháp Hoa văn cú do Đại sư Trí Khải soạn.
6. Hy-Hòa: họ Hy và họ Hòa ở thời vua Nghiêu, chuyên khảo xét thiên văn,lịch pháp.
7. Nhất Am-Như Giả: tức Đại sư Nhất Như (1352-1425), họ Tôn, người Thượng Ngu, Triết Giang, Trung Quốc, trụ trì chùa Thượng Thiên Trúc, vâng chiếu vua soạn Đại Minh tam tạng pháp số và Pháp hoa khoa chú.
8. Giới Hoàn: cao tăng đời Tống, người Thiệu Hưng, Triết Giang, Trung Quốc. Sư trụ trì chùa Khai Nguyên ở Ôn Lăng, tinh thông yếu chỉ Pháp Hoa của ngài Trí Khải và Hoa Nghiêm của ngài Hiền Thủ. Tác phẩm “Diệu Pháp Liên Hoa kinh giải”.
9. Hội nghĩa: bộ Pháp Hoa kinh hội nghĩa gồm 16 quyển, do Đại sư Trí Húc đời Minh soạn.
10. Bản, Tích: Bản môn và Tích môn do Đại sư Trí Khải, sơ tổ tông Thiên Thai lập ra.
- Bản: bản địa, nghĩa là đã thành tựu từ lâu, chỉ cho thực thể.
- Tích: thùy tích, nghĩa là mới thành tựu, chỉ cho bóng dáng của thực thể.
11. Quyền,Thật:
- Quyền: giả lập, tạm mượn, không thực.
- Thật: như thực, rốt ráo, bền chắc.
Tông Thiên Thai chủ trương viên giáo nói như trong kinh Pháp Hoa là Thật giáo. Còn tạng giáo, thông giáo, biệt giáo nói trong các kinh khác là Quyền giáo. Cho nên gọi là “tam quyền, nhất thật”.
12. Lục căn thanh tịnh, tứ đức phân minh:
- 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Theo tông Thiên Thai thì địa vị thập tín trong Biệt giáo là 6 căn thanh tịnh vị. Thực hành 5 hạnh: thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép kinh điển thì có thể nương theo năng lực của kinh mà làm cho 6 căn được trong sạch.
- 4 đức của pháp thân Phật: Thường (không bao giờ thay đổi); Lạc (ở trong sự an vui tuyệt đối của Niết bàn); Ngã (xa lìa vọng chấp, tự tại vô ngại); Tịnh (xa lìa cấu trược, vô nhiễm, vắng lặng).
13. Hóa thành: ví dụ thành quách do sự biến hóa mà hiện ra; 1 trong 7 thí dụ của kinh Pháp Hoa.
14. Bảo sở: chỉ cho Niết bàn cứu cánh, nơi an trụ rốt ráo chân thực của chư Phật.
15. “Tiền tam tam hậu diệc tam tam” (Trước 3,3 sau cũng 3,3) là câu đối đáp giữa Thiền sư Vô Trước (tức Văn Hỷ, đời Đường) với hóa thân của Bồ tát Văn Thù tại Ngũ Đài Sơn. Về sau câu ấy trở thành thuật ngữ thiền.


Đạo Phật trong thời đại mới… (Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn) 


MỘT CON ĐƯỜNG, MỘT THUNG LŨNG
Cao Huy Thuần

Con đường mang tên là "Nhóm Manouchian". Thung lũng thì không có tên. Con đường, vì có tên, cho nên có khai sinh, có hộ khẩu. Thung lũng, không có tên, cho nên cũng không có tuổi, không biết nằm ở đâu, nằm đâu cũng được. Có tên hay không tên, cả hai đều nói lên một chuyện : chuyện chiến tranh.

Con đường "Nhóm Manouchian" nằm ở quận 20, thành phố Paris. Được khánh thành năm 1955, nó ghi lại một sự kiện lịch sử của thế chiến thứ hai, tuyên dương một người, một nhóm người, đã hy sinh trong kháng chiến giải phóng nước Pháp khỏi đô hộ của Đức quốc xã. Đó là một người, một nhóm người ngoại quốc, đến từ nhiều nơi. Một người, một nhóm người, không có tên trong quê hương mình khi sống, nhưng khi chết lại để tên cho quê hương người.

Missak Manouchian là người Arménie, sinh ở Thổ Nhĩ Kỳ. Mồ côi từ bé, cha anh bị lính giết, mẹ anh chết trong một trận đói. Cùng với dân tộc Arménie, anh mang trong đầu từ khi chín tuổi dấu ấn của kỳ thị diệt chủng mà nước Thổ Nhĩ Kỳ đã áp dụng đối với dân tộc của anh. Năm 19 tuổi, Manouchian qua Pháp, làm thợ, tự học, làm thơ, làm báo. Anh gia nhập đảng Cộng sản Pháp năm 1934, lúc 28 tuổi, sinh hoạt trong tổ công nhân ngụ cư. Năm 1940, khi Pháp thua trận, tổ ấy tham gia kháng chiến bí mật, anh chỉ huy một mạng lưới du kích 23 người trong đó có một phụ nữ, phá hoại những cơ sở của Đức trong thành phố, đặt bom, giật mìn, phá đường sắt, phục kích quân đội Đức, gây bất an cho chính quyền cộng tác với địch. Ngày 16-11-1943, Manouchian bí mật đến nơi hẹn với cấp chỉ huy trên bờ sông Seine, anh không ngờ có kẻ phản bội ngầm báo với mật vụ, cả anh và tổ 23 người sa tuốt vào lưới. 

Nhà cầm quyền Đức tổ chức ba ngày xử án rầm rộ, với báo chí, phim ảnh rôm rả, cốt làm dân chúng Pháp thù ghét bọn khủng bố ngoại quốc đang đe dọa an ninh của họ. Sự thật rành rành ra đấy: trong 23 người của nhóm, 8 là Ba Lan, 5 là Ý, 3 là Hung, 2 là Arménie, 1 Tây Ban Nha, 1 Rumani, chỉ 3 người là Pháp. Tệ hơn nữa, 9 người trong bọn họ là máu Do Thái và tất cả đều là cộng sản hoặc thân cộng. 

Tường thành phố khắp nước Pháp tràn ngập bích chương đỏ in ảnh và tên những người ngoại quốc dã man đó. Bộ máy tuyên truyền của Đức nghiên cứu bích chương rất kỹ: phải là màu đỏ như máu đã chảy từ bàn tay thảm sát của bọn họ; phải ghi rõ "sát nhân thường phạm", không phải quân giải phóng; phải in toàn ảnh râu tóc xồm xoàm, và dưới mỗi tấm ảnh dữ tợn đó ghi một tên ngoại quốc; không in ảnh và tên của ba người Pháp; ghi thành tích sát hại và số nạn nhân dưới tên mỗi người... Bích chương dán tường được hỗ trợ thêm bằng truyền đơn, mặt sau viết :"nếu người Pháp ăn cắp, phá hoại, giết người, đó là vì bị ngoại quốc điều khiển; chính người thất nghiệp và kẻ sát nhân chuyên nghiệp đã thừa hành lệnh của chúng; chính bọn Do Thái xúi họ". Qua bích chương, bộ máy tuyên truyền nhắm triệt hạ uy tín của kháng chiến, biến kháng chiến thành tổ chức khủng bố chống lại nước Pháp và dân Pháp, khai thác triệt để khuynh hướng bài ngoại, bài Do Thái, bài bôn sê vích tiềm tàng trong đầu một phần dân chúng. 

Ngày 21-2-1944, Manouchian và 21 đồng đội bị xử bắn; người đồng chí phụ nữ duy nhất bị chặt đầu tại Đức. Trước khi chết, Manouchian để lại một bức thư cho vợ. Mấy ai trước khi bị bắn mà viết được một thư như thế này, bình thản, trong sáng, hồn nhiên tin ở tương lai, ở hạnh phúc của những người ở lại:

"Mélinée yêu dấu, em mồ côi yêu dấu của anh,

Trong vài giờ nữa, anh sẽ không còn ở trên cõi đời này. Các bạn và anh sẽ bị bắn vào chiều nay lúc 3 giờ. Chuyện này đến với anh như một biến cố trong đời, anh không tin nhưng anh biết rằng không bao giờ anh nhìn thấy em nữa. 

Anh viết gì cho em đây? Trong anh, cái gì cũng mập mờ, nhưng đồng thời cái gì cũng rất sáng tỏ.

Anh gia nhập Giải phóng quân như lính tự nguyện và anh chết sát kề ngày Chiến Thắng và đích cuối cùng. Hạnh phúc cho ai còn sống sau anh và hưởng được êm ả của Tự Do và Hòa Bình ngày mai sắp đến. Anh tin chắc dân tộc Pháp và tất cả chiến sĩ của Tự Do sẽ biết tưởng nhớ đến anh và bạn bè của anh trong vinh dự cao quý. Trước khi chết, anh nói to rằng anh không nuôi một hận thù nào đối với dân tộc Đức và đối với bất cứ ai, mỗi người sẽ nhận lãnh thưởng phạt xứng đáng với hành động mình làm. Dân tộc Đức và tất cả mọi dân tộc khác sẽ sống trong hòa bình và tình huynh đệ sau chiến tranh sẽ chấm dứt nay mai. Hạnh phúc cho tất cả... Anh chỉ ngậm ngùi tiếc vô cùng đã không làm cho em sung sướng, anh muốn có một đứa con với em, cũng như em đã từng mong muốn như thế. Bởi vậy, anh mong em sẽ lấy chồng sau chiến tranh, em nhé, và có một đứa con để anh vui, và để thực hiện ý muốn cuối cùng của anh, em hãy cưới người nào có thể làm em sung sướng. Tất cả gia tài, tất cả của cải của anh, anh để lại cho em và chị của em và các cháu của anh. Sau chiến tranh, em sẽ hưởng quyền trợ cấp chiến tranh như là vợ của anh, vì anh chết như lính chính quy của quân đội giải phóng Pháp. 

Với trợ giúp của bạn bè còn nhớ đến anh, em in thơ và những bài viết của anh, đáng đọc. Nếu được, em mang những kỷ niệm của anh về trao lại cho thân nhân của anh ở Arménie. Chốc nữa đây, anh sẽ chết với 23 đồng chí, chết trong can đảm và thanh thản của một người có lương tâm yên ổn, bởi vì bản thân anh chưa hề làm hại ai, và nếu anh có làm hại ai, anh đã làm không hận thù. Hôm nay, mặt trời đang sáng. Anh nhìn mặt trời và thiên nhiên đẹp đẽ mà anh đã yêu quý hết mình để nói lời từ giã với cuộc đời và với em, vợ yêu dấu của anh, và với bạn bè thân yêu của anh. Anh tha thứ cho bất cứ ai đã làm hại anh hoặc muốn làm hại anh, trừ người đã phản bội chúng ta để cứu mạng và những người đã bán đứng chúng ta. Anh ôm em chặt trong lòng, và cùng với em, ôm chị của em và tất cả bạn bè đã biết anh từ gần, từ xa, anh siết chặt tất cả trong tim anh. Vĩnh biệt. Bạn của em, đồng chí của em, chồng của em". 

Mười một năm sau khi Manouchian bị bắn, thành phố Paris hiến tặng nhóm của ông một con đường: đường "Groupe Manouchian". Trừ những danh nhân trong lịch sử, có bao nhiêu khách bộ hành đọc tên đường mà thắc mắc tự hỏi đó là ai. Manouchian may mắn hơn nhiều vì tên anh bất tử nhờ một bài thơ. Năm 1955, khi khánh thành con đường, Aragon viết bài thơ bất hủ "Bích chương đỏ" đã nổi tiếng trong văn học lại càng nổi tiếng hơn nữa khi bài thơ được Léo Ferré phổ nhạc và hát. Đoạn cảm động nhất trong bài thơ là đoạn Aragon thi hóa bức thư của Manouchian. Nhưng, đối với tai và tim người Pháp, rung động sâu hơn nữa đến từ những đoạn gợi lên tình tự quốc gia, khi nhà thơ vinh danh các người ngoại quốc đã chết cho nước Pháp. Aragon đã Pháp hóa cái chết của Manouchian? Đã chính trị hóa một lời trăn trối? 

Câu hỏi có lẽ đã không được đặt ra nếu Aragon chỉ là thi sĩ. Nhưng Aragon, thi sĩ quá lớn, lại là đảng viên cao cấp của đảng cộng sản. Có người đọc thơ chỉ thấy Aragon. Cũng có người đọc thơ chỉ thấy đảng cộng sản. Được vinh danh, chắc Manouchian cũng ngậm cười nơi chín suối. Nhưng nghe tranh cãi, không biết anh cười nụ hay cười thầm.

Aragon là nhà thơ lớn trung thành với đảng cộng sản Pháp suốt đời, khác với nhiều văn thi sĩ và trí thức khác nửa đường đứt gánh với đảng, hoặc vì thất vọng trước kinh nghiệm xương máu của Liên Xô, hoặc vì bất đồng quan điểm với lãnh đạo. Dù sao, khi bài thơ được phổ biến - 11 năm sau ngày giải phóng và 2 năm sau khi Stalin chết - nhà độc tài vẫn chưa bị hạ bệ và dân tộc Pháp vẫn còn chưa quên nhục nhã đầu hàng. Một phần cánh hữu đã hợp tác với kẻ thù để dựng lên chế độ lệ thuộc; cánh tả, mà oanh liệt nhất là đảng cộng sản, đã tham gia kháng chiến trong lòng địch, hy sinh lớn nhất, chết vì nước nhiều nhất, tổn thất nặng nề nhất, đến độ đảng cộng sản được gọi là "đảng của những người bị địch bắn". 

Nguyên thủy, đảng cộng sản Pháp, cũng giống như các đảng cộng sản khác ở Âu châu, đã được dựng và lớn lên với lý tưởng vô sản quốc tế, không tương hợp với chủ nghĩa quốc gia. Lý tưởng quốc tế đó bị đổ vỡ trước khi thế chiến thứ nhất bùng nổ, lúc hai đảng lớn nhất ở Âu châu, Pháp và Đức, không ngăn nổi thủy triều dân tộc chủ nghĩa ào ào tràn ngập lòng người, kể cả lòng đảng viên. Hàng triệu người đã chết trong chiến tranh 1914-18 "tưởng là chết cho tổ quốc, hóa ra là chết cho bọn kỹ nghệ gia". Đó là câu nói của văn hào Anatole France. Mỉa mai hơn, và cay đắng hơn, câu kết luận của Marx dưới "Tuyên ngôn cộng sản" được người đời sửa lại để diễu cợt thực tế: "Vô sản toàn thế giới, hãy tàn sát chém giết nhau!" 

Aragon, y sĩ giữa trận tuyến, đã nhìn chiến tranh với mắt của một người tỉnh táo, chỉ thấy chết chóc vô nghĩa cho một thứ quốc gia chủ nghĩa rỗng tuếch. Kinh nghiệm chiến trường của ông chắc không xa lạ gì với dấn thân chính trị, khi ông chọn đảng cộng sản, như rất nhiều trí thức khác lúc đó, để định hướng cho lý tưởng của mình.

Nhưng chiến tranh 14-18 không giống chiến tranh 40-45. Chiến tranh thứ nhất là chiến tranh trong lòng chủ nghĩa tư bản, giữa các nước tư bản kỹ nghệ, để thống trị đế quốc. Chiến tranh thứ hai nhắm vào một kẻ địch chủ trương một lý thuyết phi nhân. Đối với Pháp, đó còn là chiến tranh giài phóng đất nước. Lý thuyết phi nhân giết chết tự do con người. Chiến tranh xâm lược giết chết tự do tập thể. Đối với người Pháp yêu nước, kháng chiến là chính nghĩa vì mục đích là giành lại độc lập quốc gia. Đối với người yêu tự do, chiến tranh chống phát xít là chính nghĩa vì để bảo vệ nhân phẩm. Lý tưởng quốc tế và lý tưởng quốc gia trùng hợp với nhau trong chiến đấu như cá với nước, khiến đảng cộng sản Pháp thoải mái với mình, với người, với lý thuyết, với hành động, trong một cuộc kháng chiến oai vang. Và Aragon thoải mái với thi tứ, thành thật với mình, thành thật với thơ, để ca tụng cái chết cho nước Pháp, chết vẫn gọi tên nước Pháp trên môi. Chiến tranh có ý nghĩa, cái chết có ý nghĩa, quốc gia có ý nghĩa, bảng đồng bia đá có ý nghĩa. Đảng cộng sản Pháp tiêu biểu xứng đáng cho tất cả những giá trị đó. Và bài thơ "Bích chương đỏ" toát ra sức mạnh của một bài hịch yêu nước.

Thế nhưng hơi thở quốc gia đó của bài thơ không làm một số người bằng lòng. Họ hỏi: Aragon có đi hơi xa không khi gọi những người ngoại quốc đó là những người "đã thành người Pháp vì chọn lựa"? Họ nêu một nghi vấn: trên một bích chương, ai đó trong đêm đã viết một chữ thật to bằng than: "Tuẩn Tiết", chi tiết đó đã được tường thuật giữa chiến tranh trong một tờ báo đảng, tại sao "tuẩn tiết" biến thành "chết vì nước Pháp" trong bài thơ? Những người ngoại quốc đó chết cho nước Pháp hay chết cho tự do? Lý luận đó không phải thiếu căn cứ. Trong nhóm Manouchian, các người Do Thái chống lại cái gì mãnh liệt nhất nếu không phải là chính sách Đức quốc xã tận diệt dân tộc họ, tận diệt chất người trong con người? Nhiều người trong nhóm trước đó đã từng tự nguyện gia nhập "Quốc tế quân" qua Tây Ban Nha chiến đấu chống độc tài Franco, bảo vệ nền Cộng Hòa vừa bú mớm; họ gia nhập kháng chiến Pháp phải chăng cũng để tiếp nối bản trường ca quốc tế chủ nghĩa? Chẳng lẽ những người Hung, Ba Lan, Rumani trong nhóm không nghĩ rằng nước của họ cũng là nạn nhân của Hitler? Và Manouchian, nạn nhân của áp bức trong chính quê hương của anh, anh tranh đấu vì ai trước hết? Chỉ cần đọc lại bức thư cuối cùng của anh, tình nghĩa anh em quốc tế nồng nàn trong đó: "dân tộc Đức và tất cả các dân tộc khác sẽ sống trong hòa bình và tình huynh đệ sau chiến tranh sẽ chấm dứt nay mai. Hạnh phúc cho tất cả..." Mở đầu bức thư, hai lần liên tiếp kề nhau, chữ Tự Do viết hoa nở như hai đóa hoa thắm. Tình cảm gì thân thiết nhất tỏa ra ngọt ngào trong bức thư nếu không phải là tình cảm hiến cho? Cho vợ, cho bạn, cho tự do, cho hòa bình, cho công lý, cho cả đất trời, cho cả mọi người: phải chăng Manouchian chết cho cả nhân loại, cái chết đó còn đẹp hơn cái chết cho một nước? 

Thật khó làm vừa lòng tất cả mọi người, dù là một bài thơ rất hay, khi có chút chính trị vướng vào một câu, một chữ. Riêng tôi, tôi đem lòng yêu nước của tôi để đọc Aragon, và thú thật, rất chủ quan, tôi không thấy vướng víu mây chính trị trong bài thơ xanh ngát ấy. Tình yêu nước trong sáng nơi tôi dễ cảm thông với tình yêu nước trong sáng nơi nhà thơ. Nhưng cũng thú thật, rất chủ quan, tôi xúc động nhất khi Aragon thi hóa bức thư cuối cùng của người ngã xuống. "Hạnh phúc cho tất cả..." Cho người yêu, cho cả kẻ thù. Trong công tác phá hoại, tay của người ngã xuống đã bao nhiêu lần vấy máu, nhưng anh không có cảm tưởng đã làm hại ai vì lòng anh không thù hận, anh chết thanh thản. Lòng anh, cũng như cả ngày hôm ấy, mặt trời chiếu sáng. Anh làm chiến tranh nhưng lòng anh thanh bình. Cuộc đời đáng lẽ cũng thanh bình như thế, như thôn xóm Erivan yên lành trong ký ức hoài hương của anh. Thơ của Aragon có hay bao nhiêu đi nữa chưa chắc đã gây rung cảm sâu như bức thư từ giã người yêu. 

Dịch thơ, nhất là thơ hay, lại là thơ vần, là việc làm tuyệt vọng. Nhưng không dịch thơ ra thơ thì không kể được chuyện con đường. Cho nên, dù bất lực, vẫn phải cố theo sát nghĩa. 

Bích chương đỏ

Mười một năm, mười một năm rồi nhỉ
Đất vùi thây nào ai biết các anh
Sống không cần danh, chết không cầu nguyện
Mắt mở tròn, tay khí giới đấu tranh.

Địch phơi mặt anh trên tường thành phố
Bích chương đỏ ngầu, râu tóc hôi tanh
Tên các anh lạ như man rợ
Như quỹ từ đâu tàn sát dân lành.

Có ai trên đường biết anh chọn Pháp?
Người đi qua tránh mặt không nhìn
Nhưng trong đêm ngón tay nào lạc lối
Viết dưới tên anh "Chết Vì Nước" quang vinh.

Trời đất trắng tinh một màu tuyết trắng
Vĩnh biệt các anh tuyết trắng sáng ngời
Bỗng một người trong các anh lên tiếng:
"Hạnh phúc cho ai còn sống nơi nơi!
Dân Đức ơi, ta không hận các người!" 

Vĩnh biệt khổ, vĩnh biệt vui, vĩnh biệt hoa hồng
Vĩnh biệt cuộc đời, vĩnh biệt mặt trời và gió
Em yêu, hãy lấy chồng và nhớ đến anh
Hạnh phúc nhé em trong sắc màu rạng rỡ
Khi Erivan đã hết chiến tranh
Mặt trời mùa đông sáng rực trên cành
Ôi đẹp quá thiên nhiên, tim anh tung vỡ
Chân ta bước và Công Bằng rộ nở
Ôi Mélinée, em yêu dấu mồ côi
Sống nhé em và tặng con nhỏ cho đời.

Các anh hăm ba người khi súng nổ
Hăm ba người hiến tuổi thanh xuân
Hăm ba kẻ nước ngoài nhưng anh em ta đấy
Hăm ba tình nhân yêu đến chết ngàn lần
Hăm ba người gọi nước Pháp thiết thân.

Thế hệ chúng tôi, khi sinh ra, nước vẫn còn nô lệ. Nếu độc lập là thiêng liêng, chiến tranh giành độc lập hẳn là tất yếu. Lớn lên từ người dân nô lệ, chúng tôi không thể, mà cũng không có quyền, kết án chiến tranh một cách trừu tượng, dù chiến tranh là chết chóc, dù chiến tranh luôn luôn có những mặt tiêu cực, kể cả chiến tranh chính nghĩa. Chiến tranh làm nên lịch sử, và không dân tộc nào không có lịch sử, không lịch sử nào không viết bằng máu. Nếu có ai hỏi tôi: chiến tranh có nghĩa lý gì không?, tôi nói: có. Có! 

Nhưng đâu có phải chiến tranh nào cũng là chiến tranh giải phóng, chiến tranh tự vệ, chiến tranh chống áp bức? Đâu có phải chiến tranh nào cũng trong sáng để nhận lãnh xứng đáng cái chết của con người? Lịch sử thế giới và lịch sử mọi quốc gia cũng được viết bằng những chiến tranh danh nghĩa nhá nhem, đêm chẳng ra đêm, ngày chẳng ra ngày, đêm không ở hẳn bên đó, ngày không ở hẳn bên này. Trong những trường hợp đó, lấy gì biện minh cho cái chết? Tôi chết cho ai và để làm gì? Tại sao tôi phải giết người, tại sao người phải giết tôi? Ai có chút suy nghĩ không khỏi đặt thêm câu hỏi cao hơn về kiếp người: tại sao con người chém giết nhau? Đó là luật rừng hay luật người? Luật của sinh tồn hay luật của lòng tham? Có cái gì quý hơn mạng sống? Ai có quyền cắt đứt mạng sống của một người vô tội, bình thường? Ai có quyền đưa góa bụa vào má hồng, mồ côi vào tuổi thơ? 

Tôi không cần phải đọc cả trăm pho sách để trả lời những câu hỏi không nguôi đó. Bao nhiêu triết gia, bao nhiêu văn hào đã nói lên cái vô lý của bao nhiêu chiến tranh, cái vô lý của chính chiến tranh. Nhưng nói cái vô lý, đâu cần lắm lời? Đâu cần tranh cãi như chuyện bích chương? Sau con đường có tên và có bao nhiêu cái lý của chiến tranh, đây là thung lũng không tên, không lời, im hơi bặt tiếng vì đang ôm một cảnh tượng phi lý trong lòng. Chuyện của con đường quá nhiều xôn xao. Chuyện của thung lũng là im lặng. Im lặng như một người đang ngủ. Người đang ngủ trong bài thơ của Rimbaud.

Người ngủ trong thung lũng
Đây lũng xanh có con sông hát
Bọt sóng tung giăng lưới trắng cỏ bờ
Ngạo nghễ núi cao mặt trời chói sáng
Thung lũng nằm nắng trải rêu tơ.

Chú lính ngủ, đầu trần, miệng mở,
Cổ vờn chơi với đám cỏ tranh.
Mây trôi trên trời và lá tươi lót nệm,
Nắng chan hòa soi mặt nhạt xanh.

Chân duỗi dài trong hoa huệ tím
Anh ngủ. Như bé đau cười ngủ trong nôi.
Đất trời ơi hãy ru thêm nắng ấm:
Giấc ngủ kia đã thấm lạnh rồi.

Hoa lá thơm không làm rung mũi,
Giữa mặt trời anh ngủ. Ngực dưới tay
Lặng yên. Và lặng yên hai hố sâu
Đổ máu. Trên sườn bên phải. Ngủ say.

Chiến tranh chỉ nằm trong một câu, chưa hết một câu, chỉ vài chữ. Toàn bài thơ là thiên nhiên thanh bình màu sắc. Giọng thơ dửng dưng, như không có gì. Có gì đâu, hai lổ máu giữa lũng xanh. Mà sao có hai lổ máu như vậy giữa cuộc đời êm ả này? 

Nếu cái thung lũng hỏi tôi: chiến tranh có nghĩa lý gì không, tôi sẽ trả lời với nó gì đây?


CHẤM DỨT SỰ THÀNH KIẾN 
CỦA CÁC GIÁC QUAN

Tại sao chúng ta chấp nhận một sự vật bất kỳ là một thực thể? Bởi vì chúng ta có thể nhìn thấy và sờ chạm nó.  Mọi người đều có một thành kiến rõ rệt về các vật thể có kích thước 3 chiều; thành kiến này có được là do năm giác quan báo lại cho chúng ta. Thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác và khứu giác cúc cung tận tụy chỉ để xác tín mỗi thông điệp này: sự vật là những gì được hình dung qua 5 giác quan. Thể theo thực tế này, trái đất thì phẳng, mặt đất dưới chân bạn thì đứng yên, mặt trời mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây; tất cả như vậy bởi vì đó là hình thức mà 5 giác quan có thể nhận biết. Chừng nào mà người ta chấp nhận và không thắc mắc gì về những sự kiện do 5 giác quan đem lại thì những sự kiện đó vẫn ổn cố và không thể quan niệm khác đi được.

Einstein đã ý thức rằng, thời gian và không gian cũng là sản phẩm của 5 giác quan. Chúng ta nhìn thấy và sờ chạm các vật thể choán 3 chiều không gian, và các biến cố thì theo chiều tuần tự mà xảy ra trong kinh nghiệm chúng ta. Tuy nhiên, Einstein và các đồng nghiệp của ông đã lột trần được lớp vỏ hình thức này. Họ đã kết hợp không gian và thời gian vào một khoa hình học mới, hình học này không có bắt đầu hay kết thúc, không đường biên, không trọng khối. Mỗi vật thể rắn trong vũ trụ bấy giờ hiện ra như một bó năng lượng rung động trong khoảng không vô tận. 
 
Mô thức không gian-thời gian theo quan niệm cũ đã vỡ tan và được thay bằng một trường lưu chuyển vô tận của các biến dịch thường xuyên. Trường lượng tử này không cách biệt chúng ta - nó chính là chúng ta. Ở nơi nào mà mà thiên nhiên tạo ra tinh tú, ngân hà, các hạt vi lượng, các hạt cơ bản thì những nơi đó bạn và tôi kiến tạo nên hình thể của mình. Ưu điểm lớn lao của thế giới quan mới mẻ này là nó vô cùng sáng tạo - thân thể con người, giống như mọi thứ khác trong vũ trụ, được thường xuyên tạo mới sau mỗi giây đồng hồ. Mặc dù các giác quan của bạn cho biết rằng cơ thể của bạn là một khối rắn tồn tại trong không gian và thời gian, điều này chỉ là cách nhìn nông cạn nhất về thực tại. Cơ thể của bạn là một điều gì khác kỳ diệu hơn nhiều - là một tổ chức sống động được thúc đẩy bởi tâm thức. Tâm thức này dâng hiến cho việc theo dõi và điều chỉnh những biến dịch hằng xảy ra bên trong cơ thể của bạn. 

Từ tâm thức này, sự lão hóa của con người dường như trở thành một chuyện bất khả. Thoạt trông thì một trẻ sơ sinh yếu đuối và bất lực, nhưng thật ra nó được bảo vệ một cách tuyệt vời khỏi sự tàn phá của thời gian. Nếu một hài nhi có thể duy trì trạng thái miễn nhiễm gần như hoàn hảo của nó thì chúng ta có thể sống thọ ít nhất là hai trăm tuổi, theo sự lượng định của các nhà sinh lý học. Nếu một hài nhi có thể giữ gìn cho các động mạch của nó luôn được êm mượt, suôn sẻ, mềm mại như lụa thì cholesterol (chất béo gây xơ cứng động mạch) chẳng biết tìm đâu ra chỗ để trú ngụ và lúc đó bệnh tim sẽ là một chứng bệnh chưa từng xảy ra với con người. Năm mươi ngàn tỷ tế bào của một trẻ sơ sinh đều trong lành và không gợn chút độc tố; những tế bào như vậy không có lý do gì để già cỗi bởi vì chúng hoạt động một cách hoàn hảo và chúng không chứa đựng thứ gì manh nha phá hoại hoạt động này.  Không phải những tế bào của một hài nhi là mới hoàn toàn - những nguyên tử bên trong chúng đã lưu chuyển trong vũ trụ hàng tỷ năm nay rồi, tuy nhiên, hài nhi được tạo mới bằng một cơ quan trí năng vô hình có khả năng thu thập, phân tích thông tin và định dạng cho hài nhi có được một hình thái của sự sống không lẫn vào đâu được. Trường năng lượng vô tận đã sáng tác ra một vũ điệu mới, một giai điệu rung động riêng cho cơ thể trẻ sơ sinh. 
 
Lão hóa là dấu hiệu cho thấy sự mất đi của cơ quan trí năng này. Vật lý học lượng tử bảo chúng ta rằng cuộc khiêu vũ của tự nhiên không có hồi kết thúc - trường năng lượng và thông tin của vũ trụ luôn luôn biến đổi hình thái của chính nó và trở thành một trường vũ trụ mới sau mỗi giây đồng hồ. Cơ thể của chúng ta tuân theo một động lực sáng tạo tương tự. Người ta lượng định là mỗi giây đồng hồ có khoảng sáu ngàn tỷ phản ứng xảy ra trong một tế bào.  Nếu dòng biến đổi hình thái này ngưng nghỉ thì các tế bào của bạn sẽ rối loạn hoạt động ngay, điều này đồng nghĩa với sự lão hóa.

Bánh mì để lâu ngày bị ôi bởi vì nó phơi ra đó, làm mồi cho hơi nước, vi nấm trong không khí, phản ứng ô-xít hóa và nhiều quá trình hóa học phân hủy khác nữa. Một vách núi đá vôi sẽ rạn vỡ thành từng mảng qua thời gian vì mưa gió dãi dầu, và bản thân nó không có cách nào tự hồi phục. Cơ thể chúng ta cũng chịu đựng quá trình ô-xít hóa và bị vi nấm cùng các mầm bệnh khác tấn công, cũng dãi dầu mưa gió. Nhưng khác với chiếc bánh mì hoặc vách đá vôi, chúng ta có khả năng tự hồi phục. Xương cốt của chúng ta không chỉ lưu trữ can-xi theo cách của đá vôi mà chúng còn lưu chuyển can-xi nữa. Những nguyên tử can-xi tươi tắn thâm nhập xương cốt chúng ta và từ đó góp phần hình thành nên máu, da hoặc những loại tế bào khác mà cơ thể cần.

Để có thể sống còn, cơ thể của bạn phải thuận theo dòng biến dịch. Vào lúc này, bạn đang thở ra những nguyên tử hy-đrô, ô-xy, các-bon, và ni-tơ mà chỉ mới ngay đây thôi chúng còn bị giam kín ở dạng thành phần của một chất rắn; dạ dày, gan, tim, phổi, và não của bạn không ngừng tan biến vào trong không khí một cách nhanh chóng, nhưng đồng thời chúng cũng được thay thế bằng một tình trạng mới một cách nhanh chóng và không ngừng như vậy. Da của bạn tự thay thế mỗi tháng một lần, niêm mạc dạ dày thì năm ngày một lần, gan sáu tuần một lần và xương sống thì ba tháng một lần. Đối với mắt trần thì những cơ quan này trông chẳng có gì thay đổi nhưng thật ra chúng luôn luôn biến dịch. Cứ khoảng 12 tháng thì 98% các tế bào trong cơ thể bạn sẽ được thay thế bằng những cái mới. 

Đa số những thay đổi bất tận này nhằm phục vụ cho lợi ích của bạn. Trong số một triệu phân hóa tố (enzyme) thì chỉ có một phân hóa tố là có phản ứng với một axit amin chưa được hoàn hảo lắm; trong một tỷ tế bào thần kinh thì chỉ có một tế bào hoạt động vô hiệu quả; trên một chuỗi ADN mã hóa bởi hàng tỷ mẫu thông tin di truyền chỉ có một mẫu là có thể lâm vào tình trạng mất khả năng tự hồi phục khi có tổn thương xảy ra.  Những lỗi hiếm hoi này không được cảm giác thấy và bạn có thể nghĩ rằng chúng chẳng đáng là bao. Cơ thể con người giống như một kịch sĩ vĩ đại diễn xuất các vở kịch của Shakespeare, có thể đóng vai Hamlet một ngàn lần mà chỉ nói vấp có một vần (syllable).  Nhưng những tổn thương vô hình xảy ra khi cơ thể đang trong tình trạng hoàn hảo thì quả thật đáng kể. Độ chính xác của các tế bào giảm dần từng chút một.  Những tế bào từng trẻ mãi không già nay trở nên sa sút đi một ít. Và chúng ta già đi.

Vào tuổi 30, cơ thể của một người bình thường bắt đầu chịu tác động của sự lão hóa với tốc độ rất chậm là 1% một năm: các vết nhăn trên da xuất hiện, da mất đi sắc thái tươi mát hoàn hảo của nó và các bắp thịt bắt đầu chảy xệ. Thay vì mô cơ phải chiếm trọng lượng gấp 3 lần mô mỡ thì hai mô này bắt đầu ngang ngửa nhau về trọng lượng, thị giác và thính giác nhụt dần, xương mỏng đi và giòn ra. Thể lực và khả năng chịu đựng bị sa sút từ từ làm cho cơ thể cảm thấy khó nhọc hơn so với trước kia khi thực hiện cùng một lượng công việc. Rồi huyết áp bắt đầu tăng và nhiều chất sinh hóa trong cơ thể không còn tác dụng hoàn hảo như trước nữa; mối quan ngại lớn nhất là chất mỡ trong máu (cholesterol), chất này cứ đều đều tăng theo năm tháng, ngấm ngầm hình thành bệnh tim làm chết nhiều người hơn bất cứ một tai họa nào. Ở chỗ khác, các tế bào bắt đầu đột biến tạo nên những khối u ác tính làm cho cứ khoảng 3 người thì có một người chết, nhất là sau tuổi 65.

Theo thời gian, những thay đổi này gây nên những ảnh hưởng nghiêm trọng. Chúng như là những đợt sóng lăn tăn góp lại thành cơn thủy triều tuổi già. Tuy nhiên, tại một thời điểm cho trước, sự lão hóa chỉ chiếm mỗi năm khoảng 1% so với toàn bộ thay đổi xảy ra bên trong cơ thể. Nói cách khác, 99% năng lượng và trí tuệ mà bạn sở hữu vẫn còn nguyên vẹn, không bị sự lão hóa đụng đến. Nếu ta xem cơ thể như một quá trình tiến triển thì việc loại bỏ 1% rối loạn chức năng này sẽ quét sạch con bệnh gây ra sự già nua. Nhưng làm thế nào để đạt được điều này? Để trả lời, chúng ta phải tìm cho được công tắc điều khiển quá trình hoạt động trí tuệ của cơ thể.

Khái niệm thực tại mà vật lý lượng tử đem đến làm cho con người lần đầu tiên có thể điều khiển trí năng vô hình vốn là nền tảng của thế giới vật chất hữu hình. Einstein dạy ta rằng thể xác, giống như mọi đối tượng vật lý khác, chỉ là một ảo tưởng, và sự cố gắng điều khiển nó cũng tựa như chuyện thả mồi bắt bóng. Chính thế giới mà chúng ta không thấy được mới là thế giới thực, và khi mong muốn khám phá các giai tầng vô hình của cơ thể, chúng ta có thể khai thác nguồn năng lực sáng tạo vô cùng vốn tiềm ẩn trong ta. 

Vương Mộng Giác dịch 
(Theo Ageless Body, Timeless Mind của Deepak Chopra, M.D)


TỪ MỘT GIẤC MƠ... 
(Phỏng vấn Tiến sĩ Trần Tiễn Khanh
về việc ứng dụng máy tính trong công tác dịch thuật kinh điển Phật giáo)

Máy móc hóa công tác dịch thuật kinh điển Phật giáo Việt Nam là ý tưởng táo bạo của GSTS Lê Mạnh Thát cách đây hơn 30 năm, được đề cập trong một bài viết trên tạp chí Tư tưởng của Đại học Vạn Hạnh. Thời bấy giờ, đó chỉ là “giấc mơ”. Khi nghe đến việc ứng dụng máy tính trong công tác dịch thuật kinh điển, không ít người đã hoài nghi và cho là ảo tưởng. Nay giấc mơ đó đã đi vào thực tế, với sự mở đầu của Tiến sĩ Trần Tiễn Khanh, người vốn được biết đến với vai trò nhà dự báo khí tượng thủy văn uy tín ở Mỹ, và nhóm Tuệ Quang. Nhân chuyến về nước để triển khai cụ thể chương trình hiệu đính và tham dự hội thảo tại Viện Nghiên cứu Phật học VN giữa tháng 7 vừa qua, anh đã dành cho VHPG một buổi trò chuyện.

 Ý tưởng dịch kinh bằng máy vi tính đến với anh từ lúc nào?

Khoảng vào năm 1982, trong một cuộc trò chuyện tình cờ giữa tôi và người anh của tôi (bác sĩ Trần Tiễn Huyến, Mỹ – PV), tôi thấy anh trai tôi dịch kinh Phật từ chữ Hán một cách rất khó khăn và mất nhiều thì giờ. Ý tưởng dịch kinh bằng máy tính nảy sinh trong tôi từ đó, trước hết là để giúp anh tôi mà thôi. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, máy vi tính chưa phổ biến lắm, ngay tại trên đất Mỹ, và cũng chưa có những chương trình phần mền (software) để phục vụ cho những công việc phức tạp như dịch thuật.

Mãi đến năm 2004, tôi biết được ở Đài Loan đã hoàn thành phiên bản điện tử Đại tạng kinh Đại Chính tân tu và tôi đã may mắn có được phiên bản này. Ý nghĩ đầu tiên là làm sao để có thể phiên âm, lược dịch (dịch thô) những bản kinh mình muốn lại thôi thúc tôi. Một cơ duyên khác, tôi có được phiên bản điện tử của bộ Tự điển Hán – Việt của nhà nghiên cứu Phật học nổi tiếng Thiều Chửu. Khi tôi đưa vào máy tính, cho máy dịch một số đoạn thì hết sức vui mừng vì máy đã dịch gần giống với bản dịch của Hòa thượng Thích Trí Tịnh, với những bộ kinh quen thuộc mà tôi biết.

Tôi đã thử thống kê chữ, thấy rằng bộ Tự điển Hán-Việt của cụ Thiều Chửu có khoảng 8000 chữ thì Đại tạng kinh Đại Chính tân tu sử dụng đến 7000 chữ. Đây là điều thú vị. Tuy nhiên, phiên âm và nghĩa tiếng Việt trong trong bộ tự điển này lại hơi cổ, nên tôi đã có sự chỉnh sửa đôi chỗ.

Anh có thể cho ví dụ.

Chẳng hạn chữ Thích Ca được phiên âm là “Thích Già”, Mâu Ni thì phiên âm là “Mưu Ni”... Tôi đổi qua và bổ túc thêm các từ hiện đại và phổ thông.

Bản kinh đầu tiên mà anh cho máy tính dịch thử là...

Kinh Di Đà.

Máy móc, dẫu hiện đại cỡ nào cũng là máy móc, làm sao để anh làm cho máy tính nhận dạng cách phân đoạn, ngắt câu, các danh từ riêng, danh từ chung, từ phiên âm... trong văn bản chữ Hán, nhất là Hán cổ, vốn không dễ nhận biết, ngay cả đối với con người...

¬Đúng vậy. Do đó, việc trước hết là tôi căn cứ trên các bản dịch hiện có của Hòa thượng Thích Trí Tịnh và chư tôn đức khác, chọn từ, phân loại và nhập vào dữ liệu của máy tính. Khi số lượng này càng lớn trong dữ liệu, thì máy tính càng tỏ ra “thông minh” hơn. Chẳng hạn khi gặp các cụm âm tiết phiên âm từ Phạn ngữ, như Bồ-đề-tát-đỏa, Ma-ha, Bồ-tát, Phật-đà-gia..., máy tính sẽ nhận ra ngay mà không “ngớ ngẩn” dịch từng chữ. Tất nhiên, do dữ liệu vẫn còn hạn chế, nên không thể tránh được một số trường hợp hiểu nhầm ngớ ngẩn. Điều này chắc chắn cần phải có con người tham dự vào.

Đối với việc phiên âm, điểm mạnh mà chúng tôi thấy được là máy tính đã phiên âm gần chính xác, ưu điểm là không hề bỏ sót. Một tiện ích khác nữa là khi đã ra phiên bản microsoft thì sẽ rất dễ dàng cho người hiệu đính trong việc đối chiếu với nguyên bản chữ Hán, phiên âm với phần dịch nghĩa (lược dịch của máy tính), dễ dàng trong việc biên tập, thêm, bớt, đảo vị trí từ, cụm từ cũng như thay đổi từ (cụm từ) hàng loạt qua công cụ thông thường mà ai biết sơ về máy tính cũng đều có thể làm được.

Công việc dịch thuật bằng máy tính của anh đến nay có kết quả như thế nào?

Chúng tôi đã phiên âm, lược dịch bằng máy tính đến nay, về phần kinh tạng, xem như đã hoàn tất với 2372 bộ kinh/9035 quyển trong Hán tạng (được phân thành 9035 phiên bản dùng với MS-Word. Việc phiên âm, dịch (thô) bằng máy chỉ diễn ra trong 28 giờ! Kinh ngắn như kinh A Di Đà thì chỉ diễn ra trong 10 giây, còn kinh dài như bộ Đậi Bát Nhã (600 quyển) thì chỉ mất 50 phút.

Hiện nay, chương trình của chúng tôi được sự ủng hộ của Viện Nghiên cứu Phật học VN tại TP.HCM và các nhóm dịch thuật của chư Tăng Ni tại TP.HCM và Huế cũng như nhiều bậc tôn túc ở hải ngoại.

Trước mắt, chúng tôi sẽ chờ bản hiệu đính sơ bộ, căn cứ trên đó để đưa thêm dữ liệu vào máy tính; công đoạn này sẽ thực hiện đến khi được sự chấp nhận của chư tôn đức chứng minh, dự kiến đến giữa tháng 6/2008, sẽ có bản điện tử Kinh tạng được dịch từ chữ Hán.

Như vậy, song song với chữ Hán, có thể đưa thêm các ngôn ngữ khác vào?

Đúng vậy. Hiện nay, tôi đang thử đưa thêm Anh ngữ và Pháp ngữ. Điều này tôi thấy không phức tạp lắm khi hiện nay chúng ta đã có các bộ tự điển Phật học bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Việc có một kinh tạng đa ngữ dễ dàng cho giới nghiên cứu đối chiếu là điều không quá tầm tay khi chúng ta có phương tiện hiện đại với bộ xử lý mạnh và tinh tế như hiện nay nữa.

Những khó khăn và thuận lợi khi anh thực hiện?

Tôi là một cư sĩ, có một công việc phải làm và còn lo cơm ăn áo mặc cho vợ con, nhưng tôi được may mắn là công việc của mình hiện tại (dự báo khí tượng thủy văn – PV) buộc tôi phải trang bị máy tính thuộc dạng hiện đại và có tốc độ xử lý mạnh, nên mới có phương tiện đủ để thực hiện Phật sự trên. Một điều may mắn nữa trong cuộc đời của tôi là tôi có một người vợ, một Phật tử có tâm đạo thuần thành, đã hỗ trợ tinh thần cho tôi rất nhiều. Tôi cũng được sự ủng hộ của các anh chị trong gia đình, đặc biệt là chư tôn đức Tăng Ni.

Cái khó khăn là về nhân lực và thời gian. Hiện nay, về kỹ thuật, chỉ có một mình tôi. Nếu có thêm nhân lực và thời gian, tôi nghĩ công việc trên có thể sẽ có kết quả tốt hơn nữa.

Hiện tại các anh em trong gia đình tôi thành lập Tuệ Quang Foundation nhằm thúc đẩy chương trình đi tốt hơn. Chương trình này được giới thiệu rộng rãi trên trang nhà: www.daitangvietnam.com.
Anh có thể nói tâm nguyện khi thực hiện chương trình?

Đạo Phật đến nước ta đã hơn 2000 năm, nhưng cho đến nay, chúng ta, những người Phật tử Việt Nam vẫn chưa có Kinh tạng bằng chữ Việt. Với sự hỗ trợ của máy tính với các chương trình phần mềm đặc thù, có thể hỗ trợ thúc đẩy việc sớm có một Đại tạng (chấp nhận được). Máy móc vẫn là máy móc, dù cho chúng ta đưa nhiều dữ liệu vào khiến nó “thông minh” hơn, thì vẫn cần đến con người, người hiệu đính. Điều này chúng tôi trông chờ vào chư tôn đức và các bậc thiện tri thức, các nhà nghiên cứu. Để có một Đại tạng kinh Việt Nam, chúng tôi nghĩ cần đến nhiều tâm lực và thời gian, với sự hỗ trợ về kỹ thuật, tạm thời sẽ có một phiên bản có thể đọc và hiểu, nói chung là chấp nhận được. Còn việc hoàn thiện nó, chúng tôi nghĩ không chỉ vài năm, hay một đời mà có thể 2-3 đời nữa. Ước nguyện của chúng tôi là mong sớm có một Đại tạng kinh Việt Nam.

Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện này.

Việc dịch máy kinh điển Phật giáo của chúng ta là một giấc mơ, mà tôi đã đề cập tới cách đây trên 30 năm. Nay anh đã bước đầu thực hiện giấc mơ này thì thật là một phước lớn cho Phật giáo Việt Nam chúng ta. Những gì còn trắc trở, tôi xin góp sức cùng anh và các anh em khác để giải quyết và vượt qua.
Trích thư  GSTS. Lê Mạnh Thát, Phó Viện trưởng Thường trực Viện Nghiên cứu Phật học VN  gởi TS Trần Tiễn Khanh


ĐÁP SỐ CUỘC ĐỜI
(Tiếp theo VHPG số 18 và hết)
Thảo Vy

Rất ít người có “vận may” được làm một công việc yêu thích ngay từ đầu. Khi bước vào cuộc sống đa số đều phải làm việc không như ý muốn. Thực tế là vậy. Cho nên để yêu thích công việc, người ta chỉ còn mỗi cách là tự bản thân mình phải cố gắng, phải nỗ lực. Và việc nỗ lực để “thấy thích” là điều quan trọng đầu tiên để chúng ta có thể kiên trì theo đuổi công việc trong một thời gian dài. 

Khắp cả cuốn sách, ông luôn luôn nhắc tới yếu tố này vì, dưới sự dẫn đạo của “cách tư duy”, yếu tố này do bản thân mọi người quyết định được. Ông viết: "Bản thân năng lực đã không bằng người thì bù lại lòng nhiệt tình phải hơn người. Cứ có lòng nhiệt tình và ham muốn làm việc để không thua kém ai thì dù đầu óc có bình thường thì chắc chắn sẽ hơn khối người đầu óc thông minh nhưng lười biếng”. Trong phần nói về sáu phép sửa mình (lục độ) ông viết: "Phép tinh tiến dạy cho con người phải nỗ lực hàng ngày và chịu khó hàng ngày. Đối với các bạn trẻ thì tôi nghĩ tinh tiến tức là nỗ lực làm việc và học tập”. Ông tổng kết: "Hiện nay trong công ty Kyocera có rất nhiều người giỏi từng tốt nghiệp các trường đại học hàng đầu đang làm việc. Nhưng đồng thời, trong số các cán bộ giữ vị trí trọng trách cũng có không ít người mới tốt nghiệp phổ thông. Những người này đều rất con người. Họ đứng trên tuyến đầu, xả thân trong công việc, dẫn dắt công ty đi lên. Có thể nói: kiên trì biến người bình thường thành người phi thường”. 

Lòng nhiệt tình mà Inamori Kazuo nói tới chính là sự không phóng dật. Nó thể hiện trước hết ở sự cẩn thận trong công việc. Ông cho rằng người cẩn thận, biết lắng nghe ý kiến của người đi trước, của cấp trên, biết sửa chữa khuyết điểm của mình là người có dũng khí, có tinh thần tranh đấu. Ông kể chuyện về Oba, nhà thám hiểm Nam cực. Câu chuyện được kể lại: "Tôi có hỏi ông: Chắc ông phải mạo hiểm lắm trong suốt chuyến đi băng qua Bắc cực và Nam cực. Ông thật sự là người có dũng khí và lòng quả cảm”. Tức thì ông Oba đáp ngay: "Ông nhầm rồi. Tôi không có được dũng khí như ông nói đâu. Thực sự tôi là kẻ nhút nhát”… Nghe chuyện ông kể, tôi nghĩ trong thám hiểm, trong kinh doanh và trong nghiên cứu cũng như nhau. Người đi được đến cùng chặng đường là người thận trọng, thận trọng đến mức nhút nhát, và là người chuẩn bị đầy đủ, tỉ mỉ nhất trước khi bắt tay vào bất cứ việc gì ” . 

Ông kể lại một kinh nghiệm về sự cẩn thận. Lúc đầu khi đi làm, ông kể: “quanh đi quẩn lại tôi cứ phải làm đi làm lại một công việc buồn chán, như dùng cái chày bằng đá để trộn hỗn hợp hay quay cối xay nghiền nguyên liệu. Người ta bỏ vào cối những viên bi sắt to nặng. Khi quay cối, những viên bi sắt ấy va vào nhau lộc cộc và nghiền vụn nguyên liệu trong cối”. Một ngày nọ, ông nhìn thấy một đồng nghiệp lớn tuổi: “suốt ngày dùng chổi lông cọ rửa kỹ lưỡng cối nghiền… Những viên bi sắt thường bị sứt mẻ nhiều chỗ. Bột nguyên liệu của mẻ nghiền trước thường bám chặt vào những chỗ sứt đó, phải cọ cho thật sạch. Ông ấy cẩn thận lấy một thanh sắt mỏng dẹt, nhọn đầu, cậy từng tí, từng tí một, rồi lấy chổi lông quét cho đến khi sạch hẳn mới thôi”. Khi đó Inamori dè bỉu: "Tốt nghiệp đại học, lại có tuổi rồi mà phải làm cái việc cọ rửa vớ vẩn như thế, không thấy chán sao…”. Thế nhưng, khi kiểm tra các kết quả thí nghiệm, thì chỉ riêng Inamori là ít khi thành công. Ông rất thất vọng và không hiểu vì sao. Bất chợt, hình ảnh cặm cụi của bậc đàn anh xuất hiện: “Thì ra chính cái việc rửa cái cối nghiền quấy quá cho xong đã làm cho thí nghiệm của tôi bị sai lệch. Những vụn nguyên liệu từ lần thí nghiệm trước vẫn còn bám vào trong cối làm tính chất của gốm thay đổi hẳn. Té ra là vậy. Ngay cả những công việc tưởng như tầm thường như cọ rửa dụng cụ thí nghiệm cũng hết sức quan trọng, và phải được thực hiện chu đáo… Bình thường người đồng nghiệp lớn tuổi ấy rất ít lời, lúc nào cũng chỉ lẳng lặng chùi rửa, kỳ cọ và lau dụng cụ. Hình ảnh khiêm nhường ấy làm tôi làm tôi sáng mắt ra nhiều”. 

Một trong những việc để khắc phục nhược điểm của bản thân là phải học lại căn bản từ đầu. Ông cho rằng con người ta có hai loại, giống như lúa ngắn ngày và lúa dài ngày. Có người phát triển sớm, có người phát triển muộn. Những người thuộc loại “lúa dài ngày” thường không đạt kết quả tốt lúc đầu và thường hổng kiến thức cơ bản. Đối với những người này, nếu quyết tâm học lại căn bản thì vẫn cải thiện được tình hình. Ông kể: "Tôi vốn là đứa không hứng thú học hành ngay từ những năm tiểu học. Bài tập về nhà tôi chẳng buồn ngó tới chứ đừng nói gì tới ôn tập hoặc chuẩn bị bài trước giờ lên lớp.” Tuy nhiên, khi hiểu rõ mình không thích môn toán vì hổng kiến thức từ những năm cấp một, ông tuy đã học cấp hai rồi nhưng vẫn học lại môn toán từ lớp 3. Sau đó: "Trên thực tế, từ môn học bị tôi ghét nhất, môn toán trở thành môn sở trường của tôi, là cơ sở để tôi theo học đại học khoa tự nhiên. Về sau, nó còn liên quan tới cả việc lập ra công ty Kyocera- chuyên tạo ra kỹ thuật cao”. Ông tâm sự: "Trong số các bạn, có lẽ cũng có nhiều người chán nản vì cho rằng có cố cũng không khá được. Tôi nghĩ hơi khác. Các bạn thử xem lại mình xem: có bị hổng kiến thức không?... Khi đã biết rõ, thay vì dằn vặt trăn trở các bạn hãy học lại kiến thức cơ bản xem sao. Cũng có bạn sẽ cho rằng còn thời gian đâu để học lại nữa. Nhưng chính những nỗ lực âm thầm đó sẽ ra hoa kết quả sau này… Cho dù phải đi đường vòng, tôi vẫn muốn khuyên các bạn hãy trở về vạch xuất phát và làm lại từ đầu”.

Lòng nhiệt tình còn thể hiện ở yếu tố nỗ lực. Ông kể: "Chuyện xảy ra vào một ngày nọ. Lúc đó khoảng 2 giờ sáng... Bất chợt tôi thấy một nhân viên kỹ thuật đứng khóc trước lò nung điện… Tôi hỏi: "Thế trước lúc nung, cậu đã “cầu Trời khấn Phật phù hộ chưa?”. Cầu trời khấn Phật phù hộ độ trì theo ông nghĩa là chỉ còn cách cố nữa, cố đến cùng mà thôi. “Thế rồi sau một hồi lẩm bẩm lời khuyên của tôi: "Cầu trời khấn Phật chưa, Cầu trời khấn Phật chưa”, anh ta gật đầu và đáp: "Tôi hiểu thưa giám đốc. Tôi sẽ làm lại lần nữa”. Và anh ta làm lại từ đầu. Lặp đi lặp lại suốt quá trình như vậy, cuối cùng chúng tôi đã khắc phục được vấn đề nan giải”.  Ông đề cao ý thức nỗ lực: "Trong học tập, trong công việc nhiều khi nỗ lực rồi mà vẫn không thành công. Những lúc đó, nếu chúng ta thử tiếp tục cố gắng, cố gắng đến mức tối đa mà vẫn không thành thì sau đó có bỏ cuộc mới không ân hận”.

Lòng nhiệt tình cần phải được nuôi dưỡng. Để có thể theo đuổi và duy trì được nhiệt tình làm việc trong một thời gian dài thì theo Inamori cần phải có một số “bí quyết”.

Bí quyết đầu tiên, theo ông, là tạo sự yêu thích công việc. Ông xác định rõ khi bắt đầu chuyển sang trạng thái tích cực: "Bỏ đi hay ở lại công ty thì cũng đều thế cả. Nếu ở chỗ nào mình cũng kêu ca, than thân trách phận chẳng đâu vào đâu thì cuộc đời mình chẳng bao giờ tốt đẹp lên được”. Ông viết: "Tôi nghĩ rằng đời người mấy ai có “vận may” được làm một công việc yêu thích ngay từ đầu. Khi bước vào đời đa số đều phải làm việc không như ý muốn. Thực tế là vậy. Cho nên để yêu thích công việc, người ta chỉ còn mỗi cách là tự bản thân mình phải cố gắng, phải nỗ lực. Và việc nỗ lực để “thấy thích” là điều quan trọng đầu tiên để bạn có thể kiên trì theo đuổi công việc trong một thời gian dài”. 

Bí quyết thứ hai ông đề cập là liên tục suy nghĩ và sáng tạo không ngừng; ngày mai phải tốt hơn hôm nay và ngày kia phải tốt hơn ngày mai. Phải để tâm sao cho công việc mỗi ngày một tiến lên dù một chút nhỏ nhoi. Câu hỏi đặt ra là: "còn có cách nào tốt hơn nữa không?”. 

“Không ngừng suy nghĩ và sáng tạo mỗi ngày” là bí quyết thứ hai. Inamori đưa ra một khẩu hiệu: "Cố gắng hết mình cho ngày hôm nay”. Đây chính là tinh thần Phật giáo: "quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, hiện tại đừng vọng tưởng”. Công ty Kyocera của ông chưa bao giờ có một kế hoạch dài hạn. Ông giải thích: "Dù có lập ra một kế hoạch to tát vĩ đại nhưng nếu không thực hiện đúng như kế hoạch thì người ta dễ rơi vào tâm trạng mệt mỏi, chán chường. Đôi khi còn khiến họ buông xuôi đầu hàng. Nguy cơ đó khiến cho suy nghĩ trở nên tiêu cực. Vì thế bao giờ tôi cũng chỉ lập kế hoạch rõ ràng cho một ngày và cố gắng hết mình đạt được mục tiêu đề ra trong ngày ấy”. Cố gắng hết mình cho ngày hôm nay thì sẽ thấy ngày mai. Cố gắng hết mình cho tháng này thì sẽ thấy tháng sau. Cố gắng hết mình cho năm nay thì sẽ thấy năm sau. Ông viết: "Tôi tuân theo và thực hành tâm niệm này 40 năm trời, và chưa khi nào thấy chán nản trong công việc”.

Bí quyết thứ ba là phải có tinh thần lạc quan vui vẻ. Để có thể thấy yêu thích công việc cần phải khuếch đại niềm vui khi thu được một thành công nhỏ trong công việc. Ông kể: "Tôi vẫn thường khoái ra mặt khi được xếp khen ngợi… Cứ mỗi lần có kết quả thí nghiệm đúng như dự tính là tôi vui mừng tột độ. Những lúc như thế tôi luôn nhảy cẫng lên và reo hò thật to”. Một phụ tá của ông phản ứng với việc đó: "Cứ hơi một tí là anh lại nhẩy cẫng lên. Đời một thằng đàn ông không có nhiều niềm vui đến mức phải nhảy lên như thế đâu. Mới có một chút kết quả thí nghiệm là anh lại sướng như phát rồ ấy. Xin lỗi, tôi không nghĩ loại người như anh lại là sếp của tôi”. Ông trả lời: "Cứ nhìn sự việc bằng con mắt lạnh lùng như cậu thì cuộc đời này tối tăm lắm. Niềm vui sướng mỗi khi thu được kết quả tốt đưa lại cho tôi luồng sinh khí mới, đem lại cho tôi niềm tin trong cuộc sống. Cậu cứ nghĩ xem, nếu không có những niềm vui như thế thì làm sao có thể âm thầm nỗ lực và kiên trì làm cái công việc chán ngắt như cái việc nghiên cứu gốm này? Nếu không có niềm vui đó thì thử hỏi liệu có ai chịu dấn thân vào nghiên cứu khi tiền lương thì thấp, tiền thưởng cũng không có ở công ty èo uột này?” 

Bí quyết thứ tư là phải thích nơi mình làm việc. Ông viết: "Lúc mới bước vào đời, công ty đầu tiên tôi đến làm việc là một công ty thua lỗ, nên muốn thích cũng không thể thích nổi. Tôi phải tự trấn an mình bằng cách cố gắng không để tâm lý chán ghét công ty vương vấn trong đầu. Và khi gạt bỏ được tâm lý đó cũng là bước khởi đầu để tôi thích công việc về sau”.  Ông nói thêm: "Khi không được vào học hay làm việc ở một nơi mình mong muốn… thì con người ta hay nẩy sinh tâm lý đứng núi này trông núi nọ. Thấy chỗ khác cái gì cũng tốt, chỗ mình cái gì cũng dở. Nhưng điều quan trọng là phải nhanh chóng gạt bỏ hay thoát khỏi não trạng: "tôi không sao thích nổi công việc chán ngắt này, tôi không thể thích nổi chỗ làm này, tôi không thích học trường này”. Thoát được não trạng đó thì cuộc đời ta mới có thể thay đổi to lớn”.

Gần đây, trên các phương tiện truyền thông đại chúng, chúng ta thường thấy những lời kêu gọi giới trẻ Việt Nam cần phải có những khát vọng vĩ đại, những hoài bão to lớn. Tuy nhiên, những điều vĩ đại lại bắt đầu bằng những việc bình thường. Inamori nhắn nhủ thế hệ trẻ: "Trước hết, các bạn nên biết rằng điều vĩ đại chỉ sinh ra từ những nỗ lực âm thầm từng bước… Không có chiếc thang máy tiện lợi nào dành riêng cho cuộc đời mình cả. Chỉ có thể đi lên bằng đôi chân của chính mình và bằng sức lực của chính mình. Đừng ảo tưởng sẽ có con đường đi tắt, đừng ảo tưởng sẽ có thủ đoạn chớp cơ hội để biến ước mơ thành hiện thực. Phương pháp tốt nhất thực hiện giấc mơ là tiến từng bước, từng bước chắc chắn như con ốc sên trên con đường thực hiện. Chính những thành quả nhỏ nhoi sinh ra nhờ nỗ lực âm thầm mỗi ngày sẽ kéo theo những thành quả và nỗ lực mới, rồi đến một ngày bạn chợt nhận thấy nó chất cao như ngọn núi sừng sững không thể ngờ tới”. Đó là một phương pháp xác thực để biến giấc mơ thành hiện thực. 


THỜI GIAN VÀ NHÂN QUẢ
Nam Quốc

Khi xã hội có bất cứ hiện tượng gì tiêu cực xảy ra, lúc cần phải thể hiện trách nhiệm cá nhân trước vấn đề này, người ta thường nói: “ Chúng ta đã và đang thực hiện, vấn đề là cần phải có thời gian…”.

 Nghe câu nói trên, nhiều người dù chưa thỏa mãn nhưng vẫn có thể tạm yên tâm. Nhưng thời gian là bao lâu để cải thiện tình hình thì ít ai đưa ra một cách cụ thể. Có thể phần nào nhận ra ở cách nói ấy sự thực hiện thiếu đồng bộ, nên thời gian hứa hẹn chỉ nhằm để thực hiện lại những điều đã lịch trình hơn là việc bắt tay vào điều chỉnh cho một nhận thức đúng tốt hơn. Vì ít ai có thể tự nhận rằng mình đã sai ngay từ khâu lên kế hoạch. Và như vậy, thời gian và tiền của vẫn tiếp tục bị lãng phí. Nhưng lãng phí trong kinh tế còn có cơ hội bù đắp lại được, còn suy mòn về văn hóa, lối sống thì ảnh hưởng lâu dài đến nhiều thế hệ, mà hậu quả trực tiếp nhất vẫn là giới trẻ phải gánh chịu.

Diễn tiến của cuộc sống thì luôn phức tạp và không dừng lại, mà mức độ ảnh hưởng của những yếu tố môi trường xã hội trong thực tiễn đối với từng cá nhân là rất cao, đôi khi vượt trên cả những tác động của giáo dục. Chẳng hạn, gia đình và xã hội mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền của để đào tạo ra một con người, nhưng khi họ vừa rời ghế nhà trường, bước chân vào đời, thì chỉ cần một phần tác động rất nhỏ từ thực tiễn cuộc sống có thể cuốn hút và gần như phá vỡ nhiều những “chuẩn mực” mà họ đã được học. Không ít người thừa nhận rằng, nền kinh tế thị trường, sự sùng bái khoa học kỹ thuật luôn có những tác động tiêu cực không thể tránh khỏi đi kèm. Nhưng nhiều bậc cha mẹ vẫn không ngừng khuyến khích, thậm chí tạo nhiều áp lực để con cái dấn thân vào lĩnh vực này, nhằm có được những công việc có thu nhập cao, nhiều cơ hội thăng tiến, và tạo ra nhiều lợi nhuận cho bản thân... Cho đến khi họ bị vật chất cám dỗ và xa ngã thì chúng ta lại đổ hết trách nhiệm lên đầu họ… 

Bà Nguyễn Thị Oanh, thạc sĩ phát triển cộng đồng, có lần đã phát biểu công khai trên báo chí: “Lĩnh vực khoa học kinh tế đang phát triển rất nhanh, nhưng tôi khẳng định đất nước sẽ khó đi lên và không thể phát triển bền vững nếu lớp trẻ chỉ học về kinh tế, khoa học kỹ thuật mà không coi trọng học và rèn luyện đạo đức làm người… Cái đạo đức con người đơn giản mà hết sức cơ bản: chớ giết người, chớ ăn cắp của người, chớ nói dối, tà dâm… Trong xã hội ta, người nói dối, ăn cắp một cách thản nhiên. Tôi đã suy nghĩ khá nhiều về vấn đề này và dường như khi bài trừ tư tưởng phong kiến thì những giá trị nhân bản, những bài học làm người cũng bị bỏ quên luôn. Không thể có chính trị tốt mà không có đạo đức tốt…”. Sở dĩ những điều đó trở nên phổ biến vì sự giáo dục của chúng ta hầu như đang khuyến khích lớp trẻ chạy theo một lối sống xem trọng vật chất, khoa học kỹ thuật, lợi nhuận, hưởng thụ, thực dụng…, hơn là những bài học để họ tự biết cách làm người trước đã. 

Vẫn còn đó những giá trị vượt thời gian, vấn đề là chúng ta sẽ áp dụng như thế nào vào trong nhận thức, lối sống của thế hệ trẻ. Thời gian là thước đo cho một hệ quả nhưng thời gian cũng chính là cái đang diễn ra, mà cái đang diễn ra ấy có thể vừa là kết quả vừa là nguyên nhân. Vậy không thể chờ thời gian cho một nguyên nhân trong khi nó đã nảy mầm và cần ngay sự chăm sóc đặc biệt. Bởi sự thật của diễn tiến xã hội diễn ra nhanh hơn gấp nhiều lần chúng ta dự báo. Nếu chúng ta không thay đổi nhận thức này thì những dự tính đặt ra cho một lĩnh vực chỉ là sự  đầu tư thiếu chiều sâu, đuổi theo thời gian bằng thói quen “nước đến đâu bầu đến đó”, chứù không phải là chúng ta đang làm chủ thời gian. Bởi làm chủ thời gian chính là tạo điều kiện cho nhân quả tốt đồng thời xuất hiện và nhân quả xấu cùng lúc được cải thiện. Như vậy, trong sự điều chỉnh mang tính cần kíp, thời gian cần được nhận thức như là một yếu tố nhân quả đồng thời, tránh hiểu nó theo một trật tự máy móc: có nguyên nhân rồi mới có kết quả, hay nguyên nhân chính là kế hoạch trong một thời gian và kết quả là cái thu được sau kế hoạch. Bởi cái quả ấy lại chính là nhân cho cái quả tiếp nối sau đó. Nếu cái vừa là kết quả, vừa là nguyên nhân ấy còn chờ thời gian nữa thì cái nhân ấy đã trở thành một quả khác mất rồi, và cái quả ấy chắc chắn sẽ teo đét… 

Trong đào tạo con người, nếu để cho một thế hệ bị teo đét về văn hóa lối sống thì nhiều thế hệ sẽ bị ảnh hưởng theo. Từ ngày đất nước thống nhất đến nay, chúng ta có gần hai thế hệ; từ khi đất nước đổi mới (1986) đến nay, chúng ta có hơn một thế hệ. Đó đều là những cột mốc quan trọng hứa hẹn mang lại sự tiến bộ. Nhưng cũng chính thời gian này, chúng ta phải bàn luận và lo nghĩ  rất nhiều về những vấn nạn xã hội, mà sự suy mòn đạo đức lối sống trong nhiều tầng lớp, đặc biệt ở giới trẻ luôn là vấn đề trọng tâm, nóng hổi.

Làm chủ thời gian chính là làm chủ thời gian nhận thức, hành động, làm chủ không gian văn hóa, và cần phải xác định ngay những giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống làm nền tảng căn bản. Bởi vì trong hội nhập, văn hóa là điểm tựa cho mọi sự phát triển bền vững. Chúng ta đã tốn quá nhiều phương tiện giấy mực để nói, nói rất hay, rất bài bản mà chúng ta vẫn phải chạy theo thời gian để mong cải thiện cuộc sống xã hội ở cả hai mặt vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, nếu vẫn còn những người thiếu nhận thức về giáo dục mà đi làm giáo dục, thiếu nhận thức về văn hóa mà đi làm văn hóa, thiếu nhân cách làm người mà đi dạy làm người…, thì chuyện tốn công sức, tiền của, thời gian và giấy mực sẽ còn tiếp diễn. Và càng tạo ra nhiều “bộ óc” cứ gặp việc gì khó khăn cũng cần một thứ thời gian… không xác định, bất chấp diễn trình nhân quả như thế thì càng tạo ra sự lãng phí cho xã hội. Nếu có thể làm chủ thời gian bằng chính những nhận thức và hành động tốt đẹp trong hiện tại thì những nhân quả tốt đẹp cũng sẽ tỷ lệ thuận với điều đó. Dĩ nhiên “sửa sai” chỉ là chuyện bất đắc dĩ, không ai mong muốn nó sẽ xảy ra.
 
 

 
TRỞ VỀ MỤC LỤC VĂN HOÁ PHẬT GIÁO SỐ 19-15 THÁNG 8 2006


www.vanhoaphatgiao.comOther websites 
English & Vietnamese (Unicode)